không tránh được chuột bọ, vi sinh vật phá hoại. Do đó chất lượng sau khi bảo quản là rất kém, hao hụt rất nhiều. Vấn đề đặt ra ở đây là lúa sau khi thu hoạch sẽ được bảo quản như thế nào để vẫn giữ được chất lượng tốt với tỷ lệ hao hụt thấp nhất. Kho bảo quản chính là giải pháp tối ưu cho vấn đề này. Do vậy tôi tính toán thiết kế hệ thống kho bảo quản để bảo quản lúa cho địa phương tôi. Nhưng trước hết để chọn được kiểu kho thích hợp, trước tiên ta đi xem xét đặc điểm, tính chất của đối tượng cần bảo quản là hạt thóc. 1.1. Cấu tạo của hạt thóc: Lúa thuộc họ hoà thảo, giàu tinh bột cấu tạo gồm các bộ phận: Vỏ hạt: bao toàn bộ hạt, có tác dụng bảo vệ hạt khỏi tác động ngoại cảnh. Lớp vỏ hạt là bộ phận quan trọng để bảo vệ phôi hạt, do đó trong quá trình bảo quản cần tránh gây xây xát. Lớp Alơrông: bao quanh nội nhũ, chiếm khoảng 6,1% khối lượng hạt. Lớp Alơrông tập trung nhiều chất dinh dưỡng, nhưng rất dễ bị oxy hoá và biến chất trong điều kiện bảo quản không tốt. Do đó khi bảo quản lâu trong kho chờ xuất khẩu gạo cần phải loại bỏ hết lớp Alơrông. Nội nhũ: là thành phần chủ yếu của hạt thóc cấu tạo chủ yếu của nội nhũ là tinh bột chiếm khoảng 90%. Do nội nhũ chứa nhiều tinh bột và là nơi dự trữ hô hấp của hạt vì vậy trong quá trình bảo quản nội nhũ bị hao hụt nhiều. Phôi hạt: là bộ phận chứa nhiều chất dinh dưỡng, là nơi dự trữ thức ăn cho mầm hạt nó nằm ở góc của hạt thóc. Đặc điểm của phôi hạt đó là xốp mềm, dễ hút ẩm, dễ biến chất và là nơi vi sinh vật dễ tấn công, phá hoại nên rất khó bảo quản. Vì vậy trong quá trình bảo quản thường được loại bỏ. 1.2. Thành phần hoá học của hạt thóc: Thành phần hoá học cơ bản của hạt thóc bao gồm: Nước, Protêin, Cacbonhydrat. Ngoài ra còn có các thành phần hoá học khác như Vitamin, muối khoáng Ở đây chúng ta chỉ xét ba thành phần cơ bản: Nước: chiếm từ 11 đến 14% thành phần của hạt. Trong tế bào nước thường tồn tại dưới dạng: liên kết hoá học, liên kết hoá lý và liên kết cơ học. Protêin: hàm lượng chiếm khoảng 7 ¸ 10%, là thành phần dinh dưỡng chủ yếu của hạt. Trong quá trình bảo quản thì Nitơ tổng số ít thay đổi, chỉ có Nitơ protêin thay đổi khá nhiều, chúng phân giải thành các axít amin làm cho hàm lượng axít amin tăng lên. Cacbonhydrat: trong từng thành phần của hạt thóc, hàm lượng Cacbonhdrat khác nhau ở nội nhũ chiếm khoảng 73%, phần còn lại ở phôi và vỏ. Tinh bột và đường là chất dự trữ chủ yếu trong hạt (60 ¸ 70 %) Trong bảo quản, tinh bột và đường bị biến động khá nhiều. Chất béo: là chất dự trữ năng lượng của hạt lúa (1,8 ¸ 2,5 %) Chất khoáng Vitamin
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì nông nghiệp
cũng là một trong lĩnh vực mà Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm Cùng với
sự phát triển không ngừng của công nghiệp thì nông nghiệp cùng góp phần vào
sự nghiệp phát triển của đất nước Với việc áp dụng không ngừng khoa học kĩthuật vào trong nông nghiệp thì tạo ra khối lượng sản phẩm lớn và nước ta cũng
là một trong những nước của hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu thế giới như:lúa gạo, cà phê, hồ tiêu Sản lượng tạo ra lớn thì đòi hỏi cấp thiết được đặt ra
đó là cần phải bảo quản chúng như thế nào để đảm bảo được chất lượng của sảnphẩm Việc bảo quản nông có ý nghĩa đặt biệt quan trong trong sản xuất hàngnông sản, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cũng như khối lượng của sảnphẩm nông sản
Chúng ta có thể tiến hành bảo quản dưới nhiều hình thức khác nhưng cáchđược áp dụng phổ biến nhất hiện nay đó là bảo quản bằng kho Và kho thì cũng
có thể có nhiều kho khác nhau như kho thông thường, kho Silô, kho kín, khongầm Một trong những phương pháp được áp dụng nhiều ở trên thế giới ở cácnước hiện nay đó là kho Silô
Xuất phát từ thực tế của tình hình hiện nay của địa phương cũng như sảnlượng nông sản của địa phương cụ thể ở đây đó là lúa Em đi đến tiến hànhnghiên cứu và tính toán thiết kế kho bảo quản thóc bằng Silô ở địa phương vàthấy đây là kho thích hợp với địa phương
Trang 2Trong quá ttrình tính toán em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của PGS_TS Trần Như Khuyên để em có thể hoàn thành bản thiết kế của mình Và đây cũng
là lần đầu tiên làm quen với việc tính toán thiết kế nên trong bài làm của em gặpkhông ít những thiếu sót Cuối cùng em mong nhận được sự chỉ bảo thêm củathầy để có thể hoàn thành tốt hơn bài làm của mình sau này
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Hùng
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành nông nghiệp ở Việt Nam là ngành có từ lâu đời và đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển gắn liền với lịch sử của đất nước Ở Việt Nam, lúa gạo là cây lương thực chủ yếu đóng vai trò quan trọng trong đời sống và phát triển xã hội Sản xuất lúa gạo là ngành sản xuất luôn giữ vị trí hàng đầu với tỷ trọng cao
về diện tích cũng như sản lượng
Trong những năm gần đây gạo xuất khẩu đã mang lại lượng ngoại tệ rất lớncho đất nước, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới
Ở địa phương tôi, mỗi hộ gia đình sau khi thu hoạch lúa về thì lúa được làm
sạch sơ bộ, đem phơi khô, và đóng bao, bỏ chum vại, dương… để bảo quản Nênkhông tránh được chuột bọ, vi sinh vật phá hoại Do đó chất lượng sau khi bảo quản là rất kém, hao hụt rất nhiều Vấn đề đặt ra ở đây là lúa sau khi thu hoạch
sẽ được bảo quản như thế nào để vẫn giữ được chất lượng tốt với tỷ lệ hao hụt thấp nhất Kho bảo quản chính là giải pháp tối ưu cho vấn đề này
Do vậy tôi tính toán thiết kế hệ thống kho bảo quản để bảo quản lúa cho địaphương tôi
Nhưng trước hết để chọn được kiểu kho thích hợp, trước tiên ta đi xem xétđặc điểm, tính chất của đối tượng cần bảo quản là hạt thóc
1.1 Cấu tạo của hạt thóc:
Trang 3Lúa thuộc họ hoà thảo, giàu tinh bột cấu tạo gồm các bộ phận:
- Vỏ hạt: bao toàn bộ hạt, có tác dụng bảo vệ hạt khỏi tác động ngoại cảnh Lớp
vỏ hạt là bộ phận quan trọng để bảo vệ phôi hạt, do đó trong quá trình bảo quản cần tránh gây xây xát
- Lớp Alơrông: bao quanh nội nhũ, chiếm khoảng 6,1% khối lượng hạt Lớp Alơrông tập trung nhiều chất dinh dưỡng, nhưng rất dễ bị oxy hoá và biến chất trong điều kiện bảo quản không tốt Do đó khi bảo quản lâu trong kho chờ xuất khẩu gạo cần phải loại bỏ hết lớp Alơrông
- Nội nhũ: là thành phần chủ yếu của hạt thóc cấu tạo chủ yếu của nội nhũ là tinh bột chiếm khoảng 90% Do nội nhũ chứa nhiều tinh bột và là nơi dự trữ hô hấp của hạt vì vậy trong quá trình bảo quản nội nhũ bị hao hụt nhiều
- Phôi hạt: là bộ phận chứa nhiều chất dinh dưỡng, là nơi dự trữ thức ăn cho mầm hạt nó nằm ở góc của hạt thóc Đặc điểm của phôi hạt đó là xốp mềm, dễ hút ẩm, dễ biến chất và là nơi vi sinh vật dễ tấn công, phá hoại nên rất khó bảo quản Vì vậy trong quá trình bảo quản thường được loại bỏ
1.2 Thành phần hoá học của hạt thóc:
Thành phần hoá học cơ bản của hạt thóc bao gồm: Nước, Protêin,
Cacbonhydrat Ngoài ra còn có các thành phần hoá học khác như Vitamin, muối khoáng… Ở đây chúng ta chỉ xét ba thành phần cơ bản:
- Nước: chiếm từ 11 đến 14% thành phần của hạt Trong tế bào nước thường tồntại dưới dạng: liên kết hoá học, liên kết hoá lý và liên kết cơ học
- Protêin: hàm lượng chiếm khoảng 7 ÷ 10%, là thành phần dinh dưỡng chủ yếu của hạt Trong quá trình bảo quản thì Nitơ tổng số ít thay đổi, chỉ có Nitơ
protêin thay đổi khá nhiều, chúng phân giải thành các axít amin làm cho hàm lượng axít amin tăng lên
Cacbonhydrat: trong từng thành phần của hạt thóc, hàm lượng
Cacbonhdrat khác nhau ở nội nhũ chiếm khoảng 73%, phần còn lại ở phôi và vỏ
Tinh bột và đường là chất dự trữ chủ yếu trong hạt (60 ÷ 70 %)
Trang 4Trong bảo quản, tinh bột và đường bị biến động khá nhiều.
- Chất béo: là chất dự trữ năng lượng của hạt lúa (1,8 ÷ 2,5 %)
- Tính tan rời và tự phân cấp
Tính tan rời của hạt thóc liên quan đến việc đóng gói hoặc xuất nhập kho Trong khối hạt ngoài hạt chính còn lẫn tạp chất vô cơ, hữu cơ, côn trùng, vi sinhvật và một lượng không khí nhất định trong khe rỗng của khối hạt Đó là những tác nhân có ảnh hưởng lớn đến quá trình diễn biến của chất lượng hạt lúa trong bảo quản
Hai thông số đặc trưng cho tính tan rời:
+ góc chảy tự nhiên + góc ma sát
Bảng 1: Góc chảy tư nhiên của hạt thóc:
Loại hạt Góc chảy tự nhiên (độ) Khoảng chênh lệch (độ)
Tính tự phân cấp: Tình hình xuất nhập có chất lượng khối hạt khác nhau
là chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật bảo quản Khối hạt trước khi đưa vào bảo quản phải được làm sạch khá tốt, phần lớn tạp nhẹ phải được loại bỏ
- Mật độ và độ rỗng
Độ rỗng và mật độ liên quan tới công tác bảo quản Giữa các hạt có khoảng trống đó là môi trường sống của hạt Khoang trống tạo điều kiện cho không khí
Trang 5lưu thông thông, khí nóng ẩm dễ bốc ra ngoài tránh được hiện tượng tự bốc nóng của khối hạt do hạt hô hấp.
Bảng 2: Trọng lượng và độ rỗng của hạt
Loại hạt Trọng lượng trong 1m3 (kg) Độ rỗng (%)
- Thuỷ phần cân bằng của hạt thóc
Qua nghiên cứu cho thấy ở nhiệt độ 200 hạt lương thực có thuỷ phần 10- 13% và độ ẩm không khí 40-60% dễ bảo quản hơn, hạt có thuỷ phần trên 17% khó bảo quản
Bảng 3: Thuỷ phần cân bằng của hạt thóc phụ thuộc vào độ ẩm không khí
Kho bảo quản đóng vai trò quan trọng trong bảo quản nông sản Vì vậy, việc xây dựng kho nhằm chủ yếu phục vụ bảo quản chứ không đơn thuần la nơi chứa đựng Nói một cách khác, nhà kho là cơ sở vật chất kỹ thuật để tiến hành các quá trình bảo quản nông sản, là yếu tố đầu tiên và quan trọng quyết định tới chất lượng bảo quản nông sản
Trang 6Để bảo quản nông sản được lâu với tỷ lệ hao hụt thấp nhất khi xây dựng kho cần đam bảo các yêu cầu kỹ thuật sau:
- Có đủ dung tích để chứa hết khối lượng sản phẩm cần lưu trữ
- Kho phải được xây dựng trên địa hình cao ráo, dễ thoát nước, không ngập úng
- Hướng bố trí trục dọc của kho là hướng Đông – Tây, giảm đáng kể ảnh hưởng của bức xạ mặt trời
- Kết cấu kho phải đáp ứng được các yêu cầu trong bảo quản như: cách nhiệt, cách ẩm tránh tạo điều kiện cho côn trùng phát triển …đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra và xử lý sự cố, tiện lợi cho tiêu diệt vi sinh vật
II NỘI DUNG TÍNH TOÁN THIẾT KẾ KHO
2.1 Yêu cầu kỹ thuật
- Có đủ dung tích để có thể chứa hết được khối lượng sản phẩm cần lưu trữ
- Kho phải được xây dựng trên địa hình cao ráo, dễ thoát nước, không ngập ứngkhi có mưa lớn
- Kết cấu kho cần đảm bảo các yêu cầu trong bảo quản như: cách ẩm cách nhiệt,tránh tạo điều kiện cho sâu bọ côn trùng phát triển
- Phải có trang thiết bị sơ chế trước kho nhập kho hoặc xảy ra các sự cố khôngbình thường như: thiết bị làm sạch, sấy thông gió Đặt biệt là phải có các trangthiết bị để cơ khí hoá việc bốc dỡ, xuất nhập kho
Trang 72.2 Nguyên tắc xây dựng kho
* Móng kho
Móng kho được làm bằng bê tông cốt thép cao hơn bề mặt ngoài côngtrình khoảng 30-40 mm có gờ úp xuống tránh cho chuột trèo lên Móng phải xâydựng trên nền đất cứng, không lún
* Sàn kho
Sàn kho phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Bền vững chịu được tải trọng riêng lớn
- Cách ẩm tốt tránh được mạch nước ngầm và khí ẩm bên ngoài có thể xâm nhậpvào kho
- Bảo đảm không cho côn trùng và sâu bọ xâm nhập vào kho
2.3 Phân tích địa hình nơi xây dựng kho
Địa phương tôi là một xã đồng bằng, có địa hình thấp và thường xuyên bị
lũ lụt nên việc lựa chọn địa hình, địa điểm để xây dựng kho gặp nhiều khókhăn
Địa điểm xây dựng kho phải là một nơi cao ráo, thoáng khí để không bịngập nước khi có mưa kéo dài Nền đất phải tương đối bền vững để đảm bảo chokho không bị sụt nền móng khi đưa vào hoạt động Kho được xây dưng ở nơigần đường để thuận lợi cho vận chuyển và để có thể đảm bảo cho kho hoạt độngmột cách bình thường trong mọi điều kiện
Trang 82.4 Cơ sở lựa chọn quy mô và kích thước của kho bảo quản
Đồ án này thiết kế 2 Silô với khả năng chứa của mỗi silo là 500 tấn lúa cho vùng sản xuất 200 ha
Thời gian bảo quản là 12 tháng Năng suất trung bình mỗi vụ là 5,4 tấn/ha
Mặt bằng xây dựng có nền đất vững chắc để đảm bảo tuổi thọ của công trình ít nhất là từ 25 ÷ 30 năm
Trị số cao nhất của độ ẩm không khí ở 25OC là 89% , trị số ẩm thấp nhất của không khí ở 270C là 30%
Cường độ mưa lớn nhất là 50mm/phút, nhiệt độ trung bình trong năm là
270C Vùng đất phải có độ chịu lực tối thiểu là 0,5 kg/cm2
Với việc áp dụng khoa học kĩ thuật ngày càng nhiều vào sản xuất nôngnghiệp trong cả nước nói chung và địa phương em nói riêng Thì đã tạo sảnlượng lương thực trong nông nghiệp ngày càng lớn
Ngoài ra địa phương cũng có đồng bắng thuận lợi cho việc canh tác vàsản xuất lúa.Do đó hàng năm sản lượng lúa có thể đạt trung bình khoảng 60(tạ/ha) Năng suất lúa được tạo ra hàng năm đã góp phần vào việc phát triển kinh
tế ở địa phương cũng như các vùng lân cận Sản lượng lúa tạo ra lớn thì yêu cầuđòi hỏi cấp thiết đó là cần xây dựng kho để bảo chúng.Cùng với sự phát triểncủa đất nước hiện nay thì lựa chọn phương pháp bảo quản kín bằng kho Silô Đểthích hợp với sản lượng lúa được tạo ra hàng năm thì chọn xây dựng hai kho
Silô mỗi kho có sức chứa 500 tấn.
2.5 Mặt bằng để tiến hành xây dựng kho
Mặt bằng xây kho cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Địa hình cần bằng phẳng không dốc, nếu dốc thì độ dốc không đáng kể
- Phải có đủ diện tích để có thể đảm bảo dung tích của kho và có thể bố trí đượccác trang thiết bị phục vụ kho
- Địa hình bên cạch cần sạch sẽ không có các loài thực vật có tán cây um tùm
Đó là nơi mà các côn trùng sâu bọ có thể ẩn lấp sinh sôi nảy nở
Trang 9- Đảm bảo thuận lợi về giao thông vận tải cho việc xuất cũng như nhập kho.
2.6 Các trang thiết bị của kho
Các trang thiết bị có vai trò rất quan trọng vào việc vận hành của khocũng như việc sử lý các sự cố xảy ra đối với kho
Các trang thiết bị có thể được lắp đặt ở Silô như: Các cảm biến nhiệt độ,cảm biến độ ẩm, các trang thiết bị phục vụ cho việc tháo cũng như cấp liệu đượcthuận tiện nhất
Nếu kho được bố trí các trang thiết bị hiện đại thì nó có thể giảm được sứclao động của con người đi rất nhiều như chỉ cần có khoảng từ 1 đến 2 người là
có thể vận hành kho có sức chưa khoảng vài nghìn tấn
2.7 Lựa chọn kích thước và phương pháp bảo quản
* Phương pháp bảo quản
Có rất nhiều phương pháp bảo quản khác nhau, như trên ta đã lựa chọnphương pháp bảo quản thóc đó là dùng kho silô Ta có các phương pháp bảoquản khác như: Bảo quản kín, bảo quản thông thoáng, bảo quản lạnh, bảo quảnbằng phương pháp điều chỉnh không khí Nhưng một trong phương pháp bảoquản được sử dụng phổ biến ở kho Silô đó là bảo quản kín
Phương pháp này mang lại nhiều hiệu quả trong kinh tế cũng như là chấtlượng bảo quản mà phương pháp này mang lại
Hiệu quả phương pháp lại mang lại như: đổ ẩm cùng như nhiệt độ tăngkhông nhiều, côn trùng, vi sinh vật không thể xâm nhập được vào kho, chấtlượng cũng như khối lượng thay đổi không nhiều trong quá trình bảo quản
* Lựa chọn kích thước kho
Như ban đầu ta đã xác định thiết kế kho bảo quản với khối lượng 500 tấnthóc Từ yêu cầu ban đầu này thì ta có thể tiến hành xác định các kích thước cụthể của kho như sau:
Tra bảng 7-8 [4] ta có:
Trọng lượng riêng của thóc (tấn/m3): δ = 0,65 - 0,73
Từ đây ta có thể chọn trọng lượng riêng của thóc là: δ = 0 , 65 (T/m3 )
Trang 10Thể tích của kho Silô được xác định như sau:
23 , 769 65 , 0
500
=
=
= δ
M
- Ta chọn thể tích của kho V = 800 (m3)
Dựa vào Hình 4-25 trang 76[1] ta có lựa chọn kích thước của kho như sau:
Đường kính của kho là 10 (m)
Chiều cao của kho là 10 (m)
Vậy ta đã xác định được kích thước cụ thể của một kho Silô:
Đường kính của kho: 10 (m)
Chiều cao của kho: 10 (m)
Thể tích lớn nhất của kho: 800 (m3)
Thể tích riêng của thóc ta chọn: δ = 0 , 65 (T/m3 )
2.8 Tính toán kho Silô
a Xác định lực đẩy bên và áp suất thẳng đứng lên thành và lên đáy của kho
Theo tính toán lý thuyết thì tỉ số q p áp suất thẳng đứng và áp suất bên
không đổi và bằng: )
2 4 (
1 sin
1
sin 1
t
t
tg p
q
ϕ π ϕ
Trong đó: ϕt là hệ số ma sát tối thiểu giữa vật liệu với vật liệu
Trong thực tế thì tỉ số này thay đổi và nó có thể thay đổi theo chiều sâu vàhình dạng của kho Silô
Ta đặt hệ trục toạ độ vào kho như hình vẽ:
Trang 11Z
X
Hình 1: Hệ trục toạ độ trên Silô
Từ đồ thị ta có thể tính toán được như sau:
- Phần còn lại phía trên của kho Silô được xác định theo công thức:
- Trọng lượng thóc phần phía trên của kho được xác định theo công thức:
Q0 =
3 S h
δTrong đó: S = πR2 = π.52 = 78,5 (m2)
H = 5 (m), δ = 0,65 (T/m3)
3
5 5 , 78 65 , 0 3
- Công thức tính tổng quát của kho Silô tính theo công thức:
Trang 12Q Q Z
Z S y
.
.
0 max 2
δ
δ
− +
=
Hay cũng có thể tính theo công thức sau:
A Z
Z S y
2 '
2 max
t
tg tg
Z S Q
ϕ π ϕ
ϕ - góc ma sát giữa thóc với thành Silô bằng bêtông, chọn ϕ '= 300
D = 10 (m) - đường kính của kho
δ = 0,65 (T/m3) - trọng lượng riêng của thóc
Vậy áp suất thẳng đứng cực đại tác dụng lên đáy Silô tính như sau:
8 , 1287 )
2
45 4 ( 30 4
10 5 , 78 65 , 0 )
2 4 ( 4
.
0 2
0 2
π ϕ
δ
tg tg tg
tg
Z S Q
(T)
Và ta cũng có thể tính được:
6 , 23 3
5 ) 2
45 4 ( 30 4
10 3
) 2 4 (
π
h tg
tg
D A
Thay vào công thức tổng quát của kho Silô ta có:
6 , 23
51 6
, 23
5 , 78 65 , 0
+
= +
= +
=
Z
Z Z
Z A
Z
Z S
Ta có y = F(Z) Khi đó ta đạo hàm theo Z của y ta được:
] ) 1 6 , 23 ( 1 [
51 ] ) 1 ( 1 [
)
A
Z S
Z
- Lực đẩy cực đại lên thành Silô xác định theo công thức:
8 , 2 30 5 2
5 , 78 65 , 0
2
.
.
0 '
'
tg tg
R
S tg
L
S P
π ϕ π
δ ϕ
δ
(T/m3)
- Tổng lực đẩy lên thành Silô ở vị trí của đáy Silô xác định theo công thức:
Trang 1342 , 1 ] ) 1 6 , 23
10 ( 1 [
8 , 2 ] ) 1 ( 1
P Z
- Ta cũng có áp suất thẳng đứng lên đáy xác định theo công thức:
65 , 5 ] 3
5 ) 1 6 , 23
10 (
10 [
65 , 0 ] 3 ) 1 (
.[
) ( ) 3
A
Z Z S
Z F h Z
Trong đó: Z = 10 (m) - chiều cao của kho
A = 23,6 (m)
h = 5 (m) - chiều cao phần còn lại của kho
- Tổng tải trọng tác dụng lên đáy của Silô:
75,44365
,5.5
10 8 , 2
= +
=
A Z
Z P A Z
Z tg
- Điểm đặt lực đẩy tổng hợp lên chiều cao thành của kho Được xác định nhưsau:
Khoảng cách Zq của điểm đặt lực đẩy tổng, được tính bắt đầu từ đỉnh của thành:
4 , 6 6
, 23 6 , 23 10
6 , 23 10
6 , 23 1 6 , 23 10
6 , 23 ) 1 6 , 23
10 ln(
6 , 23 2
10 1
) 1 ln(
2
2
2
2 2
2
2
2
2 2
2
=
− + +
+ +
− +
−
=
− + +
+ +
− +
−
=
A A Z
A Z
A A
Z
A A
Z A
Trang 143.1 Tính toán hệ thống thông gió cho kho Silô
3.1.1 Xác định kích thước ống và các tổn thất xảy ra trên đường ống
Trong quá trình bảo quản thì rất có thể nhiệt độ và độ ẩm của thóc có thểtăng lên Mặc dù đối với kho Silô thì rất ít xảy ra nhưng đối với một kho bảoquản thì vấn đề thông gió là vấn đề bặt buộc Hệ thống gió thường dùng trongkho Silô bằng cách thông gió cưỡng bức, các ống đặt nằm ngang
Ta tiến hành tính hệ thống thông gió cưỡng bức như sau:
Lưu lượng cần thiết cung cấp cho 1 tấn thóc cần đạt 20 - 40 (m3/t.h)
Do vậy lưu lượng cần cho kho Silô có sức chứa 500 tấn là: