Do đó kiến thức, kỹ năng nuôi con bằng sữa mẹ của người mẹ có vai trò ảnh hưởng quyết định tới tình trạng dinh dưỡng, vàgián tiếp tác động tới quá trình phát triển bình thường, toàn diện
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu.
Thiên chức của người phụ nữ là được làm mẹ làm vợ Truyền thốngcủa các bà mẹ Việt Nam đều mong muốn, nuôi con bằng chính dòng sữa củamình, đó là một tập quán tốt và đúng khoa học
Trong giai đoạn từ lúc mới đẻ tới 6 tháng tuổi, bà mẹ giữ vai trò quantrọng nhất trong việc nuôi trẻ Do đó kiến thức, kỹ năng nuôi con bằng sữa mẹ
của người mẹ có vai trò ảnh hưởng quyết định tới tình trạng dinh dưỡng, vàgián tiếp tác động tới quá trình phát triển bình thường, toàn diện của trẻ nhỏsau này [16,14] Nuôi con bằng sữa mẹ là cách nuôi trẻ tự nhiên, tiện lợi vàkinh tế nhất mà tạo hóa đã ban cho mọi bà mẹ qua bầu sữa [5,22]
Vấn đề nuôi trẻ trong 6 tháng đầu - cụ thể là thực hành nuôi con bằngsữa mẹ - bao giờ cũng có nhiều khó khăn và vất vả cho các bà mẹ, tTronggiai đoạn này, bởi trẻ bú mẹ theo nhu cầu của trẻ, và sữa mẹ là nguồn thức ăncung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của trẻ Các bà mẹ cầnphải cho trẻ bú đúng và đủ trong thời kỳ cho con bú., trong quá trình nuôidưỡng có thể trẻ bị sặc sữa sẽ ảnh hưởng tới hệ hô hấp và sự phát triển của trẻsau này
Nhiều bà mẹ sau khi sinh thường chờ cho hai vú căng sữa mới cho con
bú mà người ta gọi là xuống sữa, như vậy là không đúng mà càng làm sữaxuống chậm và dễ bị mất sữa Theo khuyến cáo của Vviện Ddinh dưỡng, đểxuống sữa nhanh và tận dụng nguồn sữa non tuy ít nhưng rất quan trọng, các
bà mẹ nên cho trẻ bú sớm, đặc biệt là trong nửa giờ đầu
VĐồng thời vấn đề cho con bú còn ảnh hưởng tới sức khỏe của người
mẹ như: vấn đề tiết sữa, tắc tia sữa, viêm đầu vú, co hồi tử cung, cầm máu sauđẻ Hiện nay tình trạng cho con bú không đúng cách vẫn khá phổ biến ở các bà
mẹ Vviệt Nam mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do: trình độ
Trang 2học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo, lối sống, gia đình, và nơi sống, tình hình kinhtếđiều kiện kinh tế, của người mẹ [TLTK]
Vì vậy các bà mẹ hiểu và thực hành đúng kỹ năng cho con bú đóngvai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ, Đđặc biệt đối với các bà mẹnông thôn, dân tộc ít người, trình độ học vấn còn thấp kém, sống ở những vùng
có phong tục lạc hậu về nuôi con bằng sữa mẹ, cần có sự trợ giúp của cán bộ ytế
Nhằm đánh giá kỹ năng cho con bú và các yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năngcho con bú của các sản phụ tại khoa sản 2 bệnh viện phụ sản trung ương, Do đó
chúng tôi tiến hành nghiên cứu về vấn đề: “Đánh giá kỹ năng và yếu tố ảnh
hưởng tới kỹ năng cho con bú của các sản phụ tại khoa sản thường Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương , năm 2011 ”.
2 Mục tiêu nghiên cứu.
- Xác định cCác yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú của các bà
mẹ sinh con tại khoa sản thường Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương, năm 2011
2
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LỆU
1 Giải phẫu học tuyến vỳ và cơ chế tiết sữa
1.1 Giải phẫu học tuyến vỳ
Hỡnh 1.1 Giải phẫu học tuyến vỳ
- Bên trong tuyến vú gồm nhiều nang sữa đợc tạo ra bởi các tế bào tiết sữa.Chung quanh nang sữa cú nhiều tế bào cơ, khi co thắt sẽ đẩy sữa ra ngoài
- Chất prolactin giỳp cỏc tế bào tiết sữa tạo ra sữa, cũn oxytocin làm cỏc
Trang 4tế bào cơ co thắt.
- Từ nang sữa, sữa theo các ống dẫn chảy ra ngoài ở phần quầng vú, cácống sữa nở rộng ra tạo thành các xoang sữa, là nơi sữa được gom vào đểchuẩn bị cho một bữa bú
- Các nan sữa các ống dẫn sữa được bao bọc bởi mô mỡ và mô liên kết
2 Cơ chế tiết sữa
- Sự tiết sữa được điều khiển và duy trì bởi 2 nội tiết tố chính: prolactin
- Trong sữa còn có một chất có thể ức chế hoặc giảm tiết sữa nếu cónhiều sữa được tiết ra thì chất ức chế này sẽ ngăn chặn các tế bào tiết sữa hạnchế tiết sữa Vì vậy, để vú tiếp tục tao sữa thì sữa mẹ phải được chảy ra khỏi
vú Nếu trẻ không bú được hoặc bú không hết thì sữa mẹ cần phải vắt ra để sựsản xuất có thể được tiếp tục
- Như vậy, điểm then chốt của cơ chế tiết sữa lầ động tác mút vú của trẻđiều khiển tất cả và trẻ càng bú nhiều càng tạo được nhiều sữa
4
Trang 5Vỳ được phõn bố bởi nhỏnh thần kinh da trước và sau thứ 4 đến thứ 6của thần kinh sườn Nỳm vỳ được đỡ bởi lớp da mỏng T4.
Bờn trong vỳ là hệ thống sinh sữa gồm cỏc khoang sinh sữa trụng nhưchựm nho và cỏc ống dẫn hỡnh cõy nối vào ống dẫn chớnh đưa ra đầu vỳ Khibạn gỏi dậy thỡ, hệ thống tạo sữa bắt đầu phỏt triển nhưng chưa sản xuất sữa.Khi mang thai, hệ thống này phỏt triển hoàn thiện để sau khi sinh nở, sữa từcỏc khoang sinh sữa đổ vào cỏc ống dẫn để em bộ bỳ
2.1 Cơ chế tiết sữa của người mẹ [4]
Hỡnh 1.2 Sự tiết sữa từ động tỏc mỳt vỳ của trẻ
- Cũng từ động tác ngậm vú của trẻ, một xung động thần kinh khác tác
động lên thùy sau tuyến yên, kích thích tiết ra oxylactin Oxylactin vào máu
đến vú làm các tế cơ xung quanh nang sữa co thắt, đẩy sữa theo các ống dẫn
Trang 6sữa đến các xoang sữa, đôi khi còn làm sữa tự chảy ra ngoài Oxytocin còngiúp tử cung co hồi tốt, hạn chế mất máu nhng có thể làm bà mẹ cảm thấy
đau bụng mỗi khi cho con bú
- Trong sữa còn có một chất có thể ức chế hoặc giảm tiết sữa nếu cónhiều sữa đợc tiết ra thì chất ức chế này sẽ ngăn chặn các tế bào tiết sữa hạnchế tiết sữa Vì vậy, để vú tiếp tục tao sữa thì sữa mẹ phải đợc chảy ra khỏi vú.Nếu trẻ không bú đợc hoặc bú không hết thì sữa mẹ cần phải vắt ra để sự sảnxuất có thể đợc tiếp tục
- Nh vậy, điểm then chốt của cơ chế tiết sữa lầ động tác mút vú của trẻ
điều khiển tất cả và trẻ càng bú nhiều càng tạo đợc nhiều sữa
3 Những hiểu biết cơ bản về nuụi con bằng sữa mẹ.
3.1 Một số định nghĩa về nuụi con bằng sữa mẹ.
Thỏng 6 năm 1991, một cuộc họp khụng chớnh thức do tiểu ban phũngchống ỉa chảy, chống nhiễm khuẩn hụ hấp cấp tớnh (của WHO) tổ chức nhằmxỏc định cỏc chỉ tiờu then chốt và tỡnh hỡnh cụ thể liờn quan tới vấn đề đỏnhgiỏ việc nuụi con bằng sữa mẹ [30]
Cỏc định nghĩa về nuụi con bằng sữa mẹ:
- Nuụi con bằng sữa mẹ là đứa trẻ được bỳ mẹ trực tiếp hoặc uống sữa
Sữa non tuy ớt nhưng rất quan trọng bởi sữa non cung cấp những khỏngthể và cỏc protein khỏng khuẩn giỳp trẻ chống lại cỏc bệnh nhiễm trựng
6
Trang 74 Lợi ích của sữa mẹ và của việc nuôi con bằng sữa mẹ
4.1 Lợi ích của sữa mẹ
- Sữa mẹ là thức ăn hoàn thiện cho trẻ từ lúc mới sinh cho đến 6tháng tuổi
- Sữa mẹ chứa đầy đủ các chất dinh dỡng cần thiết với thành phần cân đốigiúp trẻ mau lớn
- Cơ thể trẻ dễ hấp thu và sử dụng có hiệu quả
- Sữa mẹ bảo vệ cơ thể trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn
- Sữa mẹ không chứa những protein lạ nên không gây dị ứng cho trẻ
- Sữa mẹ luôn luôn vô trùng, có nhiệt độ thích hợp, không mất thời gianpha chế
Ngoài ra, thành phần sữa mẹ cũng không giống nhau từ đầu đến cuối.Trong vài ngày đầu khi sinh, trớc khi sữa thật đợc tiết ra, vú mẹ tiết ra sữa non,thờng có màu vàng đậm hơn và sánh hơn so với sữa thật sự Lợi íchcủa sữa non:
-Chứa nhiều khoáng thể, nhiều protein kháng khuẩn và nhiều tế bào bạchcầu hơn sữa thật sự
- Có tác dụng sổ nhẹ, giúp tống phân su ra khỏi ruột, hạn chế hiện tợngvàng da sinh lý
- Giàu Vitamin đặc biệt là Vitamin A (vitamin A làm giảm độ nặng củabất cứ bệnh nhiễm khuẩn nào mà trẻ có thể mắc phải)
Chất lợng của sữa non giảm trong vòng 24 giờ đầu
4.2 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ
- Chi phí ít hơn so với nuôi trẻ bằng thức ăn nhân tạo, rẻ tiền tiện lợi
- Giúp cho sự gắn bó mẹ con và làm phát triển tốt mối quan hệ gần gũi,yêu thơng, sẽ tác động rất tốt đến việc giáo dục trẻ sau này
- Là dich thể tự nhiên chứa nhiều yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể màkhông thức ăn nào có thể thay thế đợc
- Luôn có sẵn ở nhiệt độ thích hợp
- Giúp ích cho sự phát triển của trẻ
- Giúp cho mẹ chậm có thai
- Bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ
- Việc bú mẹ giúp cho tử cung co hồi trở về kích thớc bình thờng, làmgiảm chảy máu và có thể phòng chống thiếu máu
- Vệ sinh
- Nuôi con bằng sữa mẹ có điều kiện gắn bó mẹ con, ngời mẹ có nhiều
Trang 8thời gian gần gũi tự nhiên, đó là yếu tố quan trọng giúp cho việc phát triển hàihòa của đứa trẻ
5 Kỹ năng cho con bỳ:
cho con bỳ khụng nờn vắt nhưng giọt sữa đầu Đầu, lưng,mụng trẻ được ụm
sỏt và đối diện với vỳ mẹ trờn một đường thẳng, mặt trẻ cũng đối diện vỳ mẹ
tư thế này giỳp bộ mỳt và nuốt sữa tốt Người mẹ đưa đầu vỳ chạm vào miệngtrẻ khi miệng trẻ mở rộng đưa thật nhanh vỳ vào miệng trẻ sao cho miệng trẻ
mở rộng ngậm sõu vào quầng thõm tốt đa Khi trẻ bắt vỳ dựng mỏ trẻ sẽphồng do lượng sữa đó đủ để trẻ nuốt
Vỡ vậy cỏc bà mẹ nờn giỳp trẻ ngậm bắt vỳ tốt để tạo điều kiện cho trẻthỏa món vơn đúi và tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ mẹ và con
8
Trang 9Nếu má trẻ chưa phồng, đầu lưng mông không đối diện vú mẹ, mồm trẻkhông mở to thì các bà mẹ có nên thử lại Các động tác này đòi hỏi phải rấtkiên trì.
Trẻ ngậm bắt vú tốt Trẻ ngậm bắt vú tốt Trẻ ngậm bắt vú không tốt
Sau đó đánh giá trẻ bú có hiệu quả dựa vào trẻ mút chậm, sâu thỉnhthoảng nghỉ sau đó mút tiếp, ta có thể thấy trẻ nuốt trẻ bú tốt tự ngừng bú, tự
bỏ, thư giãn, buồn ngủ khi no Có thể thấy trẻ mút nhanh không thấy nuốt đó
là trẻ bú không hiệu quả
Sau khi bú xong nên bế trẻ một lúc 20-30 phút rồi mới đặt trẻ nằm đểtránh nôn trớ sau khi ăn no Sau khi trẻ bú xong, người mẹ nên vắt sạch lượngsữa còn lại trong bầu vú ra để kích thích sữa chảy ra nhiều cho cữ bú sau Sữavắt ra có thể để vào tủ lạnh cho trẻ ăn lần sau
Số lần cho bú tùy theo yêu cầu của trẻ, không nhất thiết phải theo đúng giờ giấc, ban đêm vẫn có thể cho trẻ bú được nếu trẻ đòi ăn Trung bình: 2-3h/1 lần cho ăn
Mỗi trẻ có nhịp độ bú khác nhau (có bé bú nhanh, có bé bú chậm, có bé
bú nhiều, có bé bú ít, và bầu sữa của mỗi bà mẹ cũng khác nhau (về số lượngsữa cũng như về tốc độ chảy của sữa ) Vì vậy sự chia sẻ kinh nghiệm và mặtkiến thức giữa các bà mẹ chỉ mang tính chất tương đối Thường thì sau vàingày đầu quan sát và theo dõi nhịp của con, mỗi bà mẹ đều có thể rút ra nhịp
độ riêng của cả hai mẹ con để nuôi trẻ cho phù hợp
Tuy nhiên, qua nhiều quan sát, người ta thấy phần lớn trẻ sơ sinh thỏa
Trang 10mãn được đến 90% nhu cầu bú sau 5 phút bú mẹ, hiếm thấy một đứa trẻ khỏemạnh có nhu cầu bú mỗi bên vú mẹ quá 15 phút Thường thì mẹ nên cho con
bú vú đầu trong khoảng 5 phút, quan sát nếu thấy trẻ mút chậm lại một cáchđột ngột thì nên chuyển sang vú bên kia trong khoảng 10-15 phút cho tới khingừng bú hẳn thì thôi Thường thì nếu sau mỗi cữ bú mà trẻ ngủ yên hoặcnằm chơi yên lành trong khoảng hai tiếng thì có nghĩa là trẻ đã bú no Trongtrường hợp chỉ một lúc sau trẻ đã khóc thì cha mẹ cũng đừng vội nghĩ bé cònđói Cần quan sát thêm xem mẹ có đủ sữa không trước khi kết luận
Có một cách rất đơn giản để có thể dự tính xem bé có bú đủ không làxem số lần mút và số lần nuốt của trẻ, thường thì trẻ mút độ 3-4 cái rồi nuốtmột lần Nếu cha mẹ quan sát thấy trẻ mút rất nhiều lần mới nuốt được mộtlần thì có thể do trẻ mút yếu, hoặc có thể do lượng sữa mẹ ít Nếu do trẻ mútyếu thì sau khi trẻ bú xong mẹ có thể vắt sữa cho bé ăn thêm bằng bình hoặcbằng thìa Nếu do sữa đã hết thì mẹ nên chuyển bé sang vú bên kia và nếu bé
bú vẫn chưa đủ thì có thể lại chuyển ngược lại thêm một lần nữa vì trong quátrình trẻ bú, sữa bên bầu vú kia cũng có thể chảy ra thêm một ít
Một cách khác để tính lượng sữa trẻ bú đủ hay không là xem số lượngnước tiểu của trẻ qua số lần đi tiểu, số tã phải thay Trẻ bú mẹ thường đi tiểurất nhiều lần (20-30 phút một lần) hoặc ướt nhiều tã trong một ngày
Theo nghiên cứu số lượng sữa của các bà mẹ và lượng sữa của hai vú làkhác nhau Nhu cầu của mỗi trẻ cũng khác nhau, tuy cùng lứa tuổi 800ml sữa
có thể đủ nhưng cũng có thể thiếu hoặc thừa với các trẻ khác Cho trẻ bú ítnhất là 12 tháng Nếu còn sữa có thể cho bú 18-24 tháng Trẻ ốm, mùa hènóng bức không nên cai sữa, không nên cai sữa quá đột ngột sẽ làm trẻ hayquấy khóc và không chịu ăn
Bú sớm ngay nửa giờ sau đẻ, bú theo yêu cầu và cai sữa đúng phương
10
Trang 11pháp tạo điều kiện cho cơ thể trẻ phát triển phù hợp với lứa tuổi.
5.1.1 Những vấn đề được đề cập đến trước khi cho con bú (vệ sinh,
tư thế )
−Trước khi cho bé bú, rửa tay sạch nên lau đầu vú bằng nước sạch (Vệsinh đầu vú không cẩn thận: khiến các tia sữa bị tắc, vi khuẩn có khả năng tấncông và ảnh hưởng đến sức khỏe của bé.)
−Không nên rửa vú bằng xà phòng hoặc cồn vì dễ gây khô và nứt đầu
vú Khi vú bị nứt ít vẫn cho trẻ bú trực tiếp để kích thích tiết sữa, bôi đầu vúbằng vadơlin hoặc mỡ penicilin nếu nứt nhiều, bôi sau khi bú
−Khi bị áp xe vú thường trong sữa có nhiều mủ và vi khuẩn nên khôngđược cho trẻ bú nhưng vẫn phải vắt sữa hằng ngày bằng tay hoặc máy vắt sữa
5.1.2 Những vấn đề có thể xảy ra trong và sau cho con bú:
- Sau khi cho con bú đặt trẻ nằm ngay
Do nhiều nguyên nhân
- Nằm ngửa, đầu thấp
chảy nhưng không nuốt Khi thở mạnh, trẻ có thể hít sữa đưa lên mũi vào khíquản, phế quản gây ra sặc
không đặt trẻ ngay, nếu đặt phải nằm nghiêng mặt sang 1 bên Khi cho búnên bế trẻ cao đầu, ở tư thế thoải mái, không nên để gập cổ hoặc ngửa cổ quá(gập cổ sẽ gây khó nuốt, còn ngửa cổ thì dễ bị sặc sữa lên mũi) Khi trẻ hohoặc khóc thì phải ngừng cho bú ngay, không để sữa tiếp tục chảy xuốngmiệng trẻ
+ Thường do các bà mẹ cho con bú không đúng kỹ thuật: cho trẻ bú ở
Trang 12tư thế nằm, khi trẻ bú vú mẹ đè và che kín mũi của trẻ mà khi đó các bà mẹkhông để ý dẫn tới ngạt.
+ Đặc biệt khi cho trẻ bú mà mẹ lại ngủ quên trẻ rất dễ bị ngạt
+ Cho trẻ bú đến lúc trẻ ngủ mà các bà mẹ không để ý trẻ bú có thể gâyngạt, tuy tỷ lệ này hiếm gặp nhưng không phải không xảy ra trong thực tế
− Khi các bà mẹ cho bú không đúng cách có thể dẫn tới tình trạng trẻ
bú không hiệu quả Do đó trẻ chậm phát triển hoặc suy dinh dưỡng Mà các
bà mẹ thì mất sữa, thiếu sữa cho con bú[28]
− Theo nghiên cứu của Trần Phúc Nguyệt và cộng sự quan sát thấy ở khu vực nội thành Hà Nội, trẻ thiếu sữa bị suy dinh dưỡng gấp 2 lần nhóm trẻ được bú sữa mẹ đầy đủ [20]
5.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú:
5.1.3.1 Gia đình: mẹ chồng, mẹ đẻ :[11]
+ Kỹ năng của các sản phụ ảnh hưởng rất lớn từ phía gia đình, đặc biệt
là mẹ chồng và mẹ đẻ, là người trực tiếp tác động tới kỹ năng cho con bú của các sản phụ
+ Gia đình đóng một vai trò to lớn ảnh hưởng tới nhận thức và kỹ năng của các bà mẹ
5.1.3.2 Sách báo,các phương tiện truyền thông đại chúng
+ Các kỹ năng cho con bú được trình bày khá chi tiết trong sách báo và các phương tiện truyền thông đại chúng, các bà mẹ có thể tìm hiểu về kỹ năngcho con bú tại đây và nó là một yếu tố ảnh hưởng lớn tới kỹ năng cho bú của các bà mẹ
5.1.3.3 Nghề nghiệp, địa chỉ [12].
+ Tùy vào địa vị, chức vụ, nghề nghiệp, thời gian mà các sản phụ có kỹ năng khác nhau
12
Trang 13+ Như theo nghiên cứu của Lê Thị Hợp và Phạm Thúy Vân năm 1993 trên 611 bà mẹ có con dưới 24 tháng thuộc các vùng nông thôn ở 3 tỉnh, sử dụng chỉ tiêu của WHO/ UNICEF ; Cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú trong nửa giờ đầu là: 8.4% [31].
5.1.3.4 Nhân viên y tế.
Để thành công việc và tiến hành và duy trì việc NCBSM các bà mẹ cầnđược sự ủng hộ tích cực trong quá trình thai nghén và sau sinh bởi các nhânviên y tế và cộng đồng Các nhân viên y tế cần có khả năng cung cấp thôngtin thích hợp và có hiểu biết sâu sắc với thái độ tích cực đòi hỏi với việc thựchiện chương trình nuôi con bằng sữa mẹ
5.1.3.5 Một số ảnh hưởng khác [17]
+ Kinh tế, chính trị, xã hội
+ Các kinh nghiệm
+ Lợi ích cho cộng đồng và cho môi trường: giảm tỷ lệ mắc bệnh các bà
mẹ và trẻ nhỏ khỏe mạnh hơn giúp giảm chi phí chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng
+ Bảo vệ môi trường sống giảm ô nhiễm rác thải vì gây tốn mặt bằng,nước kim loại, nhựa, nhiên liệu… những thú gây hao phí và hủy hoại môitrường
Trang 14Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các sản phụ sinh con tại khoa sản thường, Bệnh viện Phụ sản Trung ương
• 2.1.1 Các tiêu chuẩn chọn đối tượng trong nghiên cứu:
Các sản phụ tại khoa sản thường, Bệnh Viện Phụ Sản Trung ương đồng ýtham gia nghiên cứu và có đủ tiêu chuẩn sau:
- Đẻ thường
- Đẻ đủ tháng
- Cân nặng của trẻ bình thường (>2500gram)
- Trẻ có khả năng bú
• 2.1.2 Các tiêu chuẩn để loại trừ các đối tượng:
- Các sản phụ có vấn đề về nhận thức và hành vi không bình thường như:bệnh tâm thần, bệnh trầm cảm, tử kỷ, rối loạn tâm thần )
- Các sản phụ không cho con bú
- Các sản phụ mắc các bệnh không được cho bú như: ung thư vú, HIV,suy tim )
2.1 32 Địa điểm :
Tại khoa sản 2 bệnh viện phụ sản trung ương
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Trang 151 2 1,96
Z −α =
Trong đó:
- N: là cỡ mẫu tính cho nghiên cứu
- P: tỷ lệ những trẻ được cho bú trong nủa giờ đầu sau sinh tại xã TânLập là 68,6% [19] P = 0.686
- Z: hệ số tin cậy, giá trị của tương ứng với α = 0,05
- ε: giá trị tương đối (ε = 0,13)
Công thức này cộng với 10% sai số xảy ra khi lấy thông tin
Qua tính toán: cỡ mẫu nghiên cứu sẽ được ước lượng là 114
2.1.5 Phương pháp chọn mẫu:
• Sử dụng phương pháp chọn mẫu tiện lợi
• Ước tính một ngày thu thập được 5 bệnh nhân trong 3 tháng Từ tháng9/2011 – 11/2011
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2 Các biến số NC:
lịch đến lần sinh nhật gần nhất:
Trang 16Biến số Phân loại Kỹ thuật thu thập thông tin
- Buôn bán
- Sinh viên, học sinh
- Công nhân viên chức
Trang 172.2.4 Phương pháp thu thập số liệu:
đánh giá)- được trình bày ở phần phụ lục
• Phương pháp thu thập số liệu phi thực nghiệm (câu hỏi điều tra) - Bộcâu hỏi được trình bày ở phần phụ lục
2.2.5 Xử lý số liệu
− Số liệu thu thập được phân tích bằng chương trình STATA
− Trước khi phân tích, số liệu được làm sạch và kiểm tra kỹ nhằm hạnchế các sai số có thể xảy ra trong quá trình thu thập và xử lý số liệu
2.2.6 Khía cạnh đạo đức của đề tài
Đây là NC hoàn toàn nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ cho người phụ nữ
Sẵn sàng trả lời mọi thông tin liên quan đến chăm sóc sức khỏe và dinhdưỡng của bà mẹ Giải thích rõ cho bà mẹ về cuộc điều tra
Sau khi điều tra kịp thời tư vấn cho bà mẹ những vấn đề bà mẹ còn thiếusót, hướng dẫn tư thế và cách cho con bú
Chỉ điều tra trên những bà mẹ đồng ý cộng tác không thúc ép hay bắt buộc
và dựa trên tinh thần tôn trọng
Trang 19Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu.
Bảng 3.1: Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu.
Trang 20Từ bảng 3.1 ta thấy:
• Các sản phụ tham giarong đối tượng nghiên cứu chiếm nhiều nhấttrong độ tuổi 21-30 (63.2%),.Ttrong đó tuổi trung bình là 27.5 tuổi
• Các sản phụbà mẹ có trình độ học vấn ở cấp ba (63.2%) và đại học(21.9%) chiếm tỷ lệ chủ yếu
• Từ bảng trên ta thấy cCác sản phụ có nghề nghiệp rất phong phú,
trong đó nội trợ (21.9%), văn phòng (14.9%), nông dân (19.3%), tự
do (13.2%), còn lại các nghề khác chiếm một tỷ lệ nhỏ
• Từ bảng 3.1 ta thấy cCác sản phụ ở thành thị chiếm một tỷ lệ cao hơn
so với ở nông thôn, trong đó thành thị chiếm (57.0%) và nông thônchiếm (43%)
• Các sản phụ có 1 con chiếm tỷ lệ cao (88.6%)
3.2 Kỹ năng cho con bú:
Bảng 3.2: Thời điểm các sản phụ cho trẻ bú lần đầu sau đẻ
Trang 21khoảng thời gian từ 1-6 giờ sau sinh (65.8%) và 30 phút đầu sau sinh (29%)
Bảng 3.3: Đánh giá khoảng cách cho con bú của các bà mẹ
Trang 22Biểu đồ 3.3 Đánh giá số lần cho bú của các sản phụ
Nhận xét:
Số lần cho con bú trong một ngày của các sản phụ chủ yếu khoảng
8->10 lần/ngày (85.1%) và tỷ lệ trẻ được cho bú <8 lần là 14.9%
Bảng 3.5: Đánh giá thời gian các sản phụ cho trẻ bú trong một lần
Trang 23Tư thế con Số lượng Tỷ lệ %
- Trẻ ngậm bắt vú tốt chiếm 63.2% và bú có hiệu quả chiếm 53.5%
- Trẻ ngậm bắt vú không tốt chiếm 36.8%, bú không hiệu quả là 46.5%
Bảng 3.9 Bảng kết quả đánh giá kỹ năng cho con bú
và hiệu quả bú của trẻ.
Trang 24Tốt 33 54.1 4 7.6 <0.0537
262229114
- Kỹ năng cho bú của các bà mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả cho
bú và sự khác biệt giữa các bà mẹ có kỹ năng cho bú tốt, trung bình, kém là có ý nghĩa thống kê với p<0.05
3.3 Yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú
24
Trang 25Bảng 3.10: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú.
Bảng 3.11: Đánh giá yếu tố ảnh hưởng tác động tới thực hành
kỹ năng cho con bú.
Trang 26Biểu đồ 3.6 Đánh giá yếu tố ảnh hưởng tác động tới thực hành kỹ năng
cho con bú.
Nhận xét:
+ Tỷ lệ các sản phụ có kỹ năng cho con bú tốt (41.2%) và khá (27.2%)
+ Tỷ lệ các bà mẹ có kỹ năng trung bình (21.6%) và đạt loại kém(10.5%)
+ DVà dựa vào bảng 3.11 cho thấy nhân viên y tế và sách báo có ảnhhưởng rất nhiều đến kỹ năng cho con bú của các bà mẹ với các yếu tố ảnhhưởng của nhân viên y tế (20.2% cho rằng nhân viên y tế và ) và sách báo(11.4% cho rằng sách báo có ảnh hưởng tốt) đạt tỷ lệ khá giỏi cao Ngoài ra,yếu tố gia đình cũng là một lý do ảnh hưởng đến kỹ năng cho con bú, với19.3% các bà mẹ cho rằng nó có ảnh hưởng khá nhiều đến họ Tuy nhiên kinhnghiệm của các bà mẹ chưa phải là một yếu tố được xếp loại cao, có lẽ do đa
số bà mẹ đều là trẻ tuổi, sinh con đầuTrong khi đó yếu tố kinh nghiệm có tỷ lệtốt (2.6%), khá (6.1%) thấp mà tỷ lệ trung bình (4.4%) và kém (2.6%) cao
+ Qua phân tích bảng 3.10 và 3.11 ta thấy tỷ lệ các sản phụ chịu ảnhhưởng bởi gia đình chiếm tỷ lệ cao (50%) Trong đó các sản phụ đạt kỹ năng
26
Trang 27cho con bú tốt là 7.0% và khá là 19.3%, trong khi đó tỷ lệ trung bình là 15.8%
và kém là 7.9%
Bảng 3.12 Đánh giá yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú
và hiệu quả bú của trẻ.
Trang 28- Sách báo cũng là một yếu tố ảnh hưởng tốt đến kỹ năng cho con bú củacác bà mẹ, và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê so với những bà
mẹ không đọc sách báo
- Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê ở tất cả các nhóm (p<0.05), và sáchbáo (19.3%) chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ trẻ bú không hiệu quả ở những sảnphụ có kỹ năng cho con bú chịu ảnh hưởng bởi nhân viên y tế (3.5%),
và sách báo (2.7%)
Tỷ lệ trẻ bú có hiệu quả ở những sản phụ có kỹ năng cho con bú chịu ảnh hưởng bởi gia đình (19.3%) và kinh nghiệm (6.1%), tỷ lệ so trẻ bú không hiệu quả là 30.7% và 9.6%.
Chương 4 BÀN LUẬN
4.1 Kỹ năng cho con bú
4.1.1 Thời gian trẻ bắt đầu bú sau sinh:
Theo WHO đã khuyến cáo các bà mẹ nên cho trẻ bú ngay sau đẻ nửagiờ, bú càng sớm càng tốt [31] Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ bà mẹ chotrẻ bú trong 30 phút đầu sau sinh là (29%) So sánh với các nghiên cứu trướcđây cho thấy tình hình cho trẻ bú sớm đã được cải thiện rõ rệt, như nghiên cứucủa Cao Thị Hậu, Phạm Thúy Hòa và cộng sự (1991) [11] cho kết quả tỷ lệ bà
mẹ cho con bú sau sinh là 5.5% ở nông thôn và ở thành thị là 8%, nghiên cứucủa Quan Lệ Nga, Cao Thu Hương (1993), tỷ lệ đó chỉ là 8.4% [20]
Một nghiên cứu khác của Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng
sự, trên 500 trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nông thôn và nội thành Hà Nội thu đượckết quả: hầu hết trẻ được bú mẹ sau 2-3 ngày sau sinh, tỷ lệ trẻ được bú mẹtrong 24 giờ đầu chỉ đạt 15.8% ở nội thành và 35.5% ở nông thôn ở cả 2nhóm đủ và thiếu sữa mẹ
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Quang (1996) trên 425 cặp mẹ và connội và ngoại thành Hà Nội: tỷ lệ bú sớm của trẻ trong nửa giờ đầu sau sinh ởnội thành là 30%, tỷ lệ trẻ bú muộn trong 24 giờ là 20.1% [22]
So sánh kết quả của chúng tôi với các kết quả gần đây như: Trần thị
28