Quan hệ lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Vậy, làm sao bảo vệđược quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao động màkhông làm ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, không làm giảm tính cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, nhằm ngăn ngừa các cuộc đình công đòi tăng lương, đểkhắc phục tình hình trên, vấn đềlàchúng ta nhận thức nhưthếnào vềmối quan hệhài hòa, hợp lýtrong lợi ích kinh tế, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần giữa người NLĐvàngười NSDLĐ? Giữa lợi ích của nhànước, của xãhội đối với các nhàđầu tưnước ngồi;vàvận dụng vớinhững bước đi ởtừng thời điểm ra sao phùhợp bối cảnh cạnh tranh gay gắt của quátrình hội nhập vào nền thương mại tựdo của thếgiới? Đóchính làlýdo tôi chọn đềtài “Quan hệlao động trong khu vực cóvốn đầu tưnước ngồi tại các khu công nghiệp tỉnhBình Dương” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹkinh tế, chuyên ngành kinh tếchính trị.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Kể từ năm 1987 Luật Đầu tư nước ngồi ở Việt nam có hiệu lực, khởi đầu cho dòng chảy các luồng vốn từ bên ngồi vào nước ta Lúc đầu, các nhà đầu tư nước ngồi chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bất động sản, nhà hàng, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu vui chơi giải trí, Những năm về sau, thì họ chuyển sang lĩnh vực sản xuất, gia công chế biến hàng công nghiệp cho tiêu dùng
và xuất khẩu Từ đó, đã hình thành những khu vực sản xuất công nghiệp tập trung trải dài trên nhiều địa phương và các vùng trên cả nước Cùng với dòng chảy của các luồng vốn đầu tư, là dòng chảy của lực lượng lao động đổ về các khu sản xuất công nghiệp tập trung: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, đặc khu kinh tế, cụm công nghiệp
Riêng đối với tỉnh Bình Dương, việc tăng nhanh thu hút vốn đầu tư và nguồn nhân lực vào các khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi trong KCN, thời gian qua đóng góp một phần lớn trong phát triển kinh tế, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của địa phương, tăng thu ngân sách, giải quyết hơn 135.000 việc làm, nhất là làm cho đời sống của người lao động ngày càng phát triển.Vai trò của NLĐ ngày càng được khẳng định, đời sống vật chất và tinh thần được quan tâm hơn, nhưng những bức xúc giữa họ và chủ DN cũng xuất hiện Bộ Luật Lao động 1994 và sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006 đã thúc đẩy
và tạo nền tảng cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào QHLĐ cũng như từng bước hướng các quan hệ này vào quỹ đạo chế tài từ luật định Bên cạnh những thành tựu đạt được, phát sinh những vấn đề phức tạp về QHLĐ, đây là vấn đề nhạy cảm trong hệ thống quản lý
Trong thực tiễn đã bộc lộ nhiều tiêu cực phát sinh, đã làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội Một trong những tiêu cực thấy rõ trong thời gian gần đây là hiện tượng vi phạm pháp luật, các thắc mắc, khiếu nại, tranh chấp lao động và liên tiếp xảy ra các cuộc đình lãn công tập thể kéo theo hàng trăm, thậm chí hàng ngàn
Trang 2lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tại các khu công nghiệp của tỉnh, không những đã làm thiệt hại đáng kể đến sản xuất, đến lợi ích doanh nghiệp và người lao động, mà còn ảnh hưởng đến môi trường đầu tư Ở đây, nguyên nhân sâu xa là, giữa người lao động và người sử dụng lao động chưa thống nhất với nhau về lợi ích kinh tế, thu nhập, các điều kiện phúc lợi thụ hưởng, đời sống văn hóa tinh thần, mà cụ thể là thu nhập của người lao động trong khu vực này chưa tương xứng với năng lực cống hiến, cường độ lao động và thời gian làm việc của
họ, điều này làm cho mối ràng buộc trong quan hệ lao động không bền vững Trong
sự cố đáng tiếc đó, có một phần của người lao động, của người sử dụng lao động và
có cả sự thiếu sót chưa hồn thiện của hệ thống pháp luật, chính sách của nhà nước Vậy, làm sao bảo vệ được quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao động
mà không làm ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, không làm giảm tính cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, nhằm ngăn ngừa các cuộc đình công đòi tăng lương, để khắc phục tình hình trên, vấn đề là chúng ta nhận thức như thế nào về mối quan hệ hài hòa, hợp lý trong lợi ích kinh tế, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần giữa người NLĐ và người NSDLĐ? Giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội đối với các nhà đầu
tư nước ngồi; và vận dụng với những bước đi ở từng thời điểm ra sao phù hợp bối cảnh cạnh tranh gay gắt của quá trình hội nhập vào nền thương mại tự do của thế
giới? Đó chính là lý do tôi chọn đề tài “Quan hệ lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Qua các bài viết về quan hệ lao động của các nhà khoa học trước đây như: "Cải
cách chế độ tiền lương" của Trần Bạch Đằng, đăng trên báo Kinh tế Sài Gòn, số 50
và 51; “Lý luận chung về phân phối xã hội chủ nghĩa" của Lý Bân; (2001), "Tiền
lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường" của Th.s Nguyễn Lan Hương đăng trên
báo Lao động và Xã hội, số 11; "Lao động tiền lương và sự phát triển kinh tế” của Nguyễn Ái Đồn, đăng trên tờ Nghiên cứu kinh tế, số 261; “Vài ý kiến về vấn đề cải
cách tiền lương Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Trần Văn Thiện, đăng trên thời
Trang 3báo Kinh Tế Việt Nam, số 24/2005; “ Tiếp tục cải cách chế độ tiền lương” của TS.Lê Hồng Tiến đăng trên thời báo Kinh Tế Việt Nam số 86/2006 và qua thực tế tình hình của tỉnh Bình Dương chúng ta phân tích và đánh giá mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong khu vực có vốn đầu tư nước ngồi ở các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương
3 Nội dung, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là QHLĐ trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi trong các KCN Bình Dương Một số thông tin, số liệu sử dụng trong luận
án được điều tra và tham khảo tại các Sở, Ban ngành liên quan tỉnh Bình Dương, từ
đó đi đến phân tích và đưa ra định hướng về QHLĐ
3.1 Phân tích các yếu tố tác động đến các lợi ích của NLĐ, chủ doanh nghiệp
và nhà nước ở Tỉnh Bình Dương và mối quan hệ giữa chúng
3.2 Đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp để xây dựng các mối quan hệ lao động về các lợi ích và phân phối thu nhập một cách hợp lý, hài hòa ở khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung của đề tài có liên quan đến một số ngành, một số lĩnh vực, do đó những phương pháp sau đây sẽ được vận dụng:
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Trang 4các số liệu điều tra do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Liên đồn Lao động, Ban Quản lý các KCN, Cục Thống kê tỉnh Bình Dương
Trang 5Tổng thể các mối quan hệ giữa người với người tạo nên một hệ thống các quan
hệ xã hội bao gồm quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ tôn giáo, quan hệ đạo đức và quan hệ lao động Quan hệ lao động chính là hệ thống quan hệ xã hội giữa các bên có địa vị và lợi ích khác nhau trong quá trình lao động, bao gồm các quan hệ: giữa tư liệu sản xuất với người lao động; giữa người quản lý điều hành với người thừa hành Ngồi ra, quan hệ lao động còn được hiểu là mối quan hệ giữa người làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu Quan hệ lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng và thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện bình đẳng, thể hiện bằng các hợp đồng lao động cá nhân và thỏa ước lao động tập thể, là một phạm trù đa lĩnh vực, nằm ở nhiều môn khoa học như lịch sử, kinh tế, xã hội, chính trị và luật pháp
Quan hệ lao động được xác định ở một số điểm chính sau:
- Là quan hệ qua lại giữa người lao động và người sử dụng lao động
- Chịu sự điều chỉnh về mặt pháp lý và những can thiệp trực tiếp khi cần thiết của Nhà nước
- Quan hệ lao động diễn ra trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất – kinh doanh, và phần lớn diễn ra trong môi trường công nghiệp
Mặc dù hoạt động của con người rất đa dạng, phong phú, diễn ra trong nhiều lĩnh vực và dưới mỗi chế độ xã hội khác nhau, bản chất của quan hệ lao động cũng
có khác nhau Dưới chủ nghĩa tư bản, quan hệ lao động, thường được hiểu là quan
hệ chủ – thợ, chứa đựng quan hệ bóc lột của chủ tư bản đối với lao động làm thuê,
Trang 6còn dưới chủ nghĩa xã hội, quan hệ lao động thường thể hiện qua quan hệ quản lý giữa người điều hành và người thừa hành, nó không chứa đựng quan hệ bóc lột lao động làm thuê
1.1.1.2 Điều kiện xuất hiện quan hệ lao động và sự khác biệt giữa các quan
hệ lao động trong các chế độ xã hội khác nhau
Quan hệ lao động chỉ xuất hiện khi xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong điều kiện quan hệ sản xuất phong kiến chủ nghĩa chưa có quan hệ lao động Quan hệ giữa chúa phong kiến và nông nô không phải là quan hệ lao động, bởi vì, chúa phong kiến không thuê mướn người nông dân làm thuê và trả lương cho người nông dân, mà người nông dân không có đất, muốn tồn tại họ phải lĩnh canh đất đai của chúa phong kiến để canh tác và nộp địa tô cho chúa phong kiến Người nông nô không được tự do hồn tồn như người công nhân trong chủ nghĩa tư bản, họ và gia đình họ phải bị gắn chặt với đất đai của chúa phong kiến để tồn tại
Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xuất hiện người lao động đi bán sức lao động (làm thuê) cho các chủ tư bản Sức lao động đã biến thành hàng hố, bởi vì trong chủ nghĩa tư bản đã có hai điều kiện để sức lao động biến thành hàng hố, đó là: 1) người lao động được tự do thân thể 2) người lao động không có tư liệu sản xuất Trong chủ nghĩa phong kiến người nông nô chưa được tự do hồn tồn, họ không thể bỏ mảnh đất của địa chủ này để sang lĩnh canh mảnh đất của địa chủ khác Nhưng trong chủ nghĩa tư bản người lao động làm thuê được tự do về thân thể, họ được quyền tự do lựa chọn đi làm thuê cho chủ tư bản này hay chủ tư bản khác Luật pháp tư bản đã thừa nhận và bảo vệ quyền tự do đó, trong khi luật pháp phong kiến không có điều khoản nào bảo vệ quyền tự do của người nông nô Đồng thời, nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ tự tổ chức sản xuất ra hàng hố đem đi bán, trao đổi trên thị trường chứ họ không đi làm thuê Nhưng vì không có
tư liệu sản xuất, muốn tồn tại, sống còn họ phải đi làm thuê cho các nhà tư bản để nhận lương Thu nhập tiền lương là điều kiện duy nhất để người lao động làm thuê tồn tại trong chủ nghĩa tư bản
Trang 7Quan hệ giữa nhà tư bản chủ tư liệu sản xuất và người lao động làm thuê thể hiện qua phạm trù kinh tế mới xuất hiện trong chủ nghĩa tư bản là “tiền lương tư bản chủ nghĩa” Trong quan hệ sản xuất phong kiến không có phạm trù “tiền lương phong kiến” mà chỉ có phạm trù “địa tô phong kiến” Bản chất của “tiền lương tư bản chủ nghĩa” là thể hiện quan hệ bóc lột lao động làm thuê của nhà tư bản đối với công nhân, còn “địa tô phong kiến” thể hiện bản chất bóc lột của chúa phong kiến đối với người nông nô
Nếu xã hội lồi người xây dựng thành công mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa thì theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, quan hệ lao động trong quá trình sản xuất xã hội chủ nghĩa không chứa đựng quan hệ bóc lột lao động làm thuê Bởi vì, trong điều kiện chủ nghĩa xã hội mọi người lao động đều trở thành người chủ tư liệu sản xuất xã hội Đã là người chủ thì quan hệ giữa họ với nhau là bình đẳng Trong quá trình sản xuất xã hội chủ nghĩa, không tồn tại quan hệ chủ thợ, mà quan hệ lao động
là quan hệ giữa người điều hành quá trình sản xuất và người trực tiếp thực hiện lao động sản xuất Tất cả những người trong quá trình sản xuất của một đơn vị sản xuất
xã hội chủ nghĩa đều là người lao động: người lao động gián tiếp (nhà quản lý, điều hành) và người lao động trực tiếp (người trực tiếp thực hiện lao động sản xuất) Đây
là sự khác biệt về chất giữa quan hệ lao động trong chủ nghĩa tư bản và quan hệ lao động trong chủ nghĩa xã hội
1.1.2 Các hình thức biểu hiện quan hệ lao động
Các quan hệ lao động được thể hiện qua các hình thức thu nhập của các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh Trong sản xuất kinh doanh có các chủ thể kinh tế như: người lao động làm công ăn lương, chủ sở hữu, nhà nước Vì vậy, quan hệ lao động thể hiện qua các hình thức thu nhập sau:
Trang 8đáp ứng những nhu cầu giáo dục, văn hóa và tinh thần của người lao động và nuôi dưỡng con cái
Tiền lương được xem xét trên hai mặt: tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực
+ Tiền lương theo sản phẩm được xây dựng trên cơ sở định mức sản xuất và được thể hiện thông qua hình thức khốn từng phần việc, hoặc khốn gọn, bảo đảm tăng tiền lương ứng với tăng năng suất lao động Nó thể hiện tính khoa học cao vì
nó phản ảnh đúng số lượng và chất lượng lao động, thể hiện sự hợp lý trong phân phối lao động, đồng thời lại kích thích tinh thần lao động, khuyến khích người lao động chăm lo rèn luyện tay nghề, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động … Tiền lương biểu hiện một tập hợp phức tạp các mối quan hệ kinh tế: giữa người lao động riêng biệt và tồn xã hội; giữa tập thể lao động vì công lao động phụ thuộc vào kết quả hạch tốn kinh tế hoạt động của các doanh nghiệp; giữa người lao động
và tập thể người lao động vì tiền lương của mỗi người được xác định trong khuôn khổ quỹ tiền lương của doanh nghiệp
Nguyên tắc quan trọng nhất để phân biệt tiền lương là đại lượng phụ thuộc trực tiếp không những vào số lượng mà cả mức độ phức tạp của lao động Kết quả cuối cùng của hoạt động kinh tế (nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu,
Trang 9chất lượng sản phẩm) đều được phản ánh trong sự tăng thêm của quỹ tiền lương, hay của lợi nhuận
Tiền lương còn thể hiện quan hệ giữa chủ sở hữu và người lao động, bởi vì, theo
lý thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác, giá trị hàng hố bao gồm giá trị vật hố ( c ) và giá trị mới ( v + m ) Trong đó, v là giá trị hàng hố sức lao động của người lao động, thể hiện bằng tiền là giá cả sức lao động, được gọi là tiền lương, m là giá trị thặng
dư do người lao động làm thuê tạo ra, biểu hiện thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô…
Do đó, với một giá trị hàng hố nhất định, nếu tiền lương tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm xuống và ngược lại, nếu lợi nhuận tăng lên thì tiền lương sẽ giảm xuống Nói cách khác, với một giá trị hàng hố nhất định, tiền lương và lợi nhuận có quan hệ nghịch với nhau Đây cũng là một mâu thuẫn cần giải quyết Để giải quyết mâu thuẫn này, nghĩa là, tiền lương phải tăng lên và lợi nhuận cũng tăng lên, cần phải tăng tổng khối lượng giá trị, đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh phải phát triển
1.1.2.2 Lợi nhuận (cổ tức), lợi tức
Đây là hình thức thu nhập theo tài sản hay theo vốn, được thể hiện như: Đối với vốn tự có của các doanh nghiệp tư nhân riêng lẻ cũng như trong vốn cổ phần của các cổ đông trong các công ty cổ phần, hình thức thu nhập là lợi nhuận, lợi tức cổ phần hoặc cổ tức; Đối với vốn cho vay, thu nhập thích ứng là hình thức lợi tức cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ suất của nó Tỷ suất này lên xuống theo quan hệ cung cầu
về tiền cho vay và quan hệ cung cầu hàng hóa, liên quan đến chỉ số biến động của giá cả trong từng thời kỳ
1.1.3 Mối quan hệ của các lợi ích trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
1.1.3.1 Bản chất của mối quan hệ các lợi ích
Bản chất của lợi ích kinh tế có cơ sở khách quan gắn liền với các quan hệ sản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu Hơn nữa, từ quy luật quan hệ sản xuất phải phù
Trang 10hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mỗi quan hệ sản xuất cùng với lợi ích kinh tế tương ứng, tuy là hợp lý hay phi lý, tiến bộ hay không tiến bộ; tiêu chuẩn xem xét là ở chỗ chúng phù hợp hay không phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất, thúc đẩy hay cản trở quá trình phát triển
Như vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, thì lợi ích kinh tế của các thành phần tham gia, kể cả Nhà nước phải hài hòa Mà hướng đến của tồn xã hội mong muốn là phải tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân lao động; cũng là tiêu chuẩn để xác định tính hợp lý về lợi ích kinh tế của các chủ sở hữu trong việc sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta Từ tiêu chuẩn này, phải thừa nhận tính hợp lý của mức thu nhập cao đối với những người lao động đạt năng suất và hiệu quả cao cho xã hội, dù thu nhập
đó cao gấp nhiều lần so người lao động có năng suất và hiệu quả thấp Phải phê phán và khắc phục khuynh hướng đòi hỏi và bảo đảm lợi ích theo nhu cầu bình quân, vì đó là lợi ích không hợp lý, không thúc đẩy mà cản trở sản xuất, trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Hiện nay, trong nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, có nhiều lợi ích kinh tế: lợi ích kinh tế của nhà nước (xã hội), lợi ích kinh tế của tập thể lao động, lợi ích kinh tế của cá nhân người lao động và của người chủ sở hữu tư nhân,
cá thể
Các lợi ích kinh tế trên vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau Mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích được phản ánh qua sự liên kết, đan xen giữa các hình thức sở hữu trong quá trình tái sản xuất Trong kinh tế nhà nước có phần của nhà nước, của tập thể lao động, phần vốn của cá nhân người lao động hoặc các chủ sở hữu cá thể, tư nhân trong và ngồi nước Trong kinh tế tập thể, có phần kinh tế của nhà nước, của tập thể lao động, phần vốn của cá nhân người lao động hoặc của các chủ sở hữu cá thể, tư nhân Trong các doanh nghiệp cổ phần, loại hình doanh nghiệp mà Nhà nước đang có chính sách đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, tạo điều kiện thuận lợi; nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhằm tập trung khả năng về vốn, quản lý, công nghệ… mà các
Trang 11doanh nghiệp trong nước phải đương đầu để tồn tại và phát triển trong môi trường
tự do thương mại tồn cầu cạnh tranh khốc liệt
Do vậy, trong việc quản lý nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn chuyển đổi, cần phải có chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lý của mối quan hệ lao động
để khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của những người tham gia phát triển sản xuất Muốn vậy, khi xác định cũng như khi thực hiện mục tiêu, chính sách, biện pháp sản xuất kinh doanh phải bảo đảm kết hợp hài hòa, đúng đắn các lợi ích kinh
tế của xã hội, tập thể lao động, cá nhân người lao động và các chủ sở hữu cá thể, tư bản tư nhân trong và ngồi nước Có như vậy mới tạo được động lực kinh tế, giải phóng được mọi năng lực sản xuất hiện có của xã hội
1.1.3.2 Vai trò của lợi ích kinh tế trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nền kinh tế sẽ tạo nhiều sản phẩm, của cải cho xã hội, do đó có nhiều động lực kích thích phát triển Mọi động lực, suy đến cùng, do động lực kinh tế quyết định Vì vậy, lợi ích kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi quá trình phát triển kinh tế nói chung Vấn đề này càng có ý nghĩa đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta:
- Lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp thúc đẩy mọi người và các chủ thể kinh
tế vì lợi ích kinh tế mà quan tâm đến kết quả sản xuất;
- Đẩy mạnh dân chủ hóa trong kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cho mọi người yên tâm phấn khởi làm ăn theo pháp luật;
- Khai thác được các nguồn tài nguyên và lao động để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội;
- Đảm bảo cho người lao động được hưởng phần thu nhập phù hợp với sự đóng góp của mình
Thực tiễn nước ta nhiều năm qua, trong thời gian khá lâu dài, Nhà nước thiên về lợi ích xã hội, xem nhẹ lợi ích tập thể lao động, cá nhân người lao động và của người chủ sở hữu cá thể, tư nhân
Trang 12Tóm lại, lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, vì sản xuất là
“gốc”, là cơ sở phân phối lợi nhuận Do đó, phải giải quyết hài hòa các lợi ích, coi trọng lợi ích cá nhân người lao động; phải có biện pháp đồng bộ về kinh tế, hành chánh và tư tưởng để xây dựng con người mới hồn thiện, xã hội công bằng và văn minh; tránh tình trạng phân hóa quá nhiều giữa các tầng lớp xã hội trong quá trình xây dựng, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa để phát triển nền kinh tế đất nước trong giai đoạn hội nhập; cũng như hạn chế những vấn đề nóng của
xã hội phát triển như đình, lãng công trong thời gian gần đây xảy ra trong cả nước, nhất là các tỉnh - thành có tốc độ phát triển nhanh như: Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Long An …
1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh tăng thu nhập quốc dân tính theo đầu người còn bao hàm sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống tinh thần và vật chất của người và cộng đồng xã hội
Để tồn tại và phát triển, con người phải đáp ứng nhu cầu vật chất cho cuộc sống
Sự tiêu dùng của con người chính là nguồn gốc của động lực phát triển kinh tế – xã hội, mục đích của sản xuất là tiêu dùng Khối lượng tiêu dùng và cơ cấu tiêu dùng là yếu tố quyết định về quy mô và cơ cấu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Với tư cách
là người sản xuất, con người có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển, con người với khả năng trí tuệ và thể lực của mình là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất của sự phát triển sản xuất xã hội Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, trình độ sản xuất nào, lao động của con người luôn đóng vai trò quyết định Cùng với sự phát triển tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất sẽ dẫn tới sự thay đổi của vị trí lao động giản đơn và lao động kỹ thuật, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò then chốt cho sự phát triển kinh tế – xã hội
Muốn phát triển kinh tế – xã hội, điều cơ bản phải có sự tăng trưởng kinh tế Nhưng không phải bất cứ sự tăng trưởng nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế, tuy
Trang 13nhiên thu nhập thực tế tăng lên của mỗi người dân phản ánh tính xã hội của sự tăng trưởng Như vậy sự phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng thu nhập thực tế của đại bộ phận dân cư nhờ phân phối kết quả thu nhập của mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động Ngày nay, phát triển kinh tế – xã hội còn thể hiện ở yếu tố tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm cao, phù hợp với nhu cầu
xã hội, nhu cầu con người, bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội
1.2.1 Quan hệ lao động là động lực cơ bản để tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất
Sự phát triển không ngừng của sản xuất, của kinh tế là cơ sở của mọi sự phát triển trong đời sống xã hội Phát triển kinh tế suy đến cùng, là sự tăng năng suất lao động, là sự phát triển của lực lượng sản xuất (bao gồm tư liệu lao động và người lao động) Do vậy, muốn phát triển kinh tế – xã hội, mấu chốt của vấn đề là phát triển lực lượng sản xuất
Những yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất, có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế - xã hội trong quan hệ lao động Khi xét những nhân tố thuộc lực lượng sản xuất ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, ngồi những yếu tố như điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, còn có nhân tố con người và công nghệ ngày càng được nhấn mạnh, trong đó khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Công nghệ nếu được lựa chọn phù hợp với tiềm năng nguồn lực của đất nước… sẽ là một động lực mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững Đất nước ta trong quá trình công nghiệp hố, hiện đại hố, muốn ứng dụng công nghệ mới cần phải biết sử dụng chuyên gia công nghệ dưới hình thức trao đổi khoa học – kỹ thuật, liên doanh liên kết, chuyển giao công nghệ Cần có chính sách hợp lý để tận dụng những thành tựu mới của cách mạng khoa học và công nghệ, tranh thủ thời cơ để vươn lên đuổi kịp các nước có nền kinh tế phát triển Trong đó, con người luôn là yếu tố hàng đầu của
sự phát triển kinh tế, đặc biệt trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
Trang 14Ngày nay, với sự phát triển của văn minh và văn hóa, về khách quan con người vừa được coi là động lực, vừa được coi là mục đích của sự phát triển Lý do là, trình
độ phát triển, năng suất và kỹ thuật hiện đại đã tạo cho con người nhiều thời gian, điều kiện học tập và phát triển tồn diện Kinh tế tri thức đã trở thành một hiện thực, một xu thế có tính qui luật, mang lại thịnh vượng cho mỗi quốc gia, từng doanh nghiệp, mỗi con người nếu biết sử dụng và khai thác Kinh tế tri thức, ra đời từ các nước công nghiệp tiên tiến, nó có thể sinh sôi và phát huy khả năng ở mọi nơi, kể cả các nước kinh tế có trình độ thấp, khi biết tạo dựng thành một môi trường thuận lợi, phù hợp cho sự phát triển Sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau nhưng “nguồn nhân lực được xem là nhân tố đóng vai trò quyết định” về tốc độ, chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững
Trong quá trình đổi mới, Nhà nước ta cũng đã khẳng định, phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm, quyết định sự thành công trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng nhất trong các nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội Do vậy, chúng ta xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và tiến bộ, một xã hội xã hội chủ nghĩa tạo cho con người đầy đủ những điều kiện phát triển tồn diện, phát huy tốt nhất nhân tố con người để phát triển kinh tế, xã hội
1.2.2 Quan hệ lao động góp phần thúc đẩy và hồn thiện quan hệ sản xuất mới
Các quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ tạo động lực cho lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, khi không phù hợp, đây sẽ là nhân tố cản trở, kìm hãm sự phát triển
Trong quan hệ sản xuất thì cơ chế kinh tế và cơ chế thị trường là yếu tố có ảnh hưởng lớn Cơ chế kinh tế sẽ là nhân tố kích thích hay cản trở sự phát triển kinh tế, thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đều cản trở sự phát triển kinh tế Hiện nay cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
Trang 15hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thích hợp nhất đối với sự phát triển quan hệ sản xuất trong nền kinh tế chuyển đổi của đất nước, trong xu thế chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội văn minh và tiến bộ Cơ chế thị trường với tác động của quy luật giá trị, cạnh tranh và cung – cầu kích thích tối đa tính năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải đổi mới
kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nậng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất; nhất
là phát triển mối quan hệ sản xuất Mà trong đó mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động cùng tồn tại và tiến bộ, góp phần cải thiện mối quan hệ sản xuất mới đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế
1.2.3 Quan hệ lao động là nhân tố quan trọng hình thành con người mới để xây dựng và làm chủ xã hội giàu có, dân chủ, công bằng, văn minh
Kinh nghiệm của những nước Châu Á – Thái Bình Dương cho chúng ta thấy, những nước nghèo muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống chỉ có một con đường là biến xã hội của đất nước thành một xã hội có học vấn cao, thể hiện qua quá trình phát triển ngành giáo dục của mình, từ đó kéo theo mức chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo cũng như tỷ lệ dân số có trình độ nghề nghiệp và học vấn cao, đáp ứng được nhu cầu quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường Quan hệ lao động là một nhân tố quan trọng hình thành con người mới, vì ngồi
số lượng lao động trong quá trình phát triển kinh tế, thì chất lượng lao động làm cho lao động có năng suất cao hơn Chất lượng lao động có thể nâng cao nhờ giáo dục , đào tạo và sức khỏe của người lao động Giáo dục được coi là dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng của con người Kết quả giáo dục làm tăng lực lượng lao động có trình độ tạo khả năng thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ Công nghệ thay đổi càng nhanh, quá trình đổi mới càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Giống như giáo dục, sức khỏe làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả hiện tại
và tương lai, người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi đang làm việc Nhà nước phải có những hoạch định chính sách chăm lo sức khỏe cho nhân dân, nhằm làm tăng nguồn nhân lực bằng việc kéo dài tuổi lao động Vì con
Trang 16người là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững Đó là con người có sức khỏe, có trí tuệ, có tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình lao động, được tổ chức chặt chẽ Vì nếu tăng trưởng kinh tế chỉ chủ yếu dựa vào việc khai thác tài nguyên thì tăng trưởng kinh tế đó không bền vững, do tài nguyên là có hạn; trái lại, muốn tăng trưởng bền vững thì phải dựa vào nhân tố con người, tất nhiên tài năng và trí tuệ con người là bền vững và vô tận Muốn phát huy nhân tố con người phải có hệ thống giáo dục, y tế tốt Nhân tố học vấn của con người không thể thông qua cơ chế thị trường bởi lẽ thị trường bản thân tự nó không đủ khả năng cung cấp một nền giáo dục và đào tạo đúng mức Do vậy Chính phủ phải đóng vai trò chủ đạo trong việc đào tạo và sử dụng nhân tài Lúc bấy giờ, đến lượt nó, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho quan hệ lao động phát triển , làm cho mối quan hệ sản xuất mới được cải thiện
1.3 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Thực tế, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, không chỉ bổ sung nguồn vốn và mang đến công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, nguồn vốn đầu tư nước ngồi mà còn góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và kỹ năng quản lý của người Việt Sự phát triển “theo dây chuyền” của các ngành công nghệ, thông tin, viễn thông, cảng sông, cảng biển, cầu đường… vừa tác động gián tiếp đến việc chuyển dịch lao động trong nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau Khu vực này đã góp phần quan trọng giải quyết công ăn việc làm và tạo động lực tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, khi khu vực này càng mở rộng thì mối quan hệ về lợi ích và phân phối thu nhập giữa người lao động và người sử dụng lao động có nhiều bất cập, nên xảy ra nhiều cuộc tranh chấp Đáng tiếc hơn nhiều cuộc đình công ngày càng xảy ra dồn dập, quy mô lớn và có tính chất gay gắt và phức tạp hơn Một bộ phận người lao động có mức thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định, trả tiền tăng ca, thưởng chưa tương xứng với sự đóng góp của người lao động, từ đó là một trong những nguyên nhân chính xảy ra đình - lãn công,
bỏ sang doanh nghiệp khác thậm chí họ chịu cảnh thất nghiệp vài ba tháng để tìm
Trang 17một nơi vừa ý Gần đây một số doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngồi trong khu công nghiệp không có sự kết hợp quyền lợi giữa người lao động và người sử dụng lao động một cách hài hòa mà chỉ tính việc thu lợi nhuận trước mắt,
mà quên chăm lo về mặt đời sống vật chất cả về tinh thần, ít nhất là thực hiện những quy định về lương tối thiểu, các chế độ chính sách về đời sống vật chất và tinh thần như tham gia bảo hiểm xã hội, khám bệnh định kỳ cho người lao động, trang bị đầy
đủ các dụng cụ bảo hộ lao động, cải thiện môi trường làm việc: xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tạo môi trường làm việc an tồn cho người lao động kể cả cộng đồng sống xung quanh doanh nghiệp… mà Nhà nước đã quy định
Trong giai đoạn cuối năm 2005 đầu năm 2006 là thời điểm nóng bỏng nhất của việc tranh chấp lao động trong cả nước Chỉ tính từ ngày 28/12/2005 đến ngày 23/3/2006, cả nước xảy ra 201 vụ đình công, 87% là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi
Các vụ đình công do mâu thuẫn về quyền lợi giữa người lao động và người sử dụng lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn xảy ra mang tính tự phát kéo dài Trong tranh chấp quan hệ lao động, nguyên nhân do việc giải quyết các chế
độ với người lao động Đến nay tình hình đã ổn định, các doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh bình thường Qua các vụ tranh chấp quan hệ lao động, trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, ta rút ra kết luận sau:
Bất cập tiền lương, là nguyên nhân căn bản làm tăng đình công, tuy các cuộc đình công đều không tuân thủ theo quy định của pháp luật lao động, nhưng đều xuất phát từ việc trả lương quá thấp, điều kiện sống và làm việc của người lao động không đảm bảo Một trong nguyên nhân sâu xa chính là thu nhập của người lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngồi chưa tương xứng với cường độ lao động và thời gian làm việc của họ Tính từ đầu năm 1999 đến nay, trong khi giá tiêu dùng tăng cao trên 4,5 lần, giá công nhân trên thị trường lao động đã thay đổi, lương tối thiểu trong khu vực Nhà nước đã được điều chỉnh tới 3 lần, nhưng lương của khu vực có vốn đầu tư nước ngồi vẫn không thay đổi Nhằm ngăn ngừa các cuộc đình lãn công đòi tăng lương đang diễn ra khá phức tạp cuối năm 2005, Chính
Trang 18phủ đã ban hành Nghị định số: 03/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2006, về điều chỉnh lại mức lương tối thiểu khu vực này Song khi ban hành các cuộc đình lãn công vẫn xảy ra, với tốc độ và độ phức tạp vẫn không thay đổi, đó chính là sự thiếu nghiên cứu tỉ mỉ và chuẩn bị kỹ nên sau khi ban hành đã vấp phải những khó khăn nhất định Người sử dụng lao động đã lúng túng về tài chính bởi hợp đồng lao động năm 2006 đã được ký kết từ cuối năm trước, có nhiều công ty nhất là những công ty con của các tập đồn lớn, đã lên kế hoạch tài chính năm 2006, rất khó cho họ khi thay đổi chính sách lương vì kèm theo đó các hợp đồng sản xuất đã ký với giá nhân công đã định Trong khi đó, người lao động cũng rất thiệt thòi khi doanh nghiệp chưa hoặc không kịp làm hệ thống thang bảng lương, tiền lương trả không thích hợp giữa lao động mới với lao động lâu năm Cùng lúc đó các doanh nghiệp lợi dụng lấy luôn mức lương tối thiểu làm lương cơ bản trả cho công nhân và giảm các phụ cấp khác, cắt thưởng bù vào lương cơ bản Ngồi ra sự bất cập trong quan hệ lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngồi còn do không thực hiện chế độ chính sách đã quy định là bảo hiểm xã hội; mặc dù, hàng tháng các doanh nghiệp vẫn trừ lương, nhưng công nhân bệnh vẫn phải lấy tiền túi ra điều trị Việc chậm trả lương cũng là một nguyên nhân; chậm ký kết hợp đồng lao động cho công nhân đã qua thời gian thử việc; không tổ chức khám sức khoẻ định kỳ hàng năm cho công nhân hoặc khám cho có lệ như khám ở các phòng khám không đủ tiêu chuẩn rẻ tiền (thực ra chưa có hướng dẫn cụ thể nào về yêu cầu chất lượng để khám sức khoẻ định kỳ); không giải quyết phép năm, không quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của công nhân: đa số công nhân thường phải ở nhà trọ chật hẹp và và hầu như không được sinh hoạt văn hóa tinh thần Trong tình trạng chốn an cư không có, mọi việc đều có tính chất tạm bợ, lại tăng ca liên tục, thu nhập thấp, tất yếu người lao động dẫn đến đình lãn công
Trang 19Chương 2
TÌNH HÌNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG KHU
VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGỒI Ở
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bình Dương thuộc tỉnh miền Đông Nam bộ, có lợi thế về vị trí kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, lại vừa là một trong những tỉnh năng động nhất thuộc vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam Chính vì vậy, cùng với cả nước, việc phát triển các khu công nghiệp sẽ có tác động thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của địa phương và vùng Những năm vừa qua, cùng với cả nước, Bình Dương phát triển nhiều khu công nghiệp Đầu tư nước ngồi vào các KCN tỉnh Bình Dương không ngừng nâng lên cả về số lượng và chất lượng, góp một phần lớn trong việc duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, giai đọan 1996 – 2000 bình quân 15,18%, giai đoạn 2001 – 2006 bình quân 14,56% Tính đến nay, có 792 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi với tổng số vốn đầu tư 4,851,591,000USD, tăng 59% so với năm 2005 (chiếm 71,9% vốn đầu tư trong KCN), có 137.236 lao động đang làm việc tại khu vực này tăng 20,25% so với năm 2005 (theo Báo cáo năm 2006 của Ban Quản lý các Khu Công nghiệp Bình Dương) Việc tăng nhanh vốn đầu tư và nguồn nhân lực vào các khu vực có vốn đầu tư nước ngồi trong khu công nghiệp tỉnh Bình Dương, thời gian qua đóng góp một phần lớn trong phát triển kinh tế của tỉnh trong việc tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, nhất là làm cho đời sống của người lao động ngày càng phát triển
Có vị trí địa lý phía Nam gần thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối giao lưu lớm của cả nước; đất đai tương đối bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, thích hợp cho xây dựng và trồng cây công nghiệp dài ngày: cao su , cây công – nông nghiệp ngắn ngày: tiêu, điều, cà phê, trái cây … nguồn nguyên liệu cho phát triển ngành chế biến thực phẩm, vỏ xe…; quỹ đất còn lớn; có nguồn tài nguyên với nhiều loại khống sản phi kim loại dồi dào: đất cao lanh, đá và cát xây dựng; khí hậu ôn hòa; trên địa bàn tỉnh có các trục lộ giao thông
Trang 20huyết mạch của quốc gia, đó là quốc lộ 1, 13, 14, đường sắt Bắc – Nam, tuyến đường xuyên Á; hạ tầng kỹ thuật được đầu tư tốt đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa tỉnh nhà
Trong những năm qua, vận dụng đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, tỉnh Bình Dương có chính sách thu hút đầu tư thông thống, chính quyền Tỉnh tạo môi trường đầu tư thuận lợi, đến nay Bình Dương có 16 Khu Công Nghiệp đang hoạt động, 3 Khu Công Nghiệp khác được quy hoạch được Chính phủ chấp thuận chủ trương (KCN Bàu Bàng, Rạch Bắp, An Tây) chưa kể Khu liên hợp Công nghiệp – Dịch vụ – Đô thị Bình Dương đang xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thu hút nhiều
dự án đầu tư trong và ngồi nước
Dự báo tình hình thu hút dự án đầu tư và lao động sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới Sự gia tăng nhanh chóng số lượng doanh nghiệp và CNLĐ đã có tác động tích cực về mặt phát triển kinh tế địa phương , song cũng làm phát sinh một
số vấn đề xã hội bức xúc, trong đó tình trạng tranh chấp lao động dẫn đến đình lãn công làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội, thiệt hại kinh tế của NLĐ, DN và của cả xã hội Từ đó, mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ được đặt ra, là mối quan tâm của chính quyền trong việc giải quyết mối quan hệ ngày diễn ra càng phức tạp này, cần
có chính sách vĩ mô hạn chế những mặt tiêu cực của nó trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường
2.1 THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGỒI Ở KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1.1 Về quan hệ lợi ích kinh tế
Trang 21Hiện nay, đa số doanh nghiệp nước ngồi trong khu vực này đều làm ăn có hiệu quả, từ năm 2000 – 2006 theo bảng 2.1
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua ở một số doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn dẫn đến phá sản, chủ doanh nghiệp bỏ trốn Trong năm 2006, có 6 doanh nghiệp phá sản, gây khó khăn cho 1800 công nhân lao động mất việc làm, tiền lương và chế độ chính sách không được giải quyết, Ban Quản lý các khu công nghiệp, Liên đồn Lao động Tỉnh tham gia cùng các ngành giải quyết tiền lương cho
290 công nhân ở các Công ty Hambea, IQ Lan …
Khó khăn trên là do hầu như không có doanh nghiệp nào thực hiện quỹ dự phòng, quỹ dự phòng này hỗ trợ cho người lao động mất việc, ngừng việc hoặc doanh nghiệp phá sản Theo quy định hàng năm các công ty được trích lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm từ 1 – 3% trên quỹ tiền lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp, mức trích cụ thể do DN tự quyết định tùy vào khả năng tài chánh của DN và được chuyển số dư sang năm sau, không phải hồn nhập
số dư quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm
Trang 222.1.1.2 Tiền công
Đa số doanh nghiệp đã xác định tiền lương là bộ phận quan trọng trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực Xây dựng được chế độ tiền lương có tính cạnh tranh
là điều hết sức quan trọng đối với việc thu hút và giữ chân NLĐ gắn bó lâu dài với
DN cũng như lưu giữ nhân tài, tăng thêm sự đồng lòng của nhân viên đối với tổ chức, từ đó tạo nên cơ sở vững chắc để DN có ưu thế cạnh tranh trên thị trường Một chế độ tiền lương hợp lý và có sức hấp dẫn sẽ kích thích tính tích cực của NLĐ hoạt động có hiệu quả, thúc đẩy NLĐ cố gắng hồn thành mục tiêu phát triển của
DN
Qua đó việc thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu theo nghị định 03/NĐ-CP ngày 06/01/2006 từ 710.000/người/tháng đến 790.000 đồng/người/tháng tuỳ KCN thành lập theo địa bàn của Tỉnh thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngồi, riêng mức lương khởi điểm trả cho NLĐ đã qua đào tạo nghề và thời gian thử việc nêu trên phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu quy định Đa số các doanh nghiệp thực hiện tốt, năm 2006 tiền lương và thu nhập của NLĐ được cải thiện, có thu nhập bình quân 1,2 triệu đồng/người/tháng (có số ít có mức thu nhập 2 triệu đồng/người/tháng); lao động quản lý; công nhân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tiền lương gấp 10-12 lần so với mức bình quân chung
Gần đây nhất, ngày 16/11/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 168/2007/NĐ-CP về việc Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, cơ quan, tổ chức nước ngồi, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngồi tại Việt Nam Trong đó quy định, mức lương tối thiểu của người lao động thuộc khu vực Thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên là 900.000đ/người/tháng, khu vực huyện Phú Giáo, Dầu Tiếng là 800.000 đ/người/tháng – sẽ được áp dụng từ ngày 01/01/2008
2.1.1.3 Về phúc lợi, khen thưởng
Trang 23Theo quy định của Luật Lao động, chế độ khen thưởng được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; cơ sở để xây dựng quỹ phúc lợi, khen thưởng căn cứ vào kết quả sản xuất - kinh doanh hàng năm và mức độ hồn thành công việc của NLĐ
Do công đồn không nắm được lợi nhuận doanh nghiệp (thường được xem là bí mật doanh nghiệp), nên khó khăn cho sự tham gia của công đồn trong việc phân
chia lợi nhuận cho phúc lợi tập thể: tiền thưởng, nâng cao trình độ văn hóa – chuyên môn, nhà ở, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần của NLĐ Tùy theo nhận thức của mỗi chủ DN vào việc phân chia lợi nhuận để phát triển mối QHLĐ bền vững, điển hình ở những doanh nghiệp lớn như Công ty Triumph (Sóng Thần I), Công ty Yazaki (Mỹ Phước I)…, thì họ đã trích 5 -10% lợi nhuận cho phúc lợi tập thể
2.1.1.4 Về chi phí đào tạo nâng cao trình độ người lao động
Quy trình tuyển dụng LĐ của các DN trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi tại các KCN tỉnh Bình Dương như sau: đưa ra yêu cầu về số lượng, chất lượng lao động cần tuyển cho Ban quản lý các Khu công nghiệp, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Tỉnh… nếu không đáp ứng, DN thông báo nhu cầu tuyển dụng trên biển treo trước Công ty, báo đài, mạng Internet, qua Hội chợ việc làm do Sở – Ban – Ngành của Tỉnh tổ chức Đa số công nhân sau khi được tuyển dụng, nếu không đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh thì DN tổ chức đào tạo lại do chuyên gia nước ngồi phụ trách để phù hợp với công nghệ mới; cũng có DN tự tuyển dụng công nhân không biết nghề và đào tạo nghề cho công nhân mới
Khi thay đổi công nghệ, thay đổi chất lượng, số lượng sản phẩm DN sử dụng chuyên gia nước ngồi đào tạo tại chỗ cho NLĐ
Chi phí đào tạo nâng cao trình độ văn hố – chuyên môn của công nhân, do không được quy định cụ thể, tuỳ theo tầm nhìn và chiến lược của DN, có hai hướng đào tạo: Một là đào tạo tại chỗ do chuyên gia nước ngồi phụ trách trên máy móc cụ thể hoặc gởi đi học tại các tỉnh hoặc thành phố có điều kiện thích hợp Hai là, gởi đi đào tạo ở nước ngồi, xu hướng này được Tỉnh khuyến khích song có ít DN quan
Trang 24tâm, chỉ có những DN lớn xây dựng chiến lược này, nhằm vào những đối tượng cán
bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý; theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Bình Dương, trong năm 2006 có 5 DN gởi 12 cán bộ đi học ở nước ngồi
Nói chung, DN trong khu vực này chỉ chú trọng sản xuất kinh doanh với lực lượng lao động đã qua đào tạo, họ bỏ ra chi phí đào tạo lại và thuê mướn chuyên gia nước ngồi vừa phụ trách kỹ thuật và quản lý sản xuất
403 đơn vị (85,84%), tổng số lao động tham gia là 81.535 người, chiếm tỷ lệ 59,41% so với tổng số lao động đang làm việc
Tuy nhiên, hiện nay chỉ có 117 doanh nghiệp , chiếm tỷ lệ 25% so với số doanh nghiệp đã có tổ chức công đồn xây dựng được thoả ước lao động tập thể Đó cũng
là sự tiến bộ đáng mừng, thậm chí năm 2005 có 11% và 2001 là 1,5% DN có tổ chức công đồn xây dựng thoả ước lao động tập thể; song tỷ lệ này cho thấy các doanh nghiệp vẫn chưa nhận thấy sự cần thiết của thoả ước lao động tập thể khi có tranh chấp lao động xảy ra Bên cạnh đó, số doanh nghiệp được thông báo thừa nhận chỉ có 108 doanh nghiệp đăng ký thang bảng lương, đạt 23% số doanh nghiệp
đã hoạt động và 305 doanh nghiệp thông báo đăng ký nội quy lao động doanh nghiệp (65%)
Trang 25Hoạt động của Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Theo tổng kết của Tỉnh Đồn, trong khu vực này hoạt động của Đồn Thanh niên khá khiêm tốn, chỉ xây dựng được 2 chi đồn với 21 đồn viên, 6 chi Hội Liên hiệp Thanh niên với 68 hội viên và chi hội công nhân nhà trọ với 10.539 hội viên, tỉ lệ tham gia hoạt động đạt 11,24% Hoạt động chi đồn, Hội Liên hiệp Thanh niên trong
DN cụ thể là phong trào thi đua tăng năng suất lao động, thực hiện các công trình của thanh niên, chuyền sản xuất thanh niên, chấp hành nội quy của đơn vị Góp phần nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu làm lợi cho DN Những hoạt động có tính thiết thực đáp ứng nhu cầu của thanh niên công nhân và chủ DN ở các đơn vị có tổ chức thanh niên Do vậy, rất được sự ủng
hộ, hưởng ứng của các bạn trẻ và chủ DN
Hoạt động đồn thể (công đồn và Đồn thanh niên) mang lại cho NLĐ an tâm lao động sản xuất phục vụ cho doanh nghiệp, đảm bảo đời sống vật chất và nâng cao đời sống tinh thần cho NLĐ, tạo điều kiện để người lao động phát huy khả năng của mình để làm chủ xã hội Hoạt động này, chủ yếu là công đồn đang từng bước trưởng thành, đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ lợi ích chính đáng cho NLĐ, giáo dục nhận thức chính trị tư tưởng cho NLĐ, làm trung gian hồ giải khi có tranh chấp lao động xảy ra giữa NSDLĐ và NLĐ, thể hiện qua các mặt cụ thể sau:
2.1.2.2 An tồn vệ sinh lao động
An tồn, vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Các DN có vốn ĐTNN trong KCN với hệ thống công nghệ, dây chuyền máy móc tiên tiến và cường độ làm việc cao đòi hỏi DN càng phải nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của những quy định về an tồn, vệ sinh lao động sau đó nâng cao năng suất và hiệu quả lao động của NLĐ
Hàng năm, Ban ATVSLĐ-PCCN của Tỉnh đều tổ chức các lớp bồi dưỡng về ATVSLĐ cho công nhân, phát động phong trào An tồn vệ sinh lao động trong tất cả các doanh nghiệp đang đầu tư sản xuất kinh doanh trong Tỉnh, tổ chức hội thi An tồn vệ sinh viên giỏi cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngồi trong KCN Ngày càng
Trang 26có nhiều đơn vị tham gia, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, qua đó xây dựng nhận thức của chủ DN về tầm quan trọng của công tác này
Nhìn chung các DN thực hiện tốt về quy định kiểm định, đăng ký sử dụng các thiết bị có nhu cầu nghiêm ngặt về an tồn lao động; thành lập các cơ sở y tế tại doanh nghiệp để chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho công nhân Các DN cũng đã trang
bị phương tiện bảo hộ cá nhân, tổ chức tập huấn về vệ sinh lao động cho công nhân đang làm việc Từ đó, ngày càng giảm tai nạn nghiêm trọng như chết người, gây thiệt hại tài sản của DN Trong năm 2006, do người lao động ý thức an tồn lao động trong làm việc chưa cao, đã xảy ra 231 tai nạn nhẹ với tiền chi phí chữa trị là 152 triệu đồng (nguồn: BQL các khu công nghiệp BD); nguyên nhân còn do cả việc trang bị thiết bị an tồn của DN, cá biệt nhiều DN sử dụng thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, môi trường ô nhiễm không được cải thiện (ngành chế biến gỗ và sản xuất đồ mộc…) ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ Tỉ lệ NLĐ mắc bệnh nghề nghiệp hiện nay chưa có một tổ chức y tế tổ chức đánh giá về trường hợp này, song chúng tôi đề nghị nên có cuộc kiểm tra của ngành y tế để có đánh giá thực tế, từ đó có biện pháp khắc phục, nếu không sẽ ảnh hưởng về lâu dài, mà hậu quả của nó cần có chính sách Nhà nước để khắc phục không nhỏ về tài chính và cả mặt xã hội
Về việc cải thiện môi trường làm việc cho người lao động, đa số các doanh nghiệp đều đã thực hiện các biện pháp làm tốt môi trường cho NLĐ làm việc như xây dựng hệ thống xử lý khí thải, bụi, xây dựng hệ thống làm mát nơi làm việc của công nhân
2.1.2.3 Nâng cao đời sống tinh thần
Hiện nay tổ chức công đồn, Đồn hội thanh niên đã tích cực phát huy vai trò của mình trong việc nâng cao đời sống văn hố, tinh thần cho NLĐ Ngồi ra chủ DN đã nhận thấy rằng, trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, ngồi công nghệ máy móc hiện đại, để cạnh tranh, doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm Và vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm thì doanh nghiệp phải chăm lo đội ngũ lao động Chỉ khi nào NLĐ hài lòng với điều kiện làm việc, không chỉ có tiền lương, thưởng, phụ
Trang 27cấp… mà còn được hưởng thụ đời sống văn hố tinh thần thì họ mới tồn tâm tồn ý làm việc để có năng suất Chủ DN qua các đồn thể mà công đồn là chủ yếu, qua những ngày lễ lớn, cuối tuần, cuối đợt lao động giao hàng theo hợp đồng, đã có nhiều công ty tổ chức cho hàng ngàn người lao động đi tham quan, vui chơi, giải trí chi phí lên đến vài tỷ đồng; tổ chức hoặc tham gia cuộc thi văn nghệ, thể dục thể thao do các ban ngành tỉnh tổ chức, nhằm giao lưu giữa các công nhân ở các bộ phận trong cùng DN hay giữa các DN trong các KCN; tổ chức đêm văn nghệ cho tồn bộ công nhân trong DN, trong KCN thưởng thức như KCN Sóng Thần, Đồng An; đặc biệt KCN Mỹ Phước I, II, III có Nhà văn hố tại KCN Mỹ Phước III hàng tháng thường tổ chức đêm văn nghệ, có sự tham gia của những ca sĩ nổi tiếng; hàng năm Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương phối hợp với Liên đồn Lao động Tỉnh, Sở Thể dục thể thao tổ chức hội thao thể dục thể thao cho tồn bộ công nhân trong các KCN Tỉnh tham gia; có DN tổ chức nơi giữ trẻ trong công ty Đối với người phụ nữ còn gì hạnh phúc hơn giờ giải lao, giờ nghỉ trưa nhìn thấy con mình đang khoẻ mạnh, vui chơi Các doanh nghiệp này cho rằng số tiền chi cho các việc làm này không lớn, DN sẽ được nhiều hơn từ năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao cạnh tranh được với thị trường trong và ngồi nước từ NLĐ mang lại,
họ có được đội ngũ NLĐ trung thành, gắn bó lâu dài với doanh ngiệp, giữ chân được người tài, chính họ đem hết khả năng và trí tuệ phục vụ vì sự phát triển của
DN mà họ đang làm việc và sẵn sàng chia sẻ cùng DN khi gặp khó khăn
2.2 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH DƯƠNG THỜI GIAN QUA
2.2.1 Đình lãn công
Những năm trước đây đến bây giờ, trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhất là trong khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tình hình tranh chấp lao động, thường xảy ra việc đình lãn công với mật độ càng dày vào những ngày cuối năm Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán, đây là thời gian nhạy cảm vì trên 92% người lao động
từ các địa phương khác đến, điều mà họ thật sự cần thiết là lương và thưởng, nếu
Trang 28không rõ ràng hoặc không đáp ứng yêu cầu như quy định, thì tranh chấp lao động sẽ xảy ra; làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thu nhập, đời sống của đa số người lao động và an ninh trật tự ở địa phương
Năm 2006 ở khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tại các Khu công nghiệp tỉnh Bình Dương, đã xảy ra 45 vụ đình công và 17 vụ lãn công (theo bảng thống kê phía sau), với số công nhân tham gia là 52.247 người làm thiệt hại vật chất USD 200,000 Các tranh chấp lao động tập thể do chính sách vĩ mô chậm ban hành và hướng dẫn thực hiện chính sách tiền lương, do người lao động không thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật , sa thải công nhân không lý do, không báo trước, hà khắc trong quản lý vượt quy định của pháp luật xâm phạm đến nhân phẩm con người kể cả theo công pháp quốc tế; điều kiện lao động không đảm bảo, tiền phụ cấp độc hại thấp hơn qui định, kỷ luật bằng cách trừ lương, làm bù không tính tiền phụ trội…
Trong khi đó, riêng ở các KCN tỉnh Bình Dương chỉ riêng từ ngày 03 đến ngày 14/01/2006 trong các KCN Sóng Thần I, Sóng Thần II, Đồng An, Bình Đường có
46 doanh nghiệp với 46.569 công nhân đã tham gia đình, lãn công Theo cơ cấu vốn đầu tư có 41 DN nước ngồi với số lượng CN là 39.313, trong đó chủ yếu là DN Đài Loan: 20 DN chiếm 43,5% với số lượng công nhân tham gia là 8.136 và DN Hàn Quốc: 14 chiếm 30,4% với số lượng công nhân tham gia là 7.256 Về thiệt hại vật chất, có 12 DN bị thiệt hại được tính lên đến USD 200,000, do thiệt hại từ nhà xưởng, máy móc, hàng hố, tiền trả công lao động,…
Qua các vụ đình công tập trung ở thời điểm trước và sau Tết âm lịch hàng năm, ngành nghề tranh chấp là ngành may mặc, giày da, đồ gỗ; nơi có điều kiện cường
độ lao động cao, thời gian làm thêm giờ và tăng ca kéo dài liên tục vượt qua qui định làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của NLĐ, đa số thuộc các doanh nghiệp Đài Loan, Hàn Quốc
Trang 29Bảng 2.2: Số vụ tranh chấp lao động, đình lãn công từ năm 2001-2006
ĐTNN
Mỹ, Úc, Hà Lan, Thái Lan, Malaysia, Singapore…)
Vốn Đài Loan
Vốn Hàn Quốc
Nguồn: Liên đồn Lao động Tỉnh Bình Dương [23 trang 2-3]
Qua thống kê 145 cuộc tranh chấp lao tập thể và đình công (năm 2001 và 2006 ) cho thấy:
- May mặc, may túi sách dệt thêu: 35 DN chiếm tỷ lệ 23,97%;
- Gỗ gia dụng, gỗ xuất khẩu: 28 DN chiếm tỷ lệ 19,42%;
- Xe đạp – phụ tùng xe đạp: 7 DN chiếm tỷ lệ 04,96%;
Xem xét các vụ đình lãn công trong khu vực có vốn ĐTNN trong các KCN cho thấy một số điểm đáng lưu ý sau:
100% các vụ đều không do công đồn tổ chức, lãnh đạo
đồn
Đa số các vụ phát xuất từ những tranh chấp về lợi ích kinh tế như: tiền lương, tiền thưởng; thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; xử lý kỷ luật, giao kết Hợp đồng lao động chưa đúng quy định của pháp luật
Trang 30 Hầu hết các vụ đình công là tự phát, không tuân thủ theo đúng trình
tự pháp luật quy định Có một số vụ NLĐ bị lôi kéo, kích động bởi một nhóm công nhân quá khích
2.2.2 Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp lao động
2.2.2.1 Về lợi ích kinh tế
-Về tiền lương tối thiểu: Một số ở các doanh nghiệp cũng thực hiện mức lương tối thiểu mới theo quy định, trong khi đó lại cắt các khoản ưu đãi của doanh nghiệp như: chuyên cần, trách nhiệm, tiền xăng, tiền nhà trọ, tiền thưởng…
Tiền lương tối thiểu, theo đánh giá của Vụ Tiền lương – Tiền công (Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội), mức lương tối thiểu chung của NLĐ chưa đảm bảo mức sống tối thiểu, tùy thuộc vào ngân sách của doanh nghiệp chưa phù hợp với quan hệ cung cầu lao động trên thị trường Một số doanh nghiệp “ép” tiền công, không thực hiện Từ năm 2000 đến nay, đã có bốn lần điều chỉnh lương tối thiểu chung Qua việc thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu theo nghị định 03/NĐ-CP ngày 06/01/2006 từ 50 USD/người/tháng đến 790.000 đồng/người/tháng thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngồi (có chiều hướng giảm) Trong khi, chỉ số tiêu dùng (CPI) đã tăng lên 35%, mà đó là cơ sở quan trọng để hình thành giá tiền công trên thị trường lao động, bước đầu khắc phục tính bình quân trong phân phối Giá cả sức lao động của NLĐ được coi là thấp, không đủ để trang trải cho các chi phí hàng ngày, nhất là khi chỉ số tiêu dùng (CPI) liên tục tăng trung bình hàng năm từ năm
2000 – 2006 tăng từ 8 – 9%
- Về chi trả tiền làm thêm giờ, tiền phụ cấp làm ca đêm, tiền phụ cấp ngành nghề nặng nhọc độc hại không đúng theo quy định, tiền thưởng không được thông báo hoặc hứa chi tiền thưởng mà không chi
Thay đổi phương án trả lương từ lương thời gian sang lương sản phẩm, nhưng không được bàn bạc thông báo trước với NLĐ, chậm trả lương và kéo dài thời gian nâng lương
Trang 31Không tham gia đóng BHXH, BHYT, hoặc khấu trừ tiền lương của NLĐ nhưng lại không đóng cho cơ quan BHXH
Xử phạt cúp lương, thưởng thay cho hình thức kỷ luật trái với quy định của pháp luật lao động, khi NLĐ vi phạm nội quy lao động và không tham gia làm thêm giờ, thêm buổi
2.2.2.2 Về điều kiện lao động
Thực hiện qui định về vệ sinh, an tồn
Tình hình thực hiện qui định của pháp luật về người lao động bị vi phạm, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi có doanh nghiệp sản xuất, gia công thuộc ngành dệt, may, giày, da thời gian và cường độ lao động tăng rất cao vượt qua qui định làm ảnh hưởng đến sức khỏe của NLĐ, trong lúc đó lại không tính tiền phụ trội
Về điều kiện làm việc, nhìn chung các quy định về kiểm định, đăng ký sử dụng các thiết bị có yêu cần nghiêm ngặt về an tồn lao động; thành lập các cơ sở y tế tại doanh nghiệp để chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho công nhân được các DN thực hiện
Đa số DN cũng trang bị tương đối đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân, tổ chức tập huấn về an tồn vệ sinh lao động cho công nhân đang làm việc Theo thống kê hàng năm có trên 600 vụ tai nạn lao động, riêng năm 2006 đã xảy ra cao nhất với 131 vụ Nguyên nhân chủ yếu là do NSDLĐ chưa quan tâm tổ chức huấn luyện về an tồn lao động, thiếu biện pháp an tồn, thiếu quan tâm giám sát qui định khắc khe cho NLĐ trong lao động sản xuất NSDLĐ chưa quan tâm đặt ra quy chế kiểm tra thường xuyên, mặt khác do ý thức của NLĐ chưa cao, bất cẩn, chủ quan trong khi làm việc Tuy chưa xảy ra vụ chết người nào, nhưng vẫn còn đó nỗi lo về tai nạn lao động cho cả NSDLĐ và NLĐ, kể cả các cơ quan chức năng
Vẫn còn một số doanh nghiệp môi trường làm việc của công nhân chưa được cải thiện, diện tích làm việc chật chội không đủ quy cách, ánh sáng, tiếng ồn nơi làm việc của công nhân vượt qua mức cho phép, từ đó về lâu dài bệnh nghề nghiệp của người công nhân tất nhiên sẽ xảy ra trong tương lai Hiện nay chưa có một cơ quan khoa học nào của Nhà nước điều tra nghiên cứu để đưa ra biện pháp khả thi để hạn
Trang 32chế tình trạng này, trong khi đa số công nhân hiện nay còn trẻ, sức chịu đựng còn chịu đựng được, các doanh nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngồi có quy mô nhỏ
và vừa, thường có chiến lược kinh doanh ngắn hạn, đầu tư vào những lĩnh vực cần nhiều lao động phổ thông Khi họ hết thời hạn kinh doanh lúc đó tuổi cao người công nhân rất dễ sinh bệnh nghề nghiệp, lúc đó doanh nghiệp đã hết thời hạn hoặc chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác, nơi khác hoặc phá sản, bệnh nghề nghiệp của NLĐ sẽ là gánh nặng cho gia đình, bản thân và xã hội
Xây dựng định mức lao động không phù hợp dẫn đến NLĐ không thực hiện được phải làm thêm giờ mới hồn thành được khối lượng công việc theo định mức, nhưng không được tính thời gian làm thêm giờ Kéo dài thời gian thử việc, không giao kết hợp đồng với NLĐ
Thời gian làm thêm giờ và tăng ca kéo dài liên tục trong nhiều ngày, dẫn đến sức khoẻ người lao động bị suy giảm không thể thực hiện được công việc phân công (không phục hồi được sức khoẻ, tái tạo sức lao động)
2.2.2.3 Về quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
Thái độ của NSDLĐ tạo mối QHLĐ chưa được hồ đồng, một phần do bất đồng ngôn ngữ dẫn đến thái độ nóng nảy chửi mắng, doạ nạt thiếu văn minh lịch sự, một phần do người trợ lý phiên dịch, dịch thuật không đúng hoặc tham mưu sai dẫn đến NSDLĐ quyết định vấn đề liên quan lao động không đúng pháp luật
Tuỳ tiện xử lý sa thải, chấm dứt hợp đồng, chuyển NLĐ sang làm việc công việc khác mà không căn cứ vào mức độ sai phạm, có nhiều vụ việc đưa ra lý do không chính đáng, không chứng minh được lỗi của NLĐ Dùng các hình phạt mang tính nhục hình như: phơi nắng, xếp hàng ngồi nắng, đứng chờ ăn cơm trưa…
Không đáp ứng nguyện vọng và tạo điều kiện cho NLĐ thành lập tổ chức công đồn hoặc vô hiệu hố không tạo điều kiện cho công đồn hoạt động Quan trọng nhất
là khi BCH công đồn cơ sở mạnh dạn đấu tranh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ thì bị trù dập bằng nhiều hình thức kể cả việc chấm dứt HĐLĐ khi hết HĐLĐ…
Trang 33Tính chất vụ việc tranh chấp ngày càng phức tạp, với số lượng công nhân đông
từ 1.000 đến hơn 4.000, có công ty thời gian đình, lãn công kéo dài từ 03 – 04 ngày
* Tính hợp pháp của các cuộc tranh chấp lao động tập thể và đình lãn công: 100% các cuộc tranh chấp lao động tập thể và đình công đều không do công đồn khởi xướng, lãnh đạo, tổ chức và không tuân thủ trình tự thủ tục theo pháp luật quy định
- Một số lao động vì cần có việc làm nên không quan tâm đến việc giao kết HĐLĐ và chi trả đúng hay không Quá trình làm việc NLĐ yêu cầu được cải thiện hoặc yêu cầu thực hiện các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật không được NSDLĐ đáp ứng, từ đó tiến hành các cuộc tranh chấp lao động tập thể và đình công
- Các cuộc tranh chấp lao động tập thể và đình công nơi có tổ chức công đồn
cơ sở, hầu hết công đồn không được báo trước về nội dung tranh chấp, có công đồn nắm bắt được vấn đề kiến nghị trực tiếp với NSDLĐ, nhưng chủ DN trì hỗn kéo dài thời gian giải quyết
- Các cuộc tranh chấp lao động tập thể và đình công đa số đều do lỗi của NSDLĐ
Sau đây chúng ta đi sâu vào phân tích những hạn chế cơ bản trong QHLĐ
2.2.2.4 Về chất lượng lao động
Một vấn đề đang đặt ra đối với Việt Nam, kể cả khu vực có vốn đầu tư nước ngồi trong các khu công nghiệp Tỉnh Bình Dương là chất lượng NLĐ Chất lượng lao động chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp Lực lượng lao động trẻ nhưng trình độ chuyên môn của người lao động còn thấp, chỉ phù hợp cho giai đoạn đầu kêu gọi đầu tư nước ngồi cho những ngành cần nhiều lao động giản đơn, phổ thông mà các nước công nghiệp phát triển cần chuyển đầu tư qua nước khác, không cần đầu tư vốn nhiều, công nghệ tiên tiến và thu hồi vốn nhanh: may mặc, giày, da, dệt nhuộm, đồ gỗ… NSDLĐ khó tìm được công nhân có trình độ và tay nghề cao theo nhu cầu, đó là một trong những lý do làm cho
Trang 34Bình Dương hạn chế tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngồi so với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai Đối với những dự án lớn của các tập đồn đa quốc gia, họ chỉ cần công nhân lành nghề có trình độ cao để tiếp thu và phát triển công nghệ mới họ đầu tư Chất lượng người lao động là một vốn quý của Tỉnh, song lực lượng này quá thiếu nhất là đội ngũ quản lý Số có chuyên môn qua đào tạo không phù hợp với công nghệ do các doanh nghiệp nước ngồi chuyển giao, họ lại phải đào tạo tại chỗ hoặc gởi ra nước ngồi, vừa tốn thời gian và tài chánh mà quan trọng nhất
là chậm triển khai đi vào sản xuất kinh doanh
Điều hạn chế này sẽ đặc biệt nghiêm trọng khi Việt Nam đã là thành viên WTO,
sẽ khó thu hút nhà đầu tư do thiếu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu theo yêu cầu của nền kinh tế hội nhập, kêu gọi đầu tư nước ngồi trong mhững lĩnh vực có công nghệ cao của các tập đồn lớn
Ở Bình Dương, số lượng NLĐ hàng năm được thu hút vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi ngày càng nhiều, nhưng chất lượng không được cải thiện Theo kết quả điều tra của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Bình Dương đến 12/2006, trong khu vực này mặc dù có nhiều cố gắng nhưng số lao động được đào tạo không cao theo thống kê sau:
Bảng 2.3 Trình độ văn hố, chuyên môn của người lao động ( %)
Trang 35- Trình độ học vấn: Trong tổng số lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước
ngồi 73.789 người (tính đến tháng 12/2006), thì lao động tốt nghiệp PTCS 29.590 người tốt nghiệp PTTH, 29.147 người, còn lại chưa tốt nghiệp PTCS và đã được phổ cập PTCS chiếm 79.6%
- Về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp: trong tổng số lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngồi 73.789 người (tính đến tháng 12/2006), lao động
có trình độ đại học , cao đẳng là 3.025 người, trung cấp là 5.739 người, công nhân
kỹ thuật 9.460 người chiếm 12,82%, đội ngũ lao động này chủ yếu làm ở bộ phận hành chánh, văn phòng, quản lý, quản đốc , số còn lại là công nhân phổ thông được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng tại các trung tâm dạy nghề khoảng 12,5% và chưa qua đào tạo, sau khi tuyển dụng NLĐ được các doanh nghiệp bố trí, sắp xếp, đào tạo ngắn hạn trong thời gian thử việc vì hầu hết họ là nông dân chưa có tay nghề Phần đông số này được đào tạo tại doanh nghiệp, có người hướng dẫn tại chỗ, hình thức này mang tính phổ biến, phù hợp với đòi hỏi của doanh nghiệp về sản xuất và qua đó kỹ năng nghề nghiệp của người lao động được nâng lên trong thời gian ngắn nhất, kinh phí hầu như được doanh nghiệp chu cấp Năm 2006, trong năm 2006 có 22.338 lao động được tuyển mới trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tại Khu công nghiệp Bình Dương, số đã qua đào tạo tại các trung tâm dạy nghề là
Trang 3610.076 lao động chiếm 40,90%, chủ yếu là đào tạo ngắn hạn từ 1 đến 3 tháng đa phần thuộc lĩnh vực may mặc, loại trường này thường do các trung tâm dạy nghề của tư nhân thành lập; trong khi đó đào tạo dài hạn do nhà nước quản lý như Trường kỹ thuật Việt Nam – Singapore (chỉ phục vụ riêng cho Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore), trường Công nhân kỹ thuật Bình Dương do Sở Lao động, Thương binh và xã hội Bình Dương quản lý, Trường Mỹ Thuật Bình Dương do Sở giáo dục Bình Dương quản lý … đào tạo tay nghề bậc 5/7 cho các lãnh vực cơ khí, điện tử, thiết kế đồ gia dụng mộc, cơ điện lạnh… chỉ chiếm 9,9%
Điều mà chúng ta cần quan tâm, đó là tuyệt đại chức danh tổng giám đốc, giám đốc điều hành là người nước ngồi, kỹ sư điều hành… lực lượng nhân lực cao cấp này ở tỉnh Bình Dương thiếu nghiêm trọng, tỉnh chưa có nguồn cung ứng
2.3 NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ
Bình Dương là miền “đất lành chim đậu” cho cả những nhà doanh nghiệp đến đầu tư với chủ trương “trải thảm đỏ” mời gọi nhà đầu tư, “trải chiếu hoa” mời gọi người tài, kinh tế Bình Dương không thể phát triển nếu nhà đầu tư đến mà không có
đủ nguồn nhân lực, người lao động, đó là quan tâm đầu tiên khi nhà doanh nghiệp quyết định đầu tư Như vậy, để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội của Bình Dương, phát huy vai trò của Tỉnh đối với vùng, cần đẩy mạnh CNH, HĐH với giải pháp chủ yếu là phát triển KCN Các KCN được xây dựng và đưa vào hoạt động kêu gọi đầu tư nước ngồi …nhằm thúc đẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Tỉnh, của vùng, tạo nhiều việc làm mới, thu hút ngày càng nhiều lao động trong và ngồi Tỉnh
Sự gia tăng nhanh số lượng doanh nghiệp ở khu vực có vốn đầu tư nước ngồi đã
có tác động tích cực trên nhiều mặt kinh tế - xã hội của Tỉnh, nhưng cũng nảy sinh một số vấn đề bức xúc trong QHLĐ, trong đó có tình hình tranh chấp lao động và đình công của NLĐ, phần nào đã ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, môi trường đầu tư và ảnh hưởng đến lợi ích của NLĐ và cả NSDLĐ Những ảnh hưởng trên, đòi hỏi Nhà nước và các đối tác tham gia lao động phải tạo ra mối quan hệ lao động
Trang 37hài hồ, là yếu tố quan trọng nhất góp phần vào sự bình ổn kinh tế xã hội trong thời gian vừa qua Chúng ta đi vào phân tích nguyên nhân thành công, cũng như những hạn chế của mối quan hệ này
2.3.1 Nguyên nhân thành công
Bình Dương khai thác và phát huy được tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh; đồng thời, phát huy tính năng động và sáng tạo trong chỉ đạo và điều hành, nắm bắt và tích cực tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quan hệ lao động, trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi Công tác cải cách hành chính mang lại hiệu quả, góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện công cuộc CNH, HĐH vào phát triển kinh tế tỉnh nhà, cũng như xây dựng mối quan hệ lao động phát triển bền vững
Khi tình hình quan hệ lao động có chiều hướng xấu, tranh chấp lao động xảy ra, ngày 17/3/2006 Tỉnh thành lập Ban chỉ đạo về giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công không theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; thành phần ban chỉ đạo gồm: Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân làm trưởng, phó ban, thành viên có lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Thanh tra, Tư pháp, Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các KCN, Chủ tịch Huyện, Thị nơi xảy ra tranh chấp, Văn phòng Tỉnh uỷ, Văn phòng Uỷ ban Nhân dân Tỉnh
Ban Chỉ đạo Giải quyết tranh chấp lao động, đình công có trách nhiệm xây dựng
kế hoạch, ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động; trách nhiệm phối hợp giữa Ban chỉ đạo Tỉnh với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác phòng ngừa và tham gia giải quyết các tranh chấp lao động và đình công trên địa bàn Tỉnh Từ khi Ban chỉ đạo được thành lập đã có những hoạt động hiệu quả, những vụ tranh chấp lao động và đình, lãn công giảm rõ rệt (bảng thống kê) Ban đã triển khai nhiều biện pháp tích cực để ổn định tình hình, xây dựng quan hệ lao động
và nhanh chóng ổn định sản xuất kinh doanh của DN, hạn chế thấp nhất những thiệt hại kinh tế do tranh chấp lao động gây ra, đảm bảo việc làm và đời sống của NLĐ
Trang 38Đồng thời củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động công đồn ở các DN có xảy ra tranh chấp lao động
Ngồi nhiệm vụ giải quyết QHLĐ khi xảy ra sự cố, theo kế hoạch năm 2006 Ban chỉ đạo đã tổ chức ba cuộc họp toạ đàm với cán bộ công đồn cơ sở, chủ DN thuộc các KCN Bình Dương, KCN VSIP Qua cuộc họp mặt đã ghi nhận ý kiến của công nhân lao động, cán bộ công đồn về các vấn đề về chỗ ở, khám chữa bệnh, BHXH, BHYT, học tập, vui chơi, giải trí, kể cả phát triển Đảng CSVN…, các ý kiến được lãnh đạo các ngành giải đáp Trên cơ sở đó, UBND Tỉnh chỉ đạo các ngành tổ chức thực hiện các vấn đề hợp lý, thiết yếu của công nhân lao động kiến nghị
2.3.2 Nguyên nhân hạn chế
Những hạn chế trong QHLĐ trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi có nhiều, song chúng tôi chỉ tập trung vào những hạn chế cơ bản được trình bày sau:
2.3.2.1 Sự khác biệt về văn hóa trong quan hệ lao động
Các doanh nghiệp nước ngồi tại Việt Nam hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, công nghệ thông tin, du lịch và các ngành dịch vụ khác song phần lớn tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giày và chế biến thực phẩm, chung quy là những ngành nghề đầu tư có trình độ công nghệ thấp, vốn ít và thu hồi vốn nhanh
Nét nổi bật của quan hệ lao động trong khu vực này là sự khác biệt về văn hóa làm cho quan hệ lao động khá căng thẳng Với phong cách kinh doanh hiện đại, các chủ doanh nghiệp nước ngồi thường có thói quen ứng xử quyết đốn, nguyên tắc thiên về lý trí; trong khi người lao động Việt Nam lại hành xử thiên về tình cảm, thói quen tùy tiện, vô nguyên tắc Trong lúc làm việc với nhau, mỗi bên đều muốn duy trì nét văn hóa và phong tục tập quán của riêng mình nên mâu thuẫn giữa hai bên rất hay nảy sinh Những nét khác biệt này thể hiện qua một số những điểm tiêu biểu sau:
Trang 39 Khác biệt về ngôn ngữ, cách giao tiếp Ngôn ngữ là thể hiện rõ nét nhất của văn hóa vì nó là phương tiện để truyền đạt thông tin và ý tưởng cho nên việc không hiểu hoặc hiểu nhầm do khác biệt về ngôn ngữ là vấn đề không thể tránh khỏi Thực tế cho thấy nhiều mâu thuẫn thậm chí ẩu
đả xảy ra là do bất đồng về ngôn ngữ… Trước hết, xét về thái độ đối với việc giao tiếp, có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam lại thích giao tiếp lại vừa rất rụt rè, tính này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị, được thể hiện qua khi đang ở trong phạm vi cộng đồng quen thuộc, thì người lao động Việt Nam tỏ ra xởi lởi, thích giao tiếp Còn khi ở ngồi cộng đồng quen thuộc, sẽ tỏ ra rụt rè Chính vì thế, nhiều công nhân rất sợ tiếp xúc với chủ nước ngồi một cách trực tiếp, vì thế không hiểu được chủ mình muốm gì, mặt khác lại cảm thấy có sự xa lạ ngại ngùng Lúc này người phiên dịch, quản lý trực tiếp người lao động …đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên không phải lúc nào vai trò những người này cũng thực hiện đúng theo chức năng của mình Bất đồng về ngôn ngữ khiến cho tình hình căng thẳng thêm, trong lúc hai bên đều không biết bên kia muốn trình bày điều gì
Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam vốn ưa tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận, nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt: người ta có thể gặp nụ cười của người Việt Nam trong những lúc không cần thiết Ngồi ra, tính tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không bao giờ mở đầu trực tiếp, đi thẳng vào vấn đề Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc khiến cho người Việt Nam có nhược điểm là tính lề mề, thiếu quyết đốn trong khi người phương Tây thường đi thẳng vào vấn đề mà họ muốn nói Vì lẽ đó, các chủ doanh nghiệp nước ngồi thường phàn nàn mỗi khi có lỗi, người lao động Việt Nam chỉ cười khi nhận lỗi, mà theo tập quán, tâm lý phương Tây họ cảm thấy bị nhạo báng hoặc không được tôn trọng… từ đó rất dễ xảy ra xung đột Chứng tỏ ở các nền văn hóa khác nhau, một hành động tưởng như bình thường “vô thưởng vô phạt”, chấp nhận được ở quốc gia này nhưng có thể không được chấp nhận ở quốc gia khác
Trang 40 Khác biệt về nhận thức và cách ứng xử Người Việt có khả năng thích nghi cao với mọi hồn cảnh lối sống sinh hoạt, dù khó khăn cũng cố gắng hồn thành nhiệm vụ được phân công, trong cuộc sống tạo ra mối hòa khí với quan niệm “dĩ hòa vi quý” Tính cộng đồng được đề cao, cho nên người Việt Nam có tính tập thể rất cao, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh em trong nhà Mặt khác, lại cũng chính do đồng nhất mà ý thức con người cá nhân bị thủ tiêu, chính tính cộng đồng cao còn dẫn đến chỗ người Việt thường hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, tệ hại hơn nữa là tình trạng “cha chung không ai khóc”… Cùng với thói dựa dẫm và ỷ lại là thói cào bằng, đố kỵ không muốn ai hơn mình (để cho tất cả đều đồng nhất, giống nhau) Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng này khẳng định đặc điểm tính chủ quan của lối tư duy của nền văn minh nông nghiệp
Người Việt luôn giải quyết xung đột theo lối hòa cả làng, tư tưởng cầu an và cả
nể, có việc gì thường chủ trương đóng cửa bảo nhau, trọng danh dự và vì vậy nên bị bệnh sĩ diện, họ rất sợ dư luận Điều này khác với truyền thống phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức cá nhân từ nhỏ, mọi việc đều được giải quyết theo nguyên tắc và luật pháp
Khác biệt về ý thức kỷ luật và tác phong công nghiệp Trong nền sản xuất công nghiệp, mọi thứ đều phải rất chính xác và nhanh nhạy cho nên ý thức kỷ luật đóng vai trò rất quan trọng Nhưng người Việt Nam với đặc tính cư dân gốc nông nghiệp tuy có linh hoạt, nhưng vẫn còn đó thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, chểnh mảng, lơ là và thiếu tính tổ chức trong công việc, rất dễ bị kích động nên đôi khi rủ nhau đình công vượt ra ngồi phạm vi quan hệ lao động
Điều này hồn tồn không thích hợp với thói quen ứng xử quyết đốn, nguyên tắc của văn hóa phương Tây Các chủ doanh nghiệp thường không thể chấp nhận được tác phong vô kỷ luật của một số công nhân cũng như cách làm việc thiếu tính tổ