1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội

100 520 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng ATS gây nhiều hậu quả nghiêm trọng gây nên các bệnh cơ thểtim mạch, hô hấp, truyền nhiễm…, các rối loạn về tâm thần hoang tưởng,ảo giác, trầm cảm, kích động..., và cũng là vấn đề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÙI VĂN SAN

NGHI£N CøU THùC TR¹NG Sö DôNG C¸C CHÊT D¹NG AMPHETAMIN ë NHãM NG¦êI Tõ 15 §ÕN

60 TUæI T¹I MéT X· NGO¹I THµNH Hµ NéI

Chuyên ngành: Tâm thần học

Mã số  : 60.72.22

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Trần Hữu Bình

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học và Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Viện Sức khỏe Tâm thần đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hữu Bình,

nguyên Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai, phó Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội, người thầy đã dìu dắt tôi trong học tập và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS TS Nguyễn Kim Việt, Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần,

chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội.

- Ths Lê Công Thiện, giảng viên Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y

Hà Nội.

Tập thể Trạm Y tế xã Ngọc Liệp huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội

Là những người trực tiếp dạy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ tôi từng bước hoàn thành chương trình học tập và tiến hành nghiên cứu.

Tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tác giả

Bùi Văn San

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tự bản thân tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác.

Tác giả luận văn

Bùi Văn San

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADHD Attention deficit hyperactivity disorder (tăng động giảm chú ý)ATS Amphetamine type stimulants(Chất kích thích dạng Amphetamin)AMPc Cyclo adenosin monophotsphate (AMP vòng)

DTTK Dẫn truyền thần kinh

DSM – IV Diagnostic and Statistical Manual of Mental Diseases (4rd ed.)

(Sách hướng dẫn Chẩn đoán và Thống kê các bệnh tâm thần)IMAO Inhibit mono amine oxydase (enzym ức chế)

ICD – 10 International Classification of Diseases 10th

(Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10)

NHSDA The National Household Survey on Drug Abuse (Cơ quan điều tra quốc gia về lạm dụng chất Hoa Kỳ)

SODC Standing Office on Drugs and Crime (Văn phòng thường trực

về Ma túy và Tội phạm )

UNODC United Nations Office on Drugs and Crime

(Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy của Liên hợp quốc)VSKTT Viện sức khỏe Tâm thần quốc gia

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau khoảng gần 30 năm mở cửa giao lưu với thế giới, đất nước ta đã thu

được nhiều thành tựu to lớn về nhiều mặt: vị thế của đất nước trên quốc tế dầnđược khẳng định, đời sống của người dân được cải thiện đáng kể cả về vậtchất lẫn tinh thần Kéo theo sự giao lưu của đất nước với thế giới, xuất hiệnnhiều loại hình giải trí, các tụ điểm vui chơi cho giới trẻ như vũ trường, quánbar, nhà nghỉ… ngày càng xuất hiện nhiều Trong đó nổi bật là các tệ nạn xãhội đi kèm: cờ bạc, mại dâm, trộm cướp, sử dụng chất ma túy (heroin, thuốcphiện, rượu…)[1]

Chất kích thích dạng Amphetamin (Amphetamin type stimulants- ATS hay

ma túy tổng hợp) là tên gọi chung của một nhóm chất kích thích có cấu trúchóa học dạng amphetamin Chúng có tác dụng kích thần gây cảm giác hưngphấn, khoái cảm, chống mệt mỏi… khi sử dụng liều cao kéo dài có thể gâyhoang tưởng, ảo giác Những năm gần đây nhóm ATS ngày càng được sửdụng phổ biến trong giới trẻ [1], [2]

Những nghiên cứu gần đây trên thế giới cũng như tại Việt Nam cho thấy tỷ

lệ sử dụng ATS có xu hướng ngày càng tăng nhanh về số lượng cũng như mởrộng về vùng địa lý Theo những thống kê mới nhất của Cơ quan phòng chốngtội phạm và ma túy của liên hiệp quốc (United Nations Office on Drugs andCrime - UNODC) sử dụng ATS toàn cầu năm 2009 dao động từ 0,3%-1,3%dân số, tương đương với 14-57 triệu người tuổi từ 15-64 đã sử dụng các chấtnày ít nhất một lần trong năm qua Sử dụng hầu như có ở tất cả các khu vựctrên thế giới, tăng nhanh tại khu vực Châu Á, Châu Phi Ở Việt Nam, theođánh giá của của UNODC (2009), tỷ lệ sử dụng ATS khoảng 1,2% - 1,4% dân

số Việc sử dụng ATS chủ yếu tại tập trung cao ở khu vực thành thị, đôngdân, nơi có nhiều tụ điểm vui chơi, giải trí.[3]

Trang 7

Sử dụng ATS gây nhiều hậu quả nghiêm trọng gây nên các bệnh cơ thể(tim mạch, hô hấp, truyền nhiễm…), các rối loạn về tâm thần (hoang tưởng,

ảo giác, trầm cảm, kích động ), và cũng là vấn đề nhức nhối của xã hội (bạolực, tăng tỷ lệ tội phạm )[2]

Ở nước ta, trong vài thập niên trở lại đây chất ma túy tổng hợp (ATS) được

sử dụng khá phổ biến và ngày càng nhiều ở cộng đồng, đặc biệt là ở thànhphố lớn Tuy nhiên, đến nay mới có một số chương trình tổ chức đánh giá tìnhhình sử dụng ATS nhưng chưa có hệ thống Với những nhu cầu cấp thiết đó

chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng

Amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành Hà Nội” nhằm đánh giá hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng sử dụng chất dạng Amphetamin ở nhóm người từ

15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành Hà Nội.

2 Đánh giá một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng chất dạng Amphetamin trên các đối tượng nghiên cứu

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Chất dạng Amphetamin

1.1.1 Lịch sử phát triển, sử dụng

  Amphetamin được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1887 từ thảo dược có chứaephedrine bởi nhà khoa học người Đức là L Edeleano Đến năm 1893,Methamphetamin được tổng hợp từ ephedrine tại Nhật Bản vào bởi nhà hóa họcNagai Nagayoshi Thuật ngữ "Methamphetamin" được bắt nguồn từ các yếu tố củacấu trúc hóa học của hợp chất mới này: methyl alpha - methylphenylethylamin Năm

1919, dạng tinh thể Methamphetamin được tổng hợp từ ephedrine bằng sử dụngphốt pho đỏ và iodine bởi Akira Ogata.[4]

Trong y học, năm 1932 Amphetamin được chỉ định điều trị chứng xunghuyết mũi và hen phế quản ở Đức (Benzedrine) Năm 1937 được chỉ địnhthêm điều trị chứng ngủ rũ, Parkison sau viêm não, trầm cảm, ngộ độc thuốcgây ngủ yên dịu.[4],[5]

Tại Mỹ vào năm 1943, FDA chấp thuận cho Methamphetamin để điều trịchứng ngủ rũ, trầm cảm nhẹ, Parkinson sau viêm não, nghiện rượu mãn tính,

xơ cứng động mạch não… và được cấp phép vào tháng 12 năm 1944.[5]

Do tác dụng kích thần, tăng tập trung, hưng phấn nên Methamphetaminđược sản xuất và sử dụng nhiều trong thời kì chiến tranh Trong chiến tranhthế giới thứ II, Methamphetamin được sử dụng cả ở lực lượng Phát xít và cáclực lượng Đồng minh Công ty Temmler chuyên sản xuất Methamphetamindưới nhãn hiệu Pervitin cho quân đội Đức Chúng được phân chia cho tất cảcác lực lượng quân đội lúc bấy giờ: từ lực lượng bộ binh, xe tăng và phicông… ước tính nhiều triệu liều được phân phối trong suốt cuộc chiến ỞNhật Bản, Methamphetamin không những được sử dụng cho mục đích quân

Trang 9

sự trong chiến tranh thể giới lần thứ II mà cũng được sử dụng cho mục đíchdân sự Trong những năm 1940 và những năm 1950, chúng được nhiều ngườiquản lý cho công nhân lao động Nhật Bản sử dụng để tăng năng suất laođộng.[5]

Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20, ATS được sử dụng rộng rãitrong giới trẻ bởi tác dụng kích thích, hưng phấn, dễ tiếp xúc…và được coinhư chất sử dụng trong lễ hội Bên cạnh đó thì tác dụng có hại của ATS đượcghi nhận ngày càng nhiều: loạn thần, kích động, ngộ độc… Năm 1970,Methamphetamin đã được đưa vào Đạo luật các chất được kiểm soát ở Mỹ.Các nước khác như Nhật Bản, Châu Âu… cũng dần đưa vào danh sách cácchất sử dụng bất hợp pháp.[4],[5]

Hiện nay ATS chỉ được chỉ định cho một số bệnh nhất định: tăng độnggiảm chú ý (Attention deficit hyperactivity disorder – ADHD), ngủ rũ, trầmcảm, béo phì… với các dạng bào chế nhất định: Methylphenidate (Ritalin),Dextroamphetamin (Dextrine)…[6]

1.1.2 Phân loại các chất dạng Amphetamin

Trang 10

Hình 1.1: Cấu trúc không gian Amphetamin

Hình 1.2: Dạng sử dụng Amphetamin

Dược động học

Amphetamin thường được sử dụng qua đường hít, hút, uống hoặc tiêm

để có tác dụng tức thì Thời gian bán huỷ còn tuỳ thuộc vào dạng thuốc, liềulượng, đường dùng và cách dùng Thuốc bài tiết chủ yếu qua thận, một số ítqua nước bọt và mồ hôi Amphetamin tan trong mỡ, nên có thể qua hàng ràomáu não và có tác dụng một giờ sau khi uống Thuốc được hấp thu nhanh quaống tiêu hoá vào máu rồi phân bố ra khắp cơ thể Amphetamin được tích luỹtrong mô mỡ, tập trung nhiều ở não, qua màng rau thai dễ dàng, bài tiết quasữa với tỷ lệ nhiều hơn trong huyết tương [7]

Dược lực học

Amphetamin và ATS có tác dụng hưng phấn, đây là tác dụng đóng vaitrò quan trọng gây phụ thuộc (lạm dụng, nghiện) và gây nên các rối loạn tâmthần liên quan đến sử dụng Amphetamin

Trang 11

Amphetamin làm người sử dụng cảm thấy tự tin, dễ hòa đồng, tăngcường khả năng tình dục khi sử dụng Những người sử dụng Amphetamin chobiết là có tăng tần xuất hoạt động tình dục và thích quan hệ tình dục với nhiềubạn tình hơn là những người sử dụng Heroin

Amphetamin còn giúp cải thiện sự tập trung, giảm thèm ăn và giảm nhu cầungủ, chính vì vậy mà các ATS được sử dụng tăng tập trung trí nhớ, giảm cân Amphetamin có thể gây ra ảo tưởng, ảo giác, hoang tưởng và các triệuchứng loạn thần khác nhất là khi sử dụng liều cao kéo dài Trong lâm sàng rấthay gặp các triệu chứng này trên bệnh nhân sử dụng ATS và rất khó phân biệtvới các triệu chứng dương tính của tâm thần phân liệt [4],[7]

Chuyển hóa

Amphetamin và Methamphetamin được chuyển hóa chủ yếu ở gan, phầnlớn thuốc được dùng qua đường uống và được đào thải qua đường nước tiểu.Thời gian bán hủy của Amphetamin (liều điều trị) khoảng 8-10 giờ Với liềuđộc, việc điều trị các triệu chứng do Amphetamin gây nên có thể mất thờigian dài (có thể đến vài ngày), phụ thuộc vào độ pH của nước tiểu (tăng tínhacid làm tăng dào thải) [7]

Cơ chế tác dụng: Amphetamin và ATS

Các amin sinh học trong quá trình tác động

Trang 12

Amphetamin nội sinh: Một số phân tử của một cấu trúc tương tựamphetamine được tìm thấy tự nhiên trong não Ví dụ như l- phenylalanine

và β- Phenethylamine được tìm thấy trong hệ thống thần kinh ngoại biêncũng như trong não Các phân tử này được cho là có vai trò điều chỉnh mức

độ của sự ham muốn và sự tỉnh táo

Dopamin: Amphetamin gây giải phóng dopamin Các cơ chế ảnh

hưởng đến nồng độ dopamin của Amphetamin đã được nghiên cứu rộng rãi.Hiện nay, có 3 giả thuyết chính Một giả thuyết nhấn mạnh đến tác dụng củaAmphetamin làm tăng nồng độ dopamin khe synaps Giả thuyết thứ hai tậptrung vào vai trò của các chất vận chuyển dopamin Giả thuyết thứ 3 làAmphetamin ức chế phân hủy dopamin bởi IMAO.[8]

Các giả thuyết trước đây được hỗ trợ bởi các nghiên cứu chứng minhrằng tiêm Amphetamin làm gia tăng nhanh chóng nồng độ dopamin.Amphetamin giúp cho việc giải phóng dopamin vào bào tương Amphetamin

và các dẫn xuất Amphetamin có thể làm thay đổi độ pH làm tăng acid, tácđộng làm phân bố lại dopamin

Sự gia tăng của dopamin có thể gây nhiễm độc thần kinh Dopamin tựđộng bị oxy hóa trong bào tương

Serotonin: Amphetaminđược thấy vai trò trên serotonin tương tự nhưtrên dopamin Cơ chế này được cho là liên quan đến ion canxi cũng như cácprotein vận chuyển nhất định

Sự tương tác giữa Amphetamin và serotonin chỉ có ở các vùng đặc biệtcủa não như hệ thống trung não - vỏ não - hệ viền Nghiên cứu gần đây bổsung rằng Amphetamin gián tiếp có thể thay đổi hoạt động của hệglutamatergic từ các khu vực nhân bụng đến vỏ não trước trán Hệglutamatergic liên quan chặt chẽ với việc tăng kích thích ở khe synap Tăng

Trang 13

nồng độ serotonin ngoại bào có thể điều chỉnh các hoạt động kích thíchglutamatergic của tế bào thần kinh.[8],[9]

Amphetamin có tác dụng mạnh lên các amin sinh học khác Thuốc làmhạn chế tái hấp thu các amin sinh học với mức độ nhỏ, còn tác dụng chính làtăng giải phóng amin sinh học từ những túi dự trữ ở đầu mút thần kinh, làmtăng nồng độ các amin sinh học ở các khe synaps Sự giải phóng dopamin ởnhân áp ngoài và các cấu trúc liên quan được cho là gây ra các tác dụng hưngphấn Amphetamin được đưa vào các neuron và đến các túi dự trữ của neurondẫn truyền Bằng cách thay đổi môi trường bên trong các túi này,Amphetamin làm các neuron dẫn truyền giải phóng các chất dẫn truyền vàobào tương và khe synaps.[8],[10]

Trang 14

Hình 1.4: Dạng tinh thể Methamphetamin (Ice)

Là Amphetamin tổng hợp Chúng được dùng phổ biến ở các nước châu Á(Thailan, Nhật, Hàn Quốc…) gần đây cũng phổ biến ở châu Âu, châu Mỹ,Australia.[12], [13]

Cơ chế tác dụng: Methamphetamin có cấu trúc giống Amphetamin có tácdụng giống giao cảm mạnh hơn và thời gian tác dụng dài hơn Amphetamin

Nó có tác dụng trên cả ba cơ chế :

Tăng giải phong chất dẫn truyền thần kinh (DTTK) từ các túi dự trữ

Ức chế tái hấp thu chất DTTK (catecholamine)

Giảm phá hủy bởi IMAO

Chế phẩm cần chú ý là Ice (vì dạng tinh thể trông giống những mảnh vụnthủy tinh, đá …) Đây là dạng tinh khiết 80% của Methamphetamin, nó có thể

sử dụng theo nhiều cách: hút, hít, tiêm trích, uống Tác động tâm thần củaIce đợc mô tả là rất nhanh, mạnh và kéo dài Theo UNODC dự đoán Ice sẽ làloại ma tuý được dùng phổ biến nhất trong 5 - 10 năm tới đây.[3],[10],[12]

1.1.2.3.Các chất giống Amphetamin (Amphetamin-like; Designed Amphetamin) [14]

Trang 15

Là chất tổng hợp, cấu trúc gần giống Amphetamin Tác động trên hệdopamine và trên cả hệ serotonin, gây ảo giác giống các chất ma tuý khácnhư Cocain, LDS

Những chất phổ biến:

3-4 Methylen dioxy Methamphetamin (MDMA): Adam,ectassy.N-ethyl-3-4methylen dioxy Amphetamin (MDEA): Eva

5-Methoxy-3-4-methylen dioxy Amphetamin (MMDA)

5 Dimethyloxy-4 methylamphetamin (DOM)

Ectassy- MDMA- Adam.

Công thức hóa học: C11H15NO2

Cấu trúc hóa học

Hình 1.5: Dạng sử dụng Ectassy

Trang 16

Ectassy được tổng hợp từ 1912 bởi công ty được phẩm Merck Được sửdụng nhiều trong quân đội Mỹ từ những năm 50 của thế kỷ XX Chất này bịlạm dụng nhiều từ thập niên 70 của thế kỷ trước.[5]

Cơ chế có 3 tác động : Kích thần, gây ảo giác và tăng cảm xúc Vì vậy làmcho người sử dụng cảm thấy:

Tác dụng gây hưng phấn, khoái cảm, lãng mạn…

Tác dụng gây cởi mở ,dễ gần dễ hòa nhập…

Tác dụng gây các ảo giác đầy màu sắc sinh động

Tràn đầy sinh lực và thoát ức chế , buông thả…

Thuốc làm tăng nhu cầu tận hưởng âm nhạc kích động, nhu cầu tình dục vàkhả năng nhảy múa dẫn đến kiệt sức Do tác dụng như vậy nên nó được coi là

“party drugs” được sử dụng phổ trong lễ hội, nơi vui chơi giải trí như: vũtrường, quán bar… và là loại ATS được sử dụng phổ biến hiện nay.[14]

Ephedrine và psedoephedrine

Hình 1.6: Sản phẩm thuốc Ephedrine và psedoephedrin trên thị trường

Đây là nhóm thuốc điều trị cúm Có thể mua không cần đơn để chữa một

số bệnh: Hen phế quản, viêm mũi xung huyết, chán ăn Tác dụng của chúngkém APT song dễ mua và dễ bị lạm dụng Chúng cũng là những tiền chất đểtổng hợp ATS [15]

Trang 17

Hiện nay trên thị trường buôn bán và sử dụng bất hợp pháp ATS còn nhiềuloại khác nhau và tên được người sử dụng thường dùng như: đá, thuốc lắc,hồng phiến, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba, Cadillac, Adam, CaliforniaSunrise, Clarity, E, Voi, Eve, ma túy Smile, thuốc tình yêu, Lover's speed, X,Snowball, XE và XTC…[17]

Trang 18

1.1.2.4 Các chế phẩm Amphetamin chính hiện được sử dụng

Các chế phẩm ATS hiện nay được kê đơn, sử dụng trong một số bệnhnhất định Được chỉ định trong điều trị ADHD, ngủ rũ, trầm cảm Các chếphẩm này thường ở dạng bán thải chậm và đã được FDA cấp phép Cácthuốc: Dextroamphetamin (Dextrine), Methamphetamin, Methylphenidate(Ritalin) [5],[6],[12]

1.1.3 Cách sử dụng ATS

1.1.3.1 Uống

Hình 1.7: Dạng sử dụng đường uống ATS

ATS được bào chế dưới dạng viên rất phổ biến Các thuốc này được sửdụng đường uống tiện dụng Dưới dạng viên thuốc được vận chuyển dễ dàng,phân phối thuận tiện trong các tụ điểm: vũ trường, quán bar… Tác dụng củathuốc chậm hơn các dạng sử dụng khác, ít nguy cơ hơn [16],[17]

1.1.3.2 Tiêm chích

Hình 1.8: Sử dụng đường tiêm ATS

Trang 19

Tiêm chích mang nguy cơ cao hơn so với các phương pháp khác khi sửdụng Các muối ATS nhất là của Methamphetamine hydrochloride hòa tantrong nước Người dùng có thể sử dụng tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch đểđạt được tác dụng nhanh Nhưng việc sử dụng theo dường tiêm có nguy cơcao gây nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn của động mạch chi, tiêm dưới da có nguy

cơ phát ban da (còn được gọi là "da gà ") hoặc nhiễm trùng tại chỗ tiêm Cũngnhư tiêm bất cứ thuốc nào, nếu một nhóm người dùng chung một bơm kimtiêm thông thường mà không có khử trùng, có nguy cơ cao lây truyền cácbệnh qua máu như HIV hoặc viêm gan.[10],[18],[19]

1.1.3.4 Hút

Hình 1.9: Dụng cụ sử dụng đường hút ATS

     ATS có thể được làm bay hơi để hít khói gây tác dụng Dạng hay sử dụngnhất là Ice Nó thường được hút từ trong ống thủy tinh Và cũng có thể đượchút trên lá nhôm mỏng được đun nóng bên dưới một ngọn lửa Đây là hìnhthức phổ biến nhất khi dùng ICE, và người sử dụng thường sử dụng theonhóm Phổi bị tổn thương đã được báo cáo khi sử dụng kéo dài.[10][23]

Trang 20

1.1.4 Tác hại của ATS

Tùy theo mức độ sử dụng có thể gây nên các tác động thể chất và tâm thần khác nhau:

Liều đầu tiên 5mg Amphetamin cũng có thể gây ra cảm giác "phê", khoáicảm, tăng khí sắc, thân thiện

Liều nhỏ hơn: tăng sự chú ý, tăng hiệu suất làm việc (nói, viết ), giảm

mệt mỏi, gây chán ăn, tăng ngưỡng kích thích đau, tăng hoạt động tình dục

và tăng năng lượng

Các chất giống Amphetamin có thể gây ảo giác, rối loạn định hướng, méo

mó tri giác, cảm giác say đắm, thấy ánh hào quang rực rỡ còn đợc gọi là cácchất gây ảo giác và là chất ma tuý thực sự [2][7]

Trang 21

Về mặt cơ thể:

Nghiêm trọng nhất là tác động trên não, tim và ruột Đặc biệt đe doạtính mạng là nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp kịch phát, chảy máu não vàviêm ruột hoại tử

Triệu chứng thần kinh: co quắp chân tay, co giật toàn thân, hôn mê, có thể

tử vong (thường do liều quá cao)

Tiêm chích có thể liên quan đến lây truyền HIV và viêm gan virus Đâycòn là cơ địa phát sinh ápxe phổi, viêm nội tâm mạc, viêm mạch hoại tử Các tác dụng khác: đỏ mặt, tái nhợt, sốt, đau đầu, tim nhanh, trống ngực, buồnnôn, nôn, nghiến răng, thở nhanh, run, thất điều… Phụ nữ có thai nghiệnAmphetamine gây: đẻ non, thiếu cân, đầu thai nhỏ, chậm phát triển.[2],[7],[10]

Về mặt tâm thần

Sử dụng Amphetamin gây bồn chồn, bất an, loạn cảm, mất ngủ, tăng kíchthích, hằn học, thù địch, lú lẫn

Với liều cao kéo dài: Rối loạn lo âu, rối loạn hoảng sợ, rối loạn giấc ngủ,

giảm tình dục… Có thể có hội chứng Paranoid với các hoang tưởng liên hệ, bị

theo dõi, ảo giác (thị giác, thính giác ).[2],[10],[21]

Các chất dạng Amphetamin

Có tác dụng giống Amphetamin

Tác dụng khác: cứng hàm, nghiến răng, khô miệng, tăng tỉnh táo, run,toát mồ hôi, trống ngực, thấy hào quang rực rỡ, mất ngủ, chóng mặt, ớnlạnh, bốc nóng Muộn hơn: ngủ gà, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, trầm cảm,

lo âu, sợ hãi, ảo thị.[10]

Tác dụng phụ nặng: tăng thân nhiệt (hypothermia) do thuốc, sau đó là dotăng hoạt động quá mức (nhảy múa, hò hét), có thể gây tử vong vì kiệt sức.[14]

Trang 22

Ngoài ra khi sử dụng ATS kết hợp với các chất khác còn gây tác dụng phụnguy hiểm Nhiễm độc Methamphetamin tăng lên khi sử dụng kết hợp vớirượu, cocaine hoặc opiated Sử dụng rượu và Methamphetamin gây tănghuyết áp, tăng gánh nặng cho tim Methamphetamin cũng làm tăng tác hại củarượu: tăng nguy cơ nhiễm độc rượu và tai nạn giao thông liên quan đến sailệch về cảm giác và kiểm soát.[10],[14]

Sử dụng Cannabis và Methamphetamin làm tăng các triệu chứng loạn thầntrong một số trường hợp Heroin và Methamphetamin có thể gây tình trạng ứcchế hô hấp và có thể suy tim Methamphetamin cũng có thể làm tăng tìnhtrạng quá liều Heroin.[10]

Tác động của việc sử dụng ATS tới trật tự xã hội

Tác hại của ATS tới cơ thể chúng ta đã thấy rõ Về mặt trật tự xã hội.Người sử dụng ATS dễ dẫn tới các biểu hiện rối loạn tâm thần có thể gây cáchành vi bạo lực, mất trật tự gây nguy hiểm cho người khác Nghiện ATS cũngnhư nghiện các chất khác đòi hỏi phải dùng hằng ngày và tăng liều thỏa mãn

vì vậy những hệ lụy kéo theo rất phức tạp: tội phạm, trộm cắp, buôn bán matúy… và cũng là gánh nặng cho chăm sóc và điều trị y tế.[1][17][21]

Theo nghiên cứu của Teresa L Kramer (2006) những người sử dụng ATS

có tỷ lệ liên quan các rối loạn bạo lực ở mức cao từ 30 đến 70% trong vòng

12 tháng trong đó thấy có 25% liên quan tới vấn đề thể chất (đâm, đấm,

đá…), có thể mang theo súng, dao…[22]

Tại Thái Lan năm 2008 theo Susan G Sherman thống kê thấy có tới 38%các đối tượng hút ATS có hành vi bạo lực, 37% hành vi lái xe không an toàn.Ngoài ra các hành vi nguy cơ khác cũng được nghi nhận: uống rượu 67%,quan hệ tình dục 54%.[23]

Tại Việt Nam theo báo cáo khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội cho thấy, có gần 38% số học viên được tiếp nhận và hỗ trợ cai nghiện tại

Trang 23

các Trung tâm đã có tiền án hoặc tiền sự Theo số liệu từ Bộ Công an, khoảng11% trong tổng số 143.196 người nghiện có hồ sơ quản lý của cả nước cuốinăm 2010 đang được quản lý tại các Trại giam, Cơ sở Giáo dưỡng, Trườnggiáo dưỡng do ngành Công an quản lý do có các hành vi vi phạm pháp luậthình sự [1]

1.2 Tình hình sử dụng ATS

1.2.1 Tình hình sử dụng ATS trên thế giới

Như ta đã biết có sự tăng nhanh về sử dụng ATS khắp nơi trên thế giới cả

về số lượng cũng như về vùng địa lý

Theo các báo cáo của Cơ quan điều tra quốc gia về lạm dụng chất (TheNational Household Survey on Drug Abuse - NHSDA) ở Hoa Kỳ năm 2001:7% dân số dùng ATS ít nhất 1 lần/năm và 1% nghiện Nhóm tuổi 18 - 25 có

tỷ lệ cao nhất, nhóm 12 - 17 có tỷ lệ nghiện đáng báo động (tỷ lệ tiêm chíchchiếm 22%) Tính suốt cuộc đời thì nam có tỷ lệ lạm dụng là 1,5% và nữ là1% Cũng theo báo cáo trên, một số vùng của Mỹ có tỷ lệ sử dụng rất cao:Methamphetamin bị lạm dụng và sản xuất phổ biến ở Hawaii, một nửa số phụ

nữ bị bắt giữ ở Honolulu có Test dương tính với ATS năm 2002, có gần 42%

ở Phoenix và 37 % ở San Diego [24]

Tại Cannada, khoảng 1% dân số có sử dụng ATS, và tỷ lệ từ 7- 12,3% sinhviên có sử dụng ATS trong 12 tháng [25]

Tại Mỹ La tinh: theo báo cáo của Leyton và Sinagawa có tới 10,8 % lái xeđường dài ở Sao Paolo, Brazil nghiện ATS [26] Tại Mexico năm 2006 cókhoảng 0,8% dân số sử dụng ATS đứng hàng thứ 3 sau cần sa (7,2%) vàcocain (4,1%).[27],[28]

Tại Australia có tỷ lệ dùng ATS rất cao: trong năm 2010 điều tra cókhoảng 6% báo cáo đã sử dụng ATS và 2% sử dụng thường xuyên Trong đó

tỷ lệ tiêm chính ATS chiếm tới 10%.[16]

Trang 24

Tại các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, theo UNODC báocáo năm 2009 ước tính hàng năm tỷ lệ sử dụng nhóm các chất kích thích daođộng từ 0,3% và 1,3% , tương đương với số lượng 14 - 57 triệu người (tuổi từ15-64)[3] Trong năm 2012 UNODC dự đoán khu vực Châu Á Thái BìnhDương là khu vực tăng nhanh nhất về sử dụng ATS trong đóMethamphetamin sẽ chiếm vị trí hàng đầu.[29]

Cũng theo báo cáo UNODC 2013 về sử dụng và buôn bán ATS ngàycàng ra tăng, ước tính hơn 3 triệu người độ tuổi từ 12 đến 65 tuổi đã sửdụng các chất ma túy trong cuộc đời trong số đó 32% là ATS Tại NhậtBản sử dụng ATS có chiều hướng giảm chiếm 0,4% dân số từ 15 đến 64tuổi Ở Trung Quốc, tỷ lệ sử dụng ATS ngày càng tăng trong số nhữngngười nghiện từ 9% năm 2008 tới 19% năm 2010 và 2013 có 29% người sửdụng ma túy là ATS.[30]

Tùy theo khu vực ATS sử dụng thường được chia thành hai loại chính:(1) nhóm Amphetamines (chủ yếu là Amphetamin và Methamphetamin) và(2) nhóm ecstasy (MDMA và các chất tương tự) Methamphetanin phổ biếnnhất với dạng viên và tinh thể Tỉ lệ sử dụng các nhóm chất ATS khác nhaugiữa các khu vực Nhóm chất Amphetamines nhiều nhất ở châu Phi, châu Mỹ

và châu Á, trong khi nhóm ecstasy lại phổ biến hơn tại Châu Âu và Châu ĐạiDương Tại Bắc Mỹ, hai nhóm sử dụng phổ biến gần như ngang nhau Nhìnchung, sử dụng nhóm chất Amphetamines có xu hướng ngày càng tăng, trongkhi nhóm MDMA ổn định (giảm ở châu Á) Methamphetamin là ATS phổbiến nhất trên toàn thế giới Amphetamin và nhóm MDMA có xu hướng íthơn, nhưng có hoạt động tinh vi hơn vì những chất ATS nhóm này yêu cầuthiết bị chuyên biệt hơn, tiêu chuẩn tiền chất và trình độ kỹ năng cao hơn.[3]Trong năm 2009, số vụ bắt giữ ATS toàn cầu tăng đáng kể, vượt quá mứccao nhất của năm 2007 Các vụ bắt giữ Methamphetamin tăng hơn 40% lên

Trang 25

tới 31 tấn Bắt giữ Amphetamin tăng khoảng 10% (33 tấn) Bắt giữ Ecstasylên đến 5,4 tấn (2008) Thị trường ATS mở rộng tại khu vực Đông và ĐôngNam Á Các chuyên gia chỉ ra rằng tăng sử dụng ATS rất đáng kể, đặc biệt là

sử dụng Methamphetamin Các chuyên gia đã thông báo rằngMethamphetamin xếp hạng trong tốp ba loại ma túy bất hợp pháp trong khuvực này, gồm cả Trung Quốc, Nhật Bản và Indonexia Châu Phi gần đây đãtrở thành một trong các vùng trọng điểm buôn bán ATS Buôn bánMethamphetamin từ Châu Phi bị phát hiện đầu tiên vào cuối năm 2008.Methamphetamin cũng có thị trường mới ở Tây Phi Ở Đông Á, trao đổi tiềnchất đẩy mạnh với giao thông quá cảnh châu Âu, Tây Á hoặc Đông Phi.[3]

Biều đồ 1.1: Tình hình gia tăng các vụ bắt giữ liên quan ATS

Trang 26

1.2.2 Tình hình sử dụng ATS tại Việt Nam

Amphetamin lưu hành bất hợp pháp ở nước ta vào cuối những năm 1990.

Hiện nay đã có mặt ở khắp các thành phố trong toàn quốc Năm 1999 trongkhuôn khổ dự án B93 do UNODC tài trợ Bộ Lao động -TBXH tiến hành khảosát 7905 người nghiện tại 7 tỉnh ở cả 3 miền Bắc, Trung Nam, có 1% nghiệnAmphetamin, đến năm 2001 là 1,5% năm 2003 là 4% chủ yếu là các học sinhsinh viên từ 18-25 tuổi Nghiên cứu của một số chuyên gia Bộ Y tế cũng nhưCục pḥòng chống tệ nạn xã hội thì số lượng người sử dụng ATS trong năm2010: trong tổng số 11093 người đang được cai nghiện tại các Trung tâmCBGDLĐXH, 7,2% cho biết đã từng sử dụng ATS Trên thực tế có thể gấpnhiều lần con số đã thống kê và vẫn tiếp tục gia tăng [1][17]

Trong năm 2011, theo báo cáo của Văn phòng thường trực về Ma túy vàTội phạm (Standing Office on Drugs and Crime - SODC ) ATS đã vượt quathuốc phiện trở thành loại ma túy sử dụng phổ biến thứ hai sau Heroin Sửdụng ATS tập trung chủ yếu trong số những người trẻ sống ở các thành phốlớn, khu vực biên giới và các khu công nghiệp Theo một cuộc khảo sát hơn10.000 trung học sinh và sinh viên đại học sống trong năm thành phố lớn nhấttại Việt Nam (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng vàQuảng Ninh) của SODC và UNODC trong năm 2011, thấy 46% số ngườiđược hỏi cho biết sự sẵn có của ATS ngày càng tăng, khoảng 56% sinh viênđại học biết được nhiều người trong cộng đồng của họ sử dụng ATS Tuynhiên, sự thiếu kiến thức của họ về các loại ATS và tác dụng của ATS cũng làmột thực trạng mà SODC và UNODC cảnh báo.[17],[20]

Gần đây các nghiên cứu dịch tễ học trên các đối tượng nguy cơ cao (nam

sử dụng heroin, nam quan hệ tình dục đồng giới, nữ mại dâm, những thanhniên hay tới các quán bar/vũ trường và công nhân xây dựng hoặc lái xe taxi.)của Vũ Thị Thu Nga và cộng sự năm 2011 cho thấy có tới 73,84% sử dụng

Trang 27

thuốc lắc (ectassy) và 62,86% sử dụng Methamphetamin Theo UNODC thìViệt Nam là một trong các nước có tỷ lệ sử dụng ATS ngày càng tăng nhanh.[31]

Ngoài ra các thông tin đại chúng thông báo rất nhiều về tình trạng sử dụng

ma túy tổng hợp (ma túy đá, thuốc lắc…) tràn lan trong xã hội Tại các bệnhviện tâm thần tỷ lệ bệnh nhân vào điều trị các rối loạn liên quan tới sử dụngATS tăng cao Trong báo cáo 6 tháng đầu năm 2012 tại Bệnh viện Tâm thần

Hà Nội, tại khoa Nghiện chất của bệnh viện thấy có tới 42,57% bệnh nhânđiều trị do các rối loạn tâm thần liên quan sử dụng ATS, đồng thời thống kêcũng cho thấy có tới 39,39% bệnh nhân chuyển từ nghiện chất dạng thuốcphiện sang nghiện ATS [32]

Tình hình sản xuất và buôn bán ATS tại Việt Nam cũng ra tăng Báo cáoSODC trong năm 2010, tổng số vụ bắt giữ liên quan đến ma túy ở Việt Nam

là 23.497, trong đó khoảng 1.600 vụ liên quan đến ATS Tổng cộng 221.685viên Methamphetamin và 22 kg Methamphetamin (cả dạng viên và tinh thể)

bị bắt giữ Từ cuối năm 2007, tỷ lệ Methamphetamin dạng tinh thể bị bắt giữ

ở Việt Nam đã tăng lên đáng kể Hầu hết Methamphetamin dạng tinh thểđược thu giữ tại phía nam Việt Nam trong khi hầu hết Methamphetamin dạngviên bị thu giữ ở phía bắc.[29][30]

Cơ sở sản xuất Methamphetamin bất hợp pháp đầu tiên đã bị bắt giữ vàotháng 6 năm 2005 (SODC 2008) Và không có báo cáo thêm về điều chếMethamphetamin từ năm 2005 Không có báo cáo chính thức MDMA sảnxuất tại Việt Nam Tuy nhiên trong năm 2008, một số thiết bị dập viên ecstasy

đã được báo cáo bị thu giữ [3]

Trang 28

1.3 Một số yếu tố liên quan sử dụng ATS

1.3.1 Tuổi

Độ tuổi sử dụng ATS thường ở độ tuổi 16-28 và có xu hướng sử dụngnhiều chất với nhau như rượu, cần sa và LSD…[4]

Tại Mexico, tuổi trung bình bắt đầu sử dụng ATS rất sớm, khoảng 17

tuổi Sử dụng lần đầu và bị lệ thuộc được tập trung ở tuổi thanh thiếu niên,rất hiếm người sử dụng lần đầu ở sau tuổi 30 Hầu như tất cả đều bắt đầutrước tuổi 35.[27],[28]

Theo Satish Kedia và cộng sự (2007) nghiên cứu ở Mỹ cho kết quả:Nhóm tuổi lạm dụng ATS cao nhất là nhóm từ 18-34 chiếm tỷ lệ 44,9%.Nhóm thấp nhất là dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ 10%.[33]

Tại Thái Lan nghiên cứu của Catherine Sutcliffe và cộng sự (2008) về

sử dụng Methamphetamin tại Chiang Mai tuổi sử dụng lần đầu thường từ

18 đến 20 tuổi.[34]

Theo UNODC 2009 tại Việt Nam, trên các đối tượng nghiện tuổi bắtđầu sử dụng các chất ma túy đa số là từ 18 đến 25 tuổi, đồng thời sử dụngATS hiện nay đang ngày càng được giới trẻ sử dung nhiều UNODC cũngcho biết độ tuổi người sử dụng ATS lần đầu tiên ở Việt Nam đang giảm Tuổi

sử dụng ma túy lần đầu không có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia.[3]

1.3.2 Giới

Nam giới có tỉ lệ lạm dụng chất cao hơn nữ Theo Melanie L.Rusch và

cộng sự (2007) [27] nghiên cứu tại Tijuana, Mexico (2007) có tới 85% đốitượng lạm dụng ATS là nam giới chỉ có 15% là nữ giới

Nghiên cứu của Hiệp hội tâm thần Mỹ năm 1994 ở Texas cho biết tỷ lệnữ/nam là 3/7 Một nghiên cứu khác của Satish Kedia (2007) ở Mỹ cho kếtquả: Tỷ lệ nam giới lạm dụng các chất dạng Amphetamin là 68,9% còn tỷ lệ

đó ở nữ giới là 31,1%.[33]

Trang 29

Với các nước Châu Á như Thái Lan thấy tỷ lệ Nam chiếm 75%.[34] tạiViệt Nam khi điều tra các nhóm nguy cơ có tỷ lệ nam cũng rất cao chiếm71,3% [31], còn theo Lý Trần Tình và cộ sự (2012) thì các đối tượng đượcvào viện điều trị do rối loạn tâm thần liên quan sử dụng ATS có namchiếm 96,6%[32] Các nghiên cứu tại VSKTT cũng cho thấy tỷ lệ namsửu dụng chất chiếm hơn 90%

Nam giới có nhiều khả năng tiếp cận cơ hội sử dụng ATS hơn so với nữ.

Nghĩa là không có sự khác biệt nam, nữ một khi cả hai có những cơ hội trảinghiệm như nhau.[35]

Do đặc tính văn hóa của Việt Nam cũng như các nước Châu Á, tỷ lệnam giới sử dụng chất luôn chiếm ở mức cao

1.3.3.Trình độ học vấn

Các nghiên cứu cho thất các đối tượng lạm dụng ATS có trình độ học vấn

còn ở mức thấp, chỉ mới hoàn thành trung học phổ thông hoặc chưa hoàn

thành Theo Catherine Sutcliffe và cộng sự (2008), tại Thái Lan thì trình độ

học vấn của đối tượng lạm dụng các chất dạng Amphetamin ở mức thấp, chỉ

có 39% tổng số đạng học phổ thông trung học.[22]

Còn theo Melanie L.Rusch và cộng sự (2007) nghiên cứu tại Mexico(2007) thì có 41,5% đối tượng đã hoàn thành bậc trung học phổ thông.[28] Cũng theo Stacia M DeSantis và cộng sự (2010) nghiên cứu ở Mỹ thì có54,5 % đối tượng đã hoàn thành trung học phổ thông và tham dự vào một sốtrường đại học.[33]

Trước đây ATS được coi là chất ma túy đắt tiền, sử dụng chủ yếu cho cáchoạt động vui chơi, giải trí và thường được những đối tượng có điều kiện sửdụng Đồng thời một số sinh viên sử dụng nhằm tăng trí nhớ khi học tập nhằmtăng kết quả trong các kỳ thi Vì vậy những người sử dụng ATS được co như

là những người có trí thức những người có nghề nghiệp áo trắng.[12]

Trang 30

Tu nhiên các nghiên cứu gần đây nhận thấy rằng mối quan hệ giữa trình độhọc vấn và lạm dụng ATS có kết quả không giống những quan niệm trướcđây mà ngược lại Đa số các đối tượng đều có trình độ học vấn trung học cơ

sở, phổ thông cơ sở Những người có trình độ học vấn thấp hơn thì dễ lâm vàotình trạng sử dụng ATS như các loại ma túy khác [34]

1.3.4 Tình trạng việc làm và nghề nghiệp

Theo nghiên cứu Teresa L Kramer năm 2010, tỷ lệ sử dụng ma túy bất hợp pháp cao hơn trong số những người thất nghiệp (18,5%) hoặc làm việc bán thời gian (9,4%) so với làm việc toàn bộ thời gian (8,8%) Tuy nhiên, xu hướng nam giới mắc các rối loạn do sử dụng ma túy bất hợp pháp có việc làm với thu nhập thấp hơn.[35]

Tỷ lệ thất nghiệp sử dụng ATS chiếm rất lớn Theo Lau Yer và cộng sự(2010) tại Nauy tỷ lệ thất nghiệp là 30%, nghỉ ở nhà là 15%, làm theo giờ là

15 % và chỉ 35% là có công viêc ổn định [36] Còn theo Teresa L Kramer vàcộng sự (2006) ở Mỹ có đến 68% thất nghiêp ở đối tượng lạm dụng ATS.[35] Theo nghiên cứu của Pauline Kenny và cộng sự năm 2011 tại Australia thì

có tới 66% đối tượng lạm dụng ATS tham gia nghiên cứu đã thất nghiệp tạithời điểm điều tra.[16]

Tại Việt Nam các nghiên cứu cũng cho thấy các đối tượng sử dụng ATScũng như các chất ma túy khác đều có tỷ lệ thất nghiệp cao và không ổn định

Tỷ lệ thất nghiệp ảnh hưởng tới việc lạm dụng ATS Đồng thời ngược

lại khi sử dụng ATS cũng như các chất ma túy khác cũng làm giảm khảnăng có việc làm

1.3.5 Bệnh kết hợp

Tình trạng bệnh tật hiện tại cũng đóng góp vai trò đáng kể dẫn tới việc sửdụng ATS Có nhiều rối loạn tâm thần có trước khi bệnh nhân sử dụng chất.Trong đó phổ biến nhất là trầm cảm

Trang 31

Theo Suzette Glasner, Edwards và cộng sự (2010) cho thấy có khoảng từ 10% số người sử dụng ATS đã có biểu hiện trầm cảm trước đó Và ngược lạitrầm cảm cũng là một bệnh phổ biến khi sử dụng chất: có 15% có biểu hiệntrong 3 năm từ khi sử dụng, và 23,8% có trong quá trình phụ thuộc ATS [37]

5-1.3.6 Tình trạng hôn nhân, gia đình

Tỷ lệ thường gặp trong đời của rối loạn do sử dụng ATS cũng thay đổitheo tình trạng hôn nhân Đa số các đối tượng sử dụng ATS chưa lập gia đình Theo Lawrence M.Scheier và cộng sự (2008) tại Sydney, Australia có tới93% những người sử dụng ATS lần đầu tiên chưa kết hôn.[14]

Cũng theo Raminta Daniulaityte và cộng sự (2010) tại Ohio, Mỹ cho biết chỉ

có 15% những người lạm dụng ATS đã kết hôn hoặc chung sống như kết hôn.[38] Còn theo LauYer và cộng sự (2010) tại Nauy thì tỷ lệ lập gia dình ở nhữngngười lạm dụng ATS là 30% Ly dị là 47.5 % và chưa lập gia đình là 22.5%.[38] Theo các nghiên cứu tại Viện sức khỏe Tâm thần của Bùi Nguyễn Hồng BảoNgọc (2013) có tới 69,7% người sử dụng khi vào điều trị chưa kết hôn.[39]

Tình trạng hôn nhân càng ổn định thì tỷ lệ sử dụng ATS càng thấp Có sự

liên quan sử dụng ATS ở giớ trẻ chưa kết hôn

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Tại Thành phố Hà Nội tiến hành nghiên cứu tại xã Ngọc Liệp, một xã

ngoại thành Hà Nội, nơi có nhiều biến động về kinh tế, chính trị, xã hội trongnhững năm vừa qua

Xã Ngọc Liệp nằm ở phía Tây của huyện Quốc Oai, cách trung tâmhuyện 5km

Phía Bắc giáp với xã Bình Phú Phía Bắc Tây giáp với xã Cần Kiệmcủa huyện Thạch Thất

Phía Nam giáp với xã Liệp Tuyết, xã Tuyết Nghĩa

Phía Đông giáp với xã Ngọc Mỹ

Phía Tây giáp với xã Đồng Trúc của huyện Thạch Thất

Xã có 4 thôn: Ngọc Bài, Liệp Mai, Ngọc Phúc (Đồng Khanh), ĐồngBụt (Đồng Phật), tổng diện tích của xã là 6,1139 km2

Theo điều tra dân số háng 9-2009, ; dân số 1.801 hộ với 7.572 người

Tới năm 2012 tổng dân số của xã: 8217 dân trong đó

Thôn Đồng Bụt: 2559 người

Thôn Ngọc Phúc: 1770 người

Thôn Ngọc Bài: 1068 người

Thôn Ngọc Liệp: 2820 người

Trang 33

Hình 2.1: Bản đồ địa giới hành chính xã Ngọc Liệp

Sau 5 năm sát nhập địa giới của huyện Quốc Oai vào thành phố Hà Nội

và đặc biệt trong 3-4 năm trở lại đây sau khi hoàn thành đại lộ Thăng Longchạy qua xã Việc giao thương, kinh doanh sản xuất, buôn bán cũng như giaolưu văn hóa có nhiều thuận lợi Sự mở rộng địa giới thủ đô Hà Nội làm giá đấttăng cao, điều kiện kinh tế cải thiện Kết quả cuộc sống tại địa phương cónhiều thay đổi: kinh tế phát triển, đời sống nhân dân nâng cao… nhưng kéotheo những tệ nạn xã hội tại địa phương.[40],[41]

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Lựa chọn: tất cả các đối tượng tuổi từ 15 đến 60 có hộ khẩu thường trú tại

xã Ngọc Liệp

Loại trừ: Các đối tượng không hợp tác tham gia nghiên cứu

Gia đình các đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 34

Đối tượng

nguy cơ

của xã

- Sử dụng ATS

- Thông tin đối tượng khác có sử dụng ATS Tiếp tục phỏng vấn,

khám tại nhà

Không kết quả

Sàng lọc qua bộ câu hỏi ASSIT

Vì vậy chúng tôi tiến hành chọn mẫu có chủ đích (Targeted sampleing):phương pháp này được sử dụng phổ biến trong điều tra các bệnh ít gặp, yếu tố

kỳ thị của xã hội nhiều như: nghiện ma túy, bệnh HIV/AIDS… [29][31][42]

Số liệu ban đầu lấy qua: Công an xã, Trạm y tế xã, người dân địa

phương, đối tượng được điều tra

Trong danh sách: Trạm Y tế cung cấp có 35 người (phụ lục)

Công an xã:

Qua khai thác đối tượng thêm 1 người

Các đối tượng được bác sĩ chuyên khoa tâm thần và y tế thôn (hoặc nhânviên trạm y tế xã) tới tận nhà khám, khai thác thông tin sử dụng chất và tưvấn Sau khi điều tra 36 đối tượng thu được 26 đối tượng có sử dụng ATS Các đối tượng được thu thập được có tiền sử dùng ATS, được chẩn đoántheo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD-10 và DSM-IV [43][44] Bao gồm:

Trang 35

1 Tiêu chẩn chẩn đoán sử dụng gây hại (lạm dụng chất):

A Có bằng chứng rõ ràng về việc sử dụng chất gây ra (hoặc đóng góp phầnnào vào) các tổn hại về tâm thần và cơ thể bao gồm: rối loạn sự xét đoán hoặcrối loạn hành vi chức năng có thể dẫn tới sự mất khả năng hoặc hậu quả cóhại với mối quan hệ giữa các cá nhân

2 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng nghiện:

Có 3 hoặc nhiều hơn các dấu hiệu dưới phải sảy ra cùng nhau ngắn hơn trong

1 tháng, nếu hơn cần lặp lại cùng nhau trong khoảng thời gian 12 tháng

3 Có hội chứng cai đặc trưng khi ngừng hay giảm sử dụng

4 Có bằng chứng về hiện tượng dung nạp chất dạng thuốc phiện đang được

sử dụng

5 Xao nhãng các thú vui, thích thú trước đây để dành thời gian tìm kiểm hay

sử dụng cũng như hồi phục sau tác động của chất dạng thuốc phiện

6 Tiếp tục sử dụng mặc dù có các bằng chứng rõ ràng về hậu quả do sử dụngchất ma tuý đó

Trang 36

3 Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc ATS

G1: Có bằng chứng sử dụng chất tác động tâm thần đủ cao để có thể gây ngộ độc.G2: Phải có triệu chứng hoặc dấu hiệu ngộ độc tương ứng với tác động củamột chất cụ thể đã biết: rối loạn ý thức, nhận thức, giác quan, cảm xúc hành

vi, có tầm quan trọng trể lâm sàng

G3: Các dấu hiệu và triệu chứng này không thể quay cho một bệnh nội khoakhông có liên quan đến việc dùng chất, không quy cho một hành vi rối loạntâm thần khác

A Các tiêu chuẩn chung co nhiễn độc cấp phải được đáp ứng

B Phải có rối loạn hành vi chức năng hoặc rối loạn tri giác, được minh chứngbằng ít nhất một trong các triệu chứng sau:

C Có ít nhất 2 triệu chứng sau, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng ATS

1 Lo âu hoặc sợ hãi

2 Các ảo tưởng về thị giác, thính giác, xúc giác hoặc các ảo giác xuấthiện trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo

Trang 37

D Ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau phải có mặt

4 Rối loạn loạn thần do sử dụng ATS

A Khởi phát của các triệu chứng loạn thần xảy ra trong khi hoặc trong vòng 2tuần có sử dụng chất

B Các triệu chứng phải tồn tại hơn 48 tiếng

C Kéo dài của triệu chứng này kéo dài không quá 6 tháng

Chẩn đoán thêm các mã:

F1x.50 Giống phân liệt

F1x51 Hoang tưởng chiếm ưu thế

F1x52 Ảo giác chiếm ưu thế

F1x53 Chủ yếu đa dạng

F1x54 Các triệu chứng trầm cảm chiếm ưu thế

F1x55 Các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế

F1x56 Trạng thái hỗn hợp

Ngoài ra khi sử dụng ATS còn được phân các mã khác nhau

5 Trạng thái cai ATS

Dùng ATS liều cao kéo dài khi ngừng sử dụng có thể dẫn tới

6 Rối loạn cảm xúc do sử dụng ATS

Hay xuất hiện trong hội chứng cai hoặc nhiễm độc: hưng cảm thường kếthợp với nhiễm độc còn trầm cảm thường kết hợp với hội chứng cai

Trang 38

7 Rối loạn lo âu do sử dụng ATS

Cũng hay sảy ra khi bệnh nhân bị nhiễm độc hoặc ở hội chứng cai Có cácbiểu hiện rối loạn ám ảnh nghi thức, rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu ám ảnh sợ

8 Rối loạn chức năng tình dục do ATS

Dùng ATS có thể gây tăng chức năng tình dục, nhưng dùng liều cao kéodài có thể gây bất lực hoặc các rối loạn khác

9 Rối loạn giấc ngủ do sử dụng ATS

Mất ngủ thường ở giai đoạn đầu nhiễm độc, giai đoạn sau thường ngủnhiểu và hay gặp ác mộng

10 Trong quá trình nghiên cứu thu thập số liệu, một số đối tượng có tiền sử dùng ATS cũng được đánh giá khi nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Quá trình điều tra kết hợp theo y tế cơ sở tại địa bàn nghiên cứu

Phỏng vấn: cán bộ điều tra tiến hành phỏng vấn tai gia đình, và phỏng vấnvới bộ câu hỏi, bệnh án có sẵn

Bộ câu hỏi: bao gồm bộ câu hỏi đã được xây dụng trước

Bộ câu hỏi sàng lọc theo ASSIT [45]

Bộ câu hỏi thu thập thông tin

Test nhanh: sử dụng test nhanh với các chất ma túy trong nước tiểu

Bệnh án nghiên cứu: bệnh án được tiến hành bởi bác sỹ chuyên khoa tâm

thần chủ yếu nêu được chẩn đoán cụ thể tình trạng sử dụng ATS và các bệnh

lý khác của đối tượng

Trang 39

Nam, nữ

Độ tuổi phân chiaCác cấp độ học vấnNghề nghiệp

Điều tra quaphiếu thu thậpthông tin

2 Xác định tỷ lệ

sử dụng ATS

Số người đã sử dụng

Lạm dụngNghiệnKết quả nước tiểuHình thức sử dụng:

Số lần

Số lượng Kết hợp

Tỷ lệ sử dụng

Các chẩn đoán cụ thể

Âm tính, dương tínhMức độ sủ dụng

Sàng lọcKhám lâm sàngTest nhanhBệnh án

3.Các yếu tố

liên quan

Lý do sử dụng Tính cáchCác bệnh tật kèm theo

Nhận thức về ATSẢnh hưởng của dùng ATS

Nhận được lý do chính

Bệnh kết hợp

Tỷ lệ liên quanBiết hay không biếtThay đổi cuộc sống

Bệnh án nghiên cứu

Hỏi và khámThu thập thông tin

Thu thập thông tin

Trang 40

2.3.3 Phát hiện sử dụng ATS và thu thập thông tin

Thông tin được thu thập qua y tế cơ sở về tình hình dân cư tại địa bànnghiên cứu, đồng thời sàng lọc các đối tượng có nguy cơ sử dụng ATS Sau

đó điều tra viên, bác sỹ chuyên khoa tiến hành điều tra và khám tại nhà cácđối tượng nghiên cứu

Trong quá trình điều tra thu thập thông tin từ đối tượng: sử dụng ATS

và các đối tượng khác có dùng để tiếp tục điều tra

Có thể sử dụng thêm các thông tin từ chính quyền địa phương: Công an

xã, y tế thôn, trạm y tế xã, gia đình đối tượng

2.3.4 Công cụ thu thập thông tin

Phiếu sàng lọc: bộ câu hỏi ASSSIT 3.0 của WHO sàng lọc nghiện chất.[46]

Phiếu thu thập thông tin: đánh giá các yếu tố bản thân và gia đình liênquan tới dùng chất

Test nhanh: test nước tiểu theo phương pháp sắc ký lớp mỏng đánh giánhanh có ATS trong nước tiểu hay không (nồng độ > 1000ng/ml)

Khám trực tiếp đối tượng: theo mẫu bệnh án có sẵn và được các bác sĩchuyên khoa tâm thần khám và chẩn đoán

2.4 Các bước tiến hành

Bước 1: Xây dựng kế hoạch: lập phiếu điều tra, thời gian, nhân lực thực hiện

tại VSKTT

Chẩn bị phương tiện cần thiết, liên hệ với địa phương (trạm y tế xã, y

tế các thôn) tiến hành điều tra

Bước 2: Tập huấn cán bộ: cho các điều tra viên và các bác sĩ chuyên khoa

tâm thần chẩn bị điều tra trực tiếp tại cộng đồng

 Điều tra viên cần: Phát hiện bệnh nhân

o Thu thập thông tin

o Làm test nhanh nước tiểu

Ngày đăng: 06/09/2014, 06:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu trúc không gian Amphetamin - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.1 Cấu trúc không gian Amphetamin (Trang 10)
Hình 1.3: Cấu trúc không gian Methamphetamin - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.3 Cấu trúc không gian Methamphetamin (Trang 13)
Hình 1.4: Dạng tinh thể Methamphetamin (Ice) - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.4 Dạng tinh thể Methamphetamin (Ice) (Trang 14)
Hình 1.5: Dạng sử dụng Ectassy - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.5 Dạng sử dụng Ectassy (Trang 15)
Hình 1.6: Sản phẩm thuốc Ephedrine và psedoephedrin trên thị trường - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.6 Sản phẩm thuốc Ephedrine và psedoephedrin trên thị trường (Trang 16)
Hình 1.8: Sử dụng đường tiêm ATS - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.8 Sử dụng đường tiêm ATS (Trang 18)
Hình 1.7: Dạng sử dụng đường uống ATS - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.7 Dạng sử dụng đường uống ATS (Trang 18)
Hình 1.9:  Dụng cụ sử dụng đường hút ATS - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 1.9 Dụng cụ sử dụng đường hút ATS (Trang 19)
Hình 2.1: Bản đồ địa giới hành chính xã Ngọc Liệp - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Hình 2.1 Bản đồ địa giới hành chính xã Ngọc Liệp (Trang 33)
Bảng 3.1: Tỷ lệ theo nhóm tuổi và giới tính - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Bảng 3.1 Tỷ lệ theo nhóm tuổi và giới tính (Trang 43)
Bảng 3.2: Tỷ lệ người sử dụng ATS trên danh sách sàng lọc - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Bảng 3.2 Tỷ lệ người sử dụng ATS trên danh sách sàng lọc (Trang 43)
Bảng 3.3: Tỷ lệ sử dụng ATS theo nhóm tuổi - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Bảng 3.3 Tỷ lệ sử dụng ATS theo nhóm tuổi (Trang 44)
Bảng 3.6: Đường dùng các chất - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Bảng 3.6 Đường dùng các chất (Trang 45)
Bảng 3.7: Tần số và số tiền mỗi lần sử dụng - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Bảng 3.7 Tần số và số tiền mỗi lần sử dụng (Trang 46)
Bảng 3.9: Tỷ lệ chẩn đoán đối tượng sử dụng chất - nghiên cứu thực trạng sử dụng chất dạng amphetamin ở nhóm người từ 15 đến 60 tuổi tại một xã ngoại thành hà nội
Bảng 3.9 Tỷ lệ chẩn đoán đối tượng sử dụng chất (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w