1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các dạng hư hỏng của nguyên liệu

18 3,7K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 45,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình b ả o qu ả n, nh ữ ng bi ến đổ i c ảm quan đầ u tiên c ủa cá liên quan đế n bi ể u hi ệ n bên ngoài và k ế t c ấ u. V ị đặc trưng của các loài cá thườ ng th ể hi ệ n rõ trong vài ngày đầ u c ủ a quá trình b ả o qu ả n b ằng nước đá. Bi ến đổ i nghiêm tr ọ ng nh ấ t là s ự b ắt đầ u m ạ nh m ẽ c ủ a quá trình c ứng cơ. Ngay sau khi ch ết, cơ thị t cá du ỗ i hoàn toàn và k ế t c ấ u m ề m m ạ i , đàn hổi thườ ng kéo dài vàigi ờ, sau đó cơ sẽ co l ại. khi cơ trở nên c ứng đờ và toàn b ộ cơ thể cá khó u ố n cong là lúccá đang ở tr ạ ng thái c ứng cơ. Trạng thái này thườ ng kéo dái trong m ộ t ngày ho ặc hơn,sau đó sẽ k ế t thúc. Khi h ế t c ứng, cơ sẽ du ỗ i ra và tr ở nên m ề m m ại nhưng không còn đàn h ồi như trướ c khi c ứng cơ. Tốc độ c ủ a quá trình chuy ể n sang c ứng cơ và quá trình mề mhóa sau c ứng cơ thườ ng khác nhau tùy loài cá và ch ị u ảnh hưở ng c ủ a các y ế u t ố như nhiệ t độ , quá trình x ử lý cá, kích c ỡ và điề u ki ện cơ thể c ủ a cá. Nói chung, ngườ i ta th ừ a nh ậ n r ằ ng ở nhi ệt độ cao thì th ời điể m c ứng cơ đế n s ớ m và th ờ igian c ứng cơ ngắ n. Tuy nhiên qua nghiên c ứu, đặ c bi ệ t ở cá nhi ệt đớ i, nh ậ n th ấ y nhi ệt độ có ảnh hưởng ngượ c l ại đố i v ớ i s ự b ắt đầ u quá trình c ứng c

Trang 1

1. Những biến đổi ở cá tươi nguyên liệu

Trong quá trình bảo quản, những biến đổi cảm quan đầu tiên của cá liên quan đến biểu hiện bên ngoài và kết cấu Vị đặc trưng của các loài cá thường thể hiện rõ trong vài ngày đầu của quá trình bảo quản bằng nước đá

Biến đổi nghiêm trọng nhất là sự bắt đầu mạnh mẽ của quá trình cứng cơ Ngay sau khi chết, cơ thịt cá duỗi hoàn toàn và kết cấu mềm mại, đàn hổi thường kéo dài vài giờ, sau đó cơ sẽ co lại khi cơ trở nên cứng đờ và toàn bộ cơ thể cá khó uốn cong là lúc

cá đang ở trạng thái cứng cơ Trạng thái này thường kéo dái trong một ngày hoặc hơn, sau đó sẽ kết thúc Khi hết cứng, cơ sẽ duỗi ra và trở nên mềm mại nhưng không còn đàn hồi như trước khi cứng cơ Tốc độ của quá trình chuyển sang cứng cơ và quá trình mềm hóa sau cứng cơ thường khác nhau tùy loài cá và chịu ảnh hưởng của các yếu tố như nhiệt độ, quá trình xử lý cá, kích cỡ và điều kiện cơ thể của cá

Nói chung, người ta thừa nhận rằng ở nhiệt độ cao thì thời điểm cứng cơ đến sớm và thời gian cứng cơ ngắn Tuy nhiên qua nghiên cứu, đặc biệt ở cá nhiệt đới, nhận thấy nhiệt độ

có ảnh hưởng ngược lại đối với sự bắt đầu quá trình cứng cơ Bằng chứng là với các loài

cá này, sự cứng cơ tăng nhanh hơn ở 00C so với 100C ở các loài cá khác, điều này liên qua đến sự kích thích những biến đổi sinh hóa ở 00C (Poulter và công sự, 1982; Iwamoto và cộng sự, 1987) Tuy nhiên, Abe và Okuma (1991) qua nghiên cứu sự xuất hiện quá trình tê cứng cơ ở cá chép đã cho rằng hiện tượng này phụ thuộc vào sự khác biệt giữa nhiệt độ môi trường nơi cá sống và nhiệt độ bảo quản Nếu khác biệt lớn, khoảng thời gian từ khi cá chết đến khi xảy ra hiện tượng cứng cơ sẽ ngắn và ngược lại Hiện tượng cứng cơ xảy ra ngay lập tức hoặc chỉ sau thời gian rất ngắn từ khi cá bị chết

vì đói và nguồn glucogen dự trữ bị cạn kiệt hoặc cá bị sốc Phương pháp đập và làm chết

cá cũng ảnh hưởng đến thời điểm bắt đầu hiện tượng cứng cơ Làm chết cá bằng cách giảm nhiệt (cá bị giết chết trong nước đá) làm cho sự cứng cơ xuất hiện nhanh nhất, còn khi đập vào đầu cá thì thời điểm bắt đầu cứng cơ sẽ đến chậm, có thể đến 18 giờ ( Azam

và cộng sự, 1990; Proctor và cộng sự, 1992)

Trang 2

Ý nghĩa về mặt công nghệ của hiện tượng cứng cơ rất quan trọng khi cá được phi

lê vào thời điểm trước hoặc trong khi cơ cứng Nếu phi lê vào lúc cứng cơ, do cơ thể cá hoàn toàn cứng đờ nên năng suất phi lê sẽ rất thấp và việc thao tác mạnh có thể gây rạn nứt các miếng phi lê Nếu phi lê cá trước khi cứng cơ thì cơ có thể co lại một cách tự do

và miếng phi lê sẽ ngắn lại theo quá trình cứng cơ Cơ màu sẫm có thể co đến 52% và cơ màu trắng co đến 15% chiều dài ban đầu ( Buttkus, 1963) Nếu luộc cá trước khi cứng cơ thì kết cấu cơ thịt sẽ rất mềm và nhão Ngược lại, luộc cá khi cứng cơ thì cơ thịt dai nhưng không khô, còn nếu luộc cá sau khi cứng cơ thì cơ thịt cá trở nên săn chắc, mọng

và đàn hồi

Việc đánh giá cảm quan cá nguyên liệu ở chợ và các bến cá thông qua biểu hiện bên ngoài, kết cấu và mùi Các thuộc tính về mặt cảm quan đối với cá được thể hiện ở bảng 5.2 Phần lớn hệ thống thang điểm căn cứ vào những biến đổi xảy ra trong quá trình bảo quản cá ở điều kiện nhiệt độ nước đá đang tan Cần nhờ rằng những biến đổi đặc trưng rất khác nhau tùy theo phương pháp bảo quản Khi bảo quản cá trong điều kiện lạnh không có nước đá, các biểu hiện bên ngoài không thay đổi nhiều so với khi bảo quản bằng nước đá, nhưng cá sẽ nhanh ươn hỏng hơn và cần thiết phải đánh giá mùi của cá sau khi luộc chín Do đó, điều cơ bản cần biết khi bốc dỡ cá lên bờ là quá trình diễn biến thời gian và nhiệt độ của cá

Nếu cần các tiêu chí chất lượng của cá ướp lạnh trong quá trình bảo quản, có thể tiến hành đánh giá cảm quan đối với cá đã luộc chín Một số thuộc tính của cá và thủy sản có vỏ sau khi luộc được nêu ở bảng 5.2 Có thể phát hiện và chia các kiểu ươn hỏng đặc trưng của cá bảo quản bằng nước đá theo 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Cá rất tươi và có vị ngon, ngọt, như rong biển Vị tanh rất nhẹ của kim loại

Giai đoạn 2: Mất mùi và vị đặc trưng pH của thịt cá trở nên trung tính nhưng không có mùi lạ Kết cấu cơ thịt vẫn còn tốt

Trang 3

Giai đoạn 3: Có dấu hiệu ươn hỏng và tùy theo loại cá cũng như kiểu ươn hỏng (hiếu khí, yếm khí) mà sẽ tạo ra một loạt các chất dễ bay hơi và mùi khó chịu Một trong những hợp chất bay hơi có thể là trimethylamin (TMA) do vi khuẩn sinh ra từ quá trình khử trimethylaminoxid (TMAO) TMA có mùi “cá tanh” rất đặc trưng Ngay khi bắt đầu giai đoạn này, mùi lạ có thể là mùi hơi chua, mùi như trái cây và mùi hơi đắng, đặc biệt là

ở các loại cá béo Trong những thời kỳ tiếp theo của giai đoạn này, các mùi tanh ngọt, mùi như bắp cải, mùi khai, mùi lưu huỳnh và mùi ôi khóe tăng lên Kết cấu hoặc trở nên mềm và sũng nước hoặc trở nên dai và khô

Giai đoạn 4: Đặc trưng của cá có thể là sự ươn hỏng và phân hủy (thối rữa)

Các bộ phận

của cá được

kiểm tra

Các tiêu chí Điểm

Biểu hiện bên ngoài

óng ánh, không biến màu

Dịch nhớt trong suốt như có nước

Hệ sắc tố sáng nhưng không bóng láng

Dịch nhớt hơi đục

Hệ sắc tố đang trong quá trình biến màu

Dịch nhớt trắng đục

(1) Hệ sắc tố mờ đục

Dịch nhớt mờ đục

Giác mạc trong suốt

Đồng tử đen, sáng

Lời và hơi trũng

Giác mạc hơi đục

Đồng tử đen, mờ

Phẳng

Giác mạc đục

Đồng tử mờ đục

(1) Lõm ở giữa Giác mạc đục như sữa

Đồng tử xám xịt

Không có dịch nhớt

Giảm màu

Hơi có vết của dịch nhớt

Đạng trở nên biến màu

Dịch nhớt mờ đục

(1) Hơi vàng

Dịch nhớt đục như sữa

Thịt (cắt từ

phần bụng) Hơi xanh, trongmờ, nhẵn và sáng

Không thay đổi màu sắc nguyên thủy

Mượt như nhung,

có sáp, mờ đục

Màu hơi biến đổi

Màu (dọc

sống)

Các cơ quan Thận và phần còn

lại của các cơ quan khác phải có màu đỏ sáng như

Thận và phần còn lại của các cơ quan khác phải có màu

đỏ đục, máu bị

Thận và phần còn lại của các cơ quan khác và máu phải có màu đỏ

(1) Thận và phần còn lại của các cơ quan khác và máu phải có màu nâu

Trang 4

máu ở trong động

Điều kiện

Bề mặt nhẵn

xìu), kém đàn hồi

Như có sáp ( mượt như nhung) và bề mặt

mờ đục

xìu) Vẩy dễ tách khỏi da, bề mặt rất nhăn nheo, có

giống bột

Cột sống Gẫy, thay vì rời

ra

Màng bụng Dính hoàn toàn

vào thịt

Mùi

Mang, da,

khoang bụng

rong biển hoặc bất

kỳ mùi khó chịu nào

(1) Hoặc ở trạng thái tồi tệ hơn

Trang 5

2. Các dạng hư hỏng của nguyên liệu

2.1. Hư hỏng do tự phân giải

Tự phân giải có nghĩa là “tự tiêu” Đã từ lâu người ta biết rằng có ít nhất 2 kiểu gây ươn hỏng cá: do vi khuẩn và do enzyme Uchyama và Ehira (1974) cho rằng đối với

cá tuyết và cá ngừ đuôi vàng, những biến đổi do enzyme gây ra điều liên quan đến độ tươi của cá trước đó và không liên quan gì đến sự biến đổi chất lượng do vi sinh vật Đối với một số loài (như mực ống, cá trích) những biến đổi do enzyme xảy ra trước, và do đó

nó là tác nhân chủ yếu gây ươn hỏng của cá ướp lạnh Ở những loài cá khác, sự tự phân giải cũng góp phần làm giảm chất lượng cá cùng với quá trình do vi sinh vật gây nên

Sự phân giải glycogen

Đối với hầu hết các loại cá xương, sự phân giải glycogen là con đường duy nhất có thể sản sinh năng lượng khi tim ngừng đập Đây là một quá trình kém hiêu quả hơn và về mặt nguyên lý , sản phẩm cuối cùng là acid lactic và acid pyruvic Ngoài ra, ATP cũng được sinh ra trong quá trính phân giải glycogen nhưng chỉ thu được 2 mol ATP khi 1 mol glucose bị oxy hóa, trong khi đó nếu những sản phẩm cuối cùng của quá trình phân giải glycogen bị oxy hóa trong điệu kiện hiếu khí ở ty thể của động vật còn sống thì cứ 1 mol glucose sẽ sản sinh đến 36 mol ATP Vì vậy, sau khi chết cơ bị thiếu oxy không thể duy trì lượng ATP ở mức bình thường, và khi ATP nội bào giảm từ 7-10mol/g mô cơ, cơ sẽ bị cứng Sự phân giải glycogen ở cá sau khi chết dẫn đến sự tích lũy acid lactic làm giảm

pH của cơ Đối với cá tuyết, pH cơ giảm từ 6,8 xuống tới mức cuối cùng là 6,1-6,5 Với một số loài cá khác, pH cuối cùng có thể thấp hơn: ở cá thu cỡ lớn, pH có thể giảm xuống đến 5,8-6,0; ở cá ngừ và cá bơn lưỡi ngựa, pH giảm xuống đến 5,4-5,6; tuy nhiên ít khi thấy pH thấp như vậy trong các loài cá xương ở biển pH của cơ thịt cá hiêm khi thấp bằng pH của cơ thịt động vật có vú sau khi chết lượng acid lactic sản sinh có liên quan đến lượng carbohydrat dự trữ (glycogen) trong mô cơ khi động vật còn sống Nói chung,

do cơ thịt cá có hàm lượng glycogen tương đối thấp so với động vật có vú nên sau khi cá chết, lượng acid lactic sinh ra ít hơn Trạng thái dinh dưỡng của cá, hiện tượng sốc và mức độ hoạt động trước khi chết cũng ảnh hưởng lớn dến hàm lượng glycogen dự trữ và

Trang 6

do đó ảnh hưởng đến pH cuối cùng của cá sau khi chết Theo quy luật, cá ăn nhiều và nghỉ ngơi nhiều sẽ có hàm lượng glycogen nhiều hơn cá đã bị kiệt sức

Sự phân hủy ATP

Hiện tượng cứng cơ bắt đầu khi lượng ATP ở cơ thịt giảm đến không quá 1mol/g ATP không chỉ giàu năng lượng và cần thiết cho sự co cơ ở động vật khi còn sống mà còn hoạt động như một chất làm dẻo cơ Thực chất sự co rút cơ do canxi và enzyme ATP-aza có trong mọi tế bào cơ điều khiển Khi nồng độ ion Ca++ nội bào > 1M thì ion

Ca++ hoạt hóa enzyme ATP-aza làm giảm lượng ATP ở cơ, dẫn đến sự tương tác giữa các protein chính gây co cơ là actin và myosin Điều này cuối cùng dẫn đến sự rút ngắn cơ làm cơ cứng và không giãn ra được

Quá trình mềm hóa sau khi cứng cơ vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn nhưng mô

cơ sau khi cứng luôn luôn duỗi ra và người ta nghĩ rằng có liên quan đến hoạt động của một hoặc nhiều enzyme có tự nhiên trong hệ cơ mà các enzyme này phân giải một số thành phần nào đó của phức hợp đã gây ra cứng cơ Cơ thịt cá mềm đi khi thoát khỏi trạng thái cứng cơ (và cuối cùng là quá trình ươn hỏng) cùng lúc với những biến đổi do

tự phân giải Một trong những biến đổi được nhận thấy đầu tiên là sự phân giải các hợp chất liên quan đến ATP theo cách thức mà ít nhiều có thể tiên đoán được sẽ xảy ra sau khi cá chết Hình 5.4 minh họa sự phân giải ATP thành adenosin diphotphat (ADP), adenosin monophotphat (AMP), inosin monophotphat (IMP), Inosin (Ino) và hypoxanthin (Hx)

Sự phân giải protein

Nhiều loại proteaza được tách từ cơ thịt cá và dưới tác dụng phân giải của chúng,

mô cơ thường bị mềm nhũn Có lẽ một trong những ví dụ đáng chú ý nhất của quá trình

tự phân giải protein là hiện tượng vỡ bụng của các loài cá nổi (cá béo) như cá trích, cá ốt vảy lông Sự tự phân giải protein sinh ra các peptid phân tử lượng thấp và các acid amin

tự do không chỉ làm giảm giá trị thương phẩm của cá nổi, mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn gây ươn hỏng phát triển như trong trường hợp đổ dồn cá ốt vảy lông

Trang 7

thành đống khi bảo quản (Aksnes và Brekken, 1988) Tương tự, khi dùng cá trích được chất thành đống lúc bảo quản để sản xuất bột cá, người ta đã tìm thấy các enzyme carboxypeptidaza A và B, chymotrypsin và trypsin

Các enzyme cathepsin

Cathepsin là các proteaza “acid” thường thấy bên trong các bào quan cực nhỏ ở múc siêu hiển vi, được gọi là các thể men (lysozome) Người ta cho rằng, trong mô cơ động vật còn sống, proteaza của các thể men chịu trách nhiệm phân giải protein tại những chỗ bị thương Do đó phần lớn cathepsin ở dạng không hoạt động trong mô cơ của động vật còn sống, nhựng chúng sẽ được giải phóng ra dịch bào khi có tác động vật lý hoặc khi đông lạnh và rã đông cơ thịt động vật sau khi chết

Người ta tin rằng cathepsin D và L có vai trò quan trọng hơn cả trong quá trình tự phân giải mô cơ của cá vì hầu hết các cathepsin khác có khoảng pH hoạt động tương đối hẹp nên ảnh hưởng không đáng kể về mặt sinh lý Người ta cho rằng cathepsin L liên quan đến sự mềm hóa cơ thịt cá hồi trong thời gian chúng di cư đẻ trứng Dường như enzyme này tham gia vào quá trình tự phân giải của cơ thịt cá nhiều hơn cathepsin D, vì ở điều kiện pH trung tính, loại enzyme này hoạt động hơn và phân giải được cả protein sợi

cơ (actomysin) lẫn mô cơ liên kết

Ngoài tác động bất lợi đến cấu trúc, các enzyme cathepsin tạo ra những biến đổi

do sự phân giải có lợi cho các sản phẩm cá lên men Ví dụ, các cathepsin đóng vai trò chính đối với sự biền đổi cấu trúc trong quá trỉnh lên men các sản phẩm mực ống Nhật Bản và cá chép Crucian ướp muối (Makinodan và cộng sự, 1991, 1993)

Các enzyme calpain

Gần đây, người ta đã tìm thấy mối liên quan giữa quá trình tự phân giải cơ thịt cá với nhóm enzyme proteaza nội bào thứ hai – được gọi là “ calpain” hay “ yếu tố được hoạt hóa bởi canxi” (CAF) - có trong thịt của cá và giáp xác Các enzyme calpain trước hết có nhiệm vụ thực hiện quá trình tự phân giải cơ thịt bằng cách tiêu hóa các protein ở

Trang 8

đường z của sợi cơ Các enzyme calpain là những endopeptidaza nội bào luôn cần có cysteine và calci; -calpain cần có 5-50M Ca2+, m-calpain cần có 150 - 1000M Ca2+ Phần lớn các calpain đều hoạt động ở điều kiện môi trường pH sinh lý, nên ít có vai trò quan trọng trong sự mềm hóa cá khi bảo quản lạnh

Trong nhiều nghiên cứu cho thấy, các calpain ở cá phân giải myosin (đặc biệt là myosin chuỗi nặng) để tạo thành phân đoạn đầu tiên có khối lượng phân tử khoảng 150.000 Da ( Maramoto và cộng sự, 1989) Những tác giả này cho thấy ở nhiệt độ thấp các calpain của cá hoạt động mạnh hơn so với các calpain của động vật có vú với tốc độ phân cắt rất đặc trưng cho từng loài và có tốc độ phân cắt mạnh nhất đối với những myosin có độ bền nhiệt thấp nhất Chính vì thế, những loài cá thích nghi với môi trường lạnh hơn lại nhảy cảm với hoạt động tự phân giải của các calpain hơn các loài cá ở những vùng nước ấm

Các enzyme collagenase

Tất cả các biến đổi của quá trình tự phân giải sau khi chết đã mô tả ở trên đều liên quan đến các biến đổi của bản thân tế bào cơ Tuy nhiên cơ thịt của các loài cá xương được chia thành từng khối các tế bào cơ và được xếp thành từng “lớp” hay các khối cơ tách biệt nhau bằng các mô liên kết được gọi là các vách cơ Mỗi tế bào cơ và sợi cơ được mô liên kết bao bọc, mô này gắn với vách cơ ở hai đầu của các tế bào nhờ các sợi collagen mịn Trong quá trình bảo quản lạnh, các sợi này sẽ bị phá hủy (Bremner và Hallett, 1985) Gần đây, khi dùng dụng cụ đo đã nhận thấy rằng kết cấu của cơ thịt cá hồi ướp lạnh bị giảm sút khi collagen loại V bị hòa tan, có lẽ do tác dụng của các enzyme collagenaza tự phân giải (Sato và cộng sự, 1991) Những enzyme này có thể gây ra các “ vết nứt” hoặc bẽ gãy các khối cơ khi bảo quản cá bằng đá trong một thời gian dài hoặc khi bảo quản chỉ trong thời gian ngắn nhưng ở nhiệt độ cao

Sự phân cắt TMAO

Trang 9

Hiện tượng giảm lượng trimethylamin oxid (TMAO), một thành phần điều hòa áp suất thẩm thấu trong nhiều loài cá xương ở biển, thường do tác động của vi khuẩn nhưng

ở một số loài, trong mô cơ có một loại enzyme có khả năng cắt TMAO thành dimethylamin (DMA) và formandehyt (FA):

(CH3)3NO (CH3)2NH + HCHO Formaldehyt làm phát sinh các liên kết ngang tron các protein của cơ, làm cơ bị cứng và mất khả năng giữ nước Enzyme xúc tác quá trình hình thành formaldehyt được gọi là TMAO-aza hoặc TMAO demethylaza, thường tìm thấy trong các loài thuộc họ cá Tuyết Người ta thấy rằng sự cứng lại cảu cơ cá tuyết mecluc đông lạnh có quan hệ tương

hỗ với việc xuất hiện một lượng formaldehyt, và tốc độ sản sinh FA cao nhất ở nhiệt độ đông lạnh sâu (Gill và cộng sự, 1979) Ngoài ra, lượng FA làm dai cứng cơ thịt sẽ tăng lên nếu cá chịu các tác động vật lý quá mức trong khâu đánh bắt trước khi cấp đông và khi nhiệt độ dao động trong quá trình bảo quản đông lạnh Những biện pháp thực tế nhất nhằm ngăn cản sự hình thành FA do quá trình tự phân giải là bảo quản cá ở nhiệt độ

<-300C để hạn chế tối đa sự dao động của nhiệt độ bảo quản và trách bốc dỡ vận chuyển quá mạnh tay, trành sự chèn ép vật lý lên cá trước khi đông lạnh chúng

Bảng 5.3 Tóm tắt các biến đổi trong quá trình tự phân giải của cá ướp lạnh

Enzyme Cơ chất Các biến đổi xảy ra Ngăn chặn/kìm hãm

Enzyme phân

giải glycogen Glycogen

- Tạo ra acid lactic, làm giảm pH của mô, làm mất khả năng giữ nước trong cơ

- Nhiệt độ cao khi xảy ra cứng cơ có thể dẫn đến

sự nứt cơ thịt

- Trên thực tế, nếu được nên

để quá trình cứng cơ của cá diễn ra ở nhiệt độ càng gần

00C càng tốt

- Phải tránh gây căng thẳng cho cá ở giai đoạn trước khi xảy ra cứng cơ

Enzyme tự

phân giải ATPADP

AMP IMP

- Mất mùi cá tươi, dần dần xuất hiện vị đắng do

Hx (ở những giai đoạn sau)

- Tương tự như trên

- Bốc dỡ vận chuyễn mạnh tay hoặc đè nén sẽ làm tăng

sự phân hủy Cathepsin Các protein

Các peptid

Mô bị mềm gây kho khăn cho quá trình chế biến

Tránh mạnh tay khi thao tác lúc bảo quản và bốc dỡ

Trang 10

Chymotripsin,

trypsin,

cacboxypeptid

aza

Các protein Các peptid Tự phân giải khoang bụngcủa các loài cá nổi (gây

hiện tượng vỡ bụng)

Các biến đổi sẽ tăng khi đông lạnh/ rã đông hoặc bảo quản lạnh trong thời gian dài

Calpain Các protein

sợi cơ Làm mềm mô cá và giáp xác lột xác Loại bỏ calci để ngăn chặn quá trình hoạt hóa? Collagenaza Mô liên kết - “Vết nứt” trên miếng

phi lê

- Gây mềm hóa

Sự thoái hóa của mô liên kết liên quan đến thời gian và nhiệt độ bảo quản lạnh

TMAO

demethylaza TMAO Tạo ra formaldehyt làm cứng cơ của họ cá Tuyết

đông lạnh

- Bảo quản cá ở nhiệt độ -300C

- Tác động vật lý quá mức và quá trình đông lạnh/rã đông làm tăng hiện tượng cứng

cơ do formaldehyt gây ra

2.2. Hư hỏng do vi sinh vật

Hệ vi sinh vật trong cá sống

Vi sinh vật được tìm thấy trên toàn bộ mặt ngoài (da, mang cá) và cả trong ruột của cá sống và cá vừa đánh bắt Lượng vi sinh vật tổng số dao động rất lớn, trung bình từ

102 – 107 cfu/cm2 bề mặt da cá (Liston, 1980) Mang và ruột cá chứa khoảng 103 – 109 cfu/g (Shewan, 1962)

Hệ vi khuẩn của cá vừa đánh bắt phụ thuộc vào môi trường nơi đánh bắt hơn là vào loài cá (Shewan, 1977) Cá đánh bắt ở vùng nước sạch và rất lạnh, chứa ít vi sinh vật hơn so với cá đánh bắt ở vùng nước ấm Lượng vi khuẩn rất cao, ví dụ 107 cfu/cm2, thường gặp ở cá khai thác ở cá khai thác từ vùng nước ấm và đã bị ô nhiễm Trên bề mặt của cá thường tìm thấy nhiều loài vi khuẩn khác nhau Dựa vào khoảng nhiệt độ phát triển của các vi khuẩn, mọi vi khuẩn trên cá sống ở vùng ôn đới đều được phân loại là các

vi khuẩn chịu lạnh (psychrotrophs) hoặc vi khuẩn ưa lạnh (psychrophiles) Vi khuẩn chịu lạnh có khả năng phát triển ở 00C nhưng nhiệt độ phát triển tối ưu nằm trong khoảng xung quanh 250C Vi khuẩn ưa lạnh phát triển mạnh nhất ở khoảng nhiệt độ xung quanh

200C và nhiệt độ phát triển tối ưu là 150C (Morita, 1975) Trong nước ấm, có thể phân lập

Ngày đăng: 06/09/2014, 15:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.4. Hệ vi sinh vật ở cá đánh bắt từ vùng nước sạch và không bị ô nhiễm - Các dạng hư hỏng của nguyên liệu
Bảng 5.4. Hệ vi sinh vật ở cá đánh bắt từ vùng nước sạch và không bị ô nhiễm (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w