2.2 CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ CHỌN LỰA NHÀ CUNG CẤP Phân tích quá trình hệ thống phân cấp được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau và một ứng dụng rất phổ biến là dùng để định lượng các n
Trang 1Luận văn tốt nghiệp này là sự kết tinh giữa lý thuyết tôi được truyền thụ trong suốt ba năm ở giảng đường khoa Quản lý công nghiệp, trường đại học Bách Khoa và những kinh nghiệm thực tiễn tôi đã học được trong thời gian thực tập tại siêu thị Co.opMart Cống Quỳnh thuộc Liên hiệp hợp tác xã Saigon Co.op Để hoàn thành tốt tác phẩm này, tôi không chỉ dựa vào nỗ lực của bản thân, mà còn nhờ vào sự giúp đỡ, động viên tận tình của gia đình, bạn bè, thầy cô và các cô chú anh chị tại siêu thị Co.opMart Cống Quỳnh
Trong quá trình học tập và phấn đấu, tôi luôn nhận được sự quan tâm, khích lệ của cha
mẹ, người thân trong gia đình Đây là nguồn động viên rất lớn để tôi có thể hoàn thành tốt chương trình đào tạo và luận văn tốt nghiệp này Bên cạnh đó tôi cũng luôn
có bên mình những người bạn thân luôn quan tâm chia sẻ những hiểu biết cho tôi, giúp đỡ tôi trong lúc khó khăn Vì thế tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân và những bạn bè yêu quý của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Huỳnh Bảo Tuân, người đã luôn tận tình hướng dẫn tôi mọi lúc tôi cần, cho tôi những cái nhìn mới mẻ cũng như những kiến thức mới trong quá trình làm luận văn Đồng thời tôi cũng xin gởi lời cảm ơn tới tất cả Quí Thầy Cô trong khoa Quản Lý Công Nghiệp đã hết lòng truyền đạt những kiến thức cho tôi trong suốt ba năm đại học
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Cô Nguyễn Thị Hồng Đăng, người đã giúp tôi được gặp Thầy Hảo và cho tôi những lời khuyên thân tình ý nghĩa để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc, phòng nhân sự, phòng quản lý kho, các anh chị trong bộ phận purchasing, đặc biệt là Thầy Nguyễn Đăng Hảo, người đã dạy tôi rất nhiều kiến thức thực tế, chị Lê Thị Thu Sương, chị Nguyễn Thị Loan và chị Trần Thị Huỳnh Loan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực tập và làm luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng xin chúc tất cả Quí Thầy Cô khoa Quản Lý Công Nghiệp, các cô chú anh chị đang làm việc tại Liên hiệp hợp tác xã Saigon Co.op, cũng như những người thân, bạn bè của tôi dồi dào sức khỏe, luôn hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
TP.HCM, Ngày 22 tháng 12 năm 2011
Sinh viên
Vũ Trịnh Thế Quân
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
NHẬN XÉT CỦA GVHD
Cán bộ hướng dẫn khoa học: Th.S Huỳnh Bảo Tuân
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Luận văn được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày……tháng……năm 2011
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
TP.HCM, ngày….tháng….năm 2011
GIÁM ĐỐC
Trang 4Phương pháp phân tích quá trình phân cấp (AHP) là một khái niệm còn khá mới trong ngành quản lý Tại Việt Nam, có lẽ đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về sự ứng dụng của phương pháp này vào việc phân tích, đánh giá và chọn lựa nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Và Liên hiệp hợp tác xã Saigon Co.op là đơn vị đầu tiên áp dụng thử AHP vào quy trình purchasing
Luận văn đầu tiên sẽ trình bày khái niệm và mục tiêu purchasing Tiếp theo đề tài đề cập đến những mô hình cung cấp lý thuyết và các tiêu chí đánh giá nhà cung cấp Tiếp
đó là việc phân tích, so sánh các phương pháp ra quyết định rồi đi sâu trình bày phương pháp phân tích quá trình bậc thang (AHP) Và nhận xét các ưu điểm cũng như các khuyết điểm của phương pháp này cùng biện pháp khắc phục
Để cung cấp cái nhìn thực tiễn cho AHP, luận văn thể hiện quá trình ứng dụng phương pháp này vào công tác đánh giá và chọn lựa nhà cung cấp ngành hàng nước giải khát của Saigon Co.op Sau đó là việc cải tiến quy trình purchasing của Saigon Co.op bằng việc vận dụng AHP
Cuối cùng là các kết luận và một số kiến nghị cùng với hướng nghiên cứu phát triển cho dạng đề tài này trong tương lai
Hy vọng luận văn sẽ cung cấp một hình ảnh tổng thể đầy đủ về phương pháp phân tích quá trình cấp bậc Mang đến mô tả chi tiết về quá trình ứng dụng vào doanh nghiệp Bên cạnh đó có thể thúc đẩy sự phát triển việc áp dụng phương pháp này trong các nghiên cứu về khoa học quản lý và vận dụng vào thực tế ra quyết định của mọi loại hình doanh nghiệp trên nhiều lãnh vực đa dạng hơn như sẽ được trình bày trong phần
lý thuyết của luận văn
Trang 5
LỜI CẢM ƠN i
NHẬN XÉT CỦA GVHD ii
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP iii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH HÌNH VẼ viii
DANH SÁCH BẢNG BIỂU x
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
1.3 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LÝ LUẬN CĂN BẢN 5
2.1.1 Khái niệm về purchasing 5
2.1.2 Mục tiêu của purchasing 5
2.2 CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ CHỌN LỰA NHÀ CUNG CẤP 9
2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP RA QUYẾT ĐỊNH 12
2.3.1 Các phương pháp định tính 12
2.3.2 Các phương pháp định lượng 13
2.4 SO SÁNH ƯU NHƯỢC TỪNG PHƯƠNG PHÁP 14
2.5 PHƯƠNG PHÁP AHP 15
2.5.1 Khái niệm 15
2.5.2 Chức năng chính của AHP 17
Trang 62.5.5 Mô tả một vấn đề với quá trình phân cấp phân tích 20
2.5.6 Quy trình tính toán eigenvector và kiểm tra tính nhất quán 21
2.5.7 Ứng dụng của AHP vào thực tế 23
2.5.8 Cách sử dụng phương pháp AHP 24
2.5.9 Mô hình các vấn đề như một hệ thống phân cấp 25
2.5.10 Đánh giá hệ thống phân cấp 28
2.5.11 Thiết lập các ưu tiên 28
2.6 ƯU NHƯỢC CỦA AHP 31
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU LIÊN HIỆP HỢP TÁC XÃ SAIGON CO.OP 32
3.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ SAIGON CO.OP 32
3.1.1 Giới thiệu về Co.opMart 32
3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 32
3.2 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CO.OPMART CỐNG QUỲNH 34
3.2.1 Giới thiệu về Co.opMart Cống Quỳnh 34
3.3 CÁC QUY TRÌNH PURCHASING TẠI SAIGON CO.OP 35
3.3.1 Quy trình mua hàng hiện tại của Saigon Co.op 36
3.3.2 Quy trình xử lý đơn hàng và xuất hàng 36
3.3.3 Quy trình xử lý thông tin đơn hàng 39
3.3.4 Phương pháp đánh giá nhà cung cấp của Saigon Co.op 39
3.3.5 Nhận diện vấn đề 40
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP BẰNG AHP 41
4.1 CHỌN NHÓM SẢN PHẨM 41
4.2 MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ 41
4.2.1 Xác định mục tiêu cho AHP 41
4.2.2 Xác định các tiêu chuẩn cho AHP 41
4.2.3 Sức khỏe tài chính 43
4.2.4 Năng lực vận hành 44
4.2.5 Năng lực cốt lõi 44
4.2.6 Phương thức kinh doanh 44
4.2.7 Yếu tố hành vi và văn hóa 45
4.2.8 Yếu tố rủi ro 45
Trang 74.5 PHÂN TÍCH NĂM NHÀ CUNG CẤP THEO MỖI TIÊU CHÍ CHÍNH 56
4.5.1 Đánh giá năm nhà cung cấp theo tiêu chí Financial Health 56
4.5.2 Đánh giá năm nhà cung cấp theo tiêu chí Operational Performance 57
4.5.3 Đánh giá năm nhà cung cấp theo tiêu chí Expertise 58
4.5.4 Đánh giá năm nhà cung cấp theo tiêu chí Business Process & Practices 60 4.5.5 Đánh giá năm nhà cung cấp theo tiêu chí Behavior & Cutural Factor 61
4.5.6 Đánh giá năm nhà cung cấp theo tiêu chí Risks Factor 62
4.5.7 Quyết định nhà cung cấp tốt nhất 63
4.6 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THU ĐƯỢC 65
4.7 CẢI TIẾN QUY TRÌNH PURCHASING CỦA SAIGON CO.OP 72
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
5.1 BÌNH LUẬN VỀ KẾT QUẢ 73
5.2 KẾT LUẬN 73
5.3 KIẾN NGHỊ 74
5.4 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 74
5.5 HƯỚNG NGHIÊN CỨU 75
CHÚ GIẢI THUẬT NGỮ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 80
Trang 8DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ phương pháp AHP 2
Hình 1.2: Sơ đồ quy trình thực hiện nghiên cứu 3
Hình 2.1: Ba lớp trong mô hình AHP 17
Hình 2.2: Một ví dụ về ma trận so sánh cặp 21
Hình 2.3: Ví dụ của Saaty 23
Hình 2.4: Hệ thống phân cấp AHP 27
Hình 2.5: Hệ thống phân cấp AHP cho việc lựa chọn một nhà lãnh đạo 28
Hình 2.6: Hệ thống phân cấp AHP đơn giản 29
Hình 2.7: Hệ thống phân cấp AHP đa cấp 30
Hình 3.1: Logo Saigon Co.op 32
Hình 3.2: Một số hình ảnh của Co.opMart Cống Quỳnh 35
Hình 3.3: Sơ đồ qui trình Purchasing hiện tại của Saigon Co.op 36
Hình 3.4: Qui trình xử lý đơn hàng và xuất hàng 39
Hình 4.1: Mô hình đánh giá 42
Hình 4.2: Ba tầng cấu trúc của quá trình AHP 47
Hình 4.3: Sơ đồ thể hiện qui trình thực hiện nghiên cứu 47
Hình 4.4: Điểm số năm nhà cung cấp tính theo tiêu chí FH 53
Hình 4.5: Cây phân cấp tổng hợp các chỉ số toàn cục và cục bộ 55
Hình 4.6: Sơ đồ Performance của Expert Choice 65
Trang 9Hình 4.7: Điểm số năm nhà cung cấp tính theo tiêu chí E 66
Hình 4.8: Sơ đồ Dynamic của Expert Choice 67
Hình 4.9: Sơ đồ thể hiện độ dốc của năm nhà cung cấp theo tiêu chí FH 68
Hình 4.10: Sơ đồ so sánh trực tiếp giữa Vinamilk và Tribeco 70
Hình 4.11: Sơ đồ so sánh hai chiều giữa các phương án lựa chọn 71
Trang 10DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: So sánh ưu nhược các phương pháp ra quyết định 14
Bảng 2.2: Thang đo cơ bản 19
Bảng 2.3: Chỉ số ngẫu nhiên tương ứng số yếu tố tham gia ma trận so sánh cặp 22
Bảng 4.1: Ma trận so sánh cặp giữa sáu tiêu chí chính của mô hình đánh giá 48
Bảng 4.2: Ma trận so sánh cặp năm nhà cung cấp theo tiêu chí phụ doanh thu 49
Bảng 4.3: Kết quả tính toán giai đoạn một cho sáu tiêu chí 49
Bảng 4.4: Kết quả tính toán giai đoạn hai cho sáu tiêu chí 50
Bảng 4.5: Các ma trận so sánh cặp giữa các tiêu chí phụ 51
Bảng 4.6: Minh họa cách tính của AHP 53
Bảng 4.7: Tính toán giai đoạn ba cho năm tiêu chí phụ của FH 56
Bảng 4.8: Kết quả và xếp hạng năm nhà cung cấp theo tiêu chí FH 57
Bảng 4.9: Tính toán giai đoạn ba cho ba tiêu chí phụ của OP 57
Bảng 4.10: Kết quả và xếp hạng năm nhà cung cấp theo tiêu chí OP 58
Bảng 4.11: Tính toán giai đoạn ba cho ba tiêu chí phụ của E 58
Bảng 4.12: Kết quả và xếp hạng năm nhà cung cấp theo tiêu chí E 59
Bảng 4.13: Tính toán giai đoạn ba cho ba tiêu chí phụ của BPP 60
Bảng 4.14: Kết quả và xếp hạng năm nhà cung cấp theo tiêu chí BPP 60
Bảng 4.15: Tính toán giai đoạn ba cho ba tiêu chí phụ của BCF 61
Bảng 4.16: Kết quả và xếp hạng năm nhà cung cấp theo tiêu chí BCF 61
Trang 11Bảng 4.18: Kết quả và xếp hạng năm nhà cung cấp theo tiêu chí RF 63
Bảng 4.19: Tính toán giai đoạn ba cho sáu tiêu chí chính của mô hình 63
Bảng 4.20: Kết quả và xếp hạng năm nhà cung cấp theo sáu tiêu chí 64
Bảng 4.21: Xếp hạng các nhà cung cấp trong năm khu vực 69
Trang 12DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AHP Phương pháp phân tích quá trình bậc thang (Analytic Hierarchy Process) BSC Bảng điểm cân bằng (Balance Score Card)
DSS Hệ hỗ trợ ra quyết định (Decision Support System)
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
QSPM Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (Quantitative Strategic Planning Matrix)
IFE Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (Internal Factor Evaluation Matrix)
EFE Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (External Factor Evaluation Matrix)
SWOT Ma trận phân tích mạnh yếu cơ hội và nguy cơ (Strengths, Weaknesses, Opportunites and Threats)
MAUT Lý thuyết tiện ích đa thuộc tính (Multi-Attribute Utility Theory)
SKU Đơn vị phân loại hàng hóa tồn kho bằng việc kết hợp tính duy nhất về hình dạng, sự thích hợp và chức năng (Stock Keeping Unit)
KPI Chỉ số đo lường hiệu suất (Key Performance Indicator)
CI Chỉ số nhất quán (Consistency Index)
NGK Nước giải khát
HTX Hợp tác xã
Trang 13CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Mục tiêu của chương này nhằm giới thiệu khái quát về đề tài nghiên cứu, sự cần thiết thực hiện đề tài cũng như phương pháp để thực hiện Nội dung chính trong chương này bao gồm:
Áp lực thứ hai là áp lực cạnh tranh của các công ty hiện hữu trong ngành, là một áp lực thường xuyên và đe dọa trực tiếp các công ty bán lẻ, khi áp lực cạnh tranh giữa các công ty ngày càng tăng lên thì càng đe dọa về vị trí và sự tồn tại của các công ty Mặt khác từ ngày 01/01/2009, thị trường bán lẻ Việt Nam mở cửa theo cam kết WTO, các nhà đầu tư 100% vốn nước ngoài được phép tham gia Trong bối cảnh đó, làm thế nào
để doanh nghiệp có thể tồn tại?
Ngày nay sự cạnh tranh giữa các nhà phân phối ngày càng trở nên gay gắt Việc đánh giá để chọn lựa nhà cung cấp hàng hóa bảo đảm chất lượng nhằm thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng ngày càng khó tính là một vấn đề quan trọng Sự quen thuộc của các phương pháp ra quyết định đã làm nảy sinh nhu cầu ứng dụng một giải pháp mới và AHP là một phương pháp nhiều triển vọng có thể đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe trong việc chọn nhà cung ứng tốt cho các doanh nghiệp phân phối
Chính vì vậy tác giả đã hình thành nên đề tài “Ứng dụng AHP để đánh giá và chọn lựa nhà cung cấp tại Saigon Co.op”
Trang 14 Xác định quy trình purchasing của Saigon Co.op
Đề xuất mô hình đánh giá nhà cung cấp
Áp dụng AHP để lựa chọn nhà cung cấp
1.3 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Về mặt nghiên cứu học thuật:
Nghiên cứu các mô hình đánh giá nhà cung cấp
So sánh được các phương pháp ra quyết định, ưu và khuyết từng phương pháp
Trình bày về AHP và phân tích được các ưu nhược của phương pháp này
Trang 151.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài được giới hạn trong phạm vi Saigon Co.op và các nhà cung ứng
Nghiên cứu tập trung vào ngành hàng nước giải khát
Đề tài được thực hiện chủ yếu tại khâu Purchasing
Thời gian thực hiện:
Về mặt thời gian đề tài được thực hiện từ tháng 9/2011 đến tháng 12/2011
1.5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong việc thực hiện đề tài này bao gồm: Nghiên cứu khám phá: nhằm tìm hiểu sơ bộ vấn đề cần nghiên cứu cũng như khẳng định chính xác các vấn đề nghiên cứu
Phương pháp mô tả và so sánh: các phương pháp ra quyết định
Phương pháp phân tích và tổng hợp: các vấn đề trong việc đánh giá chất lượng và lựa chọn nhà cung ứng trong ngành hàng NGK tại siêu thị Co.opMart
Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp chuyên gia: để nhận xét và chọn các tiêu chí đánh giá nhà cung cấp
Phương pháp nghiên cứu định lượng: là các nghiên cứu trong đó thông tin cần thu thập
ở dạng định lượng Các thông tin định lượng cho phép chúng ta đo lường chúng bằng
số lượng Phương pháp này được sử dụng trong quá trình áp dụng AHP vào quy trình đánh giá và chọn lựa nhà cung ứng ngành hàng NGK của siêu thị Co.opMart
Qui trình thực hiện nghiên cứu
Phương pháp định lượng
Phương pháp AHP
Co.op Mart
Năm nhà cung cấp
Thiết kế bảng câu hỏi
Phỏng vấn Pilot Phỏng vấn nhóm chuyên gia
hình
Phân tích kết quả
Kết luận Kiến nghị Giới hạn đề tài hướng nghiên Đễ xuất
cứu tiếp theo
test
Hình 1.2: Sơ đồ quy trình thực hiện nghiên cứu
Trang 16Phương pháp thu thập dữ liệu:
Nguồn dữ liệu sơ cấp:
Nhân viên Saigon Co.op
o Thu thập các tài liệu của Saigon Co.op:
Các file nội dung đánh giá và chọn lựa nhà cung cấp
Các tài liệu nội bộ doanh nghiệp
o Thu thập các tài liệu của năm nhà cung cấp:
Các file báo cáo
Các tài liệu có liên quan
o Và một số bài báo, tạp chí có uy tín trong ngành
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này chúng ta sẽ tìm hiểu về purchasing Tìm hiểu các mô hình đánh giá nhà cung cấp Phân tích và so sánh các phương pháp ra quyết định Và đặc biệt tác giả
đi sâu trình bày phương pháp phân tích quá trình bậc thang (Analytic Hierarchy Process)
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LÝ LUẬN CĂN BẢN
Trước tiên chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu một số khái niệm và mục tiêu của purchasing được trình bày trong các phần bên dưới đây
2.1.1 Khái niệm về purchasing
Purchasing đề cập đến việc một doanh nghiệp, tổ chức cố gắng có được hàng hoá,
dịch vụ để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Mặc dù có nhiều tổ chức cố gắng thiết lập các tiêu chuẩn trong quá trình mua, quy trình có thể khác nhau rất nhiều giữa các tổ chức Thông thường, từ "purchasing " không được sử dụng thay thế cho nhau với từ "procurement", bởi vì procurement thường bao gồm dịch vụ giám sát chất lượng nhà cung cấp, giao vận và hậu cần (Transport & Logistic) được tính thêm vào trong purchasing
2.1.2 Mục tiêu của purchasing
2.1.2.1 Các vấn đề chính trong purchasing
Ngoài định nghĩa đã đề cập ở trên, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những mục tiêu khác nhau của quá trình purchasing Robert Monczka và các công sự của ông đã tiếp cận khái niệm quá trình mua bằng cách sử dụng mô hình sáu mục tiêu được thiết lập cho chức năng mua Các mục tiêu này được mô tả trong cuốn sách của họ viết
về purchasing và quản lý chuỗi cung ứng Chúng ta có thể sử dụng các mục tiêu này xem như là cơ sở cho việc định nghĩa purchasing
Mục tiêu đầu tiên được mô tả bởi ê kíp Monczka là vấn đề liệu purchasing có phải hỗ trợ cho các yêu cầu nhằm mục đích phục vụ cho các hoạt động Điều này có nghĩa
là phòng purchasing sẽ phải cung cấp hàng hoá, dịch vụ và các yêu cầu khác cho khách hàng nội bộ đang làm việc trong công ty Ngoài ra còn một điểm cũng khá quan trọng đối với các nhân viên phòng ban purchasing là phải bảo đảm hoàn thành các đơn hàng mua hàng ngày về các thành phần cơ bản, nguyên vật liệu và như vậy sẽ giúp bảo đảm hỗ trợ các chức năng hàng ngày của doanh nghiệp được vận hành ổn định và liên tục Nếu phòng purchasing thất bại trong việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản cần thiết của các khách hàng nội bộ trong tổ chức của họ, điều này có thể tạo ra một tình huống
mà khách hàng nội bộ sẽ bắt đầu đàm phán trực tiếp với các nhà cung cấp hàng hóa mà không cần thiết phải thông qua phòng ban purchasing (Monczka, 2005, tr.30-31)
Trang 18Mục tiêu thứ hai cho chức năng purchasing là để quản lý quá trình mua sắm hiệu quả và gia tăng hiệu năng Mục tiêu này có thể được quản lý bằng cách xác định đúng lượng nhân sự cần thiết, tính toán và cân nhắc việc sử dụng ngân sách quản lý hành chính và cung cấp các khóa đào tạo chuyên nghiệp với một số vị trí cơ hội nghề nghiệp khác nhau cho người lao động Hiệu quả và hiệu năng cũng có thể đạt được khi tiến hành mua các cải tiến về hệ thống, các cải tiến này chính là cơ sở nền của việc gia tăng hiệu quả ra các quyết định và cải thiện năng suất của doanh nghiệp (Monczka, 2005, tr.31)
Mục tiêu thứ ba mà ê kíp Monczka mô tả có liên quan đến vấn đề cung cấp các quản
lý ở cấp cơ sở Việc cung ứng các quản lý nền bao gồm ba yếu tố khác nhau đề cập
về khả năng của các nhà cung cấp đó là:
Để đảm bảo sức cạnh tranh của các nhà cung cấp hiện tại
Để xác định bất kỳ nhà cung cấp tiềm năng mới, những người muốn phát triển mối quan hệ thêm thân thiết
Để cải thiện sức cạnh tranh của các nhà cung cấp hiện tại
(Monczka, 2005, tr.31-32)
Mục tiêu thứ tư được mô tả bởi nhóm của Monczka là sự cần thiết của purchasing để phát triển các mối quan hệ thân thiết với các nhóm chức năng khác Vấn đề này đã trở thành một yếu tố rất quan trọng trong thập niên 1990 khi mà ý nghĩa của truyền thông
đa chức năng được làm rõ Điều này có nghĩa là purchasing rất quan trọng trong việc giao tiếp với các khách hàng nội bộ khác nhau và marketing để đảm bảo rằng chất lượng và giá cả của sản phẩm sẽ ở đúng đẳng cấp của nó (Monczka, 2005, tr.32) Mục tiêu thứ năm được xác định bởi Monczka và các cộng sự là sự cần thiết phải hỗ trợ mục tiêu của tổ chức và mục tiêu này đã được xác định là mục tiêu quan trọng nhất của purchasing vì nó ngụ ý rằng purchasing có khả năng ảnh hưởng đến hiệu suất tổng thể của tổ chức Nếu purchasing thực sự thành công trong vấn đề này nó sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ cho toàn bộ tổ chức để có thể đương đầu với các đối thủ của họ (Monczka, 2005, tr.32)
Mục tiêu thứ sáu của purchasing là phát triển các chiến lược mua tích hợp hỗ trợ các chiến lược của tổ chức Mục tiêu này có thể được xem xét nhiều hơn một chút và được phân tích rộng hơn so với những mục tiêu trước đó, và nó cũng đòi hỏi các quản lý cấp cao nhất quan tâm về purchasing một cách đúng đắn Nếu điều này được xem như một chức năng quan trọng mà có thể mang lại một lợi ích cho doanh nghiệp và nhu cầu của purchasing được bao gồm trong các chiến lược của toàn bộ tổ chức, kết quả sẽ sinh lợi cho toàn thể doanh nghiệp Bộ phận mua hàng có thể cũng tích cực tham gia vào quá trình lập kế hoạch công ty và cung cấp kiến thức về thị trường cung ứng cũng như đóng góp vào việc lập kế hoạch chiến lược (Monczka, 2005, tr.32-33)
eter Baily và nhóm của ông đã mô tả trong quyển sách “Nguyên tắc Purchasing
và Quản lý một cách nhìn hiện đại hơn về purchasing”
Baily đã đề cập rằng purchasing bao gồm năm điểm cơ bản như sau (Baily, 2005, tr.4) Năm điểm cơ bản của Purchasing:
P
Trang 19 Cung cấp cho tổ chức một dòng cung ứng nguyên vật liệu và dịch vụ để đáp ứng các nhu cầu của nó
Để đảm bảo tính liên tục và ổn định của nguồn cung cấp bằng cách duy trì mối quan hệ hiệu quả với các nguồn cung ứng hiện có, thứ hai là bằng cách phát triển các nguồn cung cấp khác trở thành lựa chọn thay thế hoặc để đáp ứng các nhu cầu bất chợt hay đã được lên kế hoạch
Để mua một cách khôn ngoan và hiệu quả, có được kết quả theo cách đạo đức là giá trị tốt nhất cho mỗi đồng chi tiêu
Để duy trì hợp tác quan hệ với các phòng ban khác, cung cấp thông tin và lời khuyên cần thiết để đảm bảo hoạt động hiệu quả của tổ chức như một tổng thể
Phát triển nhân sự, các chính sách, thủ tục và tổ chức để đảm bảo đạt được các mục tiêu
Baily cũng mô tả rằng có thể cũng có một số mục tiêu cụ thể hơn ngoài năm cái cho ở trên Ví dụ như các mục tiêu purchasing có thể bao gồm việc lựa chọn các nhà cung cấp tốt nhất trên thị trường và cũng là các nhà giám sát cho các xu hướng thị trường cung ứng Tuy nhiên, năm điểm mục tiêu được chỉ ra ở trên là quan trọng nhất và chúng ta nên tập trung sự chú ý chính cho chúng (Baily, 2005, tr.4)
eenders và các cộng sự của ông đã mô tả quan điểm của họ về những mục tiêu của purchasing và họ thấy rằng có tổng cộng chín mục tiêu khác nhau mà purchasing cần phải xử lý
Chín mục tiêu đó là:
Cung cấp dòng chảy liên tục về vật tư, nguyên vật liệu, và dịch vụ cần thiết để vận hành tổ chức
Giữ mức tồn kho hàng hóa và thất thoát ở mức tối thiểu
Duy trì và nâng cao chất lượng
Tìm và phát triển mối quan hệ với các nhà cung cấp có thẩm quyền lớn
Chuẩn hoá (nếu có thể) các mặt hàng đã mua
Mua các mặt hàng và dịch vụ cần thiết với tổng chi phí thấp nhất
Đạt được sự hài hòa, tạo ra các mối quan hệ sản xuất làm việc tốt với các phòng ban chức năng khác trong tổ chức
Hoàn thành các mục tiêu của purchasing ở mức thấp nhất có thể về các chi phí hành chính
Nâng cao vị thế cạnh tranh của tổ chức
(Leenders, 2002, tr.41-43)
xelsson và Håkansson đã xác định trong nghiên cứu của họ rằng purchasing có thể được tóm tắt thành hai vai trò khác nhau về mặt chiến lược: vai trò hợp lý hóa và vai trò của sự phát triển (Håkansson, 2001, tr.8)
Vai trò hợp lý hóa có thể được xem như là công việc hàng ngày của các purchaser, và
họ sẽ cố gắng để tiết giảm chi phí cho doanh nghiệp bằng cách giới thiệu một số giải pháp tiết kiệm chi phí từ quan điểm kỹ thuật hoặc bằng cách bàn luận xem làm thế nào
L
A
Trang 20mà các hàng hóa được sản xuất hoặc chuyển giao Bên trong vai trò hợp lý hóa, các purchaser có thể có ba vai trò chính trong đó đầu tiên là xem xét các câu hỏi: những gì cần mua, nên mua hay có thể tự sản xuất? Làm thế nào để phản ứng kịp với những thay đổi về phát triển và sản xuất? (Håkansson, 2001, tr.8-9)
Thứ hai là họ sẽ phải hợp lý hoá các dòng hậu cần, bao gồm việc sản xuất đúng thời hạn và phân phối sản phẩm Vai trò hợp lý hoá thứ ba đối với các purchaser bao gồm vấn đề phát triển các thói quen mua sắm mà không chỉ bao gồm việc tối ưu hóa một purchase đơn lẻ, mà là tổng quan các thói quen mua hàng (Håkansson, 2001, tr.8-9)
Vai trò phát triển là vai trò chiến lược thứ hai của purchasing Vai trò này được xác
định bởi Axelsson và Håkansson Vai trò này đã tăng giá trị theo thời gian khi nó đã cho thấy rằng các nhà cung ứng cũng có thể cung cấp nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kỹ thuật Điều này thường giúp làm cho mối quan hệ giữa hai phòng R & D của người mua và nhà cung cấp được gần gũi hơn Sự phát triển của nhà cung cấp cũng là một yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp cố gắng rút ngắn thời gian giao hàng và giảm chi phí của sản phẩm cuối Theo như nghiên cứu cho thấy có hơn 80% tổng chi phí của sản phẩm mới được xác định là nằm trong giai đoạn thiết kế (Håkansson, 2001 , tr.9-10)
2.1.2.2 Các câu hỏi trọng yếu cho những người ra quyết định về purchasing
Leenders và ê kíp đã viết rất nhiều sách và bài báo về purchasing và theo họ là các nhà
ra quyết định bên trong phòng ban purchasing có thể được hỏi một số câu hỏi quan trọng mà sau đó có thể cho thấy những lợi ích và các khả năng tín dụng của purchasing
Các câu hỏi chính theo Leenders và cộng sự là:
Chúng ta có nên:
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của purchasing lên hiệu quả và hiệu năng trong tổ chức của chúng ta?
- Phát triển một chương trình đào tạo trong nội bộ
- Tính độ hiệu quả dựa vào hệ số thu nhập trên tài sản (Return on Assets - ROA) của
tổ chức chúng ta tại nhiều mức tiết kiệm purchasing khác nhau
Làm thế nào chúng ta có thể:
- Giúp nâng cao nhận thức của các quản lý cấp cao nhất để họ nhận ra hiệu ứng đòn bẩy lợi nhuận của việc quản lý purchasing / supply?
- Xác định mức lương phù hợp cho nhân viên mua hàng của chúng ta?
- Chỉ ra làm thế nào mà supply có thể ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của công ty chúng ta?
(Leenders, 2002, tr.2)
Trang 212.2 CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ CHỌN LỰA NHÀ CUNG CẤP
Phân tích quá trình hệ thống phân cấp được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau và một ứng dụng rất phổ biến là dùng để định lượng các nhà cung cấp trong quá trình đánh giá và lựa chọn
han và Kumar đã phát triển nghiên cứu của họ về nhà cung cấp toàn cầu bằng cách sử dụng quá trình phân tích hệ thống phân cấp Trong nghiên cứu đó, họ đã xác định được năm tiêu chí có ảnh hưởng đến hầu hết đến việc lựa chọn nhà cung cấp Các tiêu chí này chính là (Chan, 2007, tr.420):
• Chi phí (giá sản phẩm, chi phí vận chuyển hàng hóa, thuế quan và thuế hải quan)
• Chất lượng (tỷ lệ từ chối của sản phẩm, sự gia tăng thời gian giao hàng, đánh giá chất lượng, khắc phục cho vấn đề chất lượng)
• Dịch vụ thực hiện tiến độ giao hàng, kỹ thuật và hỗ trợ R & D, phản ứng với những thay đổi, sự dễ dàng liên lạc khi cần)
• Hồ sơ nhà cung cấp (tình trạng tài chính, cơ sở khách hàng, lịch sử hiệu suất, cơ sở sản xuất và năng lực)
• Yếu tố rủi ro (vị trí địa lý, sự ổn định chính trị, kinh tế, khủng bố)
(Chan, 2007, tr.420)
Các tiêu chí chính này cũng bao gồm một số thuộc tính khác nhau, mô tả các tiêu chí phụ cho mỗi tiêu chí chính Những tiêu chí phụ được đề cập trong bảng danh sách trên bên trong dấu ngoặc đơn (Chan, 2007, tr.420 - 423)
evkli đã mô tả trong nghiên cứu của ông một vấn đề liên quan đến vấn đề lựa chọn nhà cung cấp và việc cố gắng để xác định phương pháp tốt nhất cho công tác đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp bằng cách sử dụng mô hình AHP cho nó Các tiêu chí được Sevkli mô tả về vấn đề đánh giá và lựa chọn nhà cung ứng bao gồm: (Sevkli, 2008, tr.129)
• Hiệu suất đánh giá (lô hàng, giao hàng, chi phí)
• Nguồn nhân lực (số lượng nhân viên, cơ cấu tổ chức, đào tạo, số lượng cán bộ kỹ thuật)
• Chất lượng của hệ thống đánh giá (các cam kết quản lý, kiểm tra và kiểm soát, lập kế hoạch chất lượng, đảm bảo chất lượng)
• Sản xuất (năng lực sản xuất, bảo trì, thời gian dẫn, cập nhật, lưu trữ, phát triển)
• Các tiêu chí kinh doanh (danh tiếng, vị trí, giá cả, bằng sáng chế, kỹ thuật, khả năng)
• Công nghệ thông tin (RFID, EDI, Internet)
(Sevkli, 2008, tr.129)
ang Ching-Chow và Bai-Sheng Chen đã mô tả quá trình lựa chọn nhà cung cấp bằng cách sử dụng các tiêu chí về số lượng và chất lượng được áp dụng cho mô hình AHP Các tiêu chí mà họ đã sử dụng là:
C
S
Y
Trang 22 Thiết kế và khả năng kỹ thuật
Hệ thống công nghệ thông tin
hodsypour và O'Brien đã thực hiện một báo cáo nghiên cứu, và trong bài viết đó
họ cũng mô tả những loại tiêu chí AHP có thể sử dụng trong việc lựa chọn nhà cung cấp Theo họ, các tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp có thể được chia thành ba loại (Ghodsypour, 1998, tr.205):
o Thời gian giao hàng
o Dễ thông tin liên lạc
o Đáp ứng với những thay
đổi
o Quy trình linh hoạt
(Ghodsypour, 1998, tr.205)Theo kết luận từ sự chọn lựa nhà cung cấp và phát triển bằng cách sử dụng phương pháp phân tích quá trình hệ thống phân cấp có thể nói rằng tất cả các trường hợp này trước đó được thể hiện theo các quy tắc tương tự và áp dụng về cơ bản cùng một loại tiêu chí: chi phí, chất lượng và khả năng dịch vụ Các ví dụ thể hiện trước đó là một hình ảnh tổng quan về các tiêu chí được sử dụng trong nghiên cứu hiện tại và có thể giúp xây dựng mô hình AHP cho một trường hợp mới Cũng đáng chú ý từ tất
cả các ví dụ này là mặc dù các nguyên tắc cơ bản là như nhau, có một số khác biệt giữa các mô hình cũng cho thấy rằng tiêu chuẩn sẽ tùy theo một trường hợp cụ thể và các nhà nghiên cứu không nhất thiết phải có tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp giống nhau
obert S.Kaplan đã xây dựng lý thuyết “Thẻ điểm cân bằng” (Balance Score Card) bao gồm sáu nhóm mục tiêu dùng để đánh giá nhà cung cấp Đây là phương pháp quản lý hiện đại dựa trên mục tiêu, theo đó định hướng phát triển của doanh nghiệp được thể hiện bằng các chỉ tiêu, các mục tiêu được tổ chức đó xây dựng một cách hài hòa, cân đối dựa trên các ưu tiên quan trọng của tổ chức, doanh nghiệp Sáu nhóm tiêu chí đó bao gồm:
Sức khỏe tài chính (Financial Health)
o Doanh thu
o Lợi nhuận
G
R
Trang 23o Tính thanh khoản
o ROI
o Tỷ lệ nợ
o Minh bạch về tài chính
Năng lực cốt lõi (Expertise)
o Năng lực xây dựng mạng lưới
o Trình độ kỹ thuật so với trung bình ngành
o Mức độ sang tạo trong kỹ thuật
o Đầu tư cho R&D
Năng lực vận hành (Operational Performance)
o Giao hàng đúng hẹn
o Leadtime
o Trách nhiệm khi bán hang
o Quản lý và kiểm soát hàng tồn kho, năng lực dự báo
o Bảo trì ngăn ngừa
o Áp dụng và vận hành các hệ thống TQM, TQC, ISO, HACCP, v.v
Phương thức kinh doanh (Business Process and Practices)
o Tạo ra những giá trị tốt nhất cho khách hàng (value in exchange, value in use)
o Giúp khách hàng giải quyết tận gốc rễ những vấn đề gây ra cho nhà cung cấp
o Chia sẻ chân thật thông tin về sản phẩm (ưu nhược điểm, phù hợp), thông tin dự báo
Yếu tố hành vi và văn hóa (Behavior and Cutural Factor)
o Kỳ thị chủng tộc
o Văn hóa kinh doanh
o Văn hóa cải tiến
o Thông tin luôn được cập nhật
o Văn hóa trung thực
o Họ đến với chúng ta vì mục đích gì
o Đạo đức kinh doanh
o Quan điểm kinh doanh của người chủ
Yếu tố rủi ro (Risks Factor)
o Chính trị (khủng bố, bất ổn,…)
o Điều kiện tự nhiên (bão, lũ lụt, tuyết, động đất…)
o Sự ổn định nền kinh tế: lạm phát, tỷ giá, lãi suất
o Bảo hiểm
o Luật pháp
o Quan hệ thương mại giữa hai quốc gia
(Th.S Huỳnh Bảo Tuân, bài giảng BR&T)
Sau khi điểm qua lần lượt từng mô hình trong chương cơ sở lý thuyết ở trên Tác giả
đã tổng hợp các tiêu chí của những mô hình này và chọn lý thuyết BSC làm nền chính xây dựng nên mô hình đánh giá sẽ được trình bày trong chương bốn
Trang 24Khi bạn ra một quyết định không được ưa thích bạn có thể cố gắng thuyết phục nhân
viên của mình về quyết định này, mà không đề nghị đối thoại hay thử thách
2.3.1.2 Phương pháp phát biểu cuối cùng
Trong phương pháp phát biểu cuối cùng bạn cho phép nhân viên thảo luận và đề nghị giải pháp cho vấn đề cần giải quyết
Người ra quyết định có thể lưu ý hoặc không lưu ý đến những kiến nghị này khi ra quyết định
Bạn có thể cho phép tình huống được thảo luận theo cách thật cởi mở nhưng ở cuối cuộc thảo luận bạn sẽ tự đưa ra quyết định
2.3.1.3 Phương pháp nhóm tinh hoa
Phương pháp nhóm tinh hoa có sự tham gia của bạn và ít nhất một người khác vào việc ra quyết định mà không cần tham khảo ý kiến của những người khác
Bạn tranh luận và đưa ra giải pháp, đưa ra quyết định và trình bày quyết định cho số nhân viên còn lại
Bạn thậm chí có thể thảo luận về cơ sở để ra quyết định của bạn trước các nhân viên
2.3.1.4 Phương pháp cố vấn
Phương pháp cố vấn đặt bạn vào vị trí của người cố vấn Bạn có thể đưa ra một quyết định ban đầu để thăm dò và trình bày quyết định này cho nhóm nhằm thảo luận và thu thập dữ liệu Bạn sẽ xem xét cẩn thận và cởi mở ý kiến của cả nhóm trước khi đưa ra quyết định
Thường bạn sẽ đi tới quyết định đầu tiên và trình bày quyết định này trước nhóm để thảo luận Bạn phải có đầu óc cởi mở và cho phép chính bạn thay đổi do những lý lẽ
mà nhân viên đưa ra hợp lý Bạn cũng cho phép người khác cải tiến một cách chi tiết
Trang 25quyết định ban đầu của bạn hoặc, ngược lại, đưa ra đề nghị và ủng hộ cho các quan điểm khác Quyết định cuối cùng là do bạn đưa ra, có xem xét cẩn thận và một cách cởi mở các quan điểm khác
2.3.1.5 Phương pháp luật đa số
Phương pháp luật đa số có sự tham gia của mọi thành viên của nhóm trong quá trình ra quyết định bằng cách cho phép mỗi thành viên có một lá phiếu bình đẳng
Nhóm biểu quyết về việc sẽ chọn quyết định nào
Quyết định nhận được từ đại đa số phiếu sẽ thắng và trở thành quyết định cuối cùng
2.3.1.6 Phương pháp nhất trí
Phương pháp nhất trí có sự tham gia của toàn thể nhân viên vào việc ra quyết định Một quyết định không thể đạt được cho tới khi toàn bộ nhân viên đồng ý về một quyết định nào đó Phương pháp này có thể đưa ra một quyết định có chất lượng cao do đầu vào lớn mạnh và phong phú, nhưng có thể tốn nhiều thời gian Nhất trí là một phương pháp quyết định để sử dụng hết nguồn lực sẵn có của nhân viên và để giải quyết một cách sáng tạo những xung đột và các vấn đề chủ yếu
Nhất trí rất khó đạt được vì mọi thành viên của nhóm phải đồng ý trên quyết định cuối cùng Sự nhất trí hoàn toàn không phải là mục tiêu bởi vì rất hiếm khi đạt được, nhưng mỗi thành viên của nhóm nên sẵn sàng chấp nhận ý kiến của nhóm trên cơ sở tính hợp
lý và tính khả thi Khi mọi thành viên của nhóm đều chấp nhận thì bạn đã đạt tới sự nhất trí, và sự đánh giá này có thể được xem như là quyết định của nhóm Thực vậy, điều này có nghĩa là một người đơn độc nếu cần thiết có thể cản trở nhóm vì không chắc rằng mọi chi tiết đều được mọi người hoàn toàn chấp nhận Việc biểu quyết là không được phép Trong việc ra quyết định dựa vào sự nhất trí đích thân bạn phải tin chắc quyết định là quyết định đúng đắn và đồng ý đi theo quyết định này
2.3.2 Các phương pháp định lượng
Phần này sẽ trình bày các phương pháp ra quyết định mang tính định lượng bao gồm: qui hoạch tuyến tính, ma trận hoạch định chiến lược QSPM và đặc biệt là phương pháp phân tích hệ thống phân cấp (AHP)
2.3.2.1 Qui hoạch tuyến tính
Trong toán học, quy hoạch tuyến tính (QHTT) (tiếng Anh: linear programming - LP)
là bài toán tối ưu hóa, trong đó hàm mục tiêu (objective function) và các điều kiện ràng buộc đều là tuyến tính
Trong bài toán này, cho một đa tạp (polytope) (chẳng hạn một đa giác hoặc một đa diện), và một hàm tuyến tính (affine) nhận giá trị thực
Trang 26xác định trên đa tạp đó, mục đích là tìm một điểm trên đa tạp mà tại đó hàm có giá trị nhỏ nhất (hoặc lớn nhất) Các điểm như vậy có thể không tồn tại, nhưng nếu chúng tồn tại thì phải tìm được ít nhất một điểm
2.3.2.2 Ma trận QSPM
Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM) sử dụng các thông tin đầu vào từ các ma trận IFE (Internal Factor Evaluation Matrix), EFE (External Factor Evaluation Matrix), SWOT và chiến lược chính để đánh giá khách quan các chiến lược thay thế tốt nhất Sáu bước để phát triển một ma trận QSPM:
Bước #1: Liệt kê các cơ hội, mối đe dọa quan trọng bên ngoài và các điểm mạnh, điểm yếu bên trong công ty
Bước #2: Phân loại cho mỗi yếu tố thành công quan trọng bên trong và bên ngoài Bước #3: Liệt kê các phương án chiến lược mà công ty nên xem xét thực hiện Tập hợp các chiến lược thành các nhóm riêng nếu có thể
Bước #4: Xác định số điểm hấp dẫn của mỗi chiến lược Chỉ có những chiến lược trong cùng một nhóm mới được so sánh với nhau Số điểm hấp dẫn được phân như sau: 1=không hấp dẫn, 2=ít hấp dẫn, 3=khá hấp dẫn, 4=rất hấp dẫn
Bước #5: Tính tổng số điểm hấp dẫn, là kết quả của nhân số điểm phân loại (bước 2) với số điểm hấp dẫn (bước 4)
Bước #6: Tính tổng cộng điểm hấp dẫn cho từng chiến lược Số điểm càng cao, chiến lược càng hấp dẫn
2.4 SO SÁNH ƯU NHƯỢC TỪNG PHƯƠNG PHÁP
Bảng 2.1: So sánh ưu nhược các phương pháp ra quyết định
Phương pháp
độc đoán
- Tiết kiệm được thời gian
- Thuận lợi đối với quyết định theo chuẩn
- Lãnh đạo có kinh nghiệm
- Nhân viên ít quyết tâm
- Cho phép một số sáng kiến sáng tạo
- Nhân viên ít quyết tâm
Phương pháp
nhóm tinh hoa
- Tiết kiệm thời gian
- Thảo luận cởi mở
- Phát triển nhiều ý tưởng
- Nhân viên ít quyết tâm
- Xung đột vẫn duy trì
- Ít có sự tương tác
Trang 27Phương pháp
cố vấn
- Sử dụng nguồn lực của cả nhóm
- Thảo luận cởi mở
2.5.1 Khái niệm
Analytic Hierarchy Process (AHP) là một kỹ thuật có cấu trúc để tổ chức và phân
tích các quyết định phức tạp Dựa trên nền tảng là toán học và tâm lý học, nó đã được phát triển bởi Thomas L Saaty trong những năm 1970 sau đó được nghiên cứu rộng rãi và sâu sắc kể từ lúc đó Nó có ứng dụng cụ thể trong việc ra quyết định nhóm và được sử dụng trên toàn thế giới trong một loạt các tình huống ra quyết định, trong các lĩnh vực chính trị, kinh doanh, các ngành công nghiệp, y tế, và giáo dục, v.v
Thay vì bắt buộc cho ra một quyết định "đúng", AHP giúp các nhà hoạch định chính sách tìm thấy một quyết định phù hợp nhất với mục tiêu của họ và sự hiểu biết của họ
về vấn đề này Nó cung cấp một khuôn khổ toàn diện và hợp lý để cơ cấu một vấn đề quyết định, đại diện và định lượng các yếu tố của nó, liên quan đến những yếu tố để các mục tiêu trở nên tổng quát, và để đánh giá các giải pháp thay thế
Người sử dụng phương pháp AHP đầu tiên sẽ phân tách vấn đề quyết định của mình vào một hệ thống phân cấp dễ dàng thấu hiểu hơn vấn đề chính, mỗi vấn đề nhỏ trong
đó có thể được phân tích độc lập Các yếu tố của hệ thống phân cấp có thể liên quan đến bất kỳ khía cạnh nào của vấn đề quyết định hữu hình hoặc vô hình, được đo lường
kỹ càng hoặc ước tính phỏng chừng, có thể hiểu biết sâu hoặc nông, và bất cứ điều gì
có thể áp dụng đối với các quyết định cần giải quyết
Trang 28Một khi hệ thống phân cấp được xây dựng, những người ra quyết định đánh giá một cách có hệ thống các yếu tố khác nhau của nó bằng cách so sánh chúng với nhau tại một thời điểm, đối với tác động của chúng lên một yếu tố nằm trên cấp chúng trong hệ thống phân cấp Trong việc đưa ra sự so sánh, những người ra quyết định có thể sử dụng dữ liệu cụ thể về các yếu tố, nhưng họ thường sử dụng khả năng phán đoán của
họ về ý nghĩa và tầm quan trọng của các mối quan hệ giữa các yếu tố Đó là bản chất của AHP về khả năng phán đoán của con người, và không chỉ gồm thông tin cơ bản có thể được sử dụng trong việc thực hiện đánh giá
Phương pháp AHP chuyển đổi những đánh giá giá trị số có thể được xử lý và so sánh trên toàn bộ phạm vi của vấn đề Một khối lượng được số hóa hoặc ưu tiên được trích nguồn gốc cho mỗi phần tử của hệ thống phân cấp, cho phép các yếu tố đa dạng và các yếu tố được định lượng với số lẻ được so sánh với nhau một cách hợp lý và nhất quán Khả năng này phân biệt AHP với các kỹ thuật ra quyết định khác
Trong bước cuối cùng của quá trình này, số ưu tiên được tính toán cho mỗi phương án lựa chọn thay thế Những con số này đại diện cho khả năng tương đối của các lựa chọn thay thế để đạt được các mục tiêu quyết định, vì vậy chúng cho phép xem xét thẳng các tiến trình khác nhau của hành động
Vậy phương pháp AHP là một kỹ thuật ra quyết định, nó giúp cung cấp một cái nhìn tổng quan về thứ tự sắp xếp của những lựa chọn thiết kế và nhờ vào nó mà ta tìm được một quyết định cuối cùng hợp lý nhất AHP giúp những người ra quyết định tìm thấy cái gì là hợp lý nhất cho họ và giúp họ hiểu những vấn đề của mình
Dựa vào toán học và tâm lý học, AHP được phát triển bởi Saaty trong năm 1970 và đã được mở rộng và bổ sung cho đến nay AHP cung cấp một khung sườn chính xác cho cấu trúc một vấn đề cần giải quyết
AHP kết hợp chặt chẽ với chuẩn quyết định và người làm quyết định sẽ dùng phương pháp so sánh theo cặp (pairwise comparison) để xác định việc đánh đổi qua lại giữa các mục tiêu
AHP có 3 phân đoạn cơ bản : phân giải vấn đề cần giải quyết , so sánh sự đánh giá
của những phần tử và tổng hợp độ ưu tiên
Các mô hình AHP được tạo ra bởi Thomas Saaty, người trước đó đã làm việc trong một số dự án nghiên cứu cho Cơ quan Kiểm soát Vũ khí và Giải trừ quân bị tại Bộ Ngoại giao Mỹ và cũng tại Wharton School Trong dự án nghiên cứu của mình, ông đã phát hiện ra rằng mọi người thường gặp nhiều vấn đề khi phải đưa ra quyết định nào
đó hoặc ưu tiên một số điểm công việc của họ Điều này trở thành động lực để Saaty tạo ra một công cụ mới giúp họ có thể đưa ra những quyết định phức tạp dễ dàng hơn rất nhiều (Forman, 2008, tr.4-5)
Có lẽ những điều tốt nhất về quá trình phân tích hệ thống phân cấp là nó có một cách tiếp cận hướng tới việc ra quyết định từ quan điểm hợp lý, trực quan và cung cấp một giải pháp tốt nhất từ các lựa chọn thay thế khác nhau Theo Saaty, lý do tại sao loại hệ thống phân cấp này được áp dụng là bởi vì "nó có thể dùng để đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố trong một mức độ nhất định với sự coi trọng một số hoặc tất cả các yếu
tố trong mức độ liền kề ở trên" Các cấu trúc mô hình AHP về vấn đề quyết định trong
Trang 29một mô hình hệ thống phân cấp trong đó bao gồm ba lớp khác nhau được thể hiện trong hình 2.1 dưới đây: (Saaty, 2000, tr.3)
LỰA CHỌN
LỰA CHỌN
Hình 2.1: Ba lớp trong mô hình AHP
(Saaty, 2000, tr.3)
1) Ở phía trên cùng của hệ thống phân cấp phải định vị được mục tiêu của quyết định
2) Các hệ thống phân cấp thứ hai bao gồm các tiêu chí khác nhau được sử dụng
để đánh giá các phương án lựa chọn thay thế
3) Hệ thống phân cấp thứ ba bao gồm các phương án lựa chọn thay thế khác nhau theo yêu cầu so sánh
2.5.2 Chức năng chính của AHP
AHP là phương pháp có nhiều loại ứng dụng khác nhau Những lý do chính cho sự phổ biến của mô hình AHP là do ba chức năng chính Chúng là những cấu trúc phức tạp, mang tính định lượng và tổng hợp
Sự phức tạp trong cấu trúc của mô hình AHP được giải quyết dựa trên ý tưởng rằng các vấn đề phức tạp nên được trình bày theo một cách sao cho ngay cả những người không qua đào tạo chính thức cũng có thể hiểu nó Sự đơn giản của AHP đi lên từ "cấu trúc thứ bậc phức tạp tạo thành cụm đồng nhất các yếu tố"
Điểm thứ bậc mang tính trực quan của AHP tạo cho nó khả năng có thể được hiểu một cách nhanh chóng bởi tâm trí của con người và nhờ đó AHP cũng có thể được nhìn
Trang 30thấy dưới dạng thức thân thiện hơn để giúp hiển thị một cách đơn giản các tình huống
và vấn đề phức tạp sao cho tâm trí con người có thể hiểu được (Forman, 2008, tr.5-6) Trước quyết định thiết kế các mô hình khác nhau từ mô hình AHP đối với các yếu tố được định lượng Quá trình MAUT (lý thuyết tiện ích đa thuộc tính) là một ví dụ điển hình về một mô hình sử dụng phương pháp đo lường khoảng thời gian hay vì đo lường thang đo có quy mô lớn hơn, chẳng hạn như thang đo tỷ lệ mà AHP sử dụng Lý do cho việc “sử dụng thang đo tỷ lệ trong các phương pháp phân cấp có cấu trúc là do các
ưu tiên (giống như trọng số) của các yếu tố ở mọi cấp của hệ thống phân cấp được xác định bằng cách nhân các điểm số ưu tiên của các yếu tố ở cấp đó với các điểm số ưu tiên của các yếu tố cha” (Forman, 2008, tr.6)
Có thể chức năng đáng chú ý nhất của AHP sẽ khác biệt so với các phương pháp phân tích khác là do khả năng “đo lường và tổng hợp nhiều yếu tố trong hệ thống phân cấp” Điều này khá quan trọng vì có rất nhiều công cụ và quá trình khác nhau có thể sử dụng
để phân tích nhưng có rất ít phương pháp có thể dùng để tổng hợp các phân tích Đây
là một ưu điểm rất lớn của phương pháp phân tích quá trình bậc thang
(Forman, 2008, tr.6)
2.5.3 Các ưu tiên trong AHP
Tác giả của phương pháp AHP, giáo sư Thomas L Saaty, đã công bố rằng có bốn ưu tiên khác nhau cần được lưu ý khi thực hiện một phân tích dựa trên quá trình phân tích
hệ thống phân cấp là:
1 Xác định vấn đề và xác định các loại kiến thức tìm kiếm
2 Cấu trúc của hệ thống phân cấp ra quyết định xuất phát với mục tiêu của quyết định, sau đó các mục tiêu được phân rã theo một quan điểm rộng, thông qua các cấp trung gian (theo tiêu chuẩn các yếu tố tiếp theo bị phụ thuộc) đến mức thấp nhất (mà thường là một tập hợp các phương án lựa chọn thay thế)
3 Xây dựng một tập hợp các ma trận so sánh cặp Mỗi phần tử trong một cấp bậc trên được sử dụng để so sánh các yếu tố ở cấp độ dưới trực tiếp của nó với trọng số của nó
4 Sử dụng những ưu tiên thu được từ sự so sánh cân nhắc những ưu tiên ở cấp độ
trực tiếp ngay bên dưới Làm điều này cho mỗi phần tử Sau đó, cho mỗi phần
tử ở cấp độ dưới đây thêm giá trị của nó và có được ưu tiên tổng thể hoặc toàn cục Tiếp tục quá trình này với điểm số và điểm bổ sung cho đến khi thu được những ưu tiên cuối của các phương án lựa chọn thay thế ở tầng dưới cùng
hệ thống phân cấp bậc thang (Saaty, 2008, tr.85)
Saaty đã cung cấp các quy tắc cơ bản về cách thức tiến hành với các ưu tiên trong quá trình phân tích hệ thống phân cấp Quá trình chính của nó bao gồm khá nhiều tính toán định lượng và trong một số trường hợp gặp phải vòng lặp thì sự lặp đi lặp lại là cần thiết Bằng cách hoàn thành các chủ đề được đề xuất bởi giáo sư Thomas L Saaty, các yếu tố được chọn phải là một tập hợp các ưu tiên cho bảng AHP
Trang 312.5.4 Thang đo cơ bản
Quá trình phân tích hệ thống phân cấp sử dụng thang đo cơ bản (được hiển thị trong bảng 2.2 dưới đây) Thang đo cơ bản của AHP khác với các loại thang đo khác bởi vì
nó không đo lường một yếu tố lớn hơn yếu tố khác bao nhiêu lần, nhưng nó giúp hiển thị một phần của yếu tố lớn hơn yếu tố khác là bao nhiêu Vì vậy, các bảng cơ bản phải được đọc theo cách mà có thể phản ánh được sự khác biệt rất nhỏ giữa hai đối tượng được khảo sát (Saaty, 2000, tr.5-6)
Bảng 2.2: Thang đo cơ bản
Ưu tiên bằng nhau cho đến vừa phải (Equally to moderately preferred) 2
Ưu tiên vừa phải cho đến hơi ưu tiên (Moderately to strongly preferred) 4
Hơi ưu tiên cho đến rất ưu tiên (Strongly to very strongly preferred) 6
Rất ưu tiên cho đến vô cùng ưu tiên (Very strongly to extremely preferred) 8
(Saaty, 2000, tr.6;Rissanen, 2003, tr.7; Ganesan, 2007, tr.6; Salo, 2004, tr.3; Saaty,
2008, tr.86)
Trong thang đo cơ bản của phương pháp AHP được hiển thị ở bảng 2.2, chúng ta có thể nhìn thấy hai cột khác nhau được phân chia riêng biệt Cách phổ biến nhất để chúng ta có thể hiển thị cường độ của tầm quan trọng của yếu tố nhất định nào đó so sánh với yếu tố khác là sử dụng một thang đo với 9 mức điểm khác nhau Như đã nói trước đây, thang đo này không nên được dùng theo cách xem xét bao nhiêu lần lớn hơn (1 so với 2), mà để đánh giá rộng hơn một phần nhỏ so với số khác như thế nào (1,1 so với 1,3)
Thang đo cơ bản của AHP mô tả sự khác biệt nhỏ về tầm quan trọng giữa hai mục tiêu, điều này rất khó để xác định một mối quan hệ chặt chẽ giữa hai mức độ quan trọng Chính vì vậy, theo giáo sư Thomas Saaty, để có được một chút sự khác biệt rõ rệt giữa các mức tầm quan trọng thì phải chấp nhận bỏ qua các mức điểm có cường độ tầm quan trọng thứ 2, 4, 6 và thứ 8 và chỉ sử dụng các mức điểm thứ 1, 3, 5, 7, 9 (in đậm trong bảng 2.2) Bằng cách này, sự khác biệt giữa hai yếu tố có thể được thực
Trang 32hiện cụ thể hơn và dễ dàng hơn chỉ bằng cách dự đoán sự khác biệt của các yếu tố theo cách này hay cách khác (Saaty, 2000, tr.6)
2.5.5 Mô tả một vấn đề với quá trình phân cấp phân tích
Như được mô tả trước đó, mô hình AHP là dựa trên mô hình hệ thống phân cấp có thể được sử dụng để phân chia một vấn đề lớn hơn vào bối cảnh nhỏ hơn và sau
đó xác định điểm số đánh giá của chúng Để xây dựng một kết quả AHP thành công, ta nên theo các bước sau đây để mô tả AHP một cách tổng thể
Bước đầu tiên trong việc xây dựng quá trình phân cấp phân tích là xác định vấn đề
và lựa chọn mục tiêu Việc xác định vấn đề là một yếu tố rất quan trọng trong AHP vì
nó có thể được xem như là mục tiêu của toàn bộ quá trình và tất cả các phép tính toán định lượng được thực hiện trong suốt quá trình là một bước quan trọng để đạt được các mục tiêu Khi suy nghĩ về mô hình phân cấp thì mục tiêu được thiết lập cho đỉnh trên cùng và nó phân rã thành các cấp bậc khác nhau bên dưới (xin xem hình 2.1 để biết thêm thông tin)
(Haas, 2005, tr.10; Ganesan, 2007, tr.3; Salo, 2004, tr.2)
Sau khi mục tiêu đã được thiết lập, là lúc để chuyển sang cấp độ tiếp theo của mô hình AHP Cấp độ tiếp theo sau đó xác định các tiêu chí được sử dụng để giải quyết lớp cao nhất, chính là mục tiêu Có nhiều cách khác nhau để lựa chọn tiêu chí cho AHP, chúng
ta đồng thời được phép sử dụng cả hai phương pháp định lượng và định tính
(Haas, 2005, tr.10; Ganesan, 2007, tr.3; Salo, 2004, tr.2-3)
Lớp thứ ba của mô hình AHP bao gồm các phương án thay thế khác nhau được chọn bởi những người định lượng các yếu tố Các phương án lựa chọn thay thế cũng có một vai trò lớn trong quá trình này và một trong số chúng sẽ trở thành câu trả lời cho các câu hỏi trong lớp đầu tiên Vì vậy, chúng ta nên lưu ý rằng AHP không đưa vào quy trình một phương án thay thế thực sự là tốt nhất, nhưng thay vào đó nó so sánh giữa các lựa chọn thay thế có mức độ giống nhau khá nhỏ
(Haas, 2005, tr.10; Ganesan, 2007, tr.3-4; Salo, 2004, tr.2-3)
Sau khi mục tiêu được xác định, tiêu chuẩn đã được xác định và lựa chọn thay thế khác nhau cũng đã được chọn lựa, đó là lúc để sắp xếp tất cả những yếu tố trong cây phân cấp Sau khi AHP tiếp tục với việc xác định các bảng xếp hạng tương đối của các phương án lựa chọn thay thế khác nhau Tại thời điểm này, AHP không cho phép so sánh các thông tin định tính khác nhau và thông tin định lượng với nhau Điều này đạt được bằng cách sử dụng so sánh cặp để so sánh một yếu tố quan trọng hơn bao nhiêu so với yếu tố khác Thang đo sử dụng trong so sánh cặp là thang đo cơ bản đã được mô tả trong phần lý thuyết trước đó Một thí dụ điển hình của loại ma trận so sánh cặp có thể được thực hiện với AHP được hiển thị trong hình 2.2 dưới đây
(Haas, 2005, tr.10; Ganesan, 2007, tr.3-4; Salo, 2004, tr.3-4)
Trang 33Hình 2.2: Một ví dụ về ma trận so sánh cặp
(Saaty, 2008, tr.86)
Khi so sánh cặp đã được thực hiện, người ta cần phải có ma trận như được hiển thị ở trên trong hình 2.2 Bước tiếp theo trong quá trình phân tích hệ thống phân cấp bậc thang là phải biến ma trận so sánh cặp thành một bảng xếp hạng thực sự của các yếu tố
ưu tiên Theo quan điểm của các nhà thiết kế ra quá trình phân tích hệ thống phân cấp, giáo sư Thomas L Saaty, việc này được thực hiện tốt nhất bằng cách sử dụng các eigenvector (Haas, 2005, tr.10; Ganesan, 2007, tr.12; Saaty, 2008, tr.86-77)
Lưu ý: ma trận so sánh cặp là ma trận vuông cấp n, với n là số yếu tố được so sánh theo cặp, tham gia vào ma trận
2.5.6 Quy trình tính toán eigenvector và kiểm tra tính nhất quán
Quá trình tính toán eigenvector (vector tổng chuẩn hóa) được thực hiện theo các phép tính như sau:
Bước #1: Đem mỗi điểm số so sánh là hạng tử trong mỗi cột của ma trận so sánh cặp chia cho tổng hạng tử theo hàng dọc (cột ma trận) được ma trận mới với các hạng tử là các tỷ số theo cột dọc
Bước #2: Tổng các tỷ số này theo mỗi hàng ngang của ma trận ta được trung bình dòng của mỗi hàng ma trận
Bước #3: Lấy mỗi trung bình dòng chia cho điểm so sánh trong ma trận so sánh cặp theo cột dọc, sau đó lấy tổng theo hàng ngang ta được vector tổng
Bước #4: Vector tổng chia cho trung bình dòng được vector tổng chuẩn hóa
Bước #5: Tính (Landamax) bằng cách lấy tổng các vector tổng chuẩn hóa chia cho số yếu tố tham gia ma trận so sánh cặp là n (n = cấp của ma trận)
Trang 34so sánh cặp
AHP còn có công thức kiểm tra tính nhất quán là CR theo công thức:
Trong đó:
CR: Tỷ số nhất quán (Consistency Ratio)
CI: Chỉ số nhất quán (Consistency Index)
RI: Chỉ số ngẫu nhiên (Random Index)
Các chỉ số ngẫu nhiên của AHP được biểu thị trong bảng dưới đây:
Bảng 2.3: Chỉ số ngẫu nhiên tương ứng số yếu tố tham gia ma trận so sánh cặp
n= 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15
RI= 0.00 0.00 0.58 0.90 1.12 1.24 1.32 1.41 1.45 1.49 1.51 1.48 1.56 1.57 1.59
(Nguồn Geoff Coyle, 2004 Practical Strategy Open Access Material AHP
AHP_Technique Pearson Education Limited)
o Nếu ma trận so sánh cặp được chấp nhận
o Nếu phải đánh giá lại
Eigenvector sau đó được sử dụng để tính toán điểm và cho ra trọng số xếp hạng cho các ưu tiên Phương pháp này phải được tính toán tiếp tục với một vòng lặp mới cho đến khi nó đạt được những giá trị eigenvector hoàn toàn giống nhau
Tuy nhiên khi sự khác biệt về số thập phân bắt đầu nhỏ dần (nhiều số thập phân), ý nghĩa của sự lặp đi lặp lại cũng sẽ nhỏ dần cho đến khi kết quả đã đạt đủ độ chính xác (Haas, 2005, tr.10; Ganesan, 2007, tr.12; Saaty, 2008, tr.86-77)
Sau khi một phương án chọn lựa đã tính ra được các eigenvector cho những ưu tiên của nó, quá trình tương tự sau đó nên được áp dụng cho những phương án đã được chọn lựa trước đó để tính toán ra các eigenvector và các giá trị trung bình dòng cho mỗi sự thay thế của mỗi tiêu chí trong mô hình đánh giá Điều này đòi hỏi một số phép tính ma trận, nhưng cũng cho thấy tính linh hoạt của mô hình AHP có thể dùng để xử
lý các vấn đề rất lớn với một số thông tin mang tính định lượng trong việc xác định thứ hạng của các phương án lựa chọn thay thế (Rissanen, 2003, tr.11)
Bước cuối cùng trong việc xác định các giải pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu là việc thực hiện một phép tính nhân hai ma trận giữa một ma trận trong đó bao gồm điểm số
đã tính cho từng phương án lựa chọn (A, B, C, …) trong các điều kiện của mỗi tiêu chí (tức là giá trị trung bình dòng của mỗi phương án lựa chọn đối với một tiêu chí cụ
𝑪𝑹 |𝑪𝑰|
𝑹𝑰
Trang 35thể) và một ma trận bao gồm tất cả các điểm số cho các tiêu chí (giá trị trung bình dòng của mỗi tiêu chí đã tính được ở bước trên) Khi hai ma trận được nhân với nhau, điểm số cuối cùng nhận được sau đó sẽ xác định kết quả cuối cùng của quá trình phân tích hệ thống phân cấp này giúp chúng ta xếp hạng các phương án lựa chọn và ra quyết định chọn phương án có điểm số cao nhất
Hình 2.3: Ví dụ của Saaty
(Saaty, 2008)
Bảng trên được thực hiện bởi giáo sư Saaty minh họa tập hợp các vấn đề được xử
lý khi các ma trận cuối cùng được tính toán cùng với điểm số của các tiêu chí phụ thể hiện điểm trọng lượng tiêu chuẩn cùng các phương án lựa chọn thay thế và tất cả các khía cạnh khác được làm rõ (Saaty, 2008, tr.89)
2.5.7 Ứng dụng của AHP vào thực tế
Trong khi nó có thể được sử dụng bởi các cá nhân làm việc trên các quyết định thẳng thắn, Analytic Hierarchy Process (AHP) là phương pháp hữu ích nhất cho nhóm những người đang làm việc với các vấn đề phức tạp, đặc biệt là những người có trách nhiệm cao, liên quan đến nhận thức của con người và khả năng phán đoán, nghị quyết của họ
có ảnh hưởng lâu dài
Nó có lợi thế độc tôn khi các yếu tố quan trọng của việc ra quyết định rất khó có thể định lượng hoặc so sánh, hoặc việc giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm bị cản trở bởi các chuyên ngành khác nhau, do thuật ngữ của họ, hoặc quan điểm riêng
Tình huống quyết định AHP có thể được áp dụng bao gồm:
Sự lựa chọn - Lựa chọn một giải pháp thay thế từ một tập hợp của các lựa chọn thay thế, thường có sự tham gia của các tiêu chuẩn quyết định đa mục tiêu
Bảng xếp hạng - Đưa một tập hợp các lựa chọn thay thế theo thứ tự từ mong muốn nhiều nhất đến ít nhất
Trang 36 Ưu tiên - Xác định công sức tương đối của các thành viên của một tập hợp các lựa chọn thay thế, như việc mâu thuẫn giữa lựa chọn một quyết định hoặc chỉ đơn thuần là việc xếp hạng
Phân bổ nguồn lực - Phân bổ nguồn lực trong một tập hợp các lựa chọn thay thế
Điểm chuẩn - So sánh các quá trình trong tổ chức của mình với những quá trình tốt nhất của các tổ chức khác tương đương
Quản lý chất lượng - Đối phó với những khía cạnh đa chiều về chất lượng và cải thiện chất lượng
Giải quyết xung đột - Giải quyết tranh chấp giữa các bên với mục tiêu hoặc các
Nhiều ứng dụng của AHP không bao giờ được thông cáo rộng rãi với thế giới, bởi vì chúng diễn ra ở mức độ an ninh và bảo mật cao của các tổ chức lớn Tuy nhiên, một số ứng dụng của AHP được thảo luận trong nhiều lãnh vực Gần đây đã bao gồm các ví
dụ điển hình như sau:
Quyết định cách tốt nhất để giảm các tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu (Fondazione Eni Enrico Mattei)
Định lượng về chất lượng tổng thể của hệ thống phần mềm (Microsoft Corporation)
Lựa chọn khoa ngành đại học (Bloomsburg Đại học Pennsylvania)
Quyết định nơi để đặt vị trí nhà máy sản xuất ở nước ngoài (Đại học Cambridge)
Đánh giá rủi ro trong hoạt động qua đường ống dầu khí quốc gia (Hội kỹ sư xây dựng Mỹ)
Quyết định cách tốt nhất để quản lý lưu vực sông (Bộ Nông nghiệp Mỹ) AHP là đôi khi được sử dụng trong việc thiết kế các thủ tục cụ thể cho các tình huống
cụ thể, chẳng hạn như đánh giá các tòa nhà cổ về ý nghĩa lịch sử của nó Tuy nhiên, gần đây AHP đã được áp dụng cho một dự án có sử dụng băng ghi hình để đánh giá tình trạng của đường cao tốc ở Virginia Các kỹ sư đường cao tốc đầu tiên sử dụng
nó để xác định phạm vi tối ưu của các dự án, sau đó là để giải trình ngân sách cho các nhà làm luật thẩm định các dự án này
2.5.8 Cách sử dụng phương pháp AHP
Như có thể thấy trong các phần trên, việc sử dụng AHP liên quan đến sự tổng hợp toán học của rất nhiều sự phán đoán về vấn đề quyết định cần xử lý Nó được áp dụng khá
Trang 37phổ biến cho các phán đoán đối với số lượng hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm Trong khi toán học có thể được thực hiện bằng tay hoặc với một máy tính, AHP phổ biến hơn các phương pháp khác vì sử dụng một trong các phương pháp trên máy
vi tính để nhập và tổng hợp các phán đoán Đơn giản nhất trong số này liên quan đến phần mềm bảng tính tiêu chuẩn, trong khi việc sử dụng tùy chỉnh phần mềm phức tạp nhất, thường được tăng cường bởi các thiết bị đặc biệt để giúp những người ra quyết định tìm được các phán đoán khi họp bàn cùng nhau
Quy trình sử dụng AHP có thể được tóm tắt như sau:
Mô hình các vấn đề như một hệ thống phân cấp có chứa mục tiêu quyết định, các lựa chọn thay thế để đạt được nó, và các tiêu chí để đánh giá lựa chọn thay thế
1 Thiết lập các ưu tiên trong số các yếu tố của hệ thống phân cấp bằng cách thực hiện một loạt các phán đoán dựa trên so sánh từng cặp của các yếu tố.Ví dụ, khi so sánh để ra quyết định mua các bất động sản có tiềm năng thực sự, các nhà đầu tư có thể nói rằng họ thích vị trí hơn so với giá cả và họ thích giá rẻ hơn so với thời gian giao dịch v.v
2 Tổng hợp những phán đoán này để mang lại một tập hợp các ưu tiên tổng thể cho hệ thống phân cấp Điều này sẽ kết hợp phán đoán của các nhà đầu tư về các yếu tố giá cả, địa điểm và thời gian cho các phương án lựa chọn A, B,
C và D với các ưu tiên tổng thể cho mỗi bất động sản
3 Kiểm tra sự thống nhất của các phán đoán
4 Ra một quyết định cuối cùng dựa trên kết quả của quá trình này
Các bước này được mô tả đầy đủ dưới đây
2.5.9 Mô hình các vấn đề như một hệ thống phân cấp
Bước đầu tiên trong quá trình phân cấp phân tích là mô hình hóa các vấn đề như một
hệ thống phân cấp Để làm được điều này, người tham gia phải khám phá các khía cạnh của vấn đề ở các cấp độ từ tổng quát đến chi tiết, sau đó thể hiện vấn đề theo cách đa cấp như AHP yêu cầu Khi họ tiến hành xây dựng hệ thống phân cấp, phải tăng cường sự hiểu biết của họ về vấn đề này, trong bối cảnh của vấn đề, cùng với suy nghĩ và cảm xúc của mỗi người tham gia
2.5.9.1 Xác định hệ thống phân cấp
Hệ thống phân cấp là một hệ thống phân tầng của bảng xếp hạng và tổ chức về con người, sự vật, ý tưởng,… nơi mà mỗi phần tử của hệ thống đều phụ thuộc vào một hoặc nhiều yếu tố khác Mặc dù khái niệm về hệ thống phân cấp có thể dễ dàng hiểu một cách trực quan nhưng nó cũng có thể được mô tả bằng toán học
Tổ chức con người thường có cấu trúc như hệ thống phân cấp, nơi mà các hệ thống thứ bậc được sử dụng để phân công trách nhiệm, thực hiện lãnh đạo, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông tin liên lạc Phân cấp quen thuộc của "sự vật" bao gồm kim tự tháp có một máy tính để bàn ở vị trí "đỉnh" với cấp dưới là màn hình của nó, bàn phím, và chuột ở cấp "bên dưới."
Trang 38Trong thế giới của những ý tưởng, chúng ta sử dụng hệ thống phân cấp để giúp chúng
ta tiếp thu kiến thức chi tiết của thực tế phức tạp: cấu trúc thực tế của các bộ phận cấu thành của hiện thực phức tạp, và chúng lần lượt trở thành các bộ phận cấu thành khối kiến thức của riêng chúng ta, rồi tiến đến hệ thống phân cấp nhiều cấp độ như chúng
ta quan tâm Tại mỗi bước, chúng ta tập trung vào việc tìm hiểu một thành phần của vấn đề, tạm thời ta sẽ không tính đến các thành phần khác và tất cả các cấp độ khác Khi chúng ta đi qua quá trình này, chúng ta sẽ nâng cao hiểu biết toàn cục của chúng ta về bất cứ vấn đề phức tạp nào của thực tế mà chúng ta đang nghiên cứu
Ví dụ điển hình là chúng ta hãy suy nghĩ về hệ thống phân cấp mà các sinh viên y khoa sử dụng trong khi học giải phẫu Các sinh viên này phải xem xét hệ thống cơ xương một cách riêng biệt (bao gồm cả các bộ phận và tiểu tiết giống như bàn tay cùng các thành phần cơ bắp và xương của nó), hệ thống tuần hoàn (với nhiều cấp độ và chi nhánh), hệ thống thần kinh (với nhiều thành phần và hệ thống con), vân vân, cho đến khi chúng đã được tổng quát hóa tất cả thành các hệ thống và phân khu quan trọng của mỗi hệ Các sinh viên có mong muốn tìm hiểu thêm sẽ tiếp tục chia nhỏ tất cả theo các cách ở các mức độ của tế bào hoặc phân tử Cuối cùng, các sinh viên sẽ hiểu được
"bức tranh lớn tổng thể" và một số lượng đáng kể các chi tiết của nó Không chỉ như thế, họ còn hiểu được mối quan hệ của các bộ phận cá nhân so với toàn bộ Bằng cách làm việc theo hệ thống phân cấp, họ đã đạt được một sự hiểu biết toàn diện về giải phẫu học
Tương tự như vậy, khi chúng ta tiếp cận một vấn đề phức tạp cần ra quyết định, chúng
ta có thể sử dụng một hệ thống tích hợp số lượng lớn thông tin vào sự hiểu biết của chúng ta về tình hình đang xem xét Với việc chúng ta xây dựng cấu trúc thông tin như vậy, chúng ta sẽ hình thành một hình ảnh tốt hơn về các vấn đề trên bình diện tổng thể
2.5.9.2 Hệ thống phân cấp trong AHP
Một hệ thống phân cấp AHP là một phương tiện có cấu trúc dùng để mô hình hóa các quyết định mà các nhà quản lý cần giải quyết Nó bao gồm một mục tiêu tổng thể, một nhóm các lựa chọn hoặc lựa chọn thay thế để đạt được mục tiêu, và một nhóm các yếu tố hoặc tiêu chuẩn có liên quan đến lựa chọn thay thế phục vụ cho mục tiêu Các tiêu chí có thể được tiếp tục chia nhỏ thành các tiêu chí phụ, các tiêu chí phụ cấp thấp hơn, và như vậy, ở nhiều cấp độ như vấn đề yêu cầu Một tiêu chí không thể áp dụng thống nhất, nhưng có thể phân loại sự khác biệt giống như một chút ưu tiên nhưng nếu quá ưu tiên có thể gây vấn đề cho quá trình Trong trường hợp đó, tiêu chí chính sẽ được chia thành các tiêu chí phụ để cho thấy cường độ khác nhau của tiêu chí như: thấp, trung bình, cao và các mức cường độ này được ưu tiên thông qua các so sánh dưới tiêu chí cha Mô tả các ứng dụng của AHP được trình bày thường bao gồm các sơ đồ cùng với mô tả hệ thống thứ bậc của các vấn đề
Các thiết kế của bất kỳ hệ thống phân cấp AHP nào cũng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của vấn đề đang xem xét, mà còn về kiến thức, sự phán đoán, giá trị, ý kiến, nhu cầu, mong muốn, của những người tham gia trong quá trình ra quyết định Xây dựng một hệ thống thường liên quan đến các cuộc thảo luận quan trọng, các nghiên cứu, và
Trang 39những phát hiện của những người tham gia Ngay cả sau khi xây dựng được mô hình ban đầu thì nó vẫn có thể được thay đổi để phù hợp với định hướng của tiêu chuẩn hoặc là tiêu chuẩn ban đầu không còn được coi là quan trọng nữa; lựa chọn thay thế cũng có thể được thêm vào, xóa bỏ, hoặc thay đổi
Để hiểu rõ thêm hơn nữa về hệ thống phân cấp AHP, chúng ta sẽ xem xét một vấn đề
ra quyết định với một mục tiêu phải đạt được, cùng với ba phương án để đạt được mục tiêu và bốn tiêu chí cần được định lượng
Để hệ thống phân cấp như vậy có thể được hình dung rõ ràng ta hãy xem xét sơ đồ dưới đây, với mục tiêu ở phía trên, ba lựa chọn thay thế ở phía dưới, và bốn tiêu chuẩn ở giữa Có là những thuật ngữ hữu ích để mô tả các bộ phận của sơ đồ dạng như vậy: mỗi hộp được gọi là một nút Một nút được kết nối với một hoặc nhiều nút trong một mức độ dưới đây và nó được gọi là nút cha Các nút mà nó kết nối được gọi
là nút con
Áp dụng các định nghĩa cho sơ đồ dưới đây, mục tiêu là lớp cha của bốn tiêu chí, và bốn tiêu chí là lớp con của mục tiêu Mỗi tiêu chuẩn là lớp cha của ba giải pháp thay thế Lưu ý rằng có chỉ có ba giải pháp thay thế, nhưng trong biểu đồ, mỗi giải pháp trong số chúng được lặp đi lặp lại theo từng lớp cha của chúng
LỰA CHỌN 2
LỰA CHỌN 1
LỰA CHỌN 3
LỰA CHỌN 2
LỰA CHỌN 1
LỰA CHỌN 3
LỰA CHỌN 2
LỰA CHỌN 1
LỰA CHỌN 3
Trang 40chúng Để tránh lộn xộn, những dòng kết nối này đôi khi được bỏ đi để giảm số lượng
KỸ NĂNG
ĐẠO ĐỨC
HỌC VẤN
Hình 2.5: Hệ thống phân cấp AHP cho việc lựa chọn một nhà lãnh đạo
Có một mục tiêu là chọn ra nhà lãnh đạo xứng đáng nhất Ba ứng cử viên cho vị trí đó
và bốn tiêu chí dùng để đánh giá và lựa chọn trong số các ứng viên trên
2.5.10 Đánh giá hệ thống phân cấp
Một khi hệ thống phân cấp đã được xây dựng, những người tham gia sẽ phân tích thông qua một loạt các so sánh cặp để tìm được thang đo đo lường cho các nút Các tiêu chí được so sánh cặp với mục tiêu để tìm ra mức độ quan trọng Các lựa chọn thay thế được so sánh cặp với các tiêu chí để tìm được sự ưu tiên Các so sánh được xử lý toán học, và các điểm số ưu tiên được thể hiện trên mỗi nút
Hãy xem xét ví dụ "Chọn lãnh đạo" ở trên Một nhiệm vụ quan trọng của các nhà ra quyết định là xác định trọng số được đưa ra cho mỗi tiêu chí trong việc đưa ra chọn lựa một nhà lãnh đạo Nhiệm vụ quan trọng khác nữa là phải xác định điểm số được đưa ra cho mỗi ứng cử viên đối với các tiêu chí AHP không chỉ cho phép họ làm điều đó, mà còn cho phép họ đặt một giá trị có ý nghĩa và có mục tiêu định lượng trong số bốn tiêu chí
2.5.11 Thiết lập các ưu tiên
Phần này giải thích các ưu tiên, cho thấy chúng được thành lập như thế nào, và trình bày một ví dụ đơn giản