Mỗi hormone mang một đặc tính, tác dụng riêng, có tác dụng hiệp lực với nhau: * FSH: Có tác dụng kích thích các nang noãn của buồng trứng phát triển và trưởng thành, kích thích phát triể
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1978, Louise Brown, đứa trẻ đầu tiên trên thế giới ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, từ đó đến nay đã có khoảng 4 triệu trẻ
em thuộc mọi màu da, quốc tịch đã được sinh ra bằng phương pháp này Năm
2010 Robert Edwards đã được Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao giải Nobel Y học với công trình “ Phát triển kỹ thuật Thụ tinh trong ống nghiệm ” Thụ tinh trong ống nghiệm ra đời đem lại niềm vui vô bờ bến cho các cặp vợ chồng hiếm muộn giúp họ được hưởng niềm hạnh phúc chính đáng
Thụ tinh trong ống nghiệm là một phương pháp thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể, trong ống nghiệm, được áp dụng cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản vì bất
kỳ lý do nào đó mà tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự nhiên
Trong quá trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm thì một trong những giai đoạn quan trọng là kích thích buồng trứng bằng phác đồ kích thích buồng trứng tạo những nang noãn cần thiết Một nghiên cứu cho thấy sau khi tiêm hCG 6000 IU đánh giá bằng siêu âm trên những bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng Clomiphen hCG được tiêm sau khi có ít nhất một nang ≥ 18mm Quan sát thấy nang bị vỡ sau 38,3 giờ Thời gian vỡ nang thay đổi theo từng bệnh nhân từ 1- 6 giờ Một nghiên cứu khác cho thấy thời gian phóng noãn trung bình là 44,4 giờ và dao động từ 36 – 48h [1]
Để xác định thời điểm tối ưu để chọc hút noãn thì phải cân nhắc đến thời điểm mà hCG có hoạt tính và nồng độ đủ để gây trưởng thành noãn Nếu chọc hút quá sớm thì phần lớn là noãn GV hoặc ở giai đoạn M I, trong khi đó chọc hút muộn thì có thể sẽ phóng noãn sớm và giảm phức hợp noãn tế bào hạt
Trang 2Mansour nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên 90 bệnh nhân ICSI với phác đồ dài GnRHa Hút noãn vào giờ thứ 35, 36, 37 sau khi tiêm hCG
10000 IU Tỷ lệ noãn M II thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm hút noãn giờ
35 Số noãn thụ tinh thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm hút noãn giờ 35 và tác giả cho rằng không nên hút noãn trước giờ 36 [2]
Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về thời điểm chọc hút noãn Tại trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung ương chọc hút noãn được tiến hành vào các giờ 34, 35, 36, 37, 38 sau khi tiêm hCG Câu hỏi đặt ra là thời điểm nào chọc hút cho kết quả tối ưu? Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với hai mục tiêu:
1 Đánh giá ảnh hưởng của thời điểm chọc hút noãn đến chất lượng noãn và chất lượng phôi đối với phác đồ dài
2 Đánh giá ảnh hưởng của thời điểm chọc hút noãn đến chất lượng noãn và chất lượng phôi đối với phác đồ GnRH antagonist
Trang 3CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 VAI TRÒ CỦA TRỤC SINH NỘI TIẾT SINH DỤC: VÙNG DƯỚI ĐỒI – TUYẾN YÊN – BUỒNG TRỨNG
1.1.1 Vùng dưới đồi
Vùng dưới đồi là một cấu trúc thuộc não trung gian, nằm quanh não thất ba
và nằm chính giữa hệ viền Vùng dưới đồi có đường liên hệ trực tiếp theo hai hướng: hướng đi lên qua nhiều vùng của não, đặc biệt vùng đồi thị trước và vùng vỏ của hệ viền, hướng đi xuống qua thân não và chủ yếu đi đến cấu trúc lưới của não giữa, cầu não và hành não Vùng dưới đồi có nhiều neurone tập trung thành nhiều nhóm nhân Nhân quan trọng nhất ở vùng dưới đồi là nhân trên thị và nhân cạnh não thất
Các neurone của vùng dưới đồi ngoài chức năng dẫn truyền xung động thần kinh như các neurone của cấu trúc thần kinh nó còn có chức năng tổng hợp và bài tiết các hormone Vùng dưới đồi có mối liên hệ mật thiết qua đường mạch máu và đường thần kinh đối với tuyến yên Các hormone do vùng dưới đồi bài tiết sẽ theo những con đường này đến dự trữ hoặc tác động ( kích thích hoặc ức chế ) đến chức năng tuyến yên Nhân cung ở vùng lồi giữa có ý nghĩa rất lớn trong việc tổng hợp và chế tiết GnRH (Gonadotropin Relearing Hormone) Từ các nhân này các tế bào thần kinh có hoạt tính chế tiết sẽ đi vào vùng có hệ thống động mạch của tuyến yên tạo nên hệ thống thần kinh mạch máu của thuỳ trước tuyến yên Như vậy vùng dưới đồi là một trung tâm điều phối hệ thống trao đổi thông tin thần kinh và thể dịch
GnRH có vai trò quan trọng đối với sự sinh sản, kích thích hoạt động của tuyến yên GnRH là một phân tử decapeptit, nó không những được sản xuất từ
Trang 4các neuron của vùng dưới đồi mà còn được tạo ra tại buồng trứng, tuyến yên, tuyến vú và rau thai [3]
GnRH được tiết ra theo dạng xung vào hệ thống mạch cửa của thuỳ trước tuyến yên, xung tiết GnRH dao động từ 3 cho đến 14 lần một ngày tuỳ vào giai đoạn của chu kỳ kinh [4] GnRH gắn kết với các thụ thể màng đặc hiệu của các
tế bào sản xuất hormone hướng sinh dục sẽ tổng hợp mới và chế tiết FSH và
LH theo cơ chế: gắn vào các thụ thể làm tăng tính thấm calci, khiến calci nội bào tăng và hoạt hoá các tiểu đơn vị của gonadotropin
Khi sử dụng GnRH liều cao hoặc liên tục sẽ làm nghẽn kênh calci và dẫn đến làm giảm thụ thể, do đó làm gián đoạn cả hệ thống Vì vậy nếu thiếu GnRH hoặc nếu đưa GnRH liên tục vào máu đến tuyến yên thì cả FSH và LH đều không được bài tiết GnRH có thời gian bán huỷ ngắn và bị các men endopeptit phân huỷ một cách nhanh chóng Chỉ vài phút sau khi GnRH có tác dụng tuyến yên đã xuất hiện sự gia tăng nồng độ FSH và LH trong máu ngoại vi một cách đáng kể Bên cạnh các steroid sinh dục có ảnh hưởng lên chức năng của các tế bào thần kinh chế tiết GnRH, còn có các cathecholamin và các chất giảm đau nội sinh tham gia quá trình chế tiết GnRH
Trang 5Mỗi hormone mang một đặc tính, tác dụng riêng, có tác dụng hiệp lực với nhau:
* FSH: Có tác dụng kích thích các nang noãn của buồng trứng phát triển
và trưởng thành, kích thích phát triển lớp tế bào hạt để từ đó tạo thành lớp vỏ của nang noãn
* LH: Có tác dụng:
- Phối hợp với FSH làm phát triển nang noãn tiến tới trưởng thành
- Phối hợp với FSH gây hiện tượng phóng noãn
- Kích thích tế bào hạt và lớp vỏ còn lại phát triển thành hoàng thể đồng thời duy trì sự tồn tại của hoàng thể
- Kích thích lớp tế bào hạt của nang noãn và hoàng thể bài tiết prrogesterone và tiếp tục bài tiết estrogen
Nồng độ FSH và LH thay đổi trong một chu kỳ kinh nguyệt, chúng ở mức
độ thấp khi mới bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt, sau đó tăng dần và đạt đỉnh cao trước khi phóng noãn khoảng một ngày
Thuỳ sau của tuyến yên gồm các tế bào giống như tế bào thần kinh mô đệm, các tế bào này không có khả năng chế tiết hormone Chúng chứa các hormone do vùng dưới đồi bài tiết ra là Vasopressin và Oxytoxin
1.1.3 Buồng trứng
Mỗi phụ nữ có 2 buồng trứng nằm ở 2 hố chậu, mỗi buồng trứng nặng từ 4 đến 8gam, chiều dài – chiều rộng – chiều dày khoảng : 4,2cm – 2,1cm – 1,3cm [5] Buồng trứng có rất nhiều nang noãn, số lượng nang noãn này giảm rất nhanh theo thời gian Ở tuổi thai 20 tuần thì hai bên buồng trứng có 6 – 7 triệu nguyên bào noãn [6], khi ra đời thì số lượng nang noãn chỉ còn khoảng 1 – 2 triệu nang, số lượng nang noãn này không tăng thêm mà chỉ giảm đi [7] Đến tuổi dậy thì chỉ còn
Trang 6khoảng 300.000 nang [8] Trong suốt thời kỳ sinh sản chỉ có khoảng 400 - 500 nang phát triển tới trưởng thành và phóng noãn hàng tháng, số còn lại bị thoái hoá [4] Buồng trứng trái và buồng trứng phải có số lượng nang noãn chưa phát triển là tương đương nhau [9]
Buồng trứng hoạt động chịu sự kiểm soát của tuyến yên qua 2 hormone hướng sinh dục FSH và LH Buồng trứng có 2 chức năng: chức năng ngoại tiết tạo ra noãn và chức năng nội tiết tạo các hormone sinh dục
1.1.3.1 Chức năng ngoại tiết (sinh noãn)
Nang noãn nguyên thủy có đường kính 0,05 mm Dưới tác dụng của FSH nang noãn lớn lên, trưởng thành Nang noãn trưởng thành có đường kính xấp xỉ
20 mm Noãn chứa trong nang này cũng trưởng thành có đường kính khoảng
100 m [10] Dưới tác dụng của LH nang noãn trưởng thành phóng ra một noãn
có thể thụ tinh được vào giữa chu kỳ kinh nguyệt [11]
1.1.3.2 Chức năng nội tiết (chế tiết hormon sinh dục)
Buồng trứng chế tiết ra 3 hormon chính: estrogen, progesterone và androgen là các hormone sinh dục có nhân sterane còn gọi là các steroid sinh dục
1.2 Sự tăng trưởng, phát triển của nang noãn và của noãn
Khởi đầu thời kỳ trưởng thành sinh dục ở hai buồng trứng có khoảng 300.000 nang noãn nguyên thuỷ và một vài nang noãn ở tất cả các giai đoạn Khi một nang noãn được lựa chọn để trưởng thành thì kích thước và vị trí của nó thay đổi Các nang thay đổi trải các giai đoạn: nang tiền hang (nang cấp 1 và nang thứ cấp), nang hang (nang cấp 3), nang tiền phóng noãn (nang de Graff) và nang thoái triển Một chu kỳ phát triển nang noãn trung bình kéo dài 85 ngày và thông thường chỉ có một nang trưởng thành và phóng noãn trong một chu kỳ kinh [12]
Trang 7Hình 1.1: Sự thay đổi số lượng tế bào sinh dục
Trưởng thành noãn là quá trình noãn hoàn thành sự phân bào giảm nhiễm đầu tiên và bước vào trung kỳ II Noãn bị ngừng lại ở tiền kỳ của phân bào giảm nhiễm đầu tiên cho đến khi có đỉnh LH [13], tuy nhiên chỉ vài giờ sau đỉnh LH noãn lại ngừng lại lần thứ hai ở giai đoạn M II [14], [15] Noãn chỉ vượt qua được giai đoạn M II khi có sự thụ tinh của tinh trùng
1.2.1 Nang nguyên thuỷ (Primordial folliele)
Các nang nguyên thủy đầu tiên xuất hiện trong bào thai của con người như sớm nhất là 15 tuần của thai kỳ và kết thúc 6 tháng sau khi sinh Nang nguyên thủy bao gồm các các noãn bào ở giai đoạn các NST tách rời nhau (giai đoạn diplotene) (30-60μmm) bao quanh bởi tiền tế bào hạt phẳng (Hình 2) Các nghiên cứu về dịch mã ở người và động vật gặm nhấm đã xác định được một nhóm gien tham gia vào việc tập hợp các yếu tố thành nang nguyên thủy, chẳng hạn như yếu tố phiên mã alpha, zona protein, enzym đặc hiệu phân bào giảm nhiễm và các yếu tố tăng trưởng thần kinh
Trang 8Khi bắt đầu khởi động phân bào giảm nhiễm các tế bào noãn trở thành noãn bào và kết hợp với tế bào hạt để hình thành các nang nguyên thủy dường như để bảo vệ noãn khỏi thoái hóa, bởi vì chúng không thể tồn tại ngoài tháng thứ bảy của thai kỳ mà không bước vào phân bào giảm nhiễm Vì vậy, buồng trứng ở trẻ sơ sinh thường không có tế bào noãn
Hình 1.2: Sự chuyển đổi từ nang nguyên thủy thành nang thứ cấp
(Nguồn Principles and Practice of Fertility Preservation 2011)
Trong thời gian từ khi sinh đến khi dậy thì số nang nguyên thuỷ và nang noãn giảm nhanh từ vài triệu xuống còn khoảng 1000 khi bước vào tuổi mãn kinh [5]
Mỗi chu kỳ, có khoảng vài trăm nang noãn nguyên thủy được huy động vào nhóm nang noãn phát triển để sau khoảng 12 tuần có một nang noãn đạt đến giai đoạn trưởng thành và phóng noãn Cơ chế của sự huy động các nang noãn nguyên thuỷ vẫn chưa được hiểu rõ, dường như không phụ thuộc vào sự kiểm soát của tuyến yên và có thể phụ thuộc vào các yếu tố nội tại của buồng trứng
Trang 91.2.2 Nang sơ cấp (Primary follicle)
Nang sơ cấp chứa noãn đang trưởng thành, bao quanh bởi một lớp tế bào hạt một hàng, tế bào hạt bắt đầu chuyển sang hình khối Noãn thay đổi tăng kích thước 50 μm rồi 100 μm Giữa tế bào hạt và noãn xuất hiện một màng trong chứa glycoprotein gọi là màng trong suốt Giai đoạn cuối của nang sơ cấp, noãn
có đường kính 100 μm bao quanh là màng trong suốt, một hàng tế bào hình khối rồi đến màng đáy Ở giai đoạn này các tế bào hạt bắt đầu trình diện các thụ thể của FSH [5]
Hình 1.3: Sự chuyển đổi nang tiền hang thành nang hang
(Nguồn Principles and Practice of Fertility Preservation 2011)
1.2.3 Nang thứ cấp (Secondary follicle)
Trong giai đoạn phát triển nang thứ cấp, có sự tăng sinh các tế bào hạt và
sự trưởng thành của tế bào noãn Cuối giai đoạn nang thứ cấp nang gồm nhiều lớp tế bào sắp xếp cân đối: chính giữa là noãn đã trưởng thành đường kính 120
Trang 10μm được bao quanh bởi một màng trong suốt dày hơn, 4 đến 8 hàng tế bào hạt
và ngoài cùng là màng đáy Trong quá trình thành lập nang thứ cấp, tế bào hạt phát triển thành hai, ba hàng thì xuất hiện tín hiệu cho các tế bào trung mô di chuyển đến màng đáy của nang rồi những tế bào này chuyển thành những tế bào dài giống như nguyên bào sợi sắp xếp song song bao quanh toàn bộ màng đáy của nang Lớp tổ chức liên kết này phát triển thành vỏ trong và vỏ ngoài Trong giai đoạn này thành lập các thể call - exner nằm giữa các thể hạt có thể điều hoà sự biệt hoá các tế bào hạt
Hình 1.4: Sự phát triển từ nang hang đến khi phóng noãn
(Nguồn Principles and Practice of Fertility Preservation 2011)
1.2.4 Nang cấp 3 (tertiary follocle)
Đặc điểm nang cấp 3 là xuất hiện hang nang, bắt đầu là một khoảng trống gọi là tạo hang sau đó chứa dịch tiết từ các tế bào hạt, đường kính nang 400 μm Giai đoạn này có sự thay đổi tế bào vỏ trong và tế bào hạt: các nguyên bào sợi
Trang 11của lớp đệm chuyển sang liên bào rộng lớn gọi là tế bào vỏ kẽ, tiếp theo tế bào
vỏ kẽ trở thành tế bào nội tiết, biệt hoá cao, có khả năng tổng hợp và sản sinh androgen trả lời sự kích thích đối với LH Khi nang được thành lập giữa tế bào hạt và noãn có một khe hở nối liền gọi là khe liên kết, nhờ các khe liên kết này
mà nang cấp 3 có khả năng trả lời dương tính hay âm tính đối với kích thích của hormone
Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển của nang noãn
Kích thích sự tăng trưởng của nang
SCF (Yếu tố tế bào
Khởi động noãn tăng trưởng của nang nguyên thủy và kích thích tế bào vỏ nguyên phân; duy trì tăng trưởng tế bào hạt ở nang tiền hang và nang hang, tăng tổng hợp androgen ở tế bào vỏ
IGF2: Yếu tố tăng
trưởng giống
Insulin
Tế bào noãn ở giai đoạn nguyên phân của nang hang (thỏ, lợn, người)
Thúc đẩy giảm phân kích thích bởi FSH, biệt hóa tế bào hạt, sản xuất E 2 ở tế bào hạt, kích thích tế bào vỏ sản xuất
androgen do kích thích bởi LH Inhibin B
GC ở nang hang sớm và giữa, sau đó giảm dần
Tăng cường sự kích thích của FSH đối với tế bào hạt
hang lớn và nang tiền phóng noãn
Tăng cường cảm ứng của tế bào vỏ hoàng thể với LH để tăng sản xuất Androgen, Progesterone
nhưng kích thích biệt hóa tế bào hạt , tăng sản xuất Inhibin và Inhibits E 2
Ức chế tăng trưởng nang hoặc thúc đẩy sự thoái hoá của nang
Trang 12MIH Từ GC, dừng khi đến giai
đoạn sớm của nang hang
Ức chế tuyển mộ nang nguyên thủy và nang tiền hang
giảm khi nang trưởng thành, có thể làm ngưng trệ tăng trưởng nếu vẫn còn cao
Kích thích sự trình duyệt thụ thể FHS ở
tế bào hạt khi mới hình thành và kích thích tăng sinh tế bào hạt; giảm sản xuất Androgen do sự kích thích của LH; giảm sản xuất Progesterone từ tế bào vỏ
ức chế bởi FSH; cao ở nang thoái hóa
Gắn và ức chế IGFs (có thể được giải phóng thông qua tác động của IGFBP protease-pregnancy-associated protein A (PAPP-A) sản xuất bởi tế bào hạt do sự kiểm soát của FSH
lập với FSH, ức chế tăng trưởng nang, ức chế sản xuất steroid
Yếu tố liên quan đến sự lựa chọn nang
nang tiền hang
Ức chế sản xuất PAPP-A và có thể liên quan đến lựa chọn nang trội
1.2.5 Nang Graaf
Gonadotropins kích thích sự phát triển lưới mao mạch bên trong và bên ngoài nang Nang cấp 3 tăng nhanh kích thước từ 0,4 mm lên 20 mm Kích thước nang tăng nhanh do sự tăng sinh nhanh các tế bào hạt và sự tích luỹ dịch trong hang nang Ngược lại với các nang kề cận, sự phát triển nang này không
do sự kiểm soát nội tại mà chịu sự kiểm soát của sự thay đổi đậm độ của FSH và
LH Trong quá trình thành lập nang Graaf, tại vỏ trong, các tế bào kẽ vỏ được biệt hoá cao, sinh sản phân bào thành 5 đến 8 lớp tế bào Vỏ ngoài nang là những tế bào cơ vân chứa actin và myosin, những tế bào này được phân bố bởi thần kinh giao cảm và phó giao cảm, kích thích sự co thắt tế bào ở vỏ ngoài
1.2.6 Nang thoái triển (atretic folliele)
Nếu nang nguyên thuỷ được chọn thì: hoặc nó trưởng thành và được phát triển thành nang Graaf, hoặc thoái hoá bởi quá trình thoái triển Trong quá trình
Trang 13này các tế bào hạt và noãn bị tiên tan nhưng các tế bào vỏ phì đại mạnh và tồn tại gọi là tế bào tuyến kẽ thứ phát Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý không tìm thấy noãn và các lớp tế bào hạt thì đó là nang thoái triển
1.2.7 Sự trưởng thành của noãn
Khi có sự xuất hiện của đỉnh LH noãn sơ cấp hiện diện trong nang de Graaf sẽ tiến hành quá trình trưởng thành của nhân và của tế bào chất
Sự trưởng thành của nhân : Là sự tiếp tục quá trình giảm phân, noãn GV (noãn sơ cấp) sẽ đi qua các giai đọan GVBD (gerninal vesicle break down) 15 giờ sau đỉnh LH; M I 20 giờ sau đỉnh LH, và M II 35 giờ sau đỉnh LH Phóng noãn sẽ xảy ra vào khoảng 36 giờ sau đỉnh LH
Sự trưởng thành của tế bào chất : Các bào quan trong tế bào chất sẽ được sắp xếp lại, chuẩn bị cho quá trình thụ tinh, và sự tổng hợp protein cũng được sắp xếp lại để chuẩn bị cho sự phát triển của phôi sau này
1.2.8 Sự phóng noãn
Thời gian phóng noãn trung bình 34 – 36 giờ sau khi đỉnh LH xuất hiện Tuy nhiên hàm lượng đỉnh LH phải được duy trì ít nhất từ 14 – 27 giờ để đảm bảo cho sự trưởng thành hoàn toàn của noãn Đỉnh LH thường kéo dài từ 48 – 50 giờ
Cơ chế của sự phóng noãn:
- Sự phóng noãn xảy ra trước hết là do đậm độ estradiol cao gây hồi tác dương đối với vùng dưới đồi-tuyến yên làm xuất hiện đỉnh LH
- Thứ hai là nước nang căng to, áp lực trong nang tăng gây vỡ nang,
- Thứ ba là có vai trò của prostaglandin gây co bóp lưới nhẵn quanh nang,
- Thứ tư là có vai trò của hydrolytic enzyme làm tiêu thành nang có tác dụng tại chỗ ở màng đáy và trong nước nang
Trang 14Hình 1.5 Sự tăng trưởng, phát triển của noãn và nang noãn
Trang 151.3 THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
Thụ tinh trong ống nghiệm là một quá trình bao gồm kích thích buồng trứng, hút noãn, thụ tinh trong phòng thí nghiệm và chuyển phôi vào buồng tử cung qua cổ tử cung
1.3.1 Chỉ định và chống chỉ định của thụ tinh trong ống nghiệm
Chỉ định:
- Các trường hợp vô sinh do tắc vòi tử cung;
- Vô sinh do lạc nội mạc tử cung;
- Vô sinh do bất thường về phóng noãn (không phóng noãn, kém phóng noãn, buồng trứng đa nang, người bệnh lớn tuổi
- Vô sinh do tinh dịch đồ bất thường
- Vô sinh không rõ nguyên nhân
- Đã áp dụng bơm tinh trùng vào buồng tử cung nhưng không có kết quả
Chống chỉ định: Các trường hợp vô sinh do nguyên nhân buồng tử cung
1.3.2 Sinh lý thụ tinh trong ống nghiệm
Trong các chu kỳ kích thích buồng trứng, hCG là thuốc được sử dụng để gây trưởng thành noãn ở giai đoạn cuối cùng nhằm để tiến hành chỉ định để bơm tinh trùng vào buồng tử cung hoặc để chọc hút noãn trong thụ tinh trong ống nghiệm [16]
Làm cho nồng độ FSH và LH tăng cao trong cơ thể bằng phương pháp nội sinh hay ngoại lai, dùng FSH và hCG thay thế Khi có nồng độ FSH mong muốn
sẽ làm cho nang noãn của buồng trứng phát triển, sau đó nếu có nồng độ LH hoặc hCG đạt yêu cầu thì kích thích phóng noãn Đây là bước khởi đầu rất quan trọng liên quan đến các bước tiếp theo của thụ tinh trong ống nghiệm Kích thích phóng noãn diễn biến 2 bước
Bước 1: Kích thích nang noãn phát triển và chín
Trang 16Bước 2: Kích thích nang chín phóng noãn [17]
Sau khi kích thích buồng trứng:
- Tăng số lượng các nang noãn trưởng thành
- Vượt quá giai đoạn chọn lọc và vượt trội của các nang noãn
- Giảm đi sự hoạt hoá các nang noãn làm nhiều nang noãn phát triển ở giai đoạn trưởng thành
- Nội mạc tử cung chuẩn bị tốt thuận lợi cho quá trình làm tổ [18]
+ Mục đích kích thích buồng trứng
- Đủ số lượng nang noãn cầu thiết (hiệu quả)
- Lượng thuốc sử dụng mức tối thiểu(tiết kiệm)
- Không bị quá kích buồng trứng (an toàn)
1.3.3 Các phác đồ kích thích buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm
1.3.3.1 Phác đồ GnRH agonist + gonadotropins
FSH có tác dụng kích thích sự phát triển của nang noãn GnRH agonist có tác dụng ngăn ngừa sự xuất hiện đỉnh LH sớm, hạn chế hoàn toàn hiện tượng phóng noãn và hoàng thể hoá sớm, làm tăng số noãn thu được trong một chu kỳ và tỷ lệ noãn trưởng thành cao Có hai phác đồ kích thích buồng trứng phổ biến là phác
đồ dài và phác đồ ngắn
a Phác đồ dài (long protocol)
Diphereline 0,1mg tiêm dưới da trong 14 ngày liên tục bắt đầu từ ngày 21 hoặc từ ngày đầu của chu kỳ kinh sau đó phối hợp với FSH thì liều Diphereline giảm một nửa còn 0,05 mg Thời gian phối hợp này thường kéo dài 10 đến 12 ngày
Trang 17Tiêu chuẩn để tiêm hCG đối với phác đồ dài: khi có GnRHa trong kích thích buồng trứng thì cho phép sự linh động đối với việc tiêm hCG bởi vì GnRHa tránh đỉnh LH và tránh phóng noãn sớm
Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn đã được thực hiện nhằm xác định tiêu chuẩn khác nhau để tiêm hCG trong phác đồ dài: 247 bệnh nhân nhận 10000 IU hCG sau khi kích thích buồng trứng bằng hMG khi có nang noãn > 18mm và 2 nang >14mm ( nhóm 1), nhóm 2 tiêm sau 1 ngày và nhóm 3 tiêm sau 2 ngày Số noãn thu được tương đương, tỷ lệ thụ tinh, số phôi đông, tỷ
lệ có thai là tương đương [19]
Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên 57 bệnh nhân với phác đồ dài GnRHa thì tỷ lệ có thai thấp hơn khi trì hoãn hCG 24h hCG được tiêm khi có hai nang > 17mm (nhóm 1) Nhóm 2 tiêm hCG sau 1 ngày Tỷ lệ có thai lâm sàng là 32% ở nhóm 1 còn nhóm 2 là 0% [20]
Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương tiêu chuẩn tiêm hCG là có ít nhất 1
nang ≥ 18mm và ít nhất hai nang ≥ 14mm
Phác đồ này áp dụng đối với các bệnh nhân tiên lượng đáp ứng bình thường đối với kích thích buồng trứng
Trang 18trứng nặng thấp hơn so với phác GnRH agonist nhưng tỷ lệ có thai lâm sàng thấp hơn ở phác đồ GnRH antagonist
Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên kích thích buồng trứng bằng GnRH antagonist tiêm hàng ngày nhóm 1 nhận 10000 IU hCG khi có 3 nang ≥ 17mm (208 bệnh nhân) nhóm 2 tiêm hCG sau 2 ngày (205 bệnh nhân)
Số noãn, số thụ tinh số phôi chuyển khác biệt không có ý nghĩa Tuy nhiên tỷ lệ
có thai thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm 2 (25% so với 35,6%) [21]
1.3.4 Theo dõi sự phát triển của nang noãn
Theo dõi sự phát triển của nang noãn bằng định lượng hàm lượng estrogen trong máu và siêu âm nang noãn bằng đầu do âm đạo Tốc độ phát triển của nang noãn từ 1 – 2mm/ngày và nang noãn trưởng thành có đường kính 18 –
19 mm Hàm lượng estradiol khoảng 150 – 250 pg/mL trong một nang noãn trưởng thành
1.3.5 Hút noãn
Hút noãn qua siêu âm đầu dò âm đạo được thực hiện sau khi tiêm hCG 34 – 36 giờ, thời gian này tùy từng cơ sở, sau đó sẽ thực hiện IVF hoặc ICSI
1.3.6 Chuyển phôi vào buồng tử cung
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai và tỷ lệ làm tổ bao gồm sự chấp nhận của tử cung, chất lượng của phôi và kỹ thuật chuyển phôi Mục tiêu để chuyển phôi thành công là đưa phôi và buồng tử cung không gây sang chấn và đặt phôi vào vị trí làm tổ tối ưu dưới sự hướng dẫn của siêu âm Chuyển phôi được thực hiện sau hút noãn vào ngày thứ hai ( giai đoạn bốn tế bào ), ngày thứ
ba ( giai đoạn 8 tế bào) hoặc ngày thứ 5 ( giai đoạn phôi nang - blastocyte)
Trang 191.3.7 Tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn ( Intracytoplasmic sperm injection – ICSI )
Đây là kỹ thuật trợ giúp cho quá trình thụ tinh giữa noãn và tinh trùng trong trường hợp số lượng và chất lượng tinh trùng quá kém Kỹ thuật ICSI được thực hiện thành công trên thế giới vào năm 1992 Tại Việt Nam, ICSI được
áp dụng thành công đầu tiên tại Bệnh viện Từ Dũ vào năm 1998 Kỹ thuật ICSI được áp dụng trong các chu kỳ IVF có các yếu tố sau: bất thường về số lượng và chất lượng tinh trùng, nghi ngờ có bất thường về thụ tinh giữa noãn và tinh trùng, tỷ lệ thụ tinh thấp ở những lần điều trị trước, chẩn đoán di truyền tiền làm tổ… Trong kỹ thuật ICSI người ta tiêm thẳng một tinh trùng vào bào tương noãn để thụ tinh Kỹ thuật này có sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác và kính hiển
vi đảo ngược với độ phóng đại 200 – 300 lần Tỷ lệ có thai sau điều trị bằng kỹ thuật ICSI trung bình khoảng 35%
1.4 Đáp ứng của buồng trứng
1.4.1 Đáp ứng kém với kích thích buồng trứng
Một số tiêu chuẩn làm tiêu chuẩn cho đáp ứng buồng trứng kém
< 4 nang noãn có kích thước ≥ 14mm vào ngày tiêm hCG
hoặc hàm lượng E2 < 500pg/ml
Đáp ứng kém với kích thích buồng trứng thường xảy ra ở những phụ nữ lớn tuổi (38 tuổi), hàm lượng FSH ngày 3 cao và số nang thứ cấp ít, những người có phẫu thuật bóc u nang buồng trứng, những người dính tiểu khung nặng hoặc bị lạc nội mạc tử cung nặng
Tỷ lệ đáp ứng kém với kích thích buồng trứng chiếm 18% các chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm Tại trung tâm hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2006, tỷ lệ đáp ứng kém là 22,6%
Trang 20Các biện pháp điều trị đáp ứng kém với kích thích buồng trứng bao gồm: tăng liều FSH, sử dụng phác đồ ngắn với GnRH đồng vận với liều cực thấp, sử dụng phối hợp hormone tăng trưởng, phối hợp với LH tái tổ hợp, sử dụng thuốc tránh thai trong 3 – 6 tháng trước khi làm thụ tinh trong ống nghiệm hoặc xin noãn
1.4.2 Hội chứng quá kích buồng trứng
Hội chứng quá kích buồng trứng là một biến chứng nghiêm trọng và có thể
đe doạ tính mạng do kích thích buồng trứng gây nên Tỷ lệ quá kích buồng trứng
từ 8 – 23% đối với mức độ nhẹ, 0,005 – 7% đối với mức độ vừa và 0,008 – 2% đối với mức độ nặng Tại trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2006, tỷ lệ hội chứng quá kích buồng trứng là 8,7%
Phân loại quá kích buồng trứng theo Golan 1989
Độ I (nhẹ): đau tức vùng hạ vị, kích thước buồng trứng trên siêu âm
Các yếu tố nguy cơ gây nên hội chứng quá kích buồng trứng: bao gồm
bệnh nhân trẻ tuổi < 35 tuổi, số lượng nang noãn nhiều > 20 nang, hàm lượng estradiol > 3000pg/ml Bệnh nhân có buồng trứng đa nang, có thai, hỗ trợ pha hoàng thể bằng hCG cũng là yếu tố nguy cơ của hội chứng này
Phòng ngừa hội chứng quá kích buồng trứng ở những bệnh nhân có
nguy cơ cao bao gồm: giảm liều hCG, ngừng gonadotropins, tiêm hCG khi E2
đã giảm, thay thế hCG bằng GnRH đồng vận, sử dụng liều cao GnRH đối vận
Trang 21trong khi coasting, đông phôi toàn bộ và không chuyển phôi để tránh hCG nội sinh nếu có thai, hút lại các nang noãn và hoàng thể sớm, truyền albumin trong
và ngay sau khi hút noãn, hỗ trợ pha hoàng thể bằng progesterone Tuy nhiên nếu có thai thì hội chứng quá kích buồng trứng càng nặng thêm do hCG nội sinh trưởng thành noãn non đối với các trường hợp buồng trứng đa nang
1.4.3 Đáp ứng bình thường với kích thích buồng trứng
Là các trường hợp không có các dấu hiệu của hội chứng quá kích buồng trứng và không bao gồm các trường hợp đáp ứng kém với kích thích buồng trứng
1.5 Các nghiên cứu về thời điểm chọc hút noãn
Nghiên cứu của Gudmundsson, J (1990):
“ Luteinization to oocyte retrieval delay in women in whom multiloe follicular growth was induced as part of an in vitro fertilization/gamete intrafallopian transfer program ”
Kết luận một cách logic rằng thời gian từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn càng dài sẽ cho noãn có chất lượng tốt có thể phát triển đến giai đoạn phôi tiền nhân , và phôi phân chia bình thường (Gudmundsson et al 1990)
Nghiên cứu của De Vits, A (1994)
“ Comparison between two hCG-to-oocte aspiration intervals (36 versus 38) on the outcome of in-vitro fertilization ”
Kết luận rằng số phôi chất lượng tốt thu được ở thời điểm chọc hút noãn 38h sau tiêm hCG cao hơn so với khi chọc hút noãn ở thời điểm 34 giờ sau khi tiêm hCG
Trang 22Nghiên cứu của Bjercke, S (2000)
“ Comparison between two HCG-to-oocyte aspiration intervals on the outcome of IVF ”
Để tìm ra sự khác biệt kết quả IVF khi chọc hút noãn ở thời điểm 34 giờ (nhóm A) và 38 giờ (nhóm B), Nghiên cứu được thực hiện tiến cứu trên 170 bệnh nhân bị tắc vòi tử cung được chia ngẫu nhiên vào hai nhóm: nhóm A (83 bệnh nhân), nhóm B (87 bệnh nhân) Các biến số được nghiên cứu: tỷ lệ phóng noãn trước khi chọc hút, số noãn chọc hút được, chất lượng phức hợp noãn, chất lượng phôi, tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ có thai Kết quả cho thấy không có sự khác biệt
ở các chỉ số nghiên cứu giữa hai nhóm, từ đó có thể kết luận rằng hCG có thể tiêm bất cứ thời điểm nào trong khoảng từ 34 giờ đến 38 giờ trước khi chọc hút noãn
Nghiên cứu của Nagrund, G(2001)
“ Human chorionic gonadotropin-to-oocyte collection interval in a superovulation IVF program ”
Nghiên cứu hồi cứu trên 533 bệnh nhân đánh giá ảnh hưởng của thời gian
từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn đến chất lượng noãn, tỷ lệ thụ tinh, và kết quả của chu kỳ IVF-chuyển phôi, kết quả cho thấy không có sự khác biệt có
ý nghĩa chất lượng noãn, tỷ lệ thụ tinh, kết quả IVF-chuyển phôi ở các khoảng thời điểm chọc hút noãn (33h – 41h) sau khi tiêm hCG từ đó Nagrund kết luận rằng quan điểm chọc hút noãn trên 36 giờ sau tiêm hCG không làm tăng kết quả thụ tinh trong ống nghiệm
Nghiên cứu của Raziel, A (2006)
“ In vivo maturation of oocytes by extending the interval between human chorionic gonadotropin administration and oocyte retrieval ”
Trang 23Mục tiêu của nghiên cứu là tìm xem tỷ lệ phần trăm của noãn trưởng thành có thể được tăng lên trong chu kỳ ICSI sau hay không trong một nhóm bệnh nhân có tỷ lệ noãn chưa trưởng thành ≥ 47% bằng việc kéo dài thời gian từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn Nghiên cứu ngẫu nhiên, được tiến hành ở đơn vị thụ tinh trong ống nghiệm tại một trung tâm y tế ở Israel từ tháng 1 năm
2003 đến tháng 6 năm 2005, 72 trong tổng số 2650 chu kỳ tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn (2,8%), có tổng số noãn chưa trưởng thành ≥ 47% Trong chu kỳ điều trị tiếp theo đối với các bệnh nhân này ( phác đồ kích thích buồng trứng tương tự ) thời gian tiêm hCG đến khi hút noãn được chia thành hai nhóm, nhóm A có thời gian trung bình từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn là (35,3
± 0,7 giờ), nhóm B là (38,6 ± 1,2 giờ) Kết quả là số lượng noãn trưởng thành chọc hút được cao hơn ở nhóm B so với nhóm A, đồng thời cũng có sự cải thiện chất lượng phôi do đó cũng làm tăng tỷ lệ có thai
Nghiên cứu của Son, W Y.2008
“ A 38 h interval between hCG priming and oocyte retrieval increases in vivo and in vitro oocyte maturation rate in programmed IVM cycles ”
Một nghiên cứu hồi cứu về ảnh hưởng của việc kéo dài thời gian từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn đến số lượng noãn trưởng thành khi chọc hút
và số lượng noãn trưởng thành sau khi trưởng thành noãn trong ống nghiệm đối với noãn chưa trưởng thành Nhóm 1 với thời gian chọc hút noãn là 35 giờ sau tiêm hCG (n = 76), nhóm 2 là 38 giờ sau tiêm hCG (n = 44) Kết quả số lượng noãn thu được khi chọc hút cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm 2 (13.6%, 114/840 so với 7.3%, 96/1312 ở nhóm 1) (P < 0.01); noãn trưởng thành thu được sau khi trưởng thành noãn trong ống nghiệm ngày thứ nhất ở nhóm 2 cao hơn so với nhóm 1 (46.3% so với 36.0% ) (P < 0.01); tỷ lệ thai lâm sàng (40.9%
so với 25% ở nhóm 1) tỷ lệ làm tổ (15.6% so với 9.6%) Từ đó Son kết luận
Trang 24rằng kéo dài thời gian từ khi tiêm hCG đến khi hút noãn từ 35 lên 38 giờ làm tăng tỷ lệ noãn trưởng thành thu được, và tăng tỷ lệ noãn trưởng thành khi trưởng thành noãn trong ống nghiệm Do đó chọc hút noãn ở thời điểm 38 giờ sau tiêm hCG có thể cải thiện kết quả có thai đối với những chu kỳ điều trị IVM thường quy
Nghiên cứu của Wang, W ( 2011 )
“ Khoảng thời gian từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn trong kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản trong ống nghiệm: một phân tích gộp ”
Để đánh giá mối liên quan giữa khoảng thời gian tiêm hCG đến khi chọc hút noãn với kết quả thụ tinh trong ống nghiệm
Dựa trên kết quả của 5 thử nghiệm lâm sàng với 895 bệnh nhân thấy tỷ lệ noãn trưởng thành cao hơn ở nhóm có khoảng thời gian dài từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn so với nhóm có khoảng thời gian ngắn (RR = 0.67, độ tin cậy 95%, 0.62-0.73) Không có sự khác biệt về tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ làm tổ, và tỷ lệ có thai