Đặc biệt, khi ung thư vú ngày càng gia tăng và là một trong những ungthư hàng đầu gây tử vong ở nữ giới đã khiến các nhà khoa học trên thế giớixem xét lại mối liên hệ giữa nồng độ estrog
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
TS.NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 3Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo: Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương, giảng viên bộ môn Sinh lý học, đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Cô giáo Thanh Hương không chỉ là người thầy kỳ công dẫn dắt tôi và đưa ra những đóng góp quý báu cho tôi để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, cô giáo còn như một người thân luôn bên cạnh động viên và khuyến khích tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình tham gia làm khóa luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Nhà trường Đại học Y Hà Nội, tới phòng Đào tạo, phòng công tác Học sinh – Sinh viên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn trân trọng nhất tới thầy trưởng bộ môn Sinh lý học cùng toàn thể các thầy cô giáo, các anh chị kỹ thuật viên bộ môn Sinh lý học đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được tìm hiểu thêm về lĩnh vực Sinh lý học, một nền tảng của khoa học y học và đã giúp tôi được có cơ hội tham gia một nghiên cứu và thấy yêu thích hơn phân môn lý thú này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các anh chị kỹ thuật viên bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình xử lý và phân tích mẫu bệnh phẩm nghiên cứu Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những phụ nữ tham gia trong nghiên cứu của chúng tôi.
Lời cuối cùng, tôi xin được gửi lời biết ơn tới gia đình tôi, những người thân, bạn bè tôi đã luôn bên cạnh động viên và khích lệ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Estrogen có tác dụng lên cấu tạo và chức năng của nhiều cơ quan trong
cơ thểnhư: hệ cơ quan sinh dục nữ, hệ tim mạch, hệ thần kinh, hệ thốngxương[1] Nồng độ estrogen tăng cao sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú, ung thưnội mạc tử cung [1]và huyết khối [60] Ngược lại khi nồng độ estrogen giảmthấp sẽ làm tăng nguy cơ loãng xương, trầm cảm[1], bệnh Alzheimer[23], rốiloạn lipid máu và các bệnh tim mạch [51], [60] Do vậy, việc xác định giớihạn sinh lý bình thường của nồng độ estrogen trên phụ nữ khỏe mạnh là cầnthiết
Đặc biệt, khi ung thư vú ngày càng gia tăng và là một trong những ungthư hàng đầu gây tử vong ở nữ giới đã khiến các nhà khoa học trên thế giớixem xét lại mối liên hệ giữa nồng độ estrogen với nguy cơ ung thư vú ở cácchủng tộc khác nhau[19].Pinheiro SP (2005) khi quan sát thấy khối u vú tiếntriển nhanh hơn ở người Mỹ da đen và người Mỹ gốc Á so với người Mỹ datrắng trong độ tuổi sinh sản[61],[21]đã tiến hành định lượng nồng độ estrogen
ở ba nhóm người thuộc ba chủng tộc này trong quần thể; kết quả cho thấynồng độ estrogen ở người Mỹ da đen (162 pg/ml) và người Mỹ gốc Á (159pg/ml) cũng cao hơn người Mỹ da trắng (143 pg/ml) [49] Bên cạnh đó, VũHồng Thăng và cộng sự (2010) đã phát hiện các khối u vú có tỷ lệ receptordương tính với estrogen ở nữ giới người Việt trong độ tuổi sinh sản cao hơnngười Thụy Điển cùng lứa tuổi (71,1 % so với 58,4%) Tuy nhiên trongnghiên cứu này, tác giả đã không định lượng nồng độ estrogen của các đốitượng nghiên cứu[65]
Gần đây, Ausamanas MK và cộng sự (2007) đã báo cáo sự khác biệt vềnồng độ estradiol của phụ nữ ở 9 nước châu Á; thấp nhất ở Trung Quốc (13,6
Trang 5pg/ml) và cao nhất ởViệt Nam (29,1 pg/ml).Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ làmtrên đối tượng phụ nữ mãn kinh[10].
Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu xác định nồng độ estradiolcho phụ nữ ở độ tuổi sinh sản[1], [4], [5], [6] Tuy nhiên các nghiên cứu nàyhoặc đã thực hiện cách đây khoảng 20 năm hoặc chỉ xác định được nồng độestradiol ở một hoặc hai giai đoạn của chu kì kinh nguyệt
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu:
1. Xác định nồng độ estradiol toàn phần huyết thanh của phụ nữ Hà Nội
và Hà Nam trong ba giai đoạn của chu kì kinh nguyệt.
2. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ estradiol toàn phần huyết thanh của phụ nữHà Nội và Hà Nam trong ba giai đoạn của chu
kì kinh nguyệt.
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc, bản chất hóa học và quá trình tổng hợp estrogen.
1.1.1 Nguồn gốc
Ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, estrogen chủ yếu có nguồn gốc do các
tế bào hạt của lớp áo trong của nang noãn bài tiết trong nửa đầu của CKKN
và nửa sau CKKN do hoàng thể bài tiết [1]
Khi có thai, estrogen được bài tiết từ tế bào lá nuôi của rau thai, gan vàthượng thận của thai nhi [1]
Một lượng rất nhỏ estrogen được tổng hợp từ vỏ tuyến thượng thận, từ gan
và một số mô khác của cơ thể như: tế bào trung mô của mô mỡ và da, tạo cốt bào
ở xương, lớp nội mạc mạch máu, tế bào cơ trơn vùng mạch, não [23],[50]
Ngoài ra một lượng nhỏ estrogen được tạo thành từ quá trình chuyểnđổi từ testosterone tại các mô ngoài mô sinh sản Mức độ của quá trìnhchuyển đổi này tăng lên theo tuổi và trọng lượng cơ thể Vì thế đây còn lànguồn cung cấp estrogen quan trọng ở phụ nữ tuổi mãn kinh khi hoạt độngcủa cơ quan sinh sản đã bị suy giảm [23],[50]
1.1.2 Bản chất và công thức cấu tạo của estrogen.
Estrogen có bản chất là steroid Estrogen tự nhiên gồm có 3 loại là:estrone (E1), 17β - estradiol (E2), estriol (E3) Trong đó chủ yếu là 17β -estradiol Tác dụng của 17β - estradiol mạnh gấp 12 lần estrone và gấp 80 lầnestriol, do vậy 17β - estradiol được coi là hocmon estrogen chủ yếu và làhormon thể hiện tác dụng sinh lý rõ ràng nhất[1],[23] (Hình 1.1)
Trang 7Hình 1.1: Công thức cấu tạo của estrogen [ 24 ].
1.1.3 Quá trình tổng hợp
Cholesterol là nguồn nguyên liệu chủ yếu để tổng hợp estrogen nóichung Sau khi được gắn với lipoprotein, cholesterol sẽ được các tế bào tạosteroid (steroidogenic cells) tiếp nhận, lưu trữ và chuyển đến màng trong tythể của tế bào Tại ty thể, dưới sự xúc tác của enzym cytochrome P450,cholesterol sẽ được phân cắt Sản phẩm tạo ra sẽ được thơm hóa bởi tác dụngcủa phức hợp aromatic P450 monooxygenase Như vậy, qua nhiều giai đoạncủa phản ứng, estrone và estradiol sẽ được tạo thành từ các tiền chấtandrostenedione và testosterone [1], [23],[50] (Hình 1.2)
Ở các mô khác nhau, estradiol sẽ được tổng hợp với lượng khác nhau
và khác nhau giữa estradiol, estrone [23]
Trang 8Hình 1.2: Sơ đồ tổng hợp estrogen từ cholesterol[ 24 ].
1= cytochrome P450 (CYP); 2= 3β-hydroxysteroid; 3= 21-hydoxylase,4= CYP11B2, 5= CYP17; 6= 17β-hydroxysteroid dehydrogenase; 7=aromatase; 8= 5α - reductase; 9= 11β-hydroxylase
1.2 Vận chuyển, chuyển hóa và thoái hóa
Estrogen trong huyết thanh chủ yếu tồn tại ở dạng liên hợp (97- 98%),chỉ có 2 -3 % tồn tại ở dạng tự do Estrogen liên hợp là estrogen liên kết thuậnnghịch với globulin gắn hormone sinh dục (SHBG) và gắn lỏng lẻo hơn vớialbumin theo cơ chế không bão hòa và không theo tỷ lệ Do đó, estrogen dễdàng được giải phóng tới mô đích trong khoảng 30 phút vận chuyển trong
Trang 9máu [1],[23] Estrogen không gắn với SHBG (dạng tự do và gắn với albumin)
là estrogen có hiệu lực sinh học Thành phần estrogen có hiệu lực sinh họcnày phản ánh chính xác hơn tác dụng lâm sàng của estrogen so với estrogentoàn phần[24]
Estrogen chuyển hóa ở gan, được liên hợp thành các sản phẩm sulfate
và glucoronide, sau đó được bài tiết qua đường mật (1/5 tổng lượng) Phầncòn lại hầu hết được bài tiết qua nước tiểu [1] Các sản phẩm liên hợp này cònđược thủy phân và tái hấp thu ở ruột theo chu trình gan – ruột [23] Estradiol
sẽ được chuyển một phần thành dạng ít hoạt tính hơn là estriol tại gan, do đónếu suy giảm chức năng gan sẽ gây ra các biểu hiện cường estrogen [1],[23]
1.3.Tác dụng của estrogen trên nữ giới
1.3.1 Tác dụng lên cơ quan sinh dục
1.3.1.1 Tác dụng lên các đặc điểm sinh dục nguyên phát và thứ phát
Estrogen làm xuất hiện và bảo tồn các đặc tính sinh dục nữ thứ phát kể
từ tuổi dậy thì bao gồm: phát triển cơ quan sinh dục, phát triển lớp mỡ dưới
da, làm cho giọng nói nữ giới trong và cao, dáng đi mềm mại, tạo dáng nữ vớingực nở, vai hẹp và hông nở [1] Do đó, để giữ và phát triển các đặc tính này,liệu pháp bổ sung estrogen đã được sử dụng trên những đối tượng phụ nữ saumãn kinh
1.3.1.2 Tác dụng lên tử cung
Estrogen còn có vai trò quan trọng trong việc tái tạo lớp niêm mạcchức năng (là một lớp dày, nằm sát khoang tử cung) do tác dụng kích thíchphân chia lớp nền trong nửa đầu của chu kì kinh nguyệt Ở giai đoạn bài tiết(giai đoạn progesteron) của nửa sau chu kì kinh nguyệt, do sự sụt giảm nồng
độ estrogen một cách đột ngột cùng với việc tăng nồng độ progesteron làm
Trang 10cho niêm mạc tử cung bong ra, gây hiện tượng kinh nguyệt ở nữ giới[1],[7].Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được vai trò của miền ngưỡng estrogen trong việchành kinh ở nữ giới trong độ tuổi sinh sản[5],[7] Đây cũng là cơ sở để ápdụng điều trị rong kinh cơ năng bằng liệu pháp hormon thay thế [7].
Estrogen làm tăng kích thước và khối lượng tử cung, tănghàm lượngactin và myosin cơ tử cung ở tuổi dậy thì, đặc biệt tăng nhanh trong thời kì cóthai để đảm bảo nhiệm vụ làm tổ cho bào thai phát triển Estrogen tác dụngtăng lưu lượng máu tới lớp niêm mạc chức năng thông qua việc tăng tạo cácmạch máu mới và làm cho các mạch máu này trở thành động mạch xoắn đểcung cấp cho lớp niêm mạc chức năng Estrogen tác dụng lên tuyến niêm mạc
tử cung, kích thích sự phát triển của tuyến và tăng tạo glycogen chứa trongtuyến nhưng không bài tiết Ngoài ra, estrogen còn làm tăng tính nhạy cảmcủa cơ tử cung với oxytocin, làm tăng co bóp tử cung[1], [7]
Sự biến đổi của tử cung dưới tác dụng của estrogen là điều kiện để thựchiện các chức năng sinh sản của nữ giới [7]
1.3.1.3 Tác dụng lên cổ tử cung
Dưới tác dụng của estrogen, các tế bào biểu mô của niêm mạc cổ tửcung bài tiết một lớp dịch nhầy loãng, mỏng Dịch này có thể kéo thành sợidài khi được đặt vào lam kính Khi để khô trên lam kính, dịch cổ tử cung cóhiện tượng tinh thể hóa và soi lam kính hiển vi thấy hình ảnh “dương xỉ”[1]
1.3.1.4 Tác dụng lên vòi tử cung
Estrogen làm tăng sinh mô tuyến của niêm mạc ống dẫn trứng, làmtăng sinh và làm tăng hoạt động của các tế bào biểu mô lông rụng theo mộtchiều theo hướng về phía tử cung Điều này giúp trứng đã thụ tinh di chuyển
dễ dàng vào tử cung [1]
Trang 111.3.1.5 Tác dụng lên âm đạo
Estrogen làm thay đổi biểu mô âm đạo từ dạng khối thành biểu môtầng Cấu trúc biểu mô tầng vững chắc hơn do vậy tăng khả năng chống đỡvới các chấn thương và nhiễm khuẩn vùng âm hộ, âm đạo [1] Ngoài raestrogen kích thích các tuyến của âm đạo bài tiết dịch có độ PH acid, tạo môitrường acid trong âm đạo Sự thay đổi nồng độ PH acid trong âm đạo là mộtyếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn phụ khoa, đặc biệt là nhiễm các loại nấm [7]
1.3.1.6 Tác dụng lên âm hộ
Estrogen còn làm phát triển môi lớn và môi bé của âm hộ Người thiếuestrogen môi lớn, môi bé kém phát triển, âm hộ ko được che kín Đây là tìnhtrạng của các bé gái nhỏ tuổi và cụ bà đã mãn kinh nhiều năm[1],[7]
Estrogen còn có tác dụng trực tiếp lên các tuyến của âm hộ như tuyếnBartholin và tuyến Stene giúp tăng tiết dịch nhờn [7]
1.3.1.7 Tác dụng lên tuyến vú
Estrogen làm tăng sự phát triển của hệ thống tuyến vú và mô đệm ở vú.Ngoài ra, estrogen còn làm tăng lắng đọng mỡ vú, từ đó làm tăng kích thước
vú, làm ngực nở [1],[7],[23]
1.3.2 Tác dụng lên chuyển hóa xương
Estrogen làm tăng hoạt động của tế bào tạo xương (osteoblast), vì vậyvào tuổi dậy thì tốc độ phát triển cơ thể tăng lên rất nhanh Estrogen có vai tròkích thích đầu xương gắn vào thân xương Tác dụng này mạnh hơn nhiều sovới tác dụng của testosteron nên phụ nữ ngừng cao sớm hơn nam vài năm.Estrogen còn làm tăng lắng đọng canxi – phosphat ở xương nhưng yếu hơn sovới testosteron Vì vậy, nếu thiếu hụt estrogen (ở người già) sẽ gây ra hiệntượng loãng xương do giảm hoạt động của các tế bào tạo xương, giảm khung
Trang 12protein, giảm lắng đọng canxi – phosphat ở xương Do đó, estrogen được sửdụng để điều trị loãng xương ở phụ nữ, nhất phụ nữ mãn kinh [1].
Estrogen làm nở rộng khung chậu, tạo khung chậu dạng hình trứng kiểu
nữ, khác với tác dụng của testosteron tạo khung chậu hẹp, hình phễu Điềunày, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lọt, xuống, quay, sổ của thai nhitrong quá trình chuyển dạ ở phụ nữ mang thai [1],[7]
1.3.3 Tác dụng lên chức năng tim mạch
Estrogen có tác dụng trực tiếp lên các mạch máu thông qua hai thụ thểestrogen là thụ thể α và thụ thể β được gắn trên các tế bào cơ trơn và tế bàonội mạc của mạch máu cũng như trên tế bào cơ tim Mức độ biểu hiện tácdụng của hai thụ thể estrogen α và β là khác nhau giữa phụ nữ và đàn ôngbình thường, giữa người có mạch máu bình thường và người có những tổnthương ở mạch máu [40]
Thông qua hai thụ thể này, estrogen tác động lên tế bào nội mạc mạchmáu tăng tiết NO, một chất gây giãn mạch máu Cùng với tác dụng kích thích
mở kênh kali – canxi trên các tế bào cơ trơn mạch máu giúp giãn cơ trơn vàthúc đẩy sự giãn mạch nhanh chóng Cùng với tác dụng kích thích enzymprotacyclin synthetase xúc tác cho quá trình tăng tạo prostaglandin, một chấtgây giãn mạch quan trọng tác dụng giãn mạch lâu hơn[23],[40]
Estrogen còn có ảnh hưởng tới đáp ứng của tế bào nội mô đối vớinhững chấn thương mạch máu [33] Estrogen làm tăng tốc độ tăng trưởng tếbào nội mô trong ống nghiệm và trong cơ thể Estrogen làm ức chế sự chếttheo chương trình của tế bào nội mô và sự tăng sinh của tế bào cơ trơn theonghiên cứu invitro Do đó, estrogen góp phần bảo vệ thành mạch [40]
Trang 13Hình 1.3: Tác dụng trực tiếp của estrogen trên mạch máu [ 40 ].
Estrogen còn có tác dụng chống xơ vữa động mạch đã được thựcnghiệm trên chuột Nhiều nghiên cứu trên người sau mãn kinh đã chứng minhđược rằng liệu pháp estrogen làm giảm nồng độ cholesteron toàn phần vàlipoprotein tỉ trọng thấp (LDL), làm tăng nồng độ lipoprotein tỉ trọng cao(HDL) và nồng độ triglycerid máu [40] Theo những nghiên cứu quan sát trênđối tượng phụ nữ sau mãn kinh, liệu pháp estrogen làm giảm 35 – 50% nguy
cơ mắc các bệnh tim mạch ở phụ nữ mãn kinh khỏe mạnh trước đó [40], mặc
dù tác dụng này còn nhiều tranh luận[23] Như vậy, estrogen có góp phầntrong vấn đề phòng chống các nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở phụ nữ
1.3.4 Tác dụng lên hệ thần kinh
Theo một số nghiên cứu dịch tễ học, sự thiếu hụt estrogen ở phụ nữ saumãn kinh được cho là có mối liên quan với tình trạng giảm chức năng nhậnthức và tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer [23] Tuy nhiên, theo một thửnghiệm ngẫu nhiên ở phụ nữ sau mãn kinh ở Anh, estrogen ko có tác dụng cảithiện tình trạng mất trí nhớ ở bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer [42] Estrogen
Trang 14được cho là có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh trong giai đoạn sau của cuộcsống Trong mô não trên những con chuột trưởng thành, estrogen kích thích
sự dẻo dai của các khớp thần kinh và sửa chữa đuôi gai, gây ra kích hoạt các
tế bào thần kinh đệm Estrogen làm tăng mật độ thụ thể N- methyl – aspartate
và kích thích tính nhạy cảm với tín hiệu chuyển tiếp qua các thụ thể này ở các
tế bào vùng hải mã – vùng có liên quan tới hoạt động trí nhớ của con người.Estrogen còn làm giảm tạo thành các beta – amyloid peptid, nhóm enzym liênquan tới bệnh Alzheimer, ở các u nguyên bào thần kinh [23]
Sự chuyển đổi androgen thành estradiol nhờ sự xúc tác của enzymthơm hóa aromatase ở não có liên quan tới sự khác biệt giới tính trong bộ não– khả năng estradiol làm tăng tiết hormon kích thích sinh dục ở nữ giới Mặc
dù quá trình chuyển đổi androgen ở não thấp hơn so với các mô khác nhưnglại có vai trò quan trọng[13]
Estradiol còn có ảnh hưởng tới trạng thái tâm lý và rối loạn giấc ngủ ởphụ nữ Nồng độ estradiol nước bọt ở nhóm có giấc ngủ thường xuyên, ít biếnđổi thấp hơn 60% so với những nhóm khác với p<0,001 Tuy nhiên mối tươngquan giữa estradiol và thời gian ngủ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê [39]
Estrogen và testosteron tạo nên sự khác biệt cấu trúc của não ở nam và
nữ Ở nam giới, thể tích não và tỷ lệ tương đối chất trắng cao hơn ở nữ giới,ngược lại tỷ lệ tương đối chất xám thấp hơn ở nữ giới Nghiên cứu được tiếnhành trên 2 nhóm đối tượng chuyển giới nam thành nữ và nữ thành nam Ởnhóm đối tượng nam chuyển thành nữ sau khi được điều trị kháng androgen +estrogen thấy kết quả tỷ lệ chất xám có phần lớn hơn và thể tích não giảm về tỷ
lệ nữ Tuy nhiên sự khác biệt này không lớn và không có ý nghĩa thống kê [25]
Trang 151.3.5 Tác dụng lên da
Estrogen có ảnh hưởng sâu sắc trên da, có tác động điều chỉnh tế bàobiểu bì sừng, nguyên bào sợi và tổ chức phụ của da như nang lông, tuyến mồhôi, tuyến bã [52] Estrogen có tác dụng ngăn ngừa sự lão hóa của da.Estrogen làm cải thiện làn da bằng nhiều cách Chúng làm tăng hàm lượngcollagen trong da, độ dày và độ ẩm của da, làm giảm các nếp nhăn trên da cả
về số lượng và chiều sâu [58] Sự thay đổi nồng độ estrogen trong máu dẫntới sự biến đổi của làn da Độ dày da thấp nhất khi bắt đầu chu kì kinh nguyệt,khi nồng độ estrogen và progesteron thấp, sau đó tăng lên theo mức tăng củaestrogen [53] Ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh, khi nồng độ estrogen giảm thấp,
da của họ mỏng hơn, tăng tình trạng khô da, tăng số lượng và chiều sâu nếpnhăn, giảm độ săn chắc và độ đàn hồi Vì thế liệu pháp thay thế estrogentrong giai đoạn này được sử dụng như một biện pháp làm cải thiện làn da,giúp giữ được làn da tuổi trẻ [12]
Estrogen có tham gia vào vai trò bảo vệ da chống lại ánh nắng mặt trời[56] và nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ung thư da không ác tính
và khối u ác tính ở da là thấp hơn đáng kể ở phụ nữ [52] Estrogen còn thúcđẩy quá trình lành vết thương ở da [9] Và có mối liên quan tới sự rụng tóc ởngười phụ nữ mãn kinh có sử dụng estrogen thay thế Tuy nhiên tìm hiểu về
cơ chế tác dụng của estrogen tới da còn chưa được rõ ràng [52]
1.3.6 Tác dụng khác
Estrogen làm tăng tổng hợp protein ở các mô đích như tử cung, tuyến
vú, xương Estrogen còn làm tăng nhẹ quá trình sinh tổng hợp protein của cơthể, tăng lắng đọng mỡ ở dưới da đặc biệt ở ngực, mông, đùi để tạo thànhdáng nữ Estrogen làm tăng nhẹ tốc độ chuyển hóa, tuy nhiên tác dụng này chỉbằng 1/3 tác dụng của testosteron [1] Estrogen làm tăng biến đổi phức hợp
Trang 16bilirubin bằng cách làm tăng chế tiết cholesteron và giảm chế tiết acid mật[7] Điều này dẫn đến tình trạng bão hòa của mật với cholesteron nên gây tăngnguy cơ sỏi mật đối với phụ nữ dùng Estrogen [7] Estrogen làm giảm nhẹđường và insulin khi đói nhưng không biểu hiện ảnh hưởng đến nhiều chuyểnhóa carbonhydrat [7],[24].
Estrogen còn có tác dụng lên chuyển hóa muối nước Do cấu tạo củaestrogen giống như aldosteron và các hormon vỏ thượng thận khác nênestrogen cũng có tác dụng giữ ion natri và nước Tuy nhiên ở phụ nữ bìnhthường thì tác dụng này rất yếu, trừ khi có thai [1],[7]
1.4 Sự thay đổi nồng độ estradiol trong chu kỳ kinh nguyệt.
CKKN bình thường trung bình từ 28 – 30 ngày, bao gồm 2 giai đoạn:giai đoạn tăng sinh (giai đoạn estrogen hay pha nang noãn) và giai đoạn bàitiết (giai đoạn progesteron hay giai đoạn hoàng thể)[1]
Nồng độ estrogen biến đổi theo từng giai đoạn của CKKN Nồng độestrogen tăng dần trong nửa đầu của CKKN, đạt nồng độ đỉnh ở khoảng ngàythứ 12 – 13, tương ứng với thời điểm bắt đầu có hiện tượng phóng noãn Nồng
độ estrogen giảm xuống khi trứng rụng và tăng dần trở lại ở giai đoạn hoàngthể (nửa sau của CKKN) nhưng tăng lên không tới nồng độ estrogen đỉnh ởnửa đầu của CKKN Tới cuối giai đoạn bài tiết nồng độ estrogen giảm thấp tớimiền ngưỡng chảy máu cùng với hiện tượng tăng cao nồng độ progesteron gây
ra hiện tượng chảy máu kinh nguyệt[1],[7] (Hình 1.4; Bảng 1.1)
Trang 17Hình 1.4 Sơ đồ biểu diễn các yếu tố biến đổi trong CKKN [ 3 ].
Bảng 1.1 Nồng độ estradiol huyết thanh (pmol/l) theo từng giai đoạn của
Trang 18Cơ chế điều hòa nồng độ estrogen dưới sự chi phối của hệ trục vùngdưới đồi – tuyến yên – buồng trứng Khi hoàng thể thoái hóa làm giảm chếtiết estrogen và progestron, tác động lên tuyến yên theo cơ chế điều hòangược âm tính khiến tuyến yên tăng tiết FSH và LH FSH tăng kích thíchnang noãn phát triển và trưởng thành đồng thời LH kích thích tế bào áo trongcủa nang noãn chế tiết estrogen Nồng độ estrogen tăng trong giai đoạn nangnoãn muộn lại gây kích thích dương tính lên tuyến yên khiến tăng LH lênnhiều lần khoảng 2 ngày trước khi phóng noãn LH tăng tiếp tục làm nồng độestrogen cũng tăng lên cao và đạt ngưỡng cao nhất khoảng 16 giờ trước khiphóng noãn tương ứng với mức LH được bài tiết ở tuyến yên là cao nhất LHtác dụng ngược âm tính lên vùng dưới đồi làm tăng tiết GnRH, GnRH gây ứcchế tuyến yên làm giảm tiết LH.Tuy nhiên sau phóng noãn nồng độ estrogengiảm xuống đột ngột và lại gây tác dụng ngược âm tính lên tuyến yên làmtăng bài tiết FSH và LH Dưới tác dụng của LH, một ít tế bào hạt còn lại ở vỏnang vỡ được biến đổi nhanh chóng để trở thành tế bào hoàng thể, tế bàohoàng thể này bài tiết một lượng lớn estrogen và đạt nồng độ đỉnh thứ hai saukhi phóng noãn khoảng 7-8 ngày Sau đó hoàng thể bắt đầu giảm bài tiết,nồng độ estrogen giảm thấp dần, tới một miền ngưỡng nhất định gây hiệntượng kinh nguyệt[1]
1.6.Các phương pháp định lượng nồng độ estradiol.
Hiện nay đã có những cải biến trong định lượng nồng độ estradiol Cácphương pháp định lượng được sử dụng ngày nay: Phương pháp quang phổkhối (Mass spectrometry – MS), phương pháp RIA, EIA, và ECLIA
1.6.1 Phương pháp quang phổ khối (LC- GC/MS).
Nguyên lý của phương pháp này là ion hóa hợp chất hữu cơ để tạo ra
các phân tử tích điện hoặc mảnh phân tử, từ đó đo tỷ lệ phân tử khối/điện tích.Phương pháp quang phổ khối thường được kết hợp với sắc kí lỏng hoặc sắc
Trang 19ký khí hoặc cả 2 ( LC/MS, GC/MS, LC- GC/MS), trong đó kỹ thuật sắc ký cóvai trò phân tách riêng biệt các hợp chất hữu cơ khác nhau trước khi đưa vàomáy quang phổ Phương pháp này được coi là tiêu chuẩn vàng để định lượngnồng độ estradiol và thể hiện tính ưu việt hơn so với các phương pháp đolường miễn dịch trực tiếp [29].
1.6.2 Phương pháp định lượng miễn dịch phóng xạ cạnh tranh (RIA).
Nguyên tắc chung của phương pháp là dựa trên sự gắn cạnh tranh giữa
hormon tự nhiên (hormon trong máu cần định lượng) và hormon đánh dấuphóng xạ với kháng thể đặc hiệu Mức độ gắn của hai loại hormon này vớikháng thể tỷ lệ thuận với nồng độ ban đầu của chúng Đo phức hợp nồng độhormon gắn đồng vị phóng xạ - kháng thể bằng máy đếm phóng xạ rồi dựa vàođường cong chuẩn ta có thể tính được lượng hormon trong dịch cần định lượng[1] Sai số của phương pháp này khoảng 10 – 15 % so với giá trị thực [54]
1.6.3 Phương pháp miễn dịch gắn enzym (EIA - ELISA)
Kỹ thuật này gồm nhiều kỹ thuật khác nhau nhưng phương phápSandwitch được sử dụng phổ biến hơn
Nguyên tắc chung của phương pháp ELISA Sandwitch: Phương pháp
này dựa trên nguyên tắc dùng 2 kháng thể đơn dòng “kẹp” vào hai đầu củachất thử (hormon) Một trong hai kháng thể được đánh dấu bằng enzym Nếugọi chất cần thử là Ag, kháng thể không đánh dấu là Aco, kháng thể đánh dấu
là Ac∗.Ta có: Ag + Aco + Ac*↔ Aco – Ag – Ac*[1]
Nồng độ phức hợp đánh dấu sau phản ứng tỷ lệ với kháng nguyên cómặt Ưu điểm của phương pháp này là độ nhạy cao và không phải tiếp xúc vớichất phóng xạ [52]
Trang 201.6.4 Phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA).
− Giai đoạn ủ lần thứ 2: Đưa vào hỗn hợp trên các vi hạt phủ streptavidin vàmột dẫn xuất của estradiol có gắn rethenium (đóng vai trò là bán khángnguyên) Khi đó vị trí còn trống của kháng thể gắn với biotin sẽ được gắn vớikháng nguyên này, tạo nên phức hợp kháng thể - bán kháng nguyên Nhờ sựtương tác giữa biotin và streptavidin, toàn bộ phức hợp sẽ được gắn lên vi hạt(pha rắn)
− Hỗn hợp phản ứng sẽ được đưa vào các ô đếm, ở đó các vi phân tử gắn phứchợp miễn dịch sẽ được từ trường hút lên bề mặt của điện cực Các chất khônggắn sau đó loại bỏ bằng Procell
− Gắn điện thế cho điện cực Dưới tác dụng của kích thích điện, phản ứng hóahọc xảy ra đối với phức hợp gắn trên bề mặt điện cực, gây ra hiện tượng phátquang, ánh sáng được phát ra được đo bởi bộ nhân quang
Nồng độ estradiol huyết thanh toàn phần cần định lượng được dựa vàođường cong chuẩn của máy đã biết
Trang 21Hình 1.5: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của phương pháp ECLIA[ 14 ].
1.6.4.3 Giá trị của phương pháp
Phương pháp này có ưu điểm thời gian tiến hành ngắn (18 phút), so vớicác phương pháp định lượng nồng độ estradiol trực tiếp khác thì phương phápnày có độ nhạy và độc chính xác hơn [26] Kết quả định lượng bằng phươngpháp ECLIA có mối tương quan với phương pháp định lượng MS [29] Tronghoàn cảnh chi phí đầu tư, lắp đặt còn cao thì việc sử dụng phương phápECLIA là phổ biến và có hiệu quả trong định lượng nồng độ estradiol vàtestosteron huyết thanh
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ estrogen huyết thanh
Nồng độ estrogen trong huyết thanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố Dướiđây là một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới kết quả định lượng nồng độestrogen huyết thanh
1.7.1 Phương pháp định lượng – phân tích.
Định lượng nồng độ estradiol giữa các phòng thí nghiệm và giữa cácnhà sản xuất có thể có sự khác nhau Theo nghiên cứu của Lee và cs nồng độ
estrogen
estrogen
Trang 22estradiol có sự khác biệt lớn khi đo bằng các phương pháp miễn dịch phóng xạkhác nhau [35] Trong các phương pháp đo nồng độ estradiol huyết thanh thìcác phương pháp gián tiếp cho thấy độ tin cậy và độ chính xác hơn các phươngpháp đo lường trực tiếp [20], [29] Theo nghiên cứu của Jennifer.S Lee,phương pháp quang phổ khối kết hợp sắc ký lỏng hoặc khí vẫn là tiêu chuẩnvàng trong định lượng nồng độ hormon steroid nói chung và hormon estradiolnói riêng, đặc biệt trên những đối tượng phụ nữ sau mãn kinh có nồng độestradiol thấp So với các phương pháp định lượng trực tiếp, phương phápgián tiếp có mối tương quan với nồng độ estradiol tốt hơn (p<0,01), có độlệch chuẩn thấp hơn (14 % so với 68%) [29].
1.7.2 Yếu tố địa dư, chủng tộc.
Tỷ lệ ung thư vú và các bệnh lý tim mạch ở phụ nữ đã được ghi nhận là
có sự khác nhau giữa các chủng tộc, dân tộc[51], [21], [61] Estrogen đượcbiết tới như là một yếu tố nguy cơ của các bệnh lý trên [1].Ausamanas MK vàcộng sự (2007) đã phát hiện sự khác biệt về nồng độ estradiol huyết thanh củaphụ nữ mãn kinh ở 9 nước châu Á; thấp nhất ở Trung Quốc (13,6 pg/ml) vàcao nhất ở Việt Nam (29,1 pg/ml) [10]
Trong độ tuổi sinh sản, sự khác biệt nồng độ estradiol huyết thanh củaphụ nữtrong các chủng tộc khác nhau còn nhiều tranh luận Marsh E và cộng
sự (2011) đã báo cáonồng độ estrogen huyết thanh của người Mỹ da đen caohơn của người Mỹ da trắng ở các giai đoạn khác nhau của CKKN[37].Pinheiro SP và cộng sự (2005) tương tự công bố nồng độ estrogen huyếtthanh ở người Mỹ da đen (162 pg/ml) và người Mỹ gốc Á (159 pg/ml) cũngcao hơn người Mỹ da trắng (143 pg/ml) ở nhóm đối tượng phụ nữ độ tuổi sinhsản[49] Ngược lạiLamon-Fava S(2005) lại báo cáo nồng độ estradiol huyếtthanh ở nhóm phụ nữ tuổi sinh sản của người Mỹ da trắng lại cao hơn người
Mỹ da đen[51];Key TJ (1990)xác định nồng độ estradiol huyết thanh của phụ
Trang 23nữ tuổi sinh sản ở Anh cao hơn 36% (p< 0,05) so với phụ nữ cùng độ tuổi này
ở Trung Quốc[55]
1.7.3 Tuổi
Nồng độ estradiol huyết thanh có sự thay đổi trong từng giai đoạn củacuộc đời Nồng độ estradiol tăng lên theo tuổi trong giai đoạn trước khi dậy thì,sau khi dậy thìtương đối ổn định theo từng chu kì kinh nguyệt và bắt giảm dần
ở tuổi mãn kinh [1], [23],[30]
Montserrat và cộng sự (2002) đã nghiên cứu trên nhóm đối tượng phụ nữ
18 – 45 tuổi ở Mỹ, cho thấy nồng độ estradiol huyết thanh không có sự khácbiệt trong các nhóm tuổi nghiên cứu theo từng giai đoạn của CKKN[41]
1.7.4.Các chỉ số hình thái (chiều cao, cân nặng, BMI, tỷ lệ mỡ cơ thể)
Ảnh hưởng của BMI tới nồng độ estradiol còn nhiều tranh cãi.Lukanova A và cộng sự (2004) đã xác định nồng độ estradiol tỷ lệ thuận vàkhông có tương quan với BMI ở phụ nữ mãn kinh [36] Theo Nagata C vàcộng sự (2011) nghiên cứu trên đối tượng phụ nữ tiền mãn kinh Nhật Bản chothấy nồng độ estrogen tỷ lệ nghịch với chỉ số BMI sau khi đã điều chỉnh độtuổi và giai đoạn CKKN [44]
Ảnh hưởng của chiều cao tới nồng độ estradiol ở phụ nữ cho tới nay vẫncòn mâu thuẫn Theo Dorgan JB (1995) nồng độ estradiol huyết thanh có xuhướng tăng theo chiều cao ở phụ nữ tiền mãn kinh[15].Boyapati SM và cộng
sự (2004) lại không thấy mối liên quan này ở nhóm phụ nữ mãn kinh ở TrungQuốc Cùng trong nghiên cứu này, tác giả đã báo cáo có sự khác biệt giữa cácnhóm cân nặng khác nhau ở phụ nữ độ tuổi mãn kinh với p= 0,02[11]
Ziomkiewicz và cộng sự (2008) ở phụ nữ độ tuổi sinh sản có tỷ lệ mỡ cơthể rất thấp (<22%) và tỷ lệ mỡ rất cao (>31%) có nồng độ estradiol thấp hơn
25 – 30 % so với phụ nữ cùng độ tuổi có tỷ lệ mỡ thấp hoặc trung bình [62]
Trang 241.7.5 Ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng, lối sống và hoạt động thể lực
Ảnh hưởng của Caffein tới nồng độ estradiol vẫn còn những tranh cãi.
Goto và cộng sự (2001) đã báo cáo không có mối liên quan giữa caffein vànồng độ estradiol huyết thanh ở phụ nữ mãn kinh[22] Kotsopoulos J và cộng
sự (2009)lại công bốnồng độ estradiol huyết thanh và yếu tố caffein có tỷ lệnghịch ở nhóm phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh [32].Karen C Schliep(2012) phát hiệnở nhóm phụ nữ độ tuổi sinh sản có lượng tiêu thụ caffein lớnhơn 200mg/ngày, nồng độ estradiol của phụ nữ da trắngtỷ lệ nghịch với lượngcaffein tiêu thụ; nồng độ estradiol của phụ nữ châu Á lại tỷ lệ thuận với lượngcaffein tiêu thụ Trong nghiên cứu này cũng cho thấy lượng cafe và trà xanhkhi uống >240ml/ngày có liên quan tích cực tới nồng độ estradiol tự do ở tất
cả các chủng tộc[31]
Ảnh hưởng của hút thuốc látới nồng độ estradiol huyết thanh cũng còn
nhiều tranh luận Withcomb và cộng sự (2010) đã báo cáo nồng độ estradiolkhông có mối liên quan với yếu tố hút thuốc lá trong các giai đoạn của CKKNtrên đối tượng phụ nữ độ tuổi sinh sản[64] Windham GC (1990) phát hiện thấynồng độ estradiol huyết thanh trung bình giai đoạn nang noãn ở nhóm phụ nữhút thuốc lá cao hơn 12,5 % so với nhóm phụ nữ không hút thuốc lá [63]
Ảnh hưởng rượu tới nồng độ estradiol huyết thanh còn chưa rõ ràng.
Dorgan JB (1994) và Monsterat (2002) đã báo cáo nồng độ estradiol huyếtthanhkhông có mối liên quan vơi rượu trong từng giai đoạn của CKKN [16].Ngược lại Reichmann và cộng sự (1993) báo cáo nồng độ estradiol trongnước tiểu tăng lên trong sáu chu kì kinh nguyệt liên tiếp trên nhóm phụ nữ cóuống rượu 30g/ngày và cao hơn nhóm phụ nữ không uống rượu trong cả bagiai đoạn của CKKN [46] Multi P và cộng sự (1998) cũng đã phát hiện nồng
Trang 25độ estradiol huyết thanh ở nhóm phụ nữ uống rượu hàng tuần cao (92,8g /1tuần) cao hơn đáng kể ở nhóm phụ nữ uống rượu thấp (31,6g/1 tuần)[43] Cơchế được nêu ra là do rượu có thể làm giảm tỷ lệ testosteron và giảm tỷ lệ oxyhóa estradiol thành estrone[27]
Nồng độ estradiol của phụ nữ tỷ lệ nghịch với thời gian và cường độ
hoạt động thể lực Elizabeth R và cộng sự (2009) đã công bố nồng độ
estradiol của phụ nữ mãn kinh tỷ lệ nghịch với thời gian hoạt động thể chấttrong tuần [17] Jasienska G và cộng sự (2006) cũng đã phát hiện mối liênquan nghịch giữa nồng độ estradiol huyết thanh và mức độ thường xuyên củahoạt động thể chất trong nhóm phụ nữ độ tuổi sinh sản [28] Emaus A và cộng
sự (2008) đã công bố nồng độ estradiol trong nước bọt cũng tỷ lệ nghịch vớicường độ hoạt độ thể chất trên đối tượng phụ nữ độ tuổi sinh sản khỏemạnh[18] Điều này có thể được giải thích là do hoạt động thể lực làm giảmlượng mỡ trong cơ thể dẫn tới giảm quá trình chuyển hóa cholesterol thànhestradiol ở phụ nữ[1], [23]
Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố khác có liên quan tớinồng độ estradiol huyết thanh như: Insoflavon trong sữa đậu nành [53], sựbiến thiên giấc ngủ [39]
1.7.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố tiền sử sản phụ khoa
Một số bệnh ung thư có liên quan với nồng độ estrogen ở phụ nữ cómối liên quan với đặc điểm CKKN, yếu tố sinh sản Kvale G (1992) cho con
bú lại làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú[34] Yang CP và cộng sự(1993) lại phát hiện thấy ít con là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thưvú[60] Vachon CM và cộng sự (2002) đã công bố tiền sử dùng thuốc tránhthai là yếu tố làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng ở phụ nữ mãn kinh[57]
Trang 26Jessica Chubak và cộng sự (2004)đã báo cáo nồng độ estradiol huyếtthanh có xu hướng giảm ở phụ nữ có số lần mang thai nhiều, thời gian chocon bú kéo dài, CKKN đềunhưng không có ý nghĩa thống kê[30] Verkasalo
PK (2001), Monsterat (2002), và Fortner RT (2012) công bố không có mốiliên quan giữa nồng độ estradiol với yếu tố số con, tuổi có kinh nguyệt, yếu tốcho con bú, yếu tố dùng thuốc tránh thai ở phụ nữ độ tuổi sinh sản[41],[47],[59] Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Fortner RT cho thấy nồng độ estradiolnước tiểu xu hướng tăng theo mức độ đều đặn của CKKN với p= 0,02
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 15 – 45 tuổi, khỏe mạnh
Đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu ít nhất 5 năm
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Tất cả các đối tượng vi phạm một trong các tiêu chuẩn sau đây đều bịloại ra khỏi nghiên cứu:
•Kinh nguyệt không đều: số CKKN< 8 lần trong 1 năm, một chu kì hànhkinh <26 ngày hoặc >35 ngày
•Những người chưa dậy thì, mãn kinh
•Những người đang mang thai, đang cho con bú
•Những người mắc các bệnh liên quan tới nồng độ estradiol như: u nangbuồng trứng, suy tuyến yên, thiểu năng sinh dục, xơ gan, hội chứngbuồng trứng đa nang hoặc đã cắt tử cung buồng trứng
•Những người mắc các bệnh mãn tính đã được chẩn đoán: đái tháođường, tăng huyết áp hoặc ung thư, cường giáp
2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Thành thị: Đống Đa (Hà Nội)
Nông thôn: Kim Bảng (Hà Nam)
Trang 282.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang: thực hiện trên những người cómặt trong quần thể nghiên cứu vào một thời điểm nhất định
Mục đích của nghiên cứu là mô tả nồng độ estradiol toàn phần trungbình của phụ nữ độ tuổi sinh sản (15 – 45 tuổi)
2.3.2 Cách lấy mẫu và quy trình nghiên cứu:
2.3.2.1 Cách lấy mẫu: ngẫu nhiên đa tầng
Chọn ngẫu nhiên 4 phường trong quận Đống Đa (Hà Nội) Mỗi mộtphường chọn ngẫu nhiên 3 cụm Mỗi một cụm chọn ngẫu nghiên 4 tổ Dựavào các tổ trưởng lập danh sách toàn bộ số nữ giới trong độ tuổi sinh sản đểlàm khung chọn mẫu Khung chọn mẫu được sắp xếp theo nhóm tuổi và chọnngẫu nhiên hệ thống và khoảng cách bằng 4 kể từ người đầu danh sách Tiếnhành chọn mẫu tượng tự ở các xã Lương Sơn, Thi Sơn, Liên Sơn, Ngọc Sơn(tỉnh Hà Nam)
2.3.2.2 Cỡ mẫu
Dựa vào kết quả estradiol toàn phần theo khu vực nông thôn và thànhthị của nghiên cứu trước [4], lấy sai số 5% ta tính cỡ mẫu theo công thức:
Trong đó: s là độ lệch chuẩn của nghiên cứu trước
X: Giá trị trung bình từ nghiên cứu trước ε: Mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể
(chọn ε = 0,2)Thay vào công thức trên, ta có cỡ mẫu từng nhóm thành thị và nông thôn:
Thành thị: 26 ngườiNông thôn: 44 ngườiVậy cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu là: 70 người
Trang 292.3.2.3 Quy trình nghiên cứu:
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được phỏng vấn bằng bộ câu hỏisàng lọc (xem phụ lục A) và được các bác sĩ nội khoa khám lâm sàng để đảmbảo thỏa mãn các tiêu chuẩn nghiên cứu và không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ.Các đối tượng đủ tiêu chuẩn được phỏng vấn với bộ câu hỏi liên quan dinhdưỡng, lối sống và được lấy máu (n=83) Định lượng nồng độ estradiol và cácchỉ số nghiên cứu khác được tiến hành tại larbo bệnh viện Đại học Y Hà Nội(Hình 2.1)
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu.
Lập danh sách lấy mẫu, chọn ngẫu nhiên
Phỏng vấn, khám sàng lâm sàng, sàng lọc đối tượng
nghiên cứu
Lập danh sách các đối tượng khỏe mạnh bình thường (n = 83)
Lấy máu xét nghiệm
Xử lý mẫu máu, lưu trữ
Phân tích mẫu máu, phân tích lặp lại
Trang 302.4 Các chỉ số nghiên cứu và phương pháp đo
-Biến liên tục
Lượng estradiol có trong huyết thanh ở tất các dạng (tự do, gắn albumin, gắn SHBG và các protein khác)
Định lượng bằng phương pháp ECLIA trên máy Elecseys 2010
Là những người sống
ở nội thành đối với thành thị hoặc không phải nội thành đối vớinông thôn, điều kiện sống trên 5 năm tại khu vực đó
Dựa vào bảng câu hỏi phỏng vấn(phụ lục A)
-Tuổi-Chiều cao-Cân nặng-BMI-Biến liên tục
Tuổi (năm)Chiều cao h(m)Cân nặng P (kg)BMI: chỉ số khối cơ thể (kg/m2)
-Tuổi: tính tròn từ ngày sinh nhật(lịch dương) đến ngày khám
và lấy máu-Chiều cao: đo bằng thước nhân trắc-Cân nặng: Đo bằng cân điện tử
-BMI = p/h2
Kinh nguyệt
Số con Cho con bú
Sử dụng thuốc tránh thai
Qua bảng câu hỏi phỏng vấn (phụ lục B)
Uống rượuUống cafeHút thuốcBiến nhị phân
Các chỉ số dinh dưỡng và lối sống
Qua bộ câu hỏi phỏng vấn (phụ lục C)
Trang 31Ngày lấy máu, ngày đầu tiên của chu kỳ hành kinh gần ngày lấy máunhất được thu thập trước khi lấy máu làm xét nghiệm.
Quy ước: ngày thứ 1 là ngày bắt đầu hành kinh; giai đoạn hoàng thểđược tính trong khoảng 14 ngày trước ngày hành kinh kế tiếp; giai đoạnphóng noãn kéo dài khoảng 3 ngày trước giai đoạn hoàng thể; giai đoạn nangnoãn kéo dài từ ngày bắt đầu hành kinh tới trước giai đoạn phóng noãn[1]
2.4.2 Dụng cụ và phương pháp định lượng nồng độ estradiol toàn phần
− Máy đo: Elecseys 2010
− Mẫu phân tích: huyết thanh đối tượng nghiên cứu
− Kít thuốc thử của hãng Roche gồm 1 bộ 3 lọ:
+ Lọ M(nắp trắng) 6,5ml: chứa các vi hạt phủ Steptavidin 0,72 mg/ml và chấtbảo quản
+ Lọ R1 (nắp xám) 8ml: chứa kháng thể đơn dòng kháng estradiol gắn bitotin
45 ng/ml; mesterolon 130 ng/ml; dung dịch đệm MES 50 mmol/l; PH 6,0 vàcác chất bảo quản
+ Lọ R2 (nắp đen), 8ml: chứa dẫn xuất của Estradiol có gắn phức hợpRuthenium 2,75 ng/ml (estradiol – peptid – Ru (bpy) 2+); dung dịch đệm MES
50 mmol/l; PH 6,0 và chất bảo quản
− Tiến hành:
Mẫu máu được lấy trong ngày từ 8h tới 17h Máu toàn phần được chứatrong ống nghiệm không có chất chống đông, để đông tự nhiên Ly tâm trongvòng 30 phút sau khi lấy máu để tách huyết thanh Mẫu huyết thanh của từngđối tượng được chia vào các Eppendorf (khoảng) 150µl, bảo quản ở nhiệt độ-80ºC cho tới khi xét nghiệm
Trang 32Định lượng nồng độ estradiol toàn phần huyết thanh bằng phương phápmiễn dịch điện hóa huỳnh quang, nguyên lý cạnh tranh trên máy Elecseys
2010 theo các quy trình và phản ứng tự động Kết quả hiển thị sau 18 phúttính từ thời điểm máy tự động hút mẫu
2.4.3 Dụng cụ và phương pháp đo chỉ số nhân trắc
− Dụng cụ: cân điện tử, thước đo nhân trắc Martin có chia vạch tới milimet
− Đo cân nặng (kg): đối tượng tháo giầy, dép, chỉ mặc quần áo mỏng khi cân.Đọc kết quả với chỉ số của cân ở tư thế mắt nhìn vuông góc với mặt kínhđồng hồ
− Đo chiều cao đứng (cm): đối tượng đứng thẳng, hai gót chân chạm nhau, bànchân mở ra một góc 60º, hai tay buông thẳng, bàn tay úp vào mặt ngoài đùi.Khi đo đối tượng chạm gót, mông, lưng và chẩm vào thước Lấy số đo từ gótchân lên đỉnh đầu
− Chỉ số BMI (Body mass index) được tính theo công thức của Kaup: BMI =P/h2, trong đó BMI là chỉ số khối cơ thể, P là cân nặng tính bằng kilogram(kg), h là chiều cao tính bằng mét (m)
2.5 Xử lý thống kê các số liệu nghiên cứu
Tất cả các số liệu được xử lý trên máy tính theo phương pháp thống kê
y sinh học bằng phần mềm SPSS 16.0
Các phương pháp thống kê được sử dụng trong nghiên cứu: giá trị trungbình, độ lệch chuẩn và tỉ lệ % được sử dụng để mô tả đặc điểm của các đốitượng nghiên cứu Để hạn chế sai lầm loại 1, quy định ý nghĩa thống kê ởngưỡng < 0,05; < 0,01; <0,001 T-test được dùng cho biến định lượng phân
bố chuẩn và Test Mann – Whitney được dùng cho biến định lượng phân bốkhông chuẩn khi so sánh trung bình giữa 2 nhóm Test ANOVA được dùng để
so sánh giá trị trung bình từ 3 nhóm trở lên Thuật toán phân tích tương quan