1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản

77 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 914 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu phải thẳng, huyệt Bách hội luôn luôn phải hướng lên; khi cử động, muốn hướng về phương nào thì thần nhãn phải được hướng đi trước, ánh mắt phải được đánh đi trước cùng với sự vận độn

Trang 1

MỤC LỤC

Lời giới thiệu

PHẦN THỨ NHẤT I TÍNH ƯU VIỆT VỀ HOẠT ĐỘNG TĂNG CƯỜNG SỨC KHỎE CỦA THÁI CỰC QUYỀN

1 Rèn luyện hệ thần kinh

2 Hỗ trợ hoạt động của hệ thống tuần hoàn, khí quản, huyết quản và các hệ mạch

3 Tăng cường sự dẻo dai của cơ bắp, rèn luyện các khớp xương toàn cơ thể

4 Hít thở từ từ, “Khí tồn đan điền”

II NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI TẬP THÁI CỰC QUYỀN PHẦN THỨ HAI I NHỮNG YẾU LĨNH CƠ BẢN TRONG LUYỆN THÁI CỰC QUYỀN

II PHƯƠNG PHÁP LUYỆN VẬN ĐỘNG THỞ BỤNG SÂU III NHỮNG YÊU CẦU CỦA THÁI CỰC QUYỀN ĐỐI VỚI TƯ THẾ CỦA CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ

1 Bộ phận đầu

a- Đầu

b- Đỉnh

c- Gáy

2 Chi trên

a- Vai

b- Khuỷu tay

c- Cổ tay

d- Tay

e- Nắm tay

f- Câu

3 Phần trên của thân người

a- Ngực

b- Xương sống

c- Bụng

d- Eo

e- Mông

4 Chi dưới

a- Háng

b- Vùng chậu – đùi

c- Đầu gối

d- Chân

5 Khớp

IV MẤY PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP THEN CHỐT

1 Thân pháp (phương pháp luyện tập thân)

2 Bộ pháp (phương pháp luyện bước chân)

Trang 2

3 Thủ pháp và nhãn pháp (Phương pháp luyện tay và mắt)

4 Lực háng

5 Động tác hình cung kiểu xoáy ốc với sự vận động của khí lực bên trong

6 Năm quy luật đối xứng hài hòa

- Muốn lên trên, trước tiên phải ở dưới

- Muốn sang trái, trước tiên cần qua phải

- Trong khi đẩy lên là có kéo lại

- Trên - dưới, phải - trái cuốn hút lẫn nhau và liên hệ với nhau - Giằng kéo trái ngược, “Khúc trung cầu trực” (trong cái cong tìm cái thẳng)

7 Sự kết hợp tự nhiên giữa khai hợp – hư thực với hít thở

a- Khai – hợp, hư – thực

1) Khai và hợp là từ trong điều khiển ngoài, từ ngoài đưa vào trong

2) “Khai trung hữu hợp, hợp trung hữu khai”

3) “Hư trung hữu thực, thực trung hữu hư”

4) Khai – hợp, hư – thực thay đổi từ từ

b- Sự khai – hợp, hư – thực và hô hấp

1) Sự kết hợp tự nhiên giữa khai – hợp, hư – thực và hô hấp

2) Hợp - hư, tích là lấy hơi vào; khai, thực, phát là thở ra

3) Khi đi và vung tay thì khai, thở ra và hợp, lấy hơi vào là một 4) Toàn bộ bài thái cực quyền với các thế, về phân loại thứ tự thì hô hấp và động tác là một

V CÁC VÍ DỤ VỀ HÔ HẤP TRONG THẾ QUYỀN

PHẦN THỨ BA PHỤ LỤC I Thiết thực dạy tốt, học tốt môn “Thái cực quyền giản hóa"

II Những bộ hình cơ bản trong “Thái cực quyền giản hóa”

III Bộ pháp liên hoàn của Thái cực quyền giản hóa

Trang 3

Lời giới thiệu

Thái cực quyền là một trong những môn phái võ thuật cổ truyền

phong phú và nổi tiểng của Trung Quốc Ngày nay Thái cực quyền ở

Trung Quốc được phổ biến rộng rãi vì nó có tác dụng thiết thực nhằm

luyện tập củng cố và tăng cường sức khỏe cho mọi người Ở Việt

Nam cũng có nhiều người hâm mộ và tập luyện môn này, nhất là ở

các câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời

Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta trước đây đã được võ sư

Cố Lưu Hinh, người am hiểu sâu sắc về Thái cực quyền, được Trung

ương Đảng Cộng sản Trung Quốc giới thiệu sang Việt Nam trực tiếp

hướng dẫn người tập luyện trong những năm 1955 – 1957 tại Hà Nội

Tôi cũng may mắn được cùng một số đồng chí khác tham gia các

buổi tập đó

Bình sinh Bác Hồ rất quan tâm tự tập luyện theo nhiều phương

pháp sinh động do Người sáng tạo Thật bình dị mà vĩ đại, từ Nhà

Rồng ra đi tìm đường cứu nước, qua lao động và tham gia vận động

cách mạng ở nhiều nước, những lúc bình an cũng như gian khổ nhất,

trong sinh hoạt hàng ngày, Bác Hồ không bao giờ sao nhãng tập luyện

giữ gìn sức khỏe Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 về Hà Nội dù

bận rộn công việc đến đâu, từ mờ sáng kể cả lúc mưa phùn gió bấc,

Người vẫn ra sân tập thể dục đều đặn Cuối tháng 3 năm 1946, Bác

Hồ đã ra lời kêu gọi “Toàn dân tập thể dục” đến nay vẫn còn nguyên giá trị chỉ đạo, cổ vũ động viên vang vọng mãi cho các thế hệ của chúng ta Khi kháng chiến chống Pháp, dù ở chiến khu trong rừng sâu, Người vẫn cùng mọi người tập thể dục, chơi bóng chuyền hoặc bơi ở con sông gần cơ quan; nhiều lần sau phiên họp của Chính phủ Kháng chiến, Người vui vẻ thoái mái huy động các vị bộ trưởng, thứ trưởng ra sân cùng chơi bóng chuyền hoặc tập quyền Năm 1955 hòa bình lập lại, được võ sư Cố Lưu Hinh hướng dẫn tập luyện, Người rất trọng nhân tài và quan tâm đến mọi người xung quanh nên

chỉ thị cho chúng tôi tổ chức thành lớp học có gần 20 anh, chị em cùng tham gia học Thái cực quyền Chính tại cái sân rộng rãi chếch phía sau bên phải ngôi nhà một tầng nơi Người đã từng ở và làm việc gần 10 năm sau giải phóng Thủ đô, sáng sáng Người dậy rất sớm để cùng lớp học nghiêm túc theo từng động tác của lão võ sư Người còn cùng lớp học, không bỏ buổi nào nghe võ sư Cố Lưu Hinh giảng giải

về lý thuyết võ học, võ đạo Người thường ân cần hỏi han trân trọng

và nhiều lần giữ lão võ sư ở lại cùng ăn sáng và trao đổi ý kiến rất cởi

mở, thân mật Qua tập uyện của Bác Hồ những năm 1955 – 1957 so sánh với trước đó, chúng tôi thấy Thái cực quyền là bài tập mà Người

ưa thích nhất, có lẽ vì nó hấp dẫn, mang lại kết quả tích cực, rất thích hợp với mọi người, đăc biệt với người lớn tuổi

Năm 1975, võ sư Cố Lưu Hinh gửi tặng tôi về cuốn sách Thái cực quyền, do chính ông biên soạn, để kỷ niệm những ngày ở Việt Nam

Trang 4

không bao giờ quên mà chúng tôi có dịp quan biết nhau nay có lẽ lão

võ sư cũng đã gần 90 tuổi Đây là cuốn sách rất quý của kho tàng võ

thuật, đặc biệt là Thái cực quyền của Trung Quốc Phần lý thuyết

được trình bày một cách khoa học có tính tổng kết sâu sắc, phần thực

hành có các hình ảnh minh họa đầy đủ, tỷ mỉ các động tác của bài

tập Nay do yêu cầu của phong trào “Thể thao cho mọi người” đang

phát triển, tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách quý n ày với bạn đọc

xa gần tham khảo, tìm hiểu tập luyện theo Thái cực quyền Nếu các

bạn muốn có sức khỏe dồi dào, tinh thần sảng khoái xin hãy thường

xuyên tập theo đúng lời khuyên và hướng dẫn của tác giả

bộ pháp), “thuật thổ nạp” (vận động hít khí sâu thả cũ thu mới),

“thuật đạo dẫn” (vận động cơ thể và khí công)

Sự kếp hợp chặt chẽ của ba thứ: ý chí, hít thở, động tác (theo thuậtngữ gọi là: luyện ý, luyện khí, luyện thân) tạo ra môn thể dục võ thuật mới để chữa bệnh, tăng cường thể chất và bảo vệ sức khỏe là kếp hợp chặc chẽ giữa nội ngoại toàn thân đã cấu thành tính thống nhất trong ngoài và tính tổng thể của phương pháp rèn luyện Thái cực quyền, nó

và quan niệm tổng thể của trị liệu trong Y học Trung Quốc là một Kết hợp đạo dẫn và thổ nạp, trong khi tập Thái cực quyền không chỉ tiến hành các hoạt động của cơ bắp và khớp xương mà còn kết hợp giữa động tác và hít thờ, từ đó tăng cường rèn luyện của nội tạng Những ưu việt của hoạt động rèn luyện Thái cực quyền hiện nay:

Trang 5

kinh sẽ chỉ huy động tác phối hợp của các cơ quan chức năng toàn

thân và luyện tính linh hoạt của hệ thống thần kinh Do đó, khi luyện

Thái cực quyền tuy tốc độ chậm nhưng lại rất nhạy cảm và thích ứng

đối với sự biến đổi của thế giới bên ngoài

2 Hỗ trợ hoạt động của hệ thống tuần hoàn, khí quản, huyết

quản và các hệ mạch:

Lý luận Trung Quốc cho rằng cơ thể con người có mối quan hệ

thống nhất giữa sức khỏe và sự lưu thông của các hệ thần kinh và khí

huyết trong mỗi con người Sau một thời gian luyện Thái cực quyền,

sẽ có cảm giác bụng kêu, đó chính là phản ứng của sự lưu thông các

hệ thống khí huyết và thần kinh Trong quá trình luyện tập, các mạch

máu của động mạch sẽ hoạt động điều độ, thúc đẩy quá trình tuần

hoàn máu, đẩy nhanh quá trình cung cấp khí và cũng tăng cường quá

trình trao đổi của khí quản

3 Tăng cường sự dẻo dai của cơ bắp, rèn luyện các khớp

xương toàn cơ thể:

Vận động không thể tách rời các hoạt động có liên quan giữa cơ

bắp, các khớp xương và các cơ quan liên quan Động tác vòng tròn

xoáy trôn ốc của Thái cực quyền có thể khiến toàn bộ các cơ bắp và

các đường gân trong cơ thể phải tham gia hoạt động, khiến các khả

năng của chúng th êm phong phú uyển chuyển mà có tính độc lập

Các cơ quan chức năng của cơ thể có thể hướng tới tới mọi hướng,

hoạt động của nó mềm mại mà lại có ảnh hưởng lớn Hệ thống xương

cốt và các cơ quan khác hoạt động chịu sự chi phối của cơ bắp, song có tác dụng tự mình điều tiết, nó hỗ trợ cho sự mạnh mẽ của hệ thống xương cốt, đảm bảo tính linh hoạt của các cơ quan khác trong

cơ thể

4 Hít thở từ từ, “Khí tồn đan điền”:

Trạng thái đầu tiên của Thái cực quyền phải duy trì là “Bụng đầy ngực rỗng”, trạng thái căng thẳng của phần ngực được chuyển sang phần bụng, làm cho phổ thoải mái, phần bụng tĩnh nhưng lại đầy, và phải duy trì trọng tâm Khi luyện Thái cực quyền, hít từ từ đưa khí đến khắp cơ thể: hít sâu, hít dài, hít đều và chậm tăng dần số lượng hít vào cơ thể

Với những ưu điểm trên, việc luyện tập Thái cực quyềnrất thích hợp với những người lao động trí óc, người bệnh và người có cơ thể yếu, người trung niên và phụ nữ Người tập phải căn cứ vào tình trạng thể chất, tiến hành tập một cách có trình tự Tùy điều kiện thời gian và thể lực cho phép, mỗi buổi sáng hàng ngày luyện tập một lần, mỗi lần thời gian khoảng trên dưới 20 phút

Nhiều người qua một thời gian rèn luyện đã chứng mình Thái cực quyền có tác dựng chữa bệnh đối với một số bệnh mãn tính nhất định như: suy nhược thần kinh, của huyết áp, đau tim, đau phổi, đái đường, ho lao, khớp, cảm mạo, lú lẫn … Nhưng nếu bệnh tình nặng quá phải luyện tập một cách khoa học, mức độ luyện tập phải theo sự hướng dẫn của các nhân viên y tế thì kết quả sẽ tốt hơn

Trang 6

II NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI TẬP THÁI CỰC QUYỀN

Với quan điểm tăng cường hoạt động thể dục phòng bệnh, tăng

cường sức khỏe vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phong trào

luyện tập Thái cực quyền đã được đông đảo mọi người tham gia Khi

học Thái cực quyền phải chú ý: phương pháp luyện tập phải chính

xác, tư thế động tác đúng như hướng dẫn, như vậy mới nâng cao

được hiệu quả rèn luyện Nếu bắt đầy đã luyện tập không chuẩn,

động tác đã thành định hình, sau đó khắc phục rất khó khăn

Thái cực quyền là môn phái do động tác tạo thành, các yêu cầu

không nhiều, khi luyện tập cũng dễ tiếp thu, chỉ cần người luyện tập

phải bền bỉ và tận tâm Để làm mọi việc phải có sức khỏe, muốn vậy

nên quyết tâm, tin tưởng tăng cường luyện tập Thái cực quyền Như

thế sẽ có tác dụng tăng cường thể chất và đảm bảo sức khỏe

Khi luyện tập Thái cực quyền nên hít không khí trong lành, thông

qua đó sẽ kích thích hệ thần kinh, kích thích toàn bộ các cơ quan

chức năng trong cơ thể, đặc biệt là các cơ quan tiêu hóa và hệ tuần

hoàn

Người có bệnh khi tập Thái cực quyền ở ngoài trời nên tránh nắng

gắt, gió và mưa, sau khi tập các lỗ chân lông và huyết quản đang mở,

nên ngồi mát một lúc để tránh sinh bệnh về sau

Buổi tối sau khi tập luyện, nên nghỉ, đi dạo Như vậy sẽ ngủ ngon

Khi đói và khi vừa ăn cơm xong đều không nên tập, sau khi ăn

Quần áo mặc khi tập Thái cực quyền phải gọn gàng, thoải mái, thắt lưng quần chặt vừa phải

Sau khi tập xong nếu cảm thấy khô họng, chỉ nên uống nước đun sôi vừa đủ, không được uống nhiều

Khi học Thái cực quyền đầu tiên phải chú ý “Tĩnh tâm”, “Dụng ý”,

“Thể trạng”, “Thân thẳng” Sau khi động tác đã thành thục phải chú ý: “Nhu hòa”, “Viên hoạt”, “Liên quán”, “Hiệp điều”

Trang 7

PHẦN THỨ HAI

I NHỮNG YẾU LĨNH CƠ BẢN TRONG LUYỆN THÁI CỰC QUYỀN

Những yêu cầu đối với toàn bộ các động tác trong Thái cực quyền

còn được gọi là những yếu lĩnh trong luyện Thái cực quyền Tùy mỗi

dạng Thái cực quyền đều có những đặc trưng riêng, song yếu lĩnh

luyện tập về cơ bản là thống nhất (cái chung nằm trong cái riêng)

Ở đây chỉ giới thiệu một cách khái quát nội dung của nó để giúp

người mới học lần đầu có được một khái niệm riêng

Khi luyện Thái cực quyền, từ đầu chí cuối buổi tập, người tập

luyện phải giữ thăng bằng tâm khí, thư giãn thoải mái Trước tiên

phải “thả lỏng” trong khu thần kinh đại não, thả lỏng cơ bắp toàn

thân, thả lỏng các khớp xương và các cơ quan nội tạng Thân người

phải thằng một cách tự nhiên, đỉnh đầu và hận môn luôn luôn thẳng

đứng, trên dưới thống nhất Tránh hiện tượng ngực ưỡn, bụng phưỡn,

đầu cúi, lưng khom, mông cong, hít th ở phải tự nhiên – dần dần áp

dụng phương pháp thở bụng, phải luôn luôn giữ được tư thế bụng rắn

ngực nở Khi vận động cũng phải giữ được trạng thái thân thẳng, các

cơ thả lỏng, bụng rắn ngực nở, khiến cho thân dưới có thể trụ vững,

thân trên linh hoạt

Luôn luôn phải tập trung tinh thần, điều khiến các động tác bằng ý

thức, động tác phải nhẹ nhàng, mềm mại uyển chuyển, không vận lực

một cách thô bạo, cứng nhắc, động tác phải vùng tròn theo hình cung

hoặc hình tròn, dần dần khiến cho tất cẩ các cơ bắp và các khớp xương đều được vận động, động tác hài hòa khiến các cơ bắp được rèn luyện dần từ lớp ngoài vào tới lớp trong, động tác phải liên hoàn, liên tục; mọi tư thế và động tác đều phải được thực hiện một cách đầy

đủ, hoàn hảo, không được cái nặng cái nhẹ, không được khiếm khuyết và đứt đoạn

Phải lấy vận động quanh trục của eo lưng làm chính, phần eo phải thẳng và được thả lỏng, không lắc lư, xương chậu – đùi phải vững để

có thể ổn định được trọng tâm, khi vận động tứ chi chỉ cần xoay nhẹ phần eo

Đầu phải thẳng, huyệt Bách hội luôn luôn phải hướng lên; khi cử động, muốn hướng về phương nào thì thần nhãn phải được hướng đi trước, ánh mắt phải được đánh đi trước cùng với sự vận động của tay; khi dừng thế, ánh mắt nhìn ra xa theo hướng đầu ngón tay trỏ hoặc ngón giữa, thần nh ãn phải chú ý tới hai bên trên dưới, cổ phải thẳng, thả lỏng và chuyển động theo ánh mắt; miệng ngậm tự nhiên, hàm dưới hơi thu vào, đầu lưỡi hơi cuốn lên chạm nhẹ vào hàm trên, nhằm tăng cường khả năng tiết nước bọt, như vậy khi luyện tập cổ họng không cảm thấy khô, tạo thói que n thở bằng mũi, đảm bảo vệ sinh hôhấp

Vai phải thả lỏng, hai vai cân đối, không được bên cao bên thấp; khuỷu tay hải được thả lỏng, khớp khuỷu tay hơi cong tập trung ý thức vào đầu khuỷu khiến cho cánh tay khi co vào duỗi ra được nhẹ

Trang 8

nhàng, linh hoạt mà vẫn có lực, cẳng tay trụ vững theo thế (còn gọi là

“tọa uyển”), các ngón tay duỗi ra, khi bàn tay hoàn thành động tác

đánh về phía trước, gốc bàn tay cũng đánh mạnh về phía trước theo

quán tính, vận lực nhiều ở ngón giữa và ngón áp út Khi cánh tay vận

động, cổ tay cũng phải vận động theo, tay xoay ra hướng ngoài gọi là

cuộn thuận, xoay vào hướng trong gọi là cuộn ngược

Trên đây là những yêu cầu đối với chi trên

Phải “Hàm hung bạt bối”, có nghĩa là xương quai sanh tương đối

cố định, hơi chìm xuống, cổ ngực thả lỏng, lồng ngực hơi thu vào,

khiến các bộ phận bên trong cảm thấy thoải mái, thuật ngữ gọi là

“Hàm hung”; các cơ lưng cũng phải thả lỏng, hai xương bả vai vương

ra ngoài, đồng thời cố định lại, dưới tác động của cơ lưng các đốt

xương sống cũng phải thẳng và thả lỏng, khớp xương giữ hai vai (đốt

lớn) hơi nhô lên khiến lớp da ở bộ phận nầy có cảm giác căng ra,

thuật ngữ gọi là “Bạt bối”, khiến giữa hau đốt xương hai vai có sự

thông liền, đồng thời hau đốt xương này lại hơi cong về phía trước,

tọa thuận lợi cho việc “Hàm hung bạt bối”

Vận dụng phương pháp hít thở bung tự nhiên, sự dụng hoạt động

lên xương của cơ hoành để “Khí trầm đan điền” (Dồn khí xuống

bụng dưới) khiến bụng dưới được điều dưỡng tốt, không đang lên,

như vậy khi luyện tập sẽ không thở gấp vì thiếu oxi, đồng thời có thể

ổn định được trọng tâm “Hàm hung bạt bối” là tạo điều kiện để “khí

dần thu xuống dưới, khiến vùng quanh eo càng rắn chắc, xương chậu – đùi trụ vững, đồng thời khiến cho phần bụng vô cùng căng chắc trong trạng thái thả lỏng

Đốt xương cùng luôn luôn phải chiếu thẳng đường chính giữa của phần bụng vả ngực, như là đỡ bụng dưới, đường chính giữa của phần bụng muốn quay sang hướng nào đốt xương cùng phải quay thẳng sang hướng đó, có tác dụng như bánh lái điều khiến hướng vận động, bảo đảm giữ cho thân thẳng ở mọi góc độ trong khi vận động, gọi là “Xương cùng chính giữa” Đáy hông vùng khớp chậu – đùi phải mở, cơ ở bộ phận hậu môn hơi co lại (không nên co quá), gọi là treo háng, có mối quan hệ tương hỗ với “Hư lĩnh đỉnh kình” Việc cố định xương quai sanh trong “hàm hung” đối xứng trên dưới với việc “khí trầm đan điền”, việc dốt sống lớn nhoo lên trong “bạt bối” đối xứng trên dưới với việc khớp chậu - đùi có lực Cố định xương quai sanh là chuẩn bị lực tĩnh cho “hàm hung”, đót sống lớn nhô lên là chuẩn bị lực tĩnh cho “bạt bối” Khi vận động, eo là bộ phận quyết định, cơ bụng vận động, cơ lưng cũng vận động theo, đưa đến sự vận động của tứ chi

Trên đây là những yêu cầu về “hàm hung bạt bối”, “khí trầm đan điền”, “eo thẳng thả lỏng”, “xương cùng chính giữa”, “lỏng hông treo háng”, “lực hợp về trước” của phần thân

Hai đùi phải phân định rõ thực hư, khớp chậu – đùi phải lỏng, khớp gối luôn hơi chùng Khi vận động đùi, trước tiên phải thực hiện

Trang 9

dịch vào trong), dồn trọng tâm vào một đùi, cơ đùi vạn lực, vai bằng

với gỏt chân, lực ở vai phải được đưa xuống tận gót chân, nhằm tăng

tính bền vững mà lại không làm mất tính linh hoạt của khớp gối bên

đùi thực, khiến chân bước vững chãi thân người hơi xổm xuống, sau

đó chân kia từ từ duỗi ra, khớp gối không quá thẳng, rồi vận lực cơ

đùi; dùng mũi chân vận lực để bước, giữa chừng lại hơi thẳng người

lên để tăng thêm lượng vận động mà lại không cứng nhắc; bước đi

phải nhẹ nhàng linh hoạt, cùng với sự chuyển dịch từ từ của trọng

tâm, hai chân phải thay nhau nâng đỡ trọng tâm, để giữ thăng bằng

cho toàn thân Khi thực hiện động tác, ngón chân, bàn chân, gót chân

áp thẳng xuống đất, lực của bên chân thực đè xuống, như được cắm

xuống đất, khiến b ước chân vững chắc, còn bên châm hư thì thay đổi

linh hoạt

Đó là những yêu cầu về phân định rõ hư thực, chùng gối lỏng khớp

chậu – đùi, điều chỉnh trọng tâm của chi dưới

Khi mỗi thế đã vào đúng vị trí, phần eo trong khi thả lỏng phải hơi

đè xuống, các đốt sống thả lỏng ch ìm xuống, khiến khớp xương chậu

– đùi có lực; đốt sống lớn hơi nhô lên, khiến xương chậu – đùi như bị

kéo giằng theo hai chiều lên và xuống Khớp chậu – đùi được mở gọi

là treo háng; hai gối hơi thu vào, gọi là khép háng Ngực nở, bụng thả

lỏng mà căng chắc Ý nghĩ phải được tập trung tới ngón tay và đầu

ngón chân Cánh tay vươn ra hướng ngoài vài hơi thả chìm xuống,

như thả lỏng mà không thả lỏng, phải luôn thể hiện được tư tưởng

“nhu trung hữu cương” của Thái cực quyền Như vậy dần dần có thể tăng cường được nội lực, động tác sẽ nhẹ nhàng linh hoạt, có lực mà lại không cứng nhắc Chính vào lúc thế trước như dừng mà không phải là dừng, thế sau đã được hình thành Vai phải luôn luôn vuông góc với hông, khuỷu tay tương ứng trên dưới với gối, đầu ngón tay phải tương ứng trên dưới với đầu ngón chân, đầu ngón tay của tay trước có mối quan hệ hô ứng với đầu ngón tay của tay sau, mũi chân trước và mũi chân sau, gót chân trước và gót chân sau cũng phải có mối quan hệ hô ứng với nhau, trên dưới, phải trái, trước sau phải hô ứng với nhau và hợp lại Muốn hợp lại được với nhau một cách tự nhiên, thần khí phải được hợp lại Kiểu thế phải viên mãn, nghiêm túc, không tản mạn, không khô cứng, yếu ớt, không nghiêng ngả, khi

mở thế không được tiến hành tản mạn, khi các thế được tiến hành liên tực phải thể hiện được uy lực,không được ẻo lả yếu ớt Thân phải ngay thẳng, tinh thần phải được dồn tích vào trong Phàm những tư thế mà đầu ngón tay trước trên thì đối chóp mũ, dưới thì đối mũi chân thì thuật ngữ gọi là “Tam tiên tương đối” Bất kỳ tư thế nào cũng đều phải vai hợp với hông, khuỷu tay hợp với gối, tay hợp với chân thuật ngữ gọi là “Ngoại tam hợp” Ý hợp với khí, khí hợp v ới lực, thuật ngữ gọi là “Nội tam hợp” Mỗi một động tác, trước tiên dùng ý thức

để điều hành sự vận động bên trong, đồng thời bên ngoài cũng thoe

đó mà vận động, từ ngoài vào trong, dùng ngoài điều khiển trong Mỗi tư thế có 4 giai đoạn: khởi, thừa, ch uyển, hợp (phát thế gọi là

Trang 10

khởi, tiếp theo gọi là thừa, biến đổi gọi là chuyển, thành thế gọi là

hợp) “Thực hiện (trước trước) quán xuyến” giữa thế n ày với thế

kia, vào lúc như dừng mà không phải dừng, nội lực dần dần được

vận đủ, tinh thần tập trung gọi là “Trước trước quán xuyến”; các

đốt thả lỏng, đưa ý thức vào chúng, hình thành lực toàn thân một

cách tự nhiên mà linh hoạt gọi là các đốt thả lỏng; nói tụ hợp – khi

một thế đã hình thành thì tứ chi phải có sự hợp lực trên dưới, phải

trái, trước sau một cách tự nhiên Trong đó ta phải biết được cái

nào trước cái nào sau, khiến động tác được tiến hành một cách tuần

tự Trong quá trình thực hiện động tác không được đứt quãng,

trong ngoài, trên dưới, phải trái, trước sau phải hài hòa thống nhất;

phải thực hiện được “Nội ngoại hợp nhất”, “Nhất khí quán xuyến”,

“Nhất khí kha thành” (trong ngoài thống nhất, một hơi một mạch

không đứt đoạn) Khi tập quyền, thế này nối tiếp thế kia, liên hoàn,

liên tục, càng tập càng lỏng, càng chậm, khiến cho việc hít vào thở

ra được càng nhỏ, càng sâu, càng dài và càng đều, nội tạng dần dần

săn chắc, lực chân dần dần bền vừng, thể lực được tăng cường, có

thể qiù được thăng bằng cơ thể ở mọi góc độ, lại có thể biến hóa

linh hoạt, nhanh chóng Tư thế thân người cao, vừa hay thấp, điều

này phải căn cứ vào điều kiện thể lực và mực đồ thành thục của

người tập mà quyết định Lượng vận động lớn hay nhỏ được quyết

định bởi tư thế thân người Phương pháp luyện tập cao mà nhanh

Việc tăng lượng vận động phải tiến hành từ từ Phải căn cứ vào khả năng của mỗi người để xác định lượng vậ động cho mình, đồng thời phải luôn điều chỉnh cho ph ù hợp với tiến độ luyện tập Khi tập toàn bài, phải xác định tư thế thân người ngay từ đầu, và phải luôn luôn giữ ở một mức độ, không được thay đổi giữa chừng, làm ảnh hướng tiết tấu toàn bài

Đối với những người luyện tập để chữa bệnh phải tuân thủ nguy ên tắc nhẹ nhàng, thải mái, tự nhiên, tập với mức độ hơi ra mồ hôi Khi bắt đầu tập với tư thế cao, nếu thấy khớp gối đau không chịu được thì nên nghỉ, sau tập tiếp Không nên tập theo phương pháp khổ luỵên của những người muốn đạt tới trình độ kỹ thuật cao

II PHƯƠNG PHÁP LUYỆN VẬN ĐỘNG THỞ BỤNG SÂU

Vận động thở bụng sâu trong Thái cực quyền là áp dụng “Thuật thổ nạp” và “Thuật đạo dẫn” Bởi vì phương pháp thở này và phương pháp thở “Khí công liệu pháp” trong chẩn trị lâm s àng là cùng một nguồn gốc Có điều, Thái cực quyền là “tìm cái tĩnh trong cái động”,

tư thế của Thái cực quyền rất phức tạp, khi mới luyện tập trước tiên cần phải luyện tập một cách chính xác những nét đại thể của tư thế, móc nối các động tác thành một thể liên hoàn, có thể thở tự nhiên, chỉ cần tập ý nghĩ tư tưởng vào vùng đan điền, sau khi đã luyện tập thành thục thì sẽ kết hợp thở bụng sâu Còn “khí công liệu pháp” thì lại “tìm cái động trong cái tĩnh”, tư thế đơn giản vì vậy khi mới tập cũng có thể

Trang 11

Đối với phương pháp hít thở, Thái cực quyền chủ trương thực hiện

“Hư lĩnh đỉnh kình”, “Khí trầm đan điền” “Hư lĩnh đỉnh kình” là

huyệt Bách hội hơi hướng lên, kích thích tinh thần toàn thân Phương

pháp “khí tr ầm đan điền” là thân thẳng bụng rắn, ngực nở, điều khiển

hít thở bằng ý thức, khiến có cảm giác không khí vào bụng từ từ,

không được dùng lực để ép bụng dưới Yêu cầu phải “dĩ ý hành khí”

(dùng ý thức để điều hành khí), “Thân động, tâm tĩnh, khí liễm, thần

thư” (Than thể vận động, tâm trí tĩnh tại, điều h ành được khí vào mà

tinh thần thoải mái), động tác thực hiện một cách tự nhiên không

cưỡng éo thô bạo

Động tác toàn thân trong Thái cực quyền khá phức tạp, khi mới

học nói chung nên vận dụng phương pháp thở tự nhiên, không nên

kết hợp ngay với vận động thở sâu, nên đợi khi đã tập luyện thành

thục các động tác mới kết hợp với vận động thở sâu Nên chia thành

hai giai đoạn: giai đoạn luyện các động tác quyền thuật và giai đoạn

luyện thở sâu, khi hai giai đoạn n ày đã thành thục, đem kết hợp với

nhau thì sẽ dễ dàng thực hiện được yêu cầu

Vận động thở bụng sâu có hai kiểu luyện tập, đó là kiểu thuận và

kiểu ngược

Kiểu ngược được tiến hành như sau:

Tư thế chuẩn bị: đứng nghiêm, hai chân khép, mũi chân hướng về

phía trước

Hình 1 Hình 2 Hình 3

Trang 12

Chân trái bước sang ngang, khoảng cách hai chân bằng độ rộng của

vai, mũi chân hướng về phía trước, khớp đầu gối hơi chùng một cách tự

nhiên, sống lưng thẳng, thả lòng, trọng tâm rơi vào giữa hai chân; ngón

chân, bàn chân, gót chân áp thẳng mặt đất, đáy hông vùng khớp chậu –

đùi mở, ngón tay xòe tự nhiên, đầu ngón tay duỗi thẳng tự nhiên, áp vào

mặt ngoài đùi, khớp khuỷu hơi khuỳnh tự nhiên, cánh tay không ép sát

thân trên, rưới nách có thể đặt lọt một nắm tay “Hư lĩnh đỉnh kình”,

huyệt Bách hội hơi hướng lên như bị treo, đầu như đang đội một bát

nước, cần giữ trạng thái thăng bằng một cách nhẹ nhàng thoải mái Mắt

nhìn ra xa và chú ý sang hai bên, tai lắng nghe phía sau, cằm hơi thu

vào, môi ngậm nhẹ, hai hàm răng khép nhẹ, lưỡi phẳgn, đầu lưỡi chạm

nhẹ hàm trên, tạo thời quen thở bằng mũi, gáy thẳng, thả lỏng, hai vai

thả lỏng, hai đốt xương vai đối nhau, ở giữa như có sự thông liền, xương

quai sanh tương đối cố định Ngực nở thoải mái, bụng căng chắc (hình

2) Đó là tư thế chuẩn bị

Khi kiểm tra tình hình thả lỏng toàn thân, nếu tự cảm thấy cân bằng

tâm khí, có nghĩa là có thể bắt đầu các động tác Trước tiên hơi đưa hai

tay về phía trước hai hông, gốc bàn tay hơi đè xuống, ngón tay mở tự

nhiên, đầu ngón tay tương ứng với các đầu ngón chân Đồng thời, hai

vai hơi nhô về phía trước, da cơ lưng có cảm giác căng lên, tạo thành tư

thế “hàm hung bạt bối”, các đốt xương sống thả lỏng, thẳng đứng, khiến

xương chậu có lực, bụng càng thêm căng chắc, đốt xương sống thứ nhất

ợng hạ nhất tuyến”, “hư lĩnh đỉnh kình”, “Khí trầm đan điền”, “Hàm hung bạt bối”, “Trầm khiên thùy chẩu”, “Tháp yêu tùng khóa”, “Khuất tất viên đang”, do đó thực hiện được những yêu cầu cơ bản trong vận động Thái cực quyền (h ình 3)

Khi tư thế này vừa dừng, thực hiện tiếp động tác sau:

1 Từ từ hít sâu, đồng thời hai tay từ từ đưa ra phía trước theo hướng mũi bàn chân, tay cao ngang vai, khủyu hơi khuỳnh khiến cánh tay khi vươn ra phía trước vẫn giữ được hình cung nông, đồng thời bụng dưới dần dần thu lại (hình 4)

2 Từ từ thở ra, đồng thời hai khuỷu tay thu về trước sườn, cánh tay trên không áp sát vào thân khi thu về tay vẫn ngang vai, vừa thu vừa xoay ra ngoài, hai lòng bàn tay vát nhau, ngón cái và ngón trỏ tạo thành nửa vòng tròn, các ngón tay chĩa chếch lên (hình 5)

3

Trang 13

Hình 4 Hình 5 Hình 6

Hai tay từ từ hơi xoay vào và từ từ đưa về trước hông theo đường cũ,

thở phải đều, đồng thời bụng dưới dần dần nhô ra (tức “Khí trầm đan

điền) (hình 6) Sau đó ngón tay duỗi thẳng, toàn thân thả lỏng, trở về tư

thế chuẩn bị (hình 2) Sau đó làm lại từ đầu

Khi thực hiện thở bụng sâu kiểu ngược, trạng thái phần ngực và bụng

sẽ thay đổi như hình 7

* Các điểm chú ý:

a – Trước tiên phải thả lỏng trung khu thần kinh, tập trung tư tưởng

khiến toàn thân được thả lỏng

Hình 7

b – Từ đầu tới cuối, phải dùng ý thức để điều khiển động tác, động tác phải liên tục, không đứt đoạn, tốc độ phả i đều không được vận lực thô bạo cứng nhắc

c – Hít thở phải dần dần đạt được: sâu, dài, chậm, đều, tĩnh Hít thờ phải hài hòa với động tác

Trang 14

d – Mắt phải nhìn ngang, nhìn ra xa, khi tay nâng lên gi ữ chùng và

hạ xuống giữa chừng, mắt phải chú ý tới động tác của tay (đầu luôn luôn

“Hư lĩnh đỉnh kình”, không cúi), sau đó tiếp tục nhìn ngang ra xa, khiến

thần kinh thị giác luôn luôn được rèn luyện, có lợi cho việc khôi phục và

tăng cường thị lực

đ – Nếu có cảm giác tức ngực đau đầu thì cần kiếm tra lại trạng thái

thả lỏng, và sửa lại Nếu vẫn có những phản ứng không tốt thì cần phải

dừng buổi tập

e – Khi thời tiết quá lạnh hoặc gió to không nên luyện tập ngoài trời

mà chuyển vào tập trong phòng

* Thuyết minh:

1 Thân pháp, động tác và hít thở kiểu này là những yêu cầu cơ bản

của Thái cực quyền, nó xuyên suốt từ đầu tới cuối toàn bộ các động tác

2 Động tác kiểu này đơn giản dễ tập, không phức tạp, khó tập như

toàn bộ bài quyền Nếu không có thời để học toàn bộ các động tác, hoặc

thể chất quá yếu không thể luyện toàn bộ bài quyền thì có thể hàng ngày

chỉ cần rèn luyện riêng kiểu này và tăng dần thời gian tập luyện mỗi lần

lên khoảng 20 phút, nếu mỗi ngày luyện được 2 lần vào buổi sáng và

buổi tối thì hiệu quả càng tốt Những người đang chữa bệnh nếu sức

khỏe cho phép, mỗi ng ày có thể tập vài lần Nếu thường xuyên luyện

tập sẽ có lợi cho việc chữa bệnh bảo vệ sức khỏe, tăng cường thể chất

3 Người bệnh hoặc du khách đang trên đường nếu không tiện đứng tập thì có thể ngồi tập hoặc nằm tập Nhưng nếu nằm tập, vì liên quan tới trọng lực nên có thể chuyển sang kiểu thở bụng tự nhiên

4 Khi luyện toàn bộ bài Thái cực quyền, có thể luyện liên tục 3 lần kiểu này để chuẩn bị cho luyện toàn bài

5 Những người cao huyết áp khi luyện phải chú ý lúc đưa tay lên động tác phải nhẹ nhàng, từ từ, lúc hạ tay xuống cần lợi dụng quán tính làm lực Những người bị bệnh sa dạ dày, hoặc các cơ quan nội tạng yếu cần chú ý khi hít vào, bụng dưới thu vào, cơ hoành dâng lên, còn khi thở

ra không cần dồn khí vào bụng dưới, cơ hoành hạ xuống Còn phương pháp luyện thở bụng sâu kiểu thuận tiến h ành như sau: Đưa hai tay về phía trước, khi cao ngang vai thì hít vào, từ từ dùng ý thức đưa khí xuống bụng dưới, khiến bụng dưới nhô ra tự nhiên, khi thu hai tay về vị trí cũ thì thở ra, bụng dưới thu vào tự nhiên Kiểu này ngược với động tác hít thở bụng sâu, kiểu ngược, còn những yêu cầu khác thì như nhau Phương pháp hít thở sâu “dĩ ý điều khí” này là phương pháp hít thở rèn luyện trung khu thần kinh cao cấp và trung khu hô hấp, có thể lấy vào nhiều oxi và thải ra nhiều khí cacbonic Sự lên xuống liên tục của vách ngăn sẽ thúc đẩy nội tạng vận động, tăng cường tuần hoàn máu, có thể chữa trị các bệnh mãn tính Bằng thực tiễn hàng trăm năm qua, các thầy thuốc đã chứng mình được tính hiệu quả của nó Ngoài ra cần nói thêm rằng, khi hít thở bụng sâu, sự co vào giãn ra (thời gian co vào ngắn, dãn

Trang 15

cường khả năng của hệ thống bài tiết Nhờ vậy có thể chữa trị được

bệnh di tinh Khi đã luyện tập thành thục toàn bộ bài quyền, có thể thực

hiện nguyên tắc hít thở theo thế quyền: “Lên thì hít vào, xuống thở ra”,

“Hợp lại thì hít vào, mở ra thì thở ra”, Khiến cho việc thực hiện động tác

và hít thở được kết hợp với nhau một cách tự nhiên Nếu trong quá trình

kết hợp cảm thấy tức ngực đau đầu ắt là có thư thế không chuẩn xác,

hoặc việc kết hợp giữa hít thở với động tác không hài hòa, cần phải điều

tiết lại, nếu đã điều tiết lại vẫn cảm thấy không thoải mái, nên trở lại hít

thở tự nhiên, nhất thiết không được cưỡng ép Sau khi luyện hít thở sâu

đã đạt tới một trình độ nhất định, sẽ tự nhiên xuất hiện hiện tượng “bụng

kêu”, nhất là trong toàn bài tập, khi mỗi thế đã vào đúng vị trí, hoặc từ

thế này chuyển sang thế khác do sự vận động của eo và hông dễ làm

xuất hiện hiện tượng bụng kêu Đây là một hiện tượng sinh lý tự nhiên,

là kết quả của việc “Dĩ ý điều khí”, “Khí trầm đan điền” Hiện tượng

bụng kêu trong luyện khí công xuất hiện sớm hơn trong Thái cực quyền,

vì trong luyện khí công, việc “Dĩ ý điều khí” được thực hiện ngay từ

đầu Đã từng có người luyện Thái cực quyền để chữa bệnh, sau khi phục

hồi được sức khỏe vẫn tiếp tục kiên trì luyện tập để tăng cường thể chất,

nâng cao kỹ thuật Sau đó thấy xuất hiện hiện tượng bụng kêu, không

hiểu điều đó tốt hay xấu, nghe có người nói đó là hiện tượng xấu thế là

sợ không dám luyện tiếp Đó là sự sợ hãi không cần thiết Hiện tượng

bụng kêu là do việc thực hiện “Dĩ ý điều khí”, do thả lỏng eo, cơ hoành

lên xuống, và phần eo xoay tròn khiến ruột cuộn lên và cọ sát với không

khí trong bụng làm phát ra tiếng kêu Điều này chỉ có tác dụng đối với các cơ quan nội tạng, không có gì lạ Song nếu không thấy xuất hiện hiện tượng này thì cũng không cần thiết phải tìm kiếm nó Hơn nữa sau khi luyện tập một cách công phu thì hiện tượng trên cũng giảm dần rồi mất hẳn

III NHỮNG YÊU CẦU CỦA THÁI CỰC QUYỀN ĐỐI VỚI TƯ THẾ CỦA CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ

Vận động gắn liền với hoạt động của c ơ, xương và khớp Sự thay đổi và phối hợp các động tác là do hệ thần kinh trung ương thống nhất điều khiển Thái cực quyền còn bao gồm phương pháp luyện tập lưu thông khí huyết “Dĩ tâm hành khí”, “Dĩ khí vận thân”, thông qua quá trình vận lực theo đường xoáy ốc từ cột sống vùng eo tới đầy bàn tay và đầu bàn chân, khiến chân tay mẫn cảm, động tác của các bộ phận trong

và ngoài trên toàn cơ thể phối hợp ăn khớp nhịp nhàng, tạo thành một phương pháp vận động có tình chính thể và tính thống nhất trong ngoài

Vì vậy nội dung luyện tập vô cùng phong phú

Những yêu cầu của Thái cực quyền đối với tư thế của các bộ phận cơ thể là được đúc kết từ trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn của quần chúng Căn cứ vào kinh nghiệm luyện tập và những điều lĩnh hội được trong hơn 40 năm qua, đồng thời tham khảo có chọn lọc quan điểm của nhiều người, tôi xin qui nạp lại như sau:

Lúc đầu, Thái cực quyền nặng về tính vũ thuật, do vậy các y êu cầu

đề vì vũ thuật, song động tác của vũ thuật tất nhiên rất hợp với quy luật

Trang 16

sinh lý của cơ thể người, chỉ cần nắm được lượng vận động, rồi tuần tự

đưa vào là có thể đạt được hiểu quả tốt trong việc ph òng bệnh, chữa

bệnh, tăng cường thể chất Điều đó rất đáng để ta bỏ công học tập và

nghiên cứu để nâng cao sức khỏe cho người luyện tập

Mặc dù nói Thái cực quyền “không chú ý tới hình thức mà chú ý tới

thế khí, không chú ý bên ngoài mà chú ý tới bên trong”, song điều đó

chỉ đúng với những người luyện tập công phu thành thục, các động tác

đã được định hình vững chắc Họ không còn phải tập trung chú ý vào tư

thế và động tác nữa, mà chỉ cần lấy vận động bên trong làm thay đổi bên

ngoài, khi đã đạt được sự thống nhất trong ngoài, chỉ cần chuyên tâm

rèn luyệ về thần khí

Đối với những người mới tập, trước tiên cần phải coi trọng về hình

thức rồi mới coi trọng tới ý thức, trước tiên phải chú ý tới việc thực hiện

tư thế chuẩn xác, tiếp theo phải luôn giữ được tư thế chuẩn xác trong

một chuỗi những động tác phức tạp liên hoàn, nhất thiết không được

nóng vội cầu toàn

Những người mới tập nên chú ý các tư thế phải chính xác, không nên

chỉ chạy theo tiến độ, phải luyện tốt những cái cơ bản, như vậy sẽ lợi

cho việc nâng cao

Qua nhiều lần sửa chữa uốn nắn, tư thế các bộ phận dần dần được

định hinh, và sau khi đã được yêu cầu “dùng sự vận động bên trong làm

thay đổi bên ngoài”, mọi hình thức bên ngoài đều do bên trong điều

hóa”, các tư thế sẽ tự nhiên vào khuôn khổ, người luyện không cần chú

ý tới

Yêu cầu đối với tư thế các bộ phận phù hợp với đặc điểm “Nhu trung ngụ cương” (trong nhu có cương) của Thái cực quyền, thích hợp với các b ước luyện tập “Tùng nhu nhập thư” (bắt đầu từ nhu), “Hóa cương vi nhu”,

“Tích nhu thành cương”, “Cương ph ục quy nhu” của Thái cực quyền Ngay từ tên gọi “Thái cực quyền” cũng thấy được đó là một thể thống nhất bao gồm hai mặt đối lập âm dương Đối lập âm dương ở đây là sự đối lập giữa: Khai – hợp, hư – thực, hô – hấp, thuận – nghịch, cương – nhu, nhanh – chậm, cong – thẳng, hóa – đả, vv… đều từ trong ra ngoài,

từ ngoài vào trong Vì vậy mọi biểu hiện trên tư thế đều là sự thống nhất trong đối lập mâu thu ẫn, cái này mâu thuẫn với cái kia, song lại liên quan với nhau, ràng buộc nhau, chuyển hóa nhau Nếu tư thế của một bộ phận nào đó không đúng sẽ ảnh hưởng tới bộ phận khác, ngược lại tư thế của một bộ phận nào đó đúng rồi cũng có thể dần dần làm cho tư thế của các bộ phận khác đúng theo V ì thế, khi mới học, nên luyện tập có trọng đỉêm chuyên tâm uốn nắn tư thế của một bộ phận, từng bước khắc phục khuyết điểm, tránh t ình trạng vì cái này mà làm mất cái kia, không thực hiện được việc nâng cao toàn diện

1 Bộ phận đầu a- Đầu

Đầu thẳng sẽ dễ dàng làm cho thân thẳng Đầu và thân thẳng, điều

Trang 17

là đặc trưng của người già yếu Những người luyện Thái cực quyền lâu

d ài, khi già có thể tránh được những khuyết tật trên Điều này quan hệ

tới việc nâng cao sức khỏe

Khi luyện quyền, đầu phải thẳng, không cúi, không ngửa, không

lệch, khi vận động phải thẳng tự nhiên, không được lắc lư

Khi ở tư thế đứng nghiêm hoặc làm động tác, phải giả tưởng rằng

đầu đang đội một vật rất nhẹ, như vậy có thể tránh được tật đầu bị cúi,

ngửa và nghiêng

Khi mới học quyền, điều quan trọng là phải giữ được dung mạo bình

thường, cơ mặt thả lỏng tự nhiên, không nên cố ý tạo ra một số dáng vẻ

khác thường, mắt phải nhìn ngang, ánh mắt nhìn ra xa Muốn quay về

hướng nào Thần nhãn phải đi trước, các động tác của thân, tay, chân vận

động theo; khi làm động tác, ánh mắt phải chuyển động theo tay hoặc chân,

khi động tác hoàn thành, ánh mắt lại chuyển về phía trước “Mắt chuyển

theo tay, ánh mắt nhìn ra xung quanh Điều này chứng tỏ ánh mắt nên có

định hướng song lại không được chỉ nhìn một hướng 1 cách máy móc,

nhãn thần phải chú ý xung quanh Vận dụng đúng phương pháp luyện này

có lợi cho việc luỵện thần kinh nhãn cầu, từ đó có lợi cho việc phục hồi thị

lực và tăng cường thị lực, làm cho ánh mắt nhạy cảm linh hoạt

Miệng ngậm nhẹ, hai hàm răng khép hờ, đầu lưỡi chạm nhẹ hàm

trên, như vậy trong khoang miệng sẽ tiết nhiều n ước bọt, khiến họng

luôn luôn ướt, khi thở không cảm thấy khô cổ, đồng th ơi sẽ có nhiều

nước bọt vào dạ dày, có lợi cho tiêu hóa

Luôn luôn hít thở bằng mũi, hít thở phải tự nhiên, yêu cầu phải dần dần kết hợp được một cách hài hòa giữa hít thở với thực hiện động tác Trong quá trình thực hiện động tác, nếu cảm thấy khó khăn khi hít vào thì có thể hít bằng miệng từ từ, hít xong ngậm miệng lại ngay Hít thở phải thực hiện liên tục và tự nhiên

Cằm hơi thu vào, không được ngửa về trước, cũng không được thu vào quá, để tránh tình trạng khi hít thở bằng mũi không đáp ứng được yêu cầy tăng cường lượng vận động, khiến hít thở không tốt, ảnh hưởng tới tư thế “Hư lĩnh đỉnh kình” và “Bạt bối”

Tai phải chú ý lắng nghe phía sau và hai bên, tư tưởng thoải mái, toàn thân yên tĩnh, thính giác tự nhiên sẽ mẫn cảm

b- Đỉnh “Hư lĩnh đỉnh kình” tức “Đỉnh đầu huyền”, điều n ày được đặc biệt nhấn mạnh trong Thái cực quyền Y êu cầu của “Đỉnh kình” là huyệt Bạch hội ở đỉnh đầu hơi hướng lên, có cảm giác như đỉnh đầu được treo lên bằng một sợi dây, tư thế huyệt Bách hội luôn luôn được giữ thẳng đứng với huyệt Hội âm, gọi là “Thượng hạ nhất điều tuyến” (tr ên và dưới nằm trên một đường thẳng)

Huyệt Bách hội ở đỉnh đầu hơi hướng lên, như vậy ngoài việc điều khiển đầu thẳng tự nhiên còn có 4 ưu điểm sau:

1 Thuận lợi cho hệ thần kinh trung ương điều tíết hoạt động cơ năng của các cơ quan và các hệ thống khác trên toàn thân, phát huy tốt tác dụng điều khiẻn thăng bằng cơ thể

Trang 18

2 Do “Đỉnh đầu huyền” (đỉnh đầu có cảm giác như được treo lên)

nên có thể giảm nhẹ áp lực của đầu đối với thân, nhờ vậy động tác của

thân sẽ linh hoạt hơn

3 Trong Thái cực quyền, “Hư lĩnh đỉnh kình” luôn luôn đi đôi với

“Khí trầm đan điền” “Hư lĩnh đỉnh kình” có lợi cho việc nâng đỡ tinh

thần, còn “Khí trầm đan điền” có lợi cho việc ổn định trọng tâm của

thân, khiến tinh thần tự nhiên được nâng lên, thần kinh nhạy cảm hơn,

đưa tới tình trạng toàn thần được thả lỏng tự nhiên, tạo điều kiện hưng

phấn thần kinh

Lực đỉnh không nên thái quá và cũng không nên bất cập, mà phải hư

hư thực thực, như có như không, không được kích lực lên một cách

cứng nhắc, cũng như trong “Khí trầm đan điền” không được dồn nén

khí xuống một cách cứng nhắc, mà là “Ý chú đan điền” (đưa ý thức

xuống đan điền) với mực độ như có như không (“Ý thủ đan điền” là tọa

công, có nghĩa là giữ cho đan điền bất động, còn “Ý chú đan điền” là

hành công, đưa ý thức xuống đan điền có nghĩa là “động” Nắm chắc

lực đỉnh và trầm khí (dồn nén khí) sẽ khiến cho động tác toàn thân nhẹ

nhàng linh hoạt, vững chắc

4 Huyệt Bách hội luôn luôn giữ ở tư thế “Hư lĩnh đỉnh kình” sẽ có

tác dụng nâng toàn thân, đồng thời vì cằm thu vào nên thuận lợi cho

việc hít thở và vận động nội khí

Phía trước huyệt Bách hội là tiền đỉnh Nếu tiền đỉnh hướng lên trên,

đỉnh sẽ mắc tật để bộ phận đầu quá thu vào bên trong Chỉ có huyệt Bách hội hướng lên hư ảo thì bộ phận phía dưới đầu mới thu vào bên trong, kết hợp với khí dán và xương sống lưng (thiếp tích bối) giống như tác dụng của Đại truy, Liêm tuyền hơi co lại trong phép khí công trị liệu Nhưng Thái cực quyền không dùng đến từ “co” để tránh hiểu lầm ảnh hướng đến “thượng hạ nhất tuyến” dẫn đến hiện tượng không hài hòa

c- Gáy Cổ gáy phải thẳng, thả lỏng, không nên gân cứng, như vậy khi quay phải trái sẽ được tự nhiên và linh hoạt Nếu vậy lực nên gân hoặc chỉ chú ý tới thả lỏng khiến cổ mềm oặt đều làm giảm sự linh hoạt của cổ khi quay phải trái và ảnh hưởng tới tư thế tự nhiên của “Hư lĩnh đỉnh kình” Vì vậy, cổ gáy phải thả lỏng, ngay thẳng, không cứng, không mềm Cổ gáy có thẳng, lỏng được hay không ? Điều này có liên quan tới việc “Hư lĩnh đỉnh kình” có thực hiện thỏa đáng hay không Nếu “đỉnh k ình” thái quá, cổ gáy cũng sẽ bị liên đới cứng theo, cần

“đỉnh kình” bất cập, cổ gáy sẽ bị mềm theo Huyệt Á môn ở sau gáy có mối liên hệ chặt chẽ với Huyệt Trường Cường ở vùng xương cùng Á môn tức đốt quay đầu tiên của xương cổ, thông qua hoạt động của đốt quay, đầu sẽ trở thành đòn bẩy thăng bằng “Hư lĩnh đỉnh kình” là sự thăng bằng của đầu gối với cột sống Thái cực quyền gọi sự hoạt động đàn hồi của cột sống là “Thân cung” Thái cực quyền kiểu Vũ thì lấy phần eo làm tay cung, đốt sống lớn và xương cùng là hai đầu cung, còn

Trang 19

huyệt Á môn làm hai đầu cung để tăng cường độ điều tiết và sức phá ra

của nó, điều này có quan hệ tới sự tích phát lực khi đẩy tay “Hư lĩnh

đỉnh kình” có tác dụng giữ thăng bằng cột sống, còn cốt xương cổ có tác

dụng điều tiết Khi tập quyền, mắt chuyển dịch về hướng nào, thì cổ gáy

cũng chuyển theo

2 Chi trên

a- Vai

Khi tập quyền, dù là dùng thân điều khiển tay hay dùng tay điều

khiển thân cũng đều là chuyển động tròn theo thể thuận, vì vậy yêu cầu

cánh tay khi duỗi ra, co vào, quay tròn, đều phải mềm mại Nhưng cánh

tay có mềm mại linh hoạt được hay không ? Điều này tùy thuộc vào

khớp xương vai có thả lỏng được không Thả lỏng khớp xương là do ý

thức điều khiển thực hiện Điều này phải lyện tập lâu dài mới thực hiện

được Sau khi luyện tập thành thói quen, khớp xương vai sẽ tự nhiên

dần dần được thả lỏng ra và chìm cuống Sau khi khớp xương vai đã

hoàn toàn được thả lỏng, tòan bộ cánh tay có thể duỗi ra, co vào, cuốn

tròn tự nhiên như cánh liễu bị gió thổi

“Trầm kiên thùy chẩu” được coi là một trong những phép tăc quan

trọng của Thái cực quyền Thái cực quyền y êu cầu “Trầm kiên” (chìm

vai) sau khi đã thả lỏng vai “Trầm kiên thủy chẩu” cũng giúp cho tự

nhiên hình thành tư thế “Hàm hung bạt bối” Nếu nhô vai, nâng khuỷu

sẽ làm hỏng tư thế “hàm hung bạt bối” và bất lợi cho việc thực hiện “khí

trầm đan điền” Chỉ có “hàm hung bạt bối” được thực hiện tốt thì mới

có thể thực hiện “khí trầm đan điền”

Sự thả lỏng và vận động xoay tròn của vai có tác dụng duỗi thẳng gân và cơ vai, đồng thời khiến cho cơ hai sườn lưng hình thành “Khí thiếp bối” (khí ép vào lưng)

Khi mới tập quyền chỉ nghĩ tới việc “thả lỏng” toàn thân và “thả lỏng” khớp xương vai Khi luyện được thời gian dài, hiểu được sự thay đổi của thực hư thì phải nghĩ tới việc “Trầm thân” và “Trầm kiên”, khiến “Nội hình” từ mềm mại chuển sang “chìm lắng”, cánh tay sẽ được nhẹ nhàng linh hoạt, song lại rất mềm mại và có lực Như vậy, cánh tay

sẽ dần dần tăng cường tính đàn hổi như “thả lỏng mà không thả lỏng”,

“cương như hòa quyện” “Bằng kình” là lực nối liền các lực với nhau rất quan trọng trong Thái cực quyền Động tác kiểu xoay trôn ốc, quấn quít lấy nhau Chất lượng “bằng kình” càng cao tác dụng gắn lại với nhau lúc đẩy tay lên cao, dễ dàng dùng khuỷu tay và nắm tay điều khiển trung tâm đối phương Trong lúc diễn biến cũng không dễ bị bị ép vào thực trạng bị rơi khiến mình ở vào địa vị bất lợi

Khi “trầm kiên thùy chẩu” phải chú ý không ép cánh tay vào sát nách, phải cách nách một nắm tay, để cánh tay có chỗ vận động, và không mất tính đàn hồi

Khi mỗi thế vào đúng vị trí, vai và hông phải tạo thành đường thẳng, hai vai thả lỏng, chìm xuống và hơi hợp về phía trước, tạo thế “hàm hung bạt bối” Hai khớp xương vai như là không liền, quan hệ chặt chẽ

Trang 20

với nhau Như vậy sẽ “trong sự bung ra có đo àn tụ lại”, tăng cường tác

dụng hợp lực Trong quá trình vận động, dù tiến lên hay lùi lại, quay

phải hay lượn trái, vai và hông phải luôn luôn nằm trên một đường

thẳng, đáp ứng yêu cầu “thượng hạ nhất điều tuyến”

Hai vai phải bằng phẳng cân đối, khi vận động không được để xảy ra

hiện tượng vai cao vai thấp, làm hỏng tư thế thẳng thân

Thái cực quyền kiểu Trần và Vũ chủ trương 2 đối xương vai hơp hợp

về phía trước, tạo điều kiện cho việc hình thành tư thế “hàm hung bạt

bối”, kết hợp với việc thả lỏng và chìm xuống theo hình cung và xương

lườn và cơ lườn phần bụng sẽ rất căng chắc, cơ hai bên bụng cũng hợp

về trước, có thể tăng cường khả năng hợp lực

b- Khuỷu tay

Khi tập Thái cực quyền, khớp khuỷu tay luôn hơi gập lại và có lực

kéo xuống, dù khi cánh tay phải đưa lên cao hơn vai, đầu khuỷu vẫn

phải như có lực kéo xuống Nếu đầu khuỷu ngóc lên cũng đầy theo

hướng lên Điều này trái với yêu cầu trong Thái cực quyền Nếu khuỷu

tay cách xa thân, nhô ra phía ngoài thì sẽ không cản trở việc “trầm kiên”

mà còn ảnh hưởng tới việc “trầm khí”, đồng thời hai sườn hở quá lớn,

đó cũng là điều bất lợi trong võ thuật

“trầm kiên thùy chẩu” cũng có thể tăng thêm sức mạnh cho cánh tay

duôi trong khi vận động Chỉ có thực hiện “trầm kiên thùy chẩu” mới có

thể tăng cường tác dụng của việ “tọa uyển”

Khi mỗi thế vào đúng vị trí, đầu khuỷu tay phải có mối tương hỗ với khớp gối, hai khuỷu tay cũng phải có sự hợp lực trước sau, phải trái, trên dưới

c- Cổ tay

Cổ tay là bộ phận linh hoạt nhất, có độ xoay lớn nhất trong tòan bộ các khớp Đối với cổ tay, điều cần chú ý nhất là “tọa uyển” Những người tập Thái cực quyền nói chung đều coi trọng sự quay tròn của cổ tay, song phần đông đều chú ý tới sự linh hoạt mềm mại uyển chuyển của nó, mà xem nhẹ tầm quan trọng của việc “tọa uyển”, nên không tạo được lực cho cổ tay, khiến cổ tay mềm mại như múa, chỉ tạo được vẻ đẹp về sự nhẹ nhàng, linh hoạt chứ không tạo được vẻ đẹp “Nhu trung hữu cương” Như vậy khó đưa được nội lực ra đầu các ngón tay,ảnh hưởng tới việc tích lực cho cánh tay, tăng trưởng sự tích tụ “bằng kình”

Khi đẩy tay khó thực hiện các thế “cầm”, “vỗ”, “ấn”, “tóm” “bắt” Nếu khuỷu tay thả quá lỏng, không lực, cánh tay tất cũng không có lực khi đưa ra dễ bị đối phương túm chặt khuỷu

“Tọa uyển” yêu cầu trong qúa trình cánh tay duỗi ra co vào, khủyu tay không quá cứng cũng không được mềm, mà vận động một cách mềm mại và dẻo dai như gân Khi vào đúng thế, khuỷu cũng phải được thả chìm xuống cùng với sự chìm thân nén khí, đồng thời có định

Trang 21

howngs, khiến bàn tay từ từ được đưa lực vào, như vậy gọi là “tọa

uyển” “Tọa uyển” còn được gọi là “Tháp tuyển”

“Tọa uyển” được thì trong khi vận động, nội lực bàn tay không bị đứt

đoạn hoặc bị mất

Trong động tác đầy tay, khi khống chế lực của đối phương cũng cần

phải “tọa uyển” được thì mới có thể khống chế được Có khống chế

được thì mới giải phóng lực của đối phương

d- Tay: Tay là bộ phận khéo léo nhất và biến hóa nhất Hình dáng tay

trong Thái cực quyền chia làm 3 dạng: bàn tay, nắm tay và móc câu

Trong việc thao lược, phương pháp nắm (chưởng) là chủ yếu đặc điểm

của chưởng pháp (phương pháp của bàn tay) trong Thái cực quyền là

các ngón tay duỗi lỏng, điều này khác với chưởng pháp trong trường

quyền (ngón cái cuộn chặt, 4 ngón còn lại duỗi thẳng và khép chặt) Khi

mới tập quyền, xuất chưởng và thu chưởng đều phải tự nhiên, không

được vận lực để nắm họăc mở bàn tay Lòng bàn tay không được trũng

Khi luyện tập đã công phu, ta hiểu được hư thực của động tác thì nó sẽ

được biểu hiện trên bàn tay Vì dụ, động tác vươn tay ra phía trước, khi

chưa vươn, bàn tay hơi khum, lực tích mà không phát, như vậy gọi là hư

chưởng; trong quá trình vươn ra, vì động tác vươn ra thực hiện theo

đường xoáy ốc nên dần dần triệt tiêu hình khum của lòng bàn tay, như

vậy gọi là từ hư sang thực Khi vươn tới điểm cuối cùng, hình khum gần

như bị triệt tiêu hoàn toàn ngón tay hơi duỗi, “tọa uyển”, gốc bàn tay hơi

nhô về phía trước, giúp cho thế vươn về phía trước dùng ý đưa lực ra đầu ngón tay, như vậy gọi là thực chưởng; khi thu về, vì thu về theo đường xóay ốc, bàn tay dần dần từ mở về khum, như vậy gọi là từ thực về hư Động tác của bàn tay là một bộ phận của động tác hoàn chỉnh, vì vậy,

sự hư thực cảu bàn tay nên kết hợp với sự thay đổi hư thực của động tác hoàn chỉnh – lý luận về quyền có nói: “Gốc của nó ở chân, phát ra ở đ

ùi, quyết định ở eo, thể hiện ở ngón tay … tất cả liền trong một h ơi”, có nghĩa là khi đã xuất thủ phải kết hợp với toàn bộ các động tác của eo, đùi, chân

Khi đã luyện tới giai đoạn có thể dùng khí để vận lực ở mọi bộ phận,

có thể khiến lực ở đầu ngón tay thay đổi theo hướng của cánh tay Ví

dụ, khi vươn tay ra phía trước, bàn tay nghiêng lại, lúc này, đầu ngón tay út được lực trước rồi cùng với động tác vươn ra theo đường xoáy ốc của cánh tay, lực sẽ dần dần được chuyển dần sang đầu ngón áp út, ngón giữa, ngón trỏ và ngón cái, khiến nội lực được đưa ra năm ngón tay Khi đầu ngón tay cái được lực trước, cùng với động tác vươn ra theo đường xoáy ốc của cánh tay, lực cũng dần dần được đưa với tận đầu ngón

út Khi bàn tay đưa lên hạ xuống song song với mặt đất thì đầu ngón tay giữa được lực trước, khi lực ở đây đã đủ nó sẽ đưa tới dần các ngón khác Khi ngón cái quay ra ngoài gọi là “Ngoại quyền” (quay ra ngoài) hoặc

“Thuận quyền” (quay thuận); khi ngón cái quay vào trong gọi là “Nội quyền” hoặc “Nghịch quyền” (quay ngược) Dù quay thuận hay quay ngược đều phải như thả lỏng mà không thả lỏng, cương nhu hoà quyện”

Trang 22

Động tác của Thái cực quyền được thực hiện theo đường xoáy ốc, vì vậy

“Cương nhu hòa quyện” là yếu lĩnh không thể thiếu khi luyện tập

Khi đã luyện thành thục, mắt nhìn theo đầu ngón tay nào có nghĩa là

lấy đầu ngón tay đó làm chính và từ từ đưa lực tới Khi đã đưa đủ, các

ngón khác cũng dần dần được lực Trong Thái cực quyền, kiểu Trần thì

tập trung thần nhãn vào đầu ngón giữa, còn kiểu Dương và Ngô thì tập

trung vào đầu ngón trỏ hoặc đầu ngón cái Cách đưa lần lượt lực vào

từng ngón tay chỉ có thể thực hiện trong Thái cực quyền, vì các động tác

tay trong Thái cực quyền được thực hiện theo kiểu xoáy ốc, cuộn t ơ,

phàm những chưởng pháp lên thẳng xuống thẳng đều không làm được

điều này

Khi mỗi thế vào đúng vị trí, đầu ngón tay và đầu ngón chân tương hỗ

với nhau, đầu hai bàn tay cũng vậy Trong phần lớn các tư thế, đầu bàn

tay ngang bằng với chóp mũi Sự ngang bằng giữa đầu bàn tay, đầu bàn

chân và chóp mũi trong phần lớn các tư thế, thuật ngữ gọi là “Tam tiêm

tương đối”

Khi thả bàn tay xuống không được thấp quá đầu gối, nếu thấp quá

gối sẽ dễ mất trọng tâm, khi đánh tay ra rất bấ t lợi Cánh tay không duỗi

thẳng để giữ thế tích lực Khi vung tay, phải phát triển biến hoá mật

thiết, không để cứng nhắc và đứt đoạn

Căn cứ vào phương hướng về hình dáng bàn tay, có thể quy nạp

chương pháp thành 7 loại sau:

1) Chính chưởng: đầu ngón tay chĩa thẳng lên, lòng bàn tay hướng về phía trước

2) Lập chưởng: đầu ngón tay chĩa thẳng hoặc chếch lên, lòng bàn tay không hướng về phía trước mà hướng ra phía khác

3) Thùy chưởng: đầu ngón tay chúc thẳng hoặc chếch xuống, không tính tới hướng của lòng bàn tay

4) Ngưỡng chưởng: lòng bàn tay hướng thẳng hoặc chếch lên, không tính tới hướng của đầu ngón tay

5) Trắc chưởng: ngón cái chĩa thẳng lên, bàn tay thẳng nghiêng, không tính đến hướng lòng bàn tay

6) Phủ chưởng: lòng bàn tay úp thẳng hoặc chếch xuống, không tính tới đầu ngón tay

7) Phản chưởng: ngón cái nằm bên dưới, bàu tay thẳng nghiêng e- Nắm tay:

Các nắm tay trong Thái cực quyền cũng giống như cách nắm tay thông thường trong các môn quyền thuật khác, tức 4 ngón tay khép lại, dùng ngón giữa điều khiển các ngón khác cùng cuộn vào, đầu các ngón tay áp vào lòng bàn tay, sau đó lấy bụng ngón cái đè lên đoạn giữa ngón trỏ, nắm thành quả đấm Tuy Thái cực quyền là một quyền “Nhu trung hữu c ương”, song nó bắt đầu từ nhu, nên nắm tay cũng không nên quá chặt Nhưng dù nắm lỏng hay nắm chặt cũng đều phải có ý kết tụ khí lực, khiến nắm tay không bị bung ra khi đánh tay

Trang 23

Khi nắm tay đã đánh chạm tới mục tiêu, lưng nắm tay phải vuông

góc với cánh tay dưới, nếu không khi gặp trở lực phần cổ tay rất d ễ bị

thương Đây là kinh nghiệm chung rút ra từ thực tiễn của các môn

quyền

Trong Thái cực quyền có 5 động tác đánh bằng nắm tay, đó là “Yểm

thủ hoành chùy”, “Phi thân chùy”, “Ch ẩu để chùy”, “Kích địa chùy”,

“Chỉ đang chùy” Cho nên cũng gọi là “Thái cực 5 chùy” Vì các động

tác trong Thái cực quyền vận động theo đường xoáy ốc, nên các tư thế

thuận ngược, úp ngửa, ngang dọc được tiến hành đan chéo nhau, tạo nên

các kiểu động tác, song phần cổ tay vẫn phải thả lỏng mềm mại mà có

lực Khi nắm tay đánh trúng đích, lưng nắm tay phải vuông góc với

cánh tay dưới Đây là điều cần chú ý

Sau một thời gian dài tập luyện phải cảm nhận được sự thay đổi điểm

nhận lực của nắm tay trong các tư thế Ví dụ, khi đánh nắm tay ra ở giai

đoạn “lập quyền” (miệng hổ nằm ở trên) thì đốt thứ hai của ngón út

được lực, khi sang giai đoạn “bình quyền” (lòng bàn tay ở dưới) thì đốt

thứ nhất của ngón giữa được lực, khi nắm tay cắm xuống thì đốt thứ hai

của ngón giữa được lực, khi nắm tay đánh lên, đốt thứ nhất của ngón

giữa được lực, khi nắm tay vung tròn thì đốt hai của ngón cái được lực

Cùng với sự thay đồi phương hướng và tác dụng của năm trong quá

trình vận động, điểm nhận lực ở các ngón tay cũng thay đổi theo với

mục đích đ ưa lực vào nắm tay Đó là phương pháp nhận lực của nắm

tay trong quá trình vận động

f- Câu Tay câu là 5 ngón tay chụm lại, gập thẳng xuống hoặc hơi quập vào, tạo dáng như móc câu Thông thư ờng thì từ chưởng biến câu (từ tư thế bàn tay chuyển sang thế móc câu) Trong Thái cực quyền tay câu có hai kiểu: kiểu Trần và kiểu Ngô Điểm chung của hai kiểu n ày là ngón út quập trước, tiếp theo đến ngón tay áp út, ngón giữa, ngón trỏ, đầu ngón

út áp vào góc bàn tay, ngón cái áp vào đốt đầu, ngón trỏ, độ quay của đốt ngón tay lớn Khác nhau là tay câu kiểu Trần được tạo ra trong khi vận động, độ quay của cổ tay khá lớn, còn tay câu kiểu Ngô thì sau khi dừng tay mới trực tiếp tạo thành, nên độ quay của cổ tay khá nhỏ Tay câu trong v õ thuật là một thủ pháp tóm bắt, có tác dụng quắp, tóm, khóa

Tay câu là một trong những phương pháp luyện tập lực cổ tay và lực ngón tay Phương pháp tóm bắt trong Thái cực quyền kiểu Trần khá nhiều Ví dụ trong động tác quá độ của “Yểm thủ hoành chùy” có kiểu tay câu 4 ngón chụm lại tạo câu để thực hiện động tác quắp, có kiểu ngón út và áp út chụm quặp lại, ngón trỏ duỗi thẳng về trước, đều là phép tóm bắt của tay

3 Phần trên của thân người:

a- Ngực:

Trong võ thuật thế ngực có 3 dạng: vươn ra, thu vào và “hàm hung” (“hàm hung có nghĩa khí hàm chứa trong lồng ngực được điều xuống phần bụng)

Trang 24

Trong Thái cực quyền áp dụng phương pháp hít sâu của phần bụng,

do vậy ngực phải ở thế “hàm hung”, không ngừng tăng cường độ sâu và

số lần hít thở trong điều kiện tăng số lần hít v ào, nhờ vậy sẽ giảm hiện

tượng thở gấp trong quá trình vận động “Hàm hung” không thu khí gấp

gáp như thế vươn ngực, “hàm hung” tạo ra cả giác khí bao lồng ngực

"H àm hung" có tác dụng quan trọng về phương diện sức khỏe Nó làm

lỏng khớp xương quai sanh làm hai vai tự nhiên buông lỏng, thông qua

động tác khiến hai thế hai mảng xương sườn hạ thấp, làm cho khoang

ngực mở rộng cơ hoành có thể hạ thấp

"Hàm hung" không thể thay đổi tùy tiện theo động tác mà cố định, là

tư thế thường xuyên, liên tục của phần ngực tạo thuận lợi côh các cơ

hoành hít sâu, do cơ hoành vận động liên tục khiến cho khoang bụng và

phủ tạng chịu sự vận động lúc lỏng lúc căng hỗ trợ tốt cho hoạt động

lưu thông máu và chức năng của nội tạng Do sự vận động xoay quanh

của cơ ngực, "Hàm hung" có tác dụng quan trọng trong luyện tập Nếu

vận dụng thủ pháp k ình lực (tức kích lực) không thể tách rời sự bổ trợ

của "Hàm hung" "Hàm hung" là tư th ế tiềm tàng của phần ngực

Sau khi luyện quyền công, lấy thân dẫn tay, lấy tay dẫn thân, t ùy thế

xoay tròn, ngực dễ dàng cùng tay vận động khi đó các cơ ngực không

chỉ có tác dụng co giãn thuần túy, mà còn có thể tạo nên những chuyện

động xoắn tròn của chính nó, có tác dụng tốt trong r èn luyện sức khỏe

và trong tấn công đối phương

Lúc đầu tập Thái cực quyền, hầu hết mọi người đều thấy rất khó luyện thế "Hàm hung" Bị quan niệm thế vươn ngực lấn áp, trong động tác tọa thân các yêu cầu của thế "Hàm hung" từng bước thích ứng, sau một thời gian được bổ sung hoàn chỉnh dần Nếu không coi trọng thế "H

àm hung" sẽ dễ bị tất gù lưng và ngực lép, vì vậy nên chú ý để tránh Phải chú ý cố định hai xương quai sanh trung gian giữa ngực và vai, luôn chú ý phương pháp luyện cho các xương sườn nới lỏng, các cơ ngực chùng xuống song luôn vươn ra phía trước; về thân pháp, thần trên luôn thẳng không dao động, trọng tâm hạ thấp luôn dùng thân để duy trì cần bằng toàn cơ thể

Để có thể phát huy hiệu quả chính xác tác dụng tấn công ph òng thủ của hai cánh tay và sự biến đổi hư thực thì bàn tay dường như chỉ có quan hệ thực hư với phần ngực, hai xương quai sanh chùng lỏng, ngực hơi thu các cơ ngực khi hoạt động lên xuống trái phải có thể hỗ trợ nhau bám sát chuyển động xoay tròn Động tác càng luyện càng có hiệu quả lớn về sức khỏe và độ chính xác, đẩy nhanh kỹ xảo đôi tay Chi dưới cùng với thế "Hàm hung" có quan hệ hỗ trợ như vậy sẽ có sự thống nhất toàn thân khiến đôi chân vừa vững chắc và linh hoạt

b- Xương sống:

"Hàm hung" và "bạt bối" quan hệ mật thiết ("bạt bối" có nghĩa là không khí triêm sát ở lưng) có "hàm hung" thì có "bạt bối" "Bạt bối" là khi ngực giảm ngậm khí

Trang 25

Các cơ lưng luôn chùng, nh ững xương cột sống giữa hai xương đòn

vai có thể nâng toàn bộ các cơ trước sau, không chỉ thuần túy hỗ trợ các

cơ phía sau lưng mà còn có tác dụng bổ trợ cả phần trước (đặc biệt đối

với khớp thứ 3 xương sống)

Tác dụng của "Hàm hung" là có lợi cho hóa kình còn tác dụng của

"Bạt bối" lại có lợi cho quyển kình và phóng kình Trong t ấn công cả

hai đều có quan hệ tương đồng

Tác dụng của "Bạt bối" trong rèn luyện chủ yếu là độ mở nhỏ của

động tác, nhiều nhất không quá 30O, biến động tủy sống của xương sống

có thể là hoạt động điều tiết từ hình cung trước đến hình cung sau, làm

cho mạng lưới thần kinh ở lưng có sự rèn luyện tốt Hơn nữa trong khi

vận động đã làm cho cơ bắp bả vai đạt được độ dẻo dai Tủy sống và

xương sống có khỏe và dồi dào nó sẽ có lợi ở bốn điểm sau:

1) Có nhiệm vụ hỗ trợ và điều tiết trọng lượng cơ thể;

2) Là cơ sở duy trì mối quan hệ giữa phần lưng kết hợp cùng các hoạt

động của chân tay con người, biến toàn thân "Nhất động vô hữu bất động"

3) Duy trì tính chính xác của tư thế và động tác, bảo đảm thân được

thẳng

4) Trong quá trình luyện quan hệ chặt chẽ với toàn phần lưng có tác

dụng khơi động, khiến nội công tới được bàn chân, thông suốt sống

lưng, đến từng ngón tay Do vậy có thể nói “lực do bối phát” tức cột

sống được coi là trụ cột quan trọng nhất

Học thuyết kình lực cho là Đốc mạch có huyệt mạnh ở đoạn cuối xương cùng trung ương Huyệt này men theo đường ở mặt phía sau của

cổ N ơi đây lại gặp Dụ mạch Đó là noi tổng hội tụ của khí huyết Tạng, phủ, kinh khí đều thông thương với nhau là nhờ Dụ mạch (Dụ huyệt) Thái cực quyền khai thông mọi sự bế tắc, rất có tác dụng tốt và hiển nhiên với các cơ năng tiêu hóa, hấp thụ và lập ra cái mới, đào thải cái

cũ Có thể điều tiết âm dương

c- Bụng:

Thái cực quyền luôn yêu cầu phần bụng “Thả lỏng mà tĩnh” đồng thời cũng phải “Khí trầm đan điền” dc thực hiện thong qua phương pháp thở bụng sâu “Thả lỏng mà tĩnh” là nguyên tắc luyện Thái cực quyền Đối với phần bụng, đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng, là yêu cầu phải có

để luyện bụng cùng với "Khí trầm đan điền" Vận đ ộng thở bụng sâu của Thái cực quyền có hai dạng hít thở thuận và hít thở ngược, hít thở thuận trước khi hít bụng dưới thu lại, khi thở ra bụng dưới nhô ra, còn hít thở ngược, khi hít vào bụng dưới nhô ra, khi thở ra bụng dưới thu lại Khi bụng dưới nhô ra tức là "Khí trầm đan điền" Do vậy không phải là tuyệt đối hóa

"Khí trầm đan điền" Một hít một thở đó chính là sự tiến hành thay thế giữa "Khí trầm đan điền" và “Khí bất trầm đan điền” Có khi áp dụng hình thức hít thở thuận, cũng có khi áp dụng hình thức hít thở ngược

Do Thái cực quyền có tính chất chữa bệnh, nếu hít thở tự nhiên và đảm bảo tính chính xác của tư thế động tác cùng với sự hít tự nhiên đó thì nó cũng không có hại gì Song nếu nghiên cứu kỹ hít thở với điều

Trang 26

hoà hành động để nâng cao hiệu quả rèn luyện thì nên áp dụng hít thở

thuận hay hít thở ngược là tốt nhất

Hít thở bụng có lợi cho sự hoạt động nội tạng, tăng cường tính độc

lập và tính dẻo dai của các vách ngăn – khi vận động bụng có khi lỏng

có khi căng (khi căn cụng phải chú ý “Thả lỏng”), vận lực lên phần

bụng dần dần sẽ rắn tròn do có tính độc lập và dẻo dai, nên tăng cường

khả năng chống lại được lực bên ngoài tác động Khi mới học nên chú ý

thả lỏng các cơ bụng, đến khi các động tác luyện thành thục, cũng chỉ

cần hình dung "Khí trầm đan điền" mà tiến hành động tác “Đan điền”

tức là phần bụng, thường xuyên tiến hành vận động hình tròn, lên xuống

tría phải, khi lỏng khi căng, có tác dụng ph òng chống bệnh đau dạ dày,

chảy máu dạ dày và cũng có tác dụng phòng chữa các bệnh mật, di tinh,

đái dắt… "Khí trầm đan điền" chủ yếu có tác dụng dùng sự vận động cơ

hoành để hít thở qua bụng Nhưng sự phối hợp của tư thế rất quan trọng,

thế đó duy tr ì sự cân bằng của đốt xương cụt chính giữa, “Hàm hung

bạt bối”, vai trầm xuống, thả lỏng huỷu tay, các cơ lưng thả lỏng, mọi

khớp xương sườn thư giãn Và như vậy đã đạt được yêu cầu của "Khí

trầm đan điền" Để luyện tốt "Khí trầm đan điền" của Thái cực quyền đ

òi hỏi phải luyện công phu, "Khí trầm đan điền" khi phát lực, sẽ có lợi

cho việc duy trì trọng tâm, tăng cường sức mạnh đôi chân, tạo thế xoay

vững chắc, tận dụng được lực phản của đất để tăng sức mạnh khi phát

lực, để đạt đến trình độ có công lực trong thả lỏng phải có kỹ thuật cao

"Khí trầm đan điền" dùng ý chí đưa lực đến chân, tuyệt đối không được

ở thế khom sẽ gây nên một công lực yếu, đứt đoạn, không tập trung, mất tính liên hoàn Duy trì thế thẳng và thả lỏng của cột sống là điểm mấu chốt của toàn bộ các hoạt động tiềm ẩm của cơ thể

d- Eo

Eo là bộ phận then chốt liên kết hoạt động giữa thân trên với thân dưới và có tác dụng chính trong việc thay đổi động tác toàn thân, điều chỉnh sự ổn định trong tâm và đưa lực tới các bộ phận

Thái cực quyền yêu cầu eo phải lỏng, chìm và thẳng Eo lỏng mà thả chìm là nhằm tạo điều khiện thực hiện tốt việc "Khí trầm đan điền" khiến thân tr ên không bồng bềnh, thân dưới vững chãi có lực mà lại có thể chuyển động linh hoạt Để tránh tình trạng trong lõm ngoài lồi, eo cần phải thẳng chứng tỏ tr ục chuyển động này không cong, không lắc

lư, chỉ có những chuyển động mà trục chuyển động, không cong, không lắc lư mới có thể làm cho nội lực linh hoạt, chống đỡ được tám mặt (bát diện), không phiến diện

Do toàn thân thả lỏng, thể trọng từ eo trở nên tự nhiên chìm xuống, toàn bộ trọng lượng do phần eo gánh đỡ, vì vậy eo cần phải thẳng thì mới có lực gánh vác, trong lao động cử tạ, trong thể thao đều yêu cầu eo phải thẳng, như vậy mới phát huy được tác dụng, tránh được tai nạn

Khi mỗi thế vào đúng vị trí, eo và hông hơi lỏng và chìm hỗ trợ cho

Trang 27

tâm do chuyển động của trục eo tạo nên Phần eo không thả lỏng và

chìm xuống và không thẳng đứng, mông sẽ bị nhô ra ngoài nhiều quá,

do vậy phần dưới của cơ thể cũng không thể đứng thẳng, gây những ảnh

hưởng không tốt cho việc “tinh thần xuyên qua đỉnh” và “Lực phát từ

sống lưng” Lý luận về môn quyền đã nói: “Đầu nguồn mệnh ý có ở

vùng thắt lưng”, “thắt lưng” ở đây chính là chỉ hai quả thận, gọi nôm na

là “mắt lưng”, người xưa cho rằng thận là đầu nguồn khí thể trong cơ

thể người, vì vậy đã nói: “Khí phát từ thận” Thận tốt thì chân vững, khí

thông, tinh thần sảng khoái và mắt sáng Từ đó, lý luận về quyền đã

nhấn mạnh rẳng: “Phải luôn luôn lưu giữ vùng lưng”

Khi bắt đầu học Thái cực quyền, trước tiên cần chú ý tới sự mềm

lỏng của lưng, và cũng cần chú ý tới độ thẳng và độ trùng Chú ý tới độ

thẳng và độ trùng trên cơ sở mềm lỏng, sẽ giúp trành được tất cúi xuống

gò ép và vươn lên cứng nhắc, làm ảnh hưởng đến tính linh hoạt khi xoay

chuyển của lưng Khi làm động tác bước hình cánh cung trong Thái cực

quyền kiểu Ngô, mặc dù thân trên cúi về phía trước, nhưng lưng và thân

vẫn cần giữ thẳng, tức là lực từ đỉnh đầu cần được xuyên thẳng tới gót

chân, tạo thành một đường thẳng trong không gian, đó là m ột kiểu của

phép luyện thân trong nghiêng có thẳng

Bất kể bài Thái cực quyền nào cũng đều chú ý vận dụng lực ở lưng, nếu

vận dụng lực một cách thích hợp thì có thể tăng sức phát lực, nâng cao tốc

độ phát lực, hơn nữa còn giúp cho lực của toàn thân tập trung vào một

điểm Các nhà Thái cực quyền đã từng nói: “Lòng bàn tay, cổ tay, khuỷu

tay, và vai, cánh lưng, sống lưng, háng, đầu gối, chân, lực của chín tiết đó đều phát từ giữa lưng”, phép thuật “ngã người” cũng nhấn mạnh cách “vận lưng đổi mặt” để chứng minh tầm quan tọng của lưng trong tấn công Do việc tập luyện Thái cực quyền bắt đầu đi từ động tác mềm, lỏng và trùng nên được ứng dụng vào việc chữa bệnh, chỉ cần điều chỉnh lượng vận động

là đã có hiệu quả rất tốt đối với việc chữa trị bệnh thận

Thái cực quyền trước hết coi trọng phép luyện thân, do vậy hầy hết mọi hư thực đều có ở phần lưng, sau đó là ở ngực Khi làm động tác với lưng, thì thắt lưng ở hai bên trái – phải thay nhau làm công việc phân rõ thực hư

Thắt lưng có liên quan chặt chẽ với hai đùi, khi một bên thắt lưng là thực thì đúi phía dưới cũng là thực, khi một bên thắt lưng là hư thì đúi phía dưới cũng là hư, đó là phương pháp luyện tập “phía dưới tương liền hai đùi” Nhưng vẫn cần thực hiện nguyên tắc “Trong thực có hư, trong

hư có thực”, để làm sao thực mà vẫn không bối rối, hư vẫn không đến nỗi vô ý bị hẫng hụt

Khi có những động tác đã hoàn chỉnh, định hình rồi thì lưng cần thấp xuống (tức là lực ở lưng cần đi xuống), trợ giúp cho khí trầm và lực xuyên

tứ tiêu (dầu tay, đầu chân gọi là tứ tiêu) bước đi cũng vững chắc hơn

e- Mông Cấu tạo sinh lý của mông hơi nhô ra ngoài, nhưng trong khi tập Thái cực quyền, nếu mông quá nhô ra ngoài, nhất định sẽ mắc phải tật cong lưng và cúi đầu, các nhà Thái cực quyền ngày xưa đã chỉ ra yêu cầu “thu

Trang 28

gọn mông”, giúp những người học Thái cực quyền chú ý không được để

mông nhô ra, mà cần thu gọn vào trong, đó là tư thế thu gọn tự nhiên

sau khi lưng mềm thẳng và “phần thân dưới đã đứng thẳng” Cũng

tương tự như tư thế lưng lúc ngồi yênvà mông lúc ngồi xuống, đều hơi

nhô ra một cách tự nhiên Động tác chủ yếu khi “thu gọn mông” là: dưới

sự phối hợp giữa “khí ở dưới rốn” và háng hội âm “hư” nâng lên (tức

háng treo), có thể giúp cho phần bụng kết tụ nhiều “thực”, tăng cường

tác dụng vận động hô hấp theo hoành cách mô, có thể giúp các cơ bụng,

ruột non, ruột già, hệ bài tiết và thận được luyện tập có quy luật hơn,

ngoài ra cũng góp phần nâng cao tính dẻo dai và đàn hồi của cơ bụng

Tiếp đó, sau khi đã “thu gọn mông” thì phần mông sẽ dễ dàng duy trì

thế thẳng ở chính giữa, không giống như khi mông nhô ra ngoài nhiều

khiến mông bị vẹo, thường ảnh hưởng tới tư thế “phần thân dưới thẳng

đứng” Phần thân dưới ở gần chỗ xương cùng, nó đương nhiều đứng

thẳng ở chính giữa, vì vậy, nó không phải là một động tác mà là tư thế

cố định về mặt sinh lý, tạp thành góc nghiêng 40 – 50o so với xương

chậu Động tác định hướng về phía nào thì ở bên ngoài thì xương ở

phần thân dưới cũng hướng chiếu thẳng với nó, đây chính là hàm ý

“phần thân dưới thẳng đứng”

Ngoài ra, thu gọn mông không những có lợi cho động tác giữ thăng

bằng mà còn có lợi đối với động tác vung tay biến lực và phóng lực, có thể

giúp trọng tâm cơ thể hạ xuống thấp Vì thu gọn mông khiến cho phần thân

đầu dưới của cột sống, hình thành bệ đỡ cho cả thân trên Có được bệ đỡ là phần thân dưới thẳng đứng, sẽ giúp cho xương cùng của lưng cố định, góp phần trợ giúp tính linh hoạt của cột sống và tính đàn hồi của cơ lưng, có lợi cho quá trình “lực phát từ sống lưng” Nếu mông không thu gọn, đằng sau của phần thân dưới sẽ không thẳng, sẽ biến lực phát trở thành lực bắp tay lệch hướng một bên, lực đó sẽ làm mất thăng bằng, không thể thực hiện

“chuy ên chú một phương”, bởi vì lực đó không phải là lực phát từ đùi, làm ảnh hưởng tới lực chỉnh thể của sống lưng

Tác dụng tấn công của mông là để ứng phó với khi áp gần đối phương phía sau lưng, hoặc khi di động tiến lên sẽ lấy mông chạm dính phần bụng dưới của đối phương, phối hợp phép luyện tay, cúi người để mông nhô cao, làm cho đối phương ngã từ đằng sau lộn ra đằng trước Mông cùng cơ thể lợi dụng thế để làm gập mạnh khớp đầu gối và háng của đối phương từ đằng sau, khiến đồi phương ngã nhào Cũng cần chú

ý tới hình xoáy ốc của động tác, như vậy đối phương sẽ mất thăng bằng

Trang 29

Háng cần viên mãn, và cũng cần “hư”, không thể thu vào thành háng

nhọn như hình chữ nhân Háng mở ra, hai đầu gối có xu hướng hơi gập

vào bên trong, thì phần háng đương nhiên là “tròn” Kể cả khi hai đầu

gối mở ra phía ngoài, mà hai đùi trên từ ngoài hợp vào trong, háng mở

ra thì vẫn có tác dụng làm “háng tròn” Hội âm thuộc phần hư nâng lên,

da ở bộ phận này lại có chiều hướng tự rung chuyển xuống dưới, háng

tự nhiên có thể thành “hư” Sự hư và tròn của háng làm cho khớp xương

chậu – đùi rộng ra, các dây chằng xung quanh khớp xương chậu – đùi sẽ

chặt lại, nhất định chân phải cho ãi ra để nâng cao tính linh hoạt cho sự

chuyển vận khi vươn mình và tốc độ hoạt động của nó, và đó cũng là cơ

sở duy nhất giúp cho đùi có thể chuyển biến từ hình cong sang hư và

thực Động tác cả đùi và động tác của cánh tay sẽ nhịp nh àng thống

nhất, cánh tay sẽ xoay thuận v òng, còn đùi cũng xoay thuận vòng theo,

ngược lại, cánh tay xoay ngược vòng thì đùi cũng xoay ngược vòng

theo Chỉ khi nào đầu gối quì và háng tròn thì mới có thể từng đợt lực

bắt đầu từ gót chân, phát từ đùi, nâng lên sống lưng, hình thành trên đầu

ngón tay

“Háng treo” (“Điếu đang”), “Háng điều tiết” (“Điếu đang”) và “háng

tòn” (“Viên đang”), tên gọi khác nhau nhưng ý nghĩa là như nhau Thái

cực quyền lấy sự mềm mỏng, viên mãn làm chủ yếu, do vậy gọi “háng

tòn” (“Viên đang”) là thích hợp hơn cả

Khi lưng và háng đã chùng và lỏng, mông đã thu gọn, thì lực ở háng

sẽ có từ chân Khi lực từ háng đã xuống chân rồi, khớp đầu gối sẽ c àng có

sức mạnh, thì đáy chân sẽ càng bằng phẳng đạp đất, từ đó b ước đi sẽ càng vững và cố định Động tác “Ngực dưới háng” và “Khí ở rốn” là nhịp nhàng với nhau, vì vậy bụng dưới càng “cung thực”, trọng tâm cũng càng ổn định Khi háng là hư thì cũng có nghĩa là trong thực có hư, chuyển động lại càng linh hoạt Lực ở háng dưới đã xuống dưới rồi, thì lực đỉnh ở phần trên cũng vững hơn, phép luyện thân tự nhiên sẽ chính xác ổn định, các nhà Thái cực quyền trước kia đã bàn chung với nhau và chuyện “Dỉnh nâng”

và “Háng treo”, coi đó là m ột trong những phép luyện thân

Khi lực phát trong lúc làm động tác vừa ẩn vừa lộ ra ngoài, thì cần có

sự biến hóa của lưng và háng để làm thế trợ giúp, như vậy mới có lợi cho tính chính xác và sự trầm tĩnh mềm lỏng của lực phát, cho việc

“chuy ên chú nhất phương”, hơn nữa còn nâng cao tốc độ trực xạ của tính

“trong cong có thẳng” của nó Sự biến hóa của lưng và háng có thể có tác dụng tốt đối với việc ổn định trọng tâm, điều chỉnh trọng tâm, đối với sự linh hoạt và phối hợp giữa phép luyện thân, luyện tay và luyện bước

Khi thân người ngồi xổm, khung chậu – đùi mở ra thì cửa háng sẽ

mở rộng thành hình tròn, dễ dàng trợ giúp cho lực ở háng từ phần thân dưới nâng lên Nhưng khi ngồi xổm thì độ cao thấp của háng không được thấp quá đầu gối, nếu không, lượng vận động sẽ giảm xuống, hình thành háng bị rung động tương phản với háng nhọn, lực ở háng không thể thu gọn để nâng lên cao, hai chân hướng ra ngoài cũng từ đó mà trở thanh hư, sự biến hóa hư thực trở nên không linh hoạt

Trang 30

Sư hư thực khi thay đổi lưng và sự hư thực khi khai hợp (khép mở)

háng phảui phối hợp chặt chẽ với nhau, động tác phải nhịp nh àng Khi

động tác thay đổi, lưng và háng cũng phải mềm và linh hoạt, phương

hướng của động tác có thể linh hoạt mà không bị động

Sự thuận bước của hóa lực khi vung tay, sự điều chỉnh trọng tâm, sự

thay đổi phương hướng, điểm lực, góc độ, chủ yếu thể hiện ở sự thay

đổi lưng và háng, còn sự vận động biến hóa của hai tay và lồng ngực chỉ

chiếm vị trí thứ yếu

Khi phát lực (bất kể khi ẩn ở trong tay hay lộ ra ngoài), trước hết đặc

biệt chú ý thu gọn háng và xoay vận lưng, khi đó nội lực mới có thể

trầm tĩnh nhẹ nhàng thẩm thấu được

Lưng và háng không chùng, không linh ho ạt, thì sự vận chuyển nội

lực sẽ chậm đi rõ rệt: lưng không thấp được háng không gọn được, lực

phát sẽ vô hiệu

b- Vùng chậu – đùi:

Ở chi trên, ba khớp cơ bản là vai, khuỷu tay và cổ tay, trước hết cần

phải mở rộng khớp vai; còn ở chi dưới ba khớp cơ bản là khớp chậu –

đùi, khớp đầu gối, và khớp cổ chân, trước hết yêu cầu mở rộng khớp

chậu – đùi Sau khi khớp chậu – đùi mở rộng, động tác của lưng và cổ

chân sẽ càng linh hoạt nhịp nhàng

Từ háng tròn đến khớp chậu – đùi dưới chùng, có thể giúp xương mu

liên kết với nhau và các khớp ở gần đó được mở rộng, độ vận động từ

thêm linh hoạt, khiến nội lực nâng lên sống lưng Như vậy sẽ đạt được mức độ mở rộng khớp chậu – đùi Nhưng khi mở rộng khớp chậu – đùi, nếu mở rộng quá độ hoặc khi thân ngồi xuống mà khớp chậu – đùi quá thấp so với đầu gối, thì sẽ tạo thành một khuyết điểm “háng rung”, nếu chủ yếu dùng khớp chậu – đùi mở quá độ để kéo lực lên, ngược lại sẽ hiến thấn chân không vững, lực thu vào đẩy ra không mạnh Nếu eo không lỏng và chìm mà bồng bềnh không vững chãi thì lực co duỗi không mạnh Nếu khớp chậu – đùi mở quá hẹp, sẽ tạo thành “Háng nhọn”, không thể linh hoạt trong việc tạo đế

Khớp chậu – đùi là bộ phận then chốt điều khiển động tác của eo với chân, khớp chậu – đùi là nơi chuyển tiếp giữa eo với chân, khớp chậu – đùi không thả lỏng thì không thể linh hoạt, eo và chân cũng khó theo cùng, qua đó ta thấy việc thả lỏng khớp chậu – đùi là vô cùng quan trọng Khi chuyển động mà lấy eo làm trung tâm thì xương khớp chậu – đùi cũng chuyển động theo, vì vậy trên thực tế chuyển động eo là chuyển động eo và khớp chậu – đùi Do khớp chậu - đùi phải gánh đỡ trọng lượng của thân trên, vì vậy việc luyện tập thả lỏng khớp chậu – đùi phải tiến hành lâu dài hơn luyện tập thả lỏng khớp vai Nên thường xuyên tập các động tác vận lưng, đứng lên ngồi xuống và đá cao chân,

để tạo điều kiện cho việc thả lỏng khớp chậu – đùi, nâng cao tính linh hoạt và tính mềm mại dẻo dai của khớp chậ u – đùi

Đối với những người điều kiện thể lực cho phép, muốn tăng cường

Trang 31

phải hơi xoay vào và thả chìm xuống, tiếp theo là chuyển động eo, đồng

thời tư thế hơi hạ thấp xuống (song vẫn phải đảm bảo trên dưới nằm trên

một đường thẳng), cùng lúc chân kia từ từ duỗi ra đến giữa chừng tư thế

lại nâng lên, sau khi chân chạm đất từ từ chuyển trọng tâm sang chân n

ày, khi hoàn thành động tác eo và khớp chậu – đùi trở lại bình thường

Đây là phương pháp quan trọng nhằm tăng cường lượng vận động, là

phương pháp vận động khiến bước chân vững chãi ở mọi góc độ Trong

tư thế “trên dưới nằm trên một đường thẳng”, “Hư lĩnh đỉnh kình” và

lực, háng nén xuống, lực được đưa xuống tận dưới bàn chân, giống như

mọt cây đại thụ cành thì vươn lên, rễ thì cắm xuống Vì vậy những

người tập Thái cực quyền lâu ng ày thường cơ bắp chân phát triển Song

đây là phương pháp luyện tập tốn nhiều công sức, lượng vận động cực

lớn nên chỉ phù hợp với người trẻ tuổi, có sức khỏe, những người già

yếu không nên áp dụng

Để đảm bảo “trên dưới nằm trên một đường thẳng” khi thực hiện các

động tác, khi tiến lên hoặc lùi lại, hai hông phải thẳng đứng, cùng tiến

cùng lùi, trên thì phải thẳng với hai vai, hướng vận động phải thống

nhất, lu ôn luôn thực hiện yêu cầu “vai phải thống nhất với hông”, như

vậy sẽ tạo điều kiện để bảo đảm “Xương cùng chính giữa”

Thái cực quyền kiểu Trần có những động tác phát lực được thể hiện

ở bên ngoài Để luyện tập cách vận động eo, háng, khiến lực được phát

một cách chính xác người ta thường có những động động tác riêng lẻ để

tập phát lực, uốn nắn sự biến đồi của eo, háng Trước tiên yêu cầu động

tác phải chính xác, sau đó lực phát phải tâp trung, nhanh và mạnh Đây

là trình tự tập luyện: luyện kỹ xảo trước khi luyện phát lực Để tăng cường tính xoay trên của lực phát ra, khi phát lực phải tạo được tiếng gió vù vù, thì lúc đó mới đạt tới trình độ công phu

Ngày nay, Thái cực quyền kiểu Dương, Vũ, Ngô đã loại bỏ những động tác phát lực thể hiện ra ngoài của kiểu Trần, nhằm làm cho Thái cực quyền phù hợp với yêu cầu chữa bệnh, thích hợp cho đông đảo quần chúng luyện tập Đây là dòng chủ yếu trong phong trào phổ cập Thái cực quyền Song những người trẻ khỏe vẫn yêu cầu có thêm những động tác phát lực, vì vậy những người này khi tập Thái cực quyền kiểu Dương,

Vũ, Ngô cũng đều cần tập thêm những động tác riêng lẻ về phát lực c- Đầu gối:

Chân là bộ phận nâng đỡ trọng lượng toàn thân, trong đó khớp gối là nơi chịu lực lớn nhất, vì vậy khớp gối cần phải có lực mà vẫn linh hoạt Khi bước, hai chân phải thay nhau nâng đỡ trọng tâm, khi đáy hông xoay động, khớp gối cũng được nhấc lên từ từ bước ra do vậy khớp gối chân kia phải nâng đỡ trọng lượng toàn thân

Khi bước chân ra, trước tiên ohải nâng đùi của bên chân hư, tập trung sức mạnh vào khớp gối để nhấc gối để nhấc gót chân lên Khi làm động tác đá chân, trước hết phải nâng đùi, tập trung sức mạnh và khớp gối, đầu gối ít nhất phải nâng cao ngang hông, các sợi gân ở hông được kéo căng Nên thường xuyên luyện tập động

Trang 32

tác hai tay ôm gối, khiến gối ôm sát vào ngực, thì sẽ có thể nâng

gối và đá chân được cao hơn

Nâng đùi, tập trung sức mạnh vào đầu gối sẽ giúp ta đưa lực của toàn

thân tới tận mũi chân, tăng cường phát lực Sự khai mở của đáy hông,

co duỗi của cơ bắp và sự mềm mại dẻo dai của các khớp sẽ tăng cường

việc phát lực Ví dụ như cầu thủ bóng đá, trước khi đá, chân hơi co lại

như vậy lực đá ra sẽ mạnh hơn

Sự thay đổi thực hư của chân là do sự quay tròn của khớp chậu – đùi

và khớp gối điều khiển Đùi và cánh tay phải phối hợp thống nhất, đầy

là điểm mấu chốt để thực hiện liền một mạch việc đưa lực từ chân lên

đùi, qua cột sống và thể hiện ra ngón tay, đồng thời cũng là nguyên

nhân khiến khớp chậu – đùi và khớp gối linh hoạt mà giàu tính đàn hồi

Xét về tác dụng võ thuật của đầu gối, lý luận quyền thuật có câu:

“Túc lai đề tất”, “Cận tiện gia tất” “Tức lai đề tất” (đối phương đá chân

tới thì mình nâng đầu gối lên) là phép dùng đùi để phá đùi, là phép bảo

vệ háng và là phương pháp vừa tiến công vừa phỏng thủ “Cận tiện g ia

tất” (đánh gận tiện cho việc sử dụng thêm cả đầu gối), đầu gối hướng

lên có tác dụng dùng gối để tiến công

Khi động tác hoàn thành, khớp gối hơi khép vào trong, trước và

sau (hoặc phải và trái) hai gối phải có mối quan hệ hô ứng, phối

hợp với việc mở đáy hông, khoép lực háng, như vậy gọi là “hợp

trung hữu khai”, khiến thân dưới chìm xuống, có lực, mà háng

Khi chân trước bước ra, mũi đầu gối không được vượt quá mũi bàn chân, để giữ thăng bằng cơ thể, cũng không nên để mũi đầu gối và cẳng chân tạo thành đường thẳng đứng, như vậy sẽ ảnh hưởng tới tính linh hoạt của động tác tiếp theo

d- Chân:

Chân là gốc rễ cơ bản của bộ hình, bộ pháp (thế bước, kiểu bước) Gốc rễ không vững chỉ cần hơi nghiêng lệch là bộ hình, bộ pháp sẽ bị rối loạn Bộ hình, bộ pháp trong Thái cực quyền không giống nhau, có

to có nhỏ, có đơn giản có phức tạp, song yêu cầu chung của nó là động tác chân phải chính xác, linh hoạt và vững chãi, Làm cho bộ hình, bộ pháp có quy luật thì sẽ có thể điều tiết được sự ổn định của trọng tâm toàn thân “Thủ tiến tam phân, túc tiến thất phân”, bước lên chiếm được thế, lùi lại tránh được đòn thì sẽ không bao giờ thất bại, điều đó đã nói lên tầm quan tọng của động tác chân

Trước đây, chân bước lên phải đi theo đường vòng cung, Thái cực quyền kiểu Ngô ngày nay đã sửa lại điều này, không bước theo đường vòng cung nữa Đây là một sự cải cách nhằm làm cho người tập dễ thao tác, phù hợp với người già sức yếu Khi bước chân ra, trước tiên phải đứng vững vào một chân, chùng đầu gối, thả lỏng khớp chậu – đùi, ổn định tọng tâm, sau đó chân kia từ từ bước ra theo hình cung Muốn bước sáng trái, rtước tiên eo bên phải co lại, đồng thời khớp chậu – đùi bên phải thu vào thì chân trái bước ra sẽ linh hoạt, muốn bước sang phải thì

Trang 33

ngược lại Đây là sự vận dụng nguyên lý: muốn sang trái, trước tiên phải

về phải, muốn sang phải, trước tiên phải về trái vào bộ pháp

Khi hai chân luân phiên vận động, các thế diễn ra liên tục, động tác

cần phải theo hìnhc ung, luôn luôn gắn liền với lực xoáy ốc Tay vận đ

ộng thì chân cũng tự nhiên vận động theo, vì vậy có câu “Túc tùy thủ

vận” (chân vân động theo tay)

Về mặt vũ thuật, chân vận động theo hình cung sẽ có tác dụng lồng

đùi, móc chân, thúc gối, v.v…đồng thời cũng có tác dụng ph òng thủ

phá những thế trên của đối phương

Phương pháp luyện đi chân theo đường cung, mũi chân ngóc lên

hoặc quặp xuống, xoay phải hay xoay trái n ày rất có lợi cho khớp và

dây thần kinh ở chân, bảo đảm và phát triển tính linh hoạt và tính mềm

mại dẻo dai của các khớp chân Sự lên xuống, xoay rtái, quay phải của

gót chân và sự ngóc lên, quặp xuống của mũi chân liên tục đan nhau

trong toàn bộ động tác, tạo nên dáng vẻ đẹp về hình thể, không những

khiến khớp cổ chân được linh hoạt, mà còn tránh được tình trạng mất

cân bằng ở chân, điều n ày đặc biệt quan trọng đói với người già Qua

đó có thể thấy giữa tính vũ thuật, tính thể dục, tính nghệ thuật và tính

chữa bệnh bảo về sức khỏe có thể thống nhất được với nhau (khác biệt

chủ yếu là ở chỗ lượng vận động lớn hay nhỏ, động tác đơn giản hay

phức tạp) Khi vận động, hướng của mũi bàn chân có quan hệ tới lượng

vận động và độ khai mở của khớp chậu – đùi, vì vậy không nên cho

rằng hướng của mũi bàn chân không quan tọng, cần phải chú ý định

hướng cho mũi bàn chân trong quá trình của mỗi thế và khi tiếp đất Cần biết rằng động tác của các chi là liên quan tới nhau, ràng buộc nhau, chỉ cần không chú ý ở một bộ phận nhỏ n ào đó cũng ảnh hưởng tới tính chính xác của toàn bộ động tác Động tác của chi trên Thái cực quyền là lấy cẳng tay điều khiển khuỷu, lấy khuỷu điều khiển tay, động tác của chi dưới là lấy cẳng chân điều khiển đầu gối, lấy đầu gối điều khiển đ ùi, điểm mấu chốt của nó là ở chỗ dùng đầu ngón tay và đầu ngón chân nhẹ nhàng điều khiển sự vận động của tay và chân, ngực và bụng cũng phải vận động theo tay và chân, trên dưới theo nhau Khi mũi chân chiếu thẳng về phía trước, hướng của hai tay cũng phải chiếu về phía trước, hướng mắt cũng phải tập trung về phía trước Đây cũng là yêu cầu

“Trên dưới theo nhau”, mục đích là nhằm làm cho hướng vận động trên, dưới, trái, phải thống nhất, tăng cường tác dụng hợp lực toàn thân Khi tiến lên hay lùi lại cần phải chú ý tới sự ổn định của thân, không để xảy

ra tình trạng lúc cao lúc thấp, như vậy một mặt làm cho lượng vận động

tự nhiên được tăng cường, mặt khác cũng tránh được tình trạng bước dài, bước ngắn, giữa được cữ bước chân đã định

5 Khớp:

Toàn bộ cơ thể người có 206 chiếc xương chúng được nối với nhau bằng các khớp để nâng đỡ trọng lượng và thực hiện các động tác Thái cực quyền yêu cầu trong khi thực hiện các động tác phải dùng ý thức để thả lỏng các khớp, kéo dài các sợi gân, tăng cường tình đàn hồi và tính linh hoạt của các khớp, đồng thời yêu cầu các đốt xương phải được

Trang 34

khớp đúng vào nhau, khiến các khớp được trơn tru mà bền vững, trọng

lượng được phân tán xuống đốt xương một cách hợp lý nhờ đó mà tăng

cường sức mạnh và sức chịu đựng, phát huy được nhiều tác dụng trong

lao động sản xuất Trong Thái cực quyền, khớp được rèn luyện theo

phương pháp lúc lỏng, lúc chặt (thời gian thả lỏng dài, thời gian xiết

chặt ngắn) Khi mới tập Thái cực quyền nên nghĩ nhiều tới việc thả lỏng

các khớp, trước tiên thả lỏng mấy khớp lớn như khớp vai, khớp chậu -

đùi tạo điều kiện tốt cho hoạt động của các khớp tay, khớp chậu, v.v…

Việc thả lỏng xương sống, đặc biệt là đoạn ngực và eo vô cùng quan

trọng, huyệt mệnh môn ở xương sống đoạn eo là nơi dồn tụ trọng tâm

toàn thân, là điểm then chốt điều tiết động tác, toàn thân, 24 xương sườn

ở 2 bên phải thả lỏng xuống, hợp về phía trước, như vậy sẽ giúp cho

việc “Khí trầm đa n điền” được thực hiện dễ dàng và mạch máu quanh

vùng eo được no đủ Ngoài ra, thả lỏng toàn thân còn có nghĩa là phải

dần dần thực hiện thả lỏng từng khớp xương Vì trong Thái cực quyền,

khi một động tác được thực hiện thì tất cả các bộ phận đều phải được

vận động, nhờ động lực liên hợp của xương sống phần eo, tứ chi có thể

tiến h ành các động tác duỗi ra co vào, sang phải sang trái, lên xuống

theo đường xoáy ốc, việc giữa các đốt có sự thông suốt đã tạo điều kiện

cho việc có thể kéo d ài thân và các chi, vì vậy, thả lỏng các khớp toàn

thân là việc có thể thực hiện được Khi nhiều chỗ các khớp đ ã được thả

lỏng cần được đặc biệt chú ý các đốt xương phải được khớp chuẩn với

phải vừa được thả lỏng lại vừa khớp chuẩn với nhau, trước tiên phải thả lỏng cột sống và mấy khớp hoạt động chủ yếu, như vậy các đốt trên toàn thân mới có sự thông suốt, lực đủ mà linh hoạt Đó chính là yêu cầu

“các đốt thả lỏng và có thể hợp lại ở bất kỳ chỗ nào”

Khớp tứ chi còn yêu cầu không được thẳng và không trái ngược, có vậy mới phù hợp với yêu cầu “Kĩnh dĩ khúc sức nhi hữu dư” (dựa vào chỗ cong mà tích thì sẽ có thừa) Chỉ có thực hiện hoàn hảo các yêu cầu: những cái cần tĩnh đều được tĩnh, những cái cần động đều được động trong tư thế như vậy và phải chuyển đổi được nội lực theo yêu cầu “khai trung hữu hợp, hợp trung hữu khai” thì mới có thể coi là đã luyện tới trình độ “đã vận động là các khớp có thể quay tròn tự nhiên”, sau này khi nâng cao k ỹ xảo đánh tay nó có thể giúp ta đạt tới trình độ chỗ nào cũng là tích thế, chỗ nào cũng có thể vận lực

Khi mỗi thế được thực hiện đúng, toàn thân nhất tề hợp lại, các khớp hợp lại theo trục đối xứng trên dưới, trái phải, những cái cần mở đều được mở, những cái cần hợp đều được hợp Trong quá trình vận động không ngừng lúc mở lúc hợp, lúc hư lúc thực, dưới tác động của các cơ

và gân, các khớp được vận động tới một liều lượng phù hợp lúc thả lỏng, lúc xiết chặt và có qui luật

Những yêu cầu trên đối với tư thế của các bộ phận cơ thể sẽ xuyên suốt toàn bộ các động tác trong Thái cực quyền, chúng có mối liên hệ với nhau, ràng buộc nhau, tư thế của mỗi bộ phận nào đó không chính

Trang 35

phải từng b ước luyện tập thành thục tư thế theo một trình tự thuận, tập

xong tư thế này mới chuyển sang tư thế kia, có nghĩa là phải xây dựng

được cơ sở tốt cho những tư thế cơ bản như: tư thế của tay, chân, thân,

mắt v.v…Khi bắt đầu mỗi tư thế phải luyện tập đi luyện tập lại, dần dần

từn g bước phối hợp chúng lại trong một chuỗi các động tác, phải nắm

được tốc độ, đường đi và phương pháp của từng động tác, thì mới dần

dần thực hiện được yêu cầu thân thẳng thoải mái, động tác liên hoàn liên

tục, trên dưới phải trái nhịp nhàng, từ lạ thành quen, từ quen thành kỹ

xảo Đây là quá trình tât nhiên để dần dần từng bước nâng cao kỹ thuật

Để giúp người mới học dễ nhớ, dễ kiểm tra, tôi quy nạp những y êu

cầu của Thái cực quyền đối với tư thế của các bộ phận cơ thể thành 12

6.Trầm khiên thủy cẩu;

7.Tọa uyển thư chưởng;

8.Lỏng eo co tay;

9.Xương cùng chính giữa;

10 Chùng gối lỏng hông;

11 Bước chân hư thực;

12 Trên dưới thẳng nhau

Khi luyện tập, vừa tập vừa kiểm tra, kiểm tra rồi uốn nắn, cứ như vậy các tư thế sẽ được thực hiện chính xác Cổ nhân thường dậy “Công đáo

tự nhiên thành” (khi công sức bỏ ra đủ, việc sẽ thành công), không nên luyện tập một cách bừa bãi, mà phải tuân theo yêu cầu nghiêm ngặt, tuần tự luyện tập, phát hiện cái sai và sửa chữa uốn nắn, không ngừng tổng kết và nâng cao, như vậy sẽ nhất định đạt được yêu cầu

IV MẤY PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP THEN CHỐT

1 Thân pháp (phương pháp luy ện tập thân)

Thân pháp trong Thái cực quyền chủ yếu là “lập thân cần phải thẳng, thoải mái, chống đỡ được hai mặt”; không được làm cho các bộ phận bị tản mạn, phải thể hiện được sự ngay ngắn, tự nhiên, thoải mái, nghiêm túc, hòa thuận Khi tiến lên, lùi lại, quay phải, quay trái, động tác của tứ chi d ù thay đổi thế nào thì từ đỉnh đầu xuống phần thân tới tận hậu môn cũng phải luôn luôn thẳng đứng “thượng hạ nhất điều tuyến” Lý luận

về quyền thuật có nói: “Bách hội (đỉnh đầu), trung cực (bụng dưới), nhất trí quân thông” Những tư thế thân phục về trước, ngửa về sau, nghiêng phải, ngả trái đều không đúng yêu cầu, đều là những khuyết điểm về thân pháp, sự cân bằng trên dưới giữa hai vai với hai hông, giữa hai vú với hai góc bụng, cùng tiến cùng lùi, không cái trước cái nào sau là điều then chốt giúp ta thực hiện “thượng hạ tương tùy”, “thượng hạ nhất điều tuyến” (trên dưới theo nhau, trên dưới nằm trên một đường thẳng) trong thân pháp

Trang 36

“Trung chính” trong thân pháp của Thái cực quyền giống hư thẳng

thân khi tĩnh tọa Giữ cho thân thẳng là điều đặc biệt quan trọng đối với

người có tuổi, thân trên phục về phía tước, đầu ngả về trước, còng lưng,

làm hỏng tư thế “Hư lĩnh đỉnh kình” là đặc trưng của người già

Thế nhưng trong khi tập Thái cực quyền cũng có lúc duỗi lúc co,

thân cũng có lúc nghiêng ngả, có lúc độ cong của eo khá lớn, có điều

những lúc đó ta vẫn phải bảo đảm được nguyên tắc “Bách hội – Trung

cực, Nhất khí quân thông”, đó gọi là “Trung chính chi thiên” (nghiêng

lệch trong ngay thẳng)

Các động tác của thân muốn thực hiện được nhẹ nhàng linh hoạt phải

nhờ vào sự vận động của phần eo, hông và ngực, khiến ta luôn luôn giữ

đsc thăng bằng toàn thân ở mọi góc độ Điều kị nhất là để đầu và thân

đổ về phía trước, lưng gù, eo cong Xương cùng chính gi ữa có tác dụng

then chốt trong việc bảo đảm sự “Trung chính” (ngay thẳng) của phần

trên Phải coi trọng việc giữ cho thân thẳng, song nếu không kết hợp với

việc th ực hiện “Hàm hung bạt bối” thì phần ngực của thân trên sẽ cứng

nhắc không vận động được, khi luyện tập nếu luôn luôn lưu tâm tới việc

đưa ý thức xuống bụng dưới, phần eo thả lỏng, chìm thẳng xuống,

xương chậu có lực, mạch máu quanh eo no đủ, thì phần dưới tự nhiên sẽ

có cảm giác vững chắc, dùng ý thức để điều khiển thả lỏng các đốt

xương và các cơ ở phần lưng và phần ngực thì tự nhiên hình thành được

tư thế “Hàm hung bạt bối”, “Lỏng vai chìm chẩu” cũng có thể hỗ trợ

khác với bệnh trạng “Lưng gù ngực lép” Khi “Hàm hung bạt bối”, cơ hoành nở rãn xương phía dưới, tự nhiên hình thành sự hít thở sâu, có thể

hỗ trợ cho việc dồn khí xuống bụng, khiến thân trên nhẹ nhàng linh hoạt, thân dưới vững chắc, nó khác với trạng thái trên nặng dưới nhẹ khi ưỡn ngực Sự nở ra – co lại, nâng lên hạ xuống của vách ngăn Khiến cơ hoành có lực, khoang bụng và gan cũng vận theo quy luật lúc xiết chặt lúc thả lỏng nhờ áp lực của bụng, điều n ày có lợi cho việc dẫn máu và thúc đẩy hoạt động của gan Ngược lại, khoang ngực và phổi cũng được rèn luyện, tăng cường khả năng hoạt động của phổi Như vậy đã làm cho cơ, xương, gân ở vùng lưng – ngực được rèn luyện “Lực dồn vào cột sống”, “Lực phát ra từ cột sống”, đó tức là cách nói về “Hàm hung bạt bối”

Ngoài ra, ta không được lý giải “Hàm hung bạt bối” theo hình thức, nếu không sẽ dễ tạo thành tư thế gù lưng không phù hợp với nguyên tắc thân thẳng Cùng với sự thay đổi khai, hợp, hư, thực của động tác, cột sống cũng hơi vận động co duổi trong trạng thái thân thẳng

Sự kếp hợp giữa ba yêu cầu: thân thẳng thoải mái, nhẹ nhàng linh hoạt và vững chắc trong thân pháp là đặc điểm của thân pháp trong Thái cực quyền

Các nhà quyển thuật theo kiểu Trần và Vũ khi luyện thân pháp chủ trương việc thay đổi tích, phát tổng lực toàn thân đòi hỏi phải “Nhất thân bị ngũ cung” (một thân phải có năm cung) Xin giới thiệu phương pháp thao

Trang 37

“Nhất thân bị ngũ cung” nghĩa là phần thân giống như một cánh

cung, hai tay là hai cánh cung, hai chân là hai cánh cung Ngũ cung hợp

nhất, tức lực tổng thể toàn thân, động vào là lập tực vận động linh hoạt,

có thể tích lũy cũng có thể phát lực, liên tục không ngừng

Trong thân cung lấy phần eo làm tay cung, luôn tập trung ý thức vào

huyệt mệnh môn (trên sống lưng đoạn đối diện rốn), khi hoạt động lấy

huyệt mệnh môn làm động lực ban đầu, hai thân, hai phía thắt lưng luôn

phiên quay… khiến cơ lưng được thả lỏng theo hình cung – thay đổi lúc

hư lúc thực Khi mở, hít vào phát lực, lực dồn về trước, còn huyệt mệnh

môn trụ ở phía sau Khi khép lại thở ra, huyệt mệnh môn trước tiên

được kéo về phía sau Á môn (đốt đầu tiên của xương cổ) và xường

cung là hai đầu cung, đốt đối xương trên - dưới, điều tiết mực độ vận

động, tăng cường thể tích phát của thân cung Trong thủ cung lấy khuỷu

tay làm cung, tập trung ý thức vào đốt chẩu, khiến nó được thả lỏng,

chìm xuống mà có định hướng Cổ tay và xương quai sanh là hai đầu

cung, đầu cung cần phải cố định đối xứng trước sau; trong trạng thái

mềm mại linh hoạt, ta dùng phương thức “Tọa uyển” để cố định tay lại

(khớp bàn tay chìm xuống mà có lực, đốt cổ tay mềm mại mà không

yếu ớt gọi là Tọa uyển); dùng ý thức để cố định xương quai sanh, khiến

nó không lắc lư, xương quai sanh điều khiển động hướng của hai tay, cố

định xương quai sanh là tiền đề cố định hai tay

Trong túc cung, lấy đầu gối làm tay cung, khớp xương chậu – đùi và

gót chân là hai đầu cung Khớp gối có lực và hơi nhô về trước (không

nhô quá mũi chân), khớp chậu – đùi được thả lỏng chìm xuống, mông

và gót chân thẳng nhau, lực của mông ph ải được đưa xuống gót chân, ngón chân, bàn chân, gót chân đè xuống mà lại như lật lên, lực chân và

eo sẽ tự nhiên theo nhau “Có trên tất phải có dưới, có tước tất phải có sau, có trái tất phải có phải”, tương phản tương thành Như vậy khiến ta

có thể thực hiện quy trình: lực bắt đầu khởi phát từ gót chân, được điều khiển ở phần eo, được thông qua sống lưng và thể hiện ra ở ngón tay Năm cung hợp lại thành một cung, lấy thân cung làm chính, thủ cung, túc cung là phụ, lấy eo làm trục, trên nối với hai tay, dưới nối với hai chân, trên dưới theo nhau thì giữa cũng tự nhiên theo nhau

Khi đứng ở mỗi thế, cần phải kiểm tra xem đ ã có đủ năm cung chưa,

đã hình thành thế tích phát vừa có thể trụ được 8 mặt, lại vừa có thể biến hóa ở 8 mặt hay chưa? Trụ 8 mặt có nghĩa là nói tới sự ổn định vững chắc, biến hóa 8 mặt là nói về sự sự vận động linh hoạt

Việc hư thực toàn thân trong Thái cực quyền được thực hiện nhờ

sự thay đổi của thân, cái quyết định sự thay đổi của thân là huyệt Mệnh môn Khi cột sống phần eo vận động thì toàn thân vận động theo Nội ngoại hợp nhất mà chủ, thứ vận rõ ràng, nhờ vậy mà các

bộ phận đều có sự thông liền và phối hợp nhịp nhàng Huyệt Mệnh môn là then chốt của then chốt trong “thân cung” Khi đánh tay,

“Ngũ cung hợp nhất” được biểu hiện như sau: tay vừa ra, 5 cung đã xuất hiện đủ, động lực nguồn do cột sống phần eo cung cấp, toàn thân có lực; khi tay vận động theo hình cung thì lực phát theo đường

Trang 38

thẳng, thể tích phát thay đổi theo nhau liên hòan liên tục Như vậy

gọi là “toàn thân đều là quyền”, “toàn thân chỗ nào cũng là thái

cực”

“Ngũ cung hợp nhất” là một quy định cụ thể trong phương pháp rèn

luyện tổng lực nội ngoại toàn thân Khi dừng thế gọi là tĩnh, “Tĩnh trung

hữu động”; khi đổi thế gọi là động, động mà như tĩnh

2 Bộ pháp (phương pháp luyện bước chân)

Mấy tư thế cơ bản trong bộ pháp gọi là “Bộ hình” Sự thay đổi bộ

hình gọi là “Bộ pháp”

Yêu cầu đối với bộ pháp trong Thái cực quyền l à: thực hiện việc

chuyển hóa tiến – lùi, phân rõ hư, thực Chân trái hư thì chân phải thực,

chân trái thực thì chân phải hư Khi tiến lên lùi lại, phần eo cũng phải

dịch chuyển theo Bước chân phải nhẹ nhàng linh hoạt; đặt chân phải

vững, không lắc lư run rẩy

Bộ pháp là cơ sở để giữ thăng bằng và nâng đỡ toàn thân, động tác linh

hoạt hay chậm chạp, điều này quyết định bởi bộ pháp có chính xác hay

không

Bộ pháp trong Thái cực quyền, giống như thủ pháp, vận động hình cung

và hình tròn, tuyệt đối không được đi thẳng về thẳng, lên thẳng xuống

thẳng, động tác của chân phải được tiến hành đồng thời với động tác của

tay, chỉ có tay vận động theo chân, chân chuyển động theo tay thì mới phù

hợp với nguyên tắc “Thượng hạ tương tùy” (trên dưới theo nhau) Khi

đầy đè xuống một chân, ổn định trọng tâm; sau đó chân kia từ từ bước ra theo đường vòng cung, song khớp gối phải hơi hơi ra, bảo đảm tính linh hoạt và thế tích của khớp gối Phương hướng, góc độ đặt chân và sự dịch

ra, thu vào khi chuyển dịch hoặc sự quay phải sang trái của gót chân đều ph

ải hiểu được cái nào là chính, cái nào là thứ, cái nào là hư, là thực, cái nào thực hiện trước, cái nào thực hiện sau

Sự chuyển hóa từ hư sang thực trong bộ pháp của Thái cực quyền phải được tiến hành dần dần, không được làm đột ngột Phương pháp luyện để có thể chuyển hóa dần được tiến hành như sau: luân lưu dùng

m ột chân để nâng đỡ trọng lượng toàn thân, hai chân được thay nhau nghỉ ngơi, nhưng vì động tác tiến hành chậm, đều, gần như “tĩnh”, vì vậy trên thực tế, sự chống đỡ của một chân vô cùng lớn, và lượng vận động cũng rất lớn Những người tập Thái cực quyền lâu cơ chân đặc biệt phát triển Song đối với những người mới tập, dù sức khỏe tốt đến mấy cũng cảm thấy không dễ dàng một chân nâng đỡ toàn thân, vì vậy đối với những người này, nhất là những người già yếu, khi bắt đầu không nhất thiết phân rõ bước thực, bước hư, chỉ yêu cầu bước ngắn hơn để giảm bớt lượng vận động, sau đó căn cứ vào mức độ thành thục và điều kiện sức khỏe mà đặt yêu cầu cao hơn, nhằm từng bước nâng cao lượng vận động, tăng cường lực chân và sức đỡ của khớp gối

Mặc dù phải phân rõ chân hư – chân thực, song vẫn cần phải đảm bảo “Hư trung hữu thực”, “Thực trung hữu hư” Chỉ có hư thực hòa

Ngày đăng: 06/09/2014, 09:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 8                                                       Hình 9 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 8 Hình 9 (Trang 56)
Hình 14  Hình 15 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 14 Hình 15 (Trang 57)
Hình 10 Hình 11      1. Chân phải đưa lên trước chân trái, mũi chân hương phía trước, mũi  chân hơi chạm đất hoặc không chạm đất, chân trước chân sau đối nhau  (hình 8), lấy hơi vào - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 10 Hình 11 1. Chân phải đưa lên trước chân trái, mũi chân hương phía trước, mũi chân hơi chạm đất hoặc không chạm đất, chân trước chân sau đối nhau (hình 8), lấy hơi vào (Trang 57)
Hình 18   Hình 19 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 18 Hình 19 (Trang 58)
Hình 22 Hình 23 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 22 Hình 23 (Trang 59)
Hình 20   Hình 21 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 20 Hình 21 (Trang 59)
Hình 26   Hình 27 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 26 Hình 27 (Trang 60)
Hình 24   Hình 25 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 24 Hình 25 (Trang 60)
Hình 28  Hình 29 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 28 Hình 29 (Trang 61)
Hình 30  Hình 31 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 30 Hình 31 (Trang 61)
Hình 32  Hình 33 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 32 Hình 33 (Trang 62)
Hình 34  Hình 35 - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 34 Hình 35 (Trang 62)
Hình 1a Hình 2a - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 1a Hình 2a (Trang 67)
Hình 8a       Bước gót hình 8a là dạng phục hồi của kiểu bước chữa đinh, sau đó  chân sau hơi dồn khớp gối về phía trước, hơi hướng về phía trái (phải)  bước, gót chân chamk đất trước, sau đó toàn chân trước bước dồn hẳn  xuống đất, gối co lại, chân gập x - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 8a Bước gót hình 8a là dạng phục hồi của kiểu bước chữa đinh, sau đó chân sau hơi dồn khớp gối về phía trước, hơi hướng về phía trái (phải) bước, gót chân chamk đất trước, sau đó toàn chân trước bước dồn hẳn xuống đất, gối co lại, chân gập x (Trang 69)
Hình 10a Hình 11a - Lý thuyết và thực hành Thái cực quyền cơ bản
Hình 10a Hình 11a (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w