1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ

66 3,4K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 4,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TPHCM KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

Lê Thị Thanh Hồng Trương Lê Bích Nhi Phan Thị Diễm Thùy Nguyễn Thị Mỹ Thạnh

Trang 2

Tháng 5/2010

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

I Tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc

1 Khái quát về tiểu vùng

Tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc gồm các tỉnh: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình với trung tâm là Lào Cai

Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn cao đến 1500 m, dài tới 180 km, rộng 30

km, với một số đỉnh núi cao trên 3000 m Có hai con sông lớn là sông Đà và sông Thao Thượng nguồn của sông Mã cũng ở trên vùng đất Tây Bắc Tiểu vùng này có các cao nguyên là Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản và các bồn địa Tây Bắc Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, rét lạnh vào các tháng mùa đông và mát mẻ vào các tháng mùa hè Hệ sinh vật rất phong phú và đa dạng trong đó có nhiều loài quý hiếm được liệt kê vào sách đỏ của Việt Nam và Thế giới

Tiểu vùng miền núi Tây Bắc có 2 tỉnh giáp Trung Quốc là Lào Cai, Lai Châu và

4 tỉnh Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình giáp với Lào Đây là tiểu vùng có nguy cơ động đất cao nhất ở nước ta

Hình 1: Các tỉnh thuộc tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc

Trang 5

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc miền núi trung du Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 60km về phía bắc, tiếp giáp các tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên về phía bắc; phía đông và đông nam giáp Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía nam và tây nam giáp Hà Tây Địa hình của tỉnh chủ yếu là trung du và đồng bằng, đồi núi thấp Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4ºC Vùng núi Tam Đảo khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC, là nơi nghỉ mát lý tưởng của miền Bắc Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ

Trang 6

1.1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Nền kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây đã dần đi vào ổn định Năng suất cây trồng khá, chăn nuôi gia súc, thủy sản phát triển ở hầu hết các địa phương của tỉnh

Thiên nhiên đã tạo cho Vĩnh Phúc nhiều cảnh quan kỳ thú như Tam Đảo, Tây Thiên,

hồ Đại Lải trong đó vùng núi Tam Đảo khí hậu mát mẻ, là nơi nghỉ mát lý tưởng của miền Bắc Tỉnh có nhiều di tích lịch sử đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng

1.1.3 Giao thông

Hệ thống giao thông của tỉnh đa dạng và tương đối phát triển, có hệ thống đường bộ, đường thủy, đường sắt từ Hà Nội đi qua tỉnh đến Lào Cai Tỉnh là điểm đầu của quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (Quảng Ninh) và có đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh Tỉnh Vĩnh Phúc nằm gần kề ngay sân bay quốc tế Nội Bài, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đối ngoại

Trang 7

Các huyện, thị:

- Thị xã: Phú Thọ

- Huyện:Hạ Hòa, Thanh Ba, Ðoan Hùng, Lâm Thao, Yên Lập, Thanh Sơn, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Phù Ninh, Cẩm Khê, Tân Sơn

Dân tộc: Việt (Kinh), Mường, Dao, Sán Chay

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Phú Thọ là tỉnh thuộc miền núi trung du Bắc bộ Phía bắc giáp Tuyên Quang và Yên Bái; phía đông giáp Vĩnh Phúc; phía đông nam giáp Hà Tây; phía tây giáp Sơn La; phía nam giáp Hoà Bình.Địa hình của tỉnh chủ yếu là đồi núi Phú Thọ có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng (sông Thao), sông Lô và sông Đà Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4ºC

1.2.2 Tiềm năng phát triển du lịch

Phú Thọ là vùng đất tổ cội nguồn của dân tộc Việt Nam Nơi đây các vua Hùng

đã dựng nước Văn Lang - quốc gia đầu tiên của Việt Nam, thủ đô là Phong Châu Phú Thọ có nền văn hoá rực rỡ từ lâu đời Những di chỉ khảo cổ văn hoá Sơn Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng, tẩm còn lại quanh vùng núi Nghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là một trung tâm văn hoá của dân tộc Đây là vùng đất có nhiều

lễ hội, đáng kể nhất là lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) Các dân tộc ít người cũng có những đặc trưng văn hoá riêng của mình: Người Mường có nhiều truyện thơ,

ca dao, tục ngữ, hát xéc bùa, hát ví, hát đúm Người Việt có hát xoan, hát ghẹo

Trang 8

Dân tộc: Việt (Kinh), Tày, Dao, H'Mông

Hình 4 : Bản đồ du lịch tỉnh Yên Bái

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Yên Bái là tỉnh nằm sâu trong nội địa nhưng lại là cửa ngõ của miền Tây Bắc,

là đầu mối giao thông giữa đông bắc và tây bắc, giữa cửa khẩu Lào Cai và Hà Nội Phía bắc tỉnh Yên Bái giáp Lào Cai, Hà Giang, phía tây nam giáp Sơn La, phía đông giáp Tuyên Quang, phía nam giáp Phú Thọ.Địa hình của tỉnh gồm có núi, đồi và thung lũng Hệ thống sông suối chằng chịt lắm thác ghềnh Khí hậu chia làm hai vùng, vùng thấp và vùng cao Nhiệt độ trung bình năm từ 18ºC – 28ºC

1.3.2 Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Yên Bái là tỉnh có nhiều dải rừng lớn Rừng có nhiều gỗ quí như pơmu, lát hoa, chò chỉ Nhiều cây dược liệu và nhiều loại động vật quí hiếm Sản vật của tỉnh Yên Bái là quế Văn Yên, chè Suối Giàng, nếp Tú Lệ Yên Bái có mỏ đá quí nổi tiếng Lục Yên Thành phố Yên Bái là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Tỉnh Yên Bái có nhiều di tích lịch sử văn hóa đặc biệt là hồ Thác Bà, một trung tâm sinh thái, giải trí, leo núi, khám phá rừng tự nhiên Thắng cảnh Yên Bái còn giữ được nhiều vẻ hoang sơ, môi trường sinh thái chưa bị ô nhiễm rất hấp dẫn đối với khách du lịch

Trang 9

1.3.3 Giao thông

Thành phố Yên Bái cách Hà Nội khoảng 180km.Tỉnh nằm trên tuyến đường sắt

Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai Tỉnh có quốc lộ 32 đi Lào Cai, Phú Thọ, quốc lộ 37 đi Tuyên Quang

1.4.1 Ðiều kiện tự nhiên

Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía tây giáp tỉnh Lai Châu, phía đông giáp tỉnh Hà Giang, phía nam giáp Yên Bái và Sơn La

Địa hình Lào Cai khá phong phú gồm nhiều loại hình, có địa hình thung lũng,

có địa hình vùng núi thấp, địa hình vùng núi cao và các đỉnh núi rất cao như đỉnh Phanxiphăng – nóc nhà của tổ quốc cao 3.143m Lào Cai có 107 sông suối chạy qua tỉnh, với 3 hệ thống sông chính là sông Hồng, (có chiều dài chạy qua địa phận Lào Cai

Trang 10

là 120km), sông Chảy (có chiều dài chạy qua tỉnh là 124km), sông Nậm Mu (có chiều dài chạy qua tỉnh là 122km)

Khí hậu Lào Cai là khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng miền núi, mùa đông lạnh khô, ít mưa, mùa hè nóng mưa nhiều Lào Cai cũng có nhiều tiểu vùng khác nhau

Đặc điểm nổi bật của sinh vật Lào Cai là tính đa dạng sinh học Toàn tỉnh có hơn 2.000 loài thực vật, 442 loại chim, thú, bò sát, ếch nhái Trong đó có 60 loại động vật chỉ tìm thấy ở Lào Cai, 9 loại thực vật chỉ tìm thấy ở Sa Pa Lào Cai có kho tàng quỹ gen đặc biệt quý hiếm (chiếm tới gần 50% số loại thực vật đặc biệt quý hiếm ở nước ta)

1.4.2 Lịch sử văn hóa

Lào Cai bắt nguồn từ địa danh khu đô thị cổ “Lão Nhai” có nghĩa là “Phố cổ” Ngày 12/7/1907, tỉnh Lào Cai được thành lập, tên của đô thị cổ trở thành tên tỉnh Lào Cai Thời dựng nước, Lào Cai là trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng ở vùng thượng lưu sông Hồng Nhiều nhà sử học cho rằng, Lào Cai là quê hương của Thục Phán An Dương Vương Thời phong kiến, Lào Cai là địa bàn của châu Thuỷ Vĩ, châu Văn Bàn

và một phần đất Chiêu Tấn, phủ Qui Hoá, tỉnh Hưng Hoá Ngày 12/7/1907 tỉnh Lào Cai được thành lập gồm có 2 châu Thuỷ Vĩ, Bảo Thắng, các đại lý Mường Khương, Bát Xát, Phong Thổ, Bắc Hà và đặc khu Sa Pa Năm 1955 huyện Phong Thổ chuyển sang khu tự trị Thái Mèo về sau trực thuộc tỉnh Lai Châu Ngày 1/1/1976, ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ được sáp nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Ngày 1/10/1991, tỉnh Lào Cai được tái thành lập

1.4.3 Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Các dân tộc Lào Cai đã sáng tạo, lưu giữ hàng trăm di tích lịch sử văn hoá Nổi bật là các di tích về khu trạm khắc đá cổ, với các hình khắc về bản đồ, chữ viết, hình người có niên đại cách ngày nay hàng nghìn năm ở thung lũng Mường Hoa (Sa Pa) Di tích thờ ông Hoàng Bảy một vị tướng có công bảo vệ biên giới thời Hậu Lê được tôn thờ là “Thần vệ Quốc”, di tích Đền Thượng - thờ Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng với niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), di tích chiến thắng Phố Ràng đặc biệt Lào Cai còn có hệ thống các hang động kỳ ảo trở thành các danh thắng tuyệt đẹp, thu hút đông đảo khách du lịch tham quan như động

Trang 11

Thuỷ Tiên (Bát Xát), động Tả Phời (Cam Đường), hang Tiên- Trung Đô (Bắc Hà), động Xuân Quang (Bảo Thắng)

Lào Cai với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, với trên 31 loại khoáng sản phân bố ở 130 điểm mỏ Hiện nay, Lào Cai được đánh giá là tỉnh giàu có về khoáng sản, có trữ lượng apatit, đồng, sắt vào loại lớn của khu vực và thế giới

1.4.4 Dân tộc, tôn giáo

Lào Cai có 27 dân tộc anh em sinh sống Dân tộc kinh có 194.666 người, dân tộc H’Mông có 122.825 người, dân tộc Tày có 82.516 người, dân tộc Dao có 72.543 người, dân tộc Thái có 51.061 người, dân tộc Giáy có 24.360 người, dân tộc Nùng có 23.156 người, dân tộc Phù Lá có 6.763 người, dân tộc Hà Nhì có 3.099 người, dân tộc Lào có 2.134 ngưòi, dân tộc Kháng có 1.691 người, dân tộc LaHa có 1.572 người, dân tộc Mường 1263 người, dân tộc Bố Y có 1.148 người, dân tộc Hoa có 770 người , dân tộc La Chí có 446 người và 11 dân tộc có số dân ít dưới 70 người như các dân tộc Sán Chay, Sán Dìu, Khmer, Lô Lô, Kà Doong, Pa Cô , Ê Đê, Giẻ Triêng , Gia Rai, Chăm,

Kà Tu Lào Cai có số dân tộc chiếm 50% tổng số dân tộc toàn quốc nên đặc điểm nổi bật trong văn hóa các dân tộc Lào Cai là văn hoá đa dân tộc, giàu bản sắc Ở vùng thấp, người Tày, Thái, Giáy, Nùng, khai khẩn các thung lũng ven sông, ven suối, sáng tạo truyền thống văn hoá lúa nước Ở rẻo giữa, người Kháng, La Ha, Phù Lá tạo nên văn hoá nương rẫy với nhiều tri thức bản địa phù hợp với kinh tế đồi rừng Ở vùng cao, người H’Mông, Hà Nhì, Dao khai khẩn các sườn núi thành ruộng bậc thang bắc lên trời hùng vĩ Tính đa dạng, phong phú của văn hoá thể hiện cả ở văn hoá vật thể và phi vật thể

Riêng về trang phục có 34 kiểu loại với sắc màu, chất liệu khác nhau mới khảo sát sơ bộ Lào Cai có gần 100 điệu múa, có đủ 10 họ với 11 chi khác nhau của các nhạc khí Đặc biệt, kho tàng lễ hội ở lào Cai rất đặc sắc Loại hình lễ hội phong phú Có hội cầu mùa, hội gắn với tín ngưỡng thờ thần mặt trời, thần nước, phồn thực, bảo vệ rừng

Có hội có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử chống ngoại xâm, đề cao bản sắc văn hoá người Việt cổ Quy mô các lễ hội cũng đa dạng, có hội có quy mô của cộng đồng làng, bản; có hội có quy mô vùng (hội Gầu Tào ở Pha Long Mường Khương, hội Roóng Poọc người Giáy ở Tả Van, Sa Pa ) nhưng có hội có quy mô toàn tỉnh như hội xuân Đền thờ ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà thời gian lễ hội cũng trải dài cả 4 mùa Xuân,

Trang 12

Hạ, Thu, Đông Đặc biệt, khác với các tỉnh đồng bằng, mùa hè ở các làng bản vùng cao của Lào Cai cũng là mùa của lễ hội Đặc điểm này rất thuận lợi cho sự phát triển

du lịch văn hoá

1.4.5 Giao thông

Lào Cai là một tỉnh cửa ngõ biên cương phía Tây Bắc của Tổ quốc có 203km đường biên giới với Trung Quốc, có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế - chính trị - an ninh - quốc phòng Lào Cai nằm ở vị thế “đầu cầu” nối liền tỉnh Vân Nam và

cả vùng Tây Nam rộng lớn của Trung Quốc với đồng bằng Bắc bộ Lào Cai có điều kiện thuận lợi về giao thông, có cả đường thuỷ, đường bộ và đường sắt Trên địa phận tỉnh Lào Cai có 3 tuyến quốc lộ, 6 tuyến tỉnh lộ, đường ôtô đã về đến 163 xã, phường, thị trấn Đường sông Hồng là tuyến đường huyết mạch thời cổ đại và phong kiến Lào Cai hiện có một cửa khẩu quốc tế, một cửa khẩu quốc gia và nhiều cửa khẩu phụ thông thương với Trung

1.5 Lai Châu

Diện tích: 9.562,9 km²

Dân số: 319,9 nghìn người (năm 2006)

Tỉnh lỵ: Thị xã Lai Châu

Các huyện: Mường Tè, Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ, Than Uyên

Dân tộc: Thái, H'Mông, Việt (Kinh), Giáy, Dao

Hình 6: Bản đồ du lịch tỉnh Lai Châu

Trang 13

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

Lai Châu là tỉnh miền núi cao, nằm ở phía bắc sông Đà Phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía đông bắc giáp Lào Cai, phía nam giáp Điện Biên, Sơn La và phía tây giáp Lào Khí hậu mang tính chất gió mùa chí tuyến Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC - 23ºC chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô

1.5.2 Địa hình

Tỉnh Lai Châu được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam, có nhiều đỉnh núi cao, đỉnh Pu Sa Leng cao 3.096m Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều cao nguyên, sông suối Sông có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn

1.5.3 Tiềm năng phát triển du lịch

Lai Châu là một tỉnh có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, giàu tiềm năng du

lịch Nơi đây còn có những bản làng dân tộc với nhiều phong tục tập quán vẫn nguyên

sơ như bản Sìn Hồ Các thắng cảnh của tỉnh là suối Mường Lai, hang Tiên Sơn

1.5.4 Mạng lưới giao thông chủ yếu là đường bộ.

Tỉnh có quốc lộ 12 chạy qua nối từ Tp.Điện Biên Phủ tới Trung Quốc (qua cửa khẩu Ma Lu Thàng), có quốc lộ 4D nối tới thị trấn Sa Pa (Lào Cai) Thị xa Lai Châu cách Hà Nội khoảng 406km (qua Lào Cai)

Trang 14

Hình 7: Bản đồ du lịch tỉnh Điện Biên

1.6.1 Điều kiện tự nhiên

Điện Biên là tỉnh được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ, nằm ở phía nam sông Đà Địa hình Điện Biên có nhiều dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam Lòng chảo Mường Thanh ở Điện Biên lớn nhất vùng Tây Bắc Phía bắc Điện Biên giáp tỉnh Lai Châu, phía đông nam giáp Sơn La, phía tây bắc và tây nam giáp Lào Địa hình chủ yếu là rừng, núi cao và dốc, xen với nhiều thung lũng hẹp, những cao nguyên nhỏ, sông suối Khí hậu tỉnh là khí hậu nhiệt đới núi cao, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC – 23ºC

1.6.2 Tiềm năng phát triển du lịch

Tỉnh có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là cụm di tích lịch sử Điện Biên Phủ, với chiến thắng chấn động địa cầu năm 1954

Từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ, nếu đi đường không, chỉ sau một giờ bay, bạn đã có mặt ở Điện Biên Nếu đi theo đường bộ, bạn sẽ đi hàng trăm ki lô mét đường đèo dốc

và nhất thiết phải vượt đèo Pha Đin dài 32km Với độ cao trên 1.000m, khi lên dốc, lúc xuống dốc, con đường ngoằn ngoèo, chênh vênh, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm, lại nhiều "cua tay áo" hiểm trở Vượt đèo Pha Đin là cuộc hành trình lý thú cho du khách trên vùng núi non hùng vĩ

Trang 15

1.6.3 Giao thông

Mạng lưới giao thông đường bộ khá thuận lợi gồm:

-Từ thành phố Điện Biên Phủ tới Hà Nội 478km theo quốc lộ 279 và rẽ sang quốc lộ 6

- Quốc lộ 12: Từ thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Ma Lu Thàng (Lai Châu) 195km

- Quốc lộ 279: Nối Tuần Giáo qua thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Tây Trang dài 117km

-Tỉnh có sân bay Mường Thanh tại thành phố Điện Biên Phủ phục vụ tuyến Hà Nội - Điện Biên Phủ

1.7 Sơn La

Diện tích: 14.174,4 km²

Dân số: 1.007,5 nghìn người (năm 2006)

Tỉnh lỵ: Thị xã Sơn La

Các huyện: Quỳnh Nhai, Mường La, Thuận Châu, Phù Yên, Bắc Yên, Mai Sơn, Sông

Mã, Yên Châu, Mộc Châu, Sốp Cộp

Dân tộc: Việt (Kinh), Thái, H'Mông, Mường, Dao

Hình 8: Bản đồ du lịch tỉnh Sơn La

Trang 16

1.7.1 Điều kiện tự nhiên

Tỉnh Sơn La nằm ở phía tây bắc Việt Nam, có nhiều núi cao, phía bắc giáp Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, phía tây giáp Điện Biên, phía đông giáp Phú Thọ và Hoà Bình, đông nam giáp Thanh Hoá và Hoà Bình, phía nam giáp Lào Thị xã Sơn La cách

Hà Nội 328km theo quốc lộ 6

Địa hình của tỉnh Sơn La chủ yếu là núi và cao nguyên Mạng lưới sông suối ở đây khá dày đặc, nguồn nước dồi dào, có tiềm năng về thủy điện Tài nguyên khoáng sản của tỉnh khá đa dạng và phong phú vì vậy công nghiệp Sơn La có nhiều triển vọng

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh và khô, ít mưa; mùa hè mưa nhiều và không có bão

1.7.2 Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Sơn La, một địa bàn lý tưởng để chăn nuôi bò sữa trên cao nguyên Mộc Châu, phát triển cây dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, là vùng đất có nhiều ưu thế phát triển cây

cà phê, cây chè và nhiều loại cây ăn quả Một vùng đất có thể phát triển công nghiệp khai khoáng, chế biến chè và nông, lâm sản khác Sơn La có lễ hội Hoa ban của dân tộc Thái, có bản Hìn, danh thắng Yên Châu, hang Thẩm Tét Toòng

1.7.3 Dân tộc, tôn giáo

Sơn La có 12 dân tộc anh em, trong đó chủ yếu là dân tộc Thái có truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo, du khách có điều kiện khám phá nhiều điều mới mẻ

về giá trị văn hóa của các dân tộc Tây Bắc có những điệu xoè, ngây ngất men rượu cần làm say đắm lòng người

1.7.4 Giao thông

Du khách có thể đến Sơn La bằng đường quốc lộ 6 từ Hòa Bình, quốc lộ 37 từ Yên Bái, quốc lộ 279 từ Lào Cai, bằng đường hàng không Nội Bài - Nà Sản, hoặc theo đường thủy tuyến lòng Hồ Hòa Bình - Sơn La (qua Cảng Tà Hộc) để được ngắm nhìn một vùng núi non hùng vĩ sơn thủy hữu tình của vùng phía tây Tổ quốc

Trang 17

Lạc Sơn, Lạc Thủy, Yên Thủy.

Dân tộc: Việt (Kinh), Mường, Thái, Tày, Dao

Hình 9: Bản đồ du lịch tỉnh Hòa Bình

1.8.1 Điều kiện tự nhiên

Hoà Bình là một tỉnh miền núi, cách Hà Nội trên 70km về phía tây nam theo quốc lộ 6 Phía bắc Hoà Bình giáp Phú Thọ và Hà Tây, phía nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía đông giáp Hà Tây và Hà Nam, phía tây giáp Sơn La

Địa hình Hoà Bình chủ yếu là núi rừng, xen kẽ giữa các sườn núi là các thung lũng hẹp Khí hậu nóng ẩm, mưa theo mùa Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,9ºC - 25ºC

1.8.2 Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Sức hấp dẫn du khách của Hoà Bình, một vùng đất đa dân tộc, là giá trị nhân văn đa dạng, phong phú của cộng đồng cư dân Du khách sẽ được thưởng thức món ăn dân tộc, đặc sản cơm lam, thịt nướng rượu cần và xem các tiết mục cồng, chiêng, trống đồng, hát ví Mường, hát Khắp Thái, hòa nhập vào đêm Hội xòe, ngủ nhà sàn dân tộc, mua hàng dệt thổ cẩm và các lâm thổ sản quý tại những bản Thái cổ, bản láp của đồng bào Dao

Ðịa hình đồi núi trùng điệp với các động Thác Bờ, hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm leo

Trang 18

núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng

hồ sông Ðà thơ mộng cho phép phát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn Thấp thoáng các bản Mường, bản Dao, bản Tày rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình Nói đến tài nguyên thiên nhiên của Hoà Bình không thể quên nhắc đến những bãi tắm đẹp bên hồ sông Ðà và suối nước khoáng Kim Bôi đích thực là chén thuốc vàng phục hồi sức khoẻ cho du khách

1.8.3 Giao thông

Giao thông đường bộ, đường thuỷ đều thuận tiện Có quốc lộ 6 từ Hà Nội qua

Hà Tây, đến Hòa Binh, đi Sơn La ; quốc lộ 12B đi Nho Quan (Ninh Bình) ; từ Mai Châu theo quốc lộ 15 đi Thanh Hóa

2 Tiềm năng du lịch

2.1 Tài nguyên du lịch

2.1.1 Tài nguyên Tự nhiên

Tây Bắc là vùng núi cao đồ sộ nhất nước ta, với địa hình chủ yếu là núi cao và núi trung bình, nhiều nơi có phong cảnh đẹp và hùng vĩ, tiêu biểu là đèo Pha Đin, đèo Tang Quai

Đặc biệt, ở vùng này có dải đá vôi chạy dọc theo thung lũng sông Đà, kéo dài từ Phong Thổ đến hết Hòa Bình, tạo nên nhiều cao nguyên đá vôi có bề mặt lượn sóng nằm ở các độ cao khác nhau như: cao nguyên Tả Phìn – Xin Chải cao 1000 – 1200m; cao nguyên Sơn La cao 600 – 700m; cao nguyên Mộc Châu cao khoảng 900 – 1000m

Đá vôi ở đây có tuổi từ tiền Cambri, Đềvôn trung, Cácbon – Permi sớm, Triat trung.Quá trình Cacstơ ở đây xảy ra mạnh, tạo thành nhiều hang động Trong vùng có hơn 30 hang động có thể khai thác phục vụ cho khách tham quan du lịch Đặc biệt là

có rất nhiều hang động ở Hòa Bình và dọc lòng hồ sông Đà còn là các địa điểm di tích khảo cổ của nền văn hóa Hòa Bình Phần lớn hang động vùng này là hang động cạn, trừ một số hang động dọc hai bên lòng hồ Hòa Bình.Đoạn từ Hòa Bình cho đến Mộc Châu quá trình Cacstơ già tạo nên các cánh đồng Cacstơ có phong cảnh tuyệt đẹp Quá trình Cacstơ ở vùng lòng hồ sông Đà đang có xu hướng trẻ lại khi mực nước lòng hồ Hòa Bình dâng cao

Trang 19

Tây Bắc có hệ động thực vật rất phong phú với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng và khu dự trữ thiên nhiên như: Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (huyện Mường Tè – tỉnh Lai Châu) rộng 386 000ha; khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp (huyện Sông Mã - tỉnh Sơn La) có diện tích 5000ha; rừng đặc dụng Xuân Nha (huyện Mộc Châu – tỉnh Sơn La) rộng 60 000ha; khu bảo tồn thiên nhiên Kia Pà Cò (ở Mai Châu – Hòa Bình) rộng 7091ha; khu bảo tồn thiên nhiên rừng Ngọc Sơn (Hòa Bình) rộng 10 000ha, các đảo trên lòng hồ Hòa Bình; rừng văn hóa lịch sử Mường Phăng (Điện Biên)…

Qua nghiên cứu cho thấy hệ động, thực vật Tây Bắc rất đa dạng và phong phú,

có nhiều loài quý hiếm ở đây có khoảng 3000 loài thực vật bậc cao, tuy nhiên do địa bàn rộng với địa hình hiểm trở nên mới chỉ nghiên cứu được khoảng 161 họ, 624 chi

và 1066 loài, trong đó có 38 loài quý hiếm chủ yếu là ngành hạt kín lớp hai lá mầm như: Nghiến; Lát lông; Pơ Mu; Sến; Hà thủ ô đỏ; Hoắc Dương; Sến; Lan hài; Giổi găng….Động vật Tây Bắc có khoảng 458 loài đã được nghiên cứu, trong đó có 97 loài thú, 273 loài chim, 62 loài bò sát, 26 loài ếch nhái Theo dự đoán thì trên thực tế số loài động vật ở đây còn nhiều hơn rất nhiều vì còn nhiều vùng chưa được nghiên cứu, nhất là các vùng núi cao Một số loài động vật quý hiếm hay bị săn bắn thì nay chỉ còn phân bố ở các vùng núi cao hoặc các vùng biên giới Việt Lào như Voi hiện nay chỉ phân bố ở vùng biên giới Việt Lào từ Chà Cang (Mường Lay) tới Tà Tổng, Mù Cả (Mường Tè- Lai Châu), các loài khác như Hổ, Báo, Voọc, Khỉ, Vượn, các loài chim cỡ lớn phân bố chủ yếu ở vùng núi cao dọc theo thung lũng sông Đà như: dãy Phu Canh; dãy su xong Chảo Chai…

Ở vùng này còn có một dạng địa hình nhân tạo có giá trị cho phát triển du lịch đó

là địa hình ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc thiểu số ở Hòa Bình, Lai Châu

Ngoài những tiềm năng du lịch tự nhiên kể trên vùng Tây Bắc còn có nhiều mỏ nước khoáng nóng có số hàm lượng khoáng chất tốt cho sức khỏe Theo tài liệu nghiên cứu của ủy ban khoa học nhà nước, của viện nghiên cứu và phát triển du lịch thì trên địa bàn Tây Bắc có hơn 100 nước khoáng và nước nóng, các nguồn nước khoáng ở đây chủ yếu chứa các khoáng chất như: Sunfat Canxi – Manhê, Bicacbonnat Natri, Bicacbonnat Canxi Đây là các khoáng chất có lợi cho sức khỏe, có tác dụng điều trị một số bệnh như: các bệnh tiêu hóa; bệnh béo phì; bệnh tim mạch; bệnh viêm khớp…

Trang 20

2.1.2 Tài nguyên Nhân văn

Tây Bắc là địa bàn phát triển của nền văn hóa đa sắc tộc, trải qua nhiều biến cố lịch sử, tới nay Tây Bắc là nơi cư trú của hơn 30 dân tộc như: Kinh, Thái, Mường, Hmông, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, Lự, Giáy, Kháng, Xinh Mun, La Ha, La Hủ, Cống, Tày, Nùng Trong số 30 dân tộc ở Tây Bắc thì dân tộc Kinh, Thái, Mường, Hmông, Dao là những dân tộc có số dân đông nhất Đặc thù cư trú của các dân tộc Tây Bắc là hòa nhập xen lẫn với nhau, khác với ở Đông Bắc và Tây Nguyên, các dân tộc thường

cư trú tách biệt theo từng nhóm dân tộc khác nhau Tuy nhiên trên địa bàn rộng cũng

có sự tập trung của một số dân tộc như người Mường ở Hòa Bình chiếm tới khoảng 86,22% tổng số người Mường trong vùng, người Thái Đen ở Sơn La chiếm 66,7% tổng số người Thái trong vùng …

Sự đa dạng về bản sắc dân tộc ở Tây Bắc đã tạo cho vùng này có những sản phẩm văn hóa độc đáo thu hút khách du lịch như: Các điệu múa xòe, múa sạp, tục uống rượu cần, vải thổ cẩm, các lễ hội dân tộc

Tây Bắc còn là nơi lưu dữ được rất nhiều di tích lịch sử cũng như các di chỉ khảo cổ của nền văn hóa Hòa Bình Một trong những đặc trưng của vùng này là hầu hết các di chỉ khảo cổ ở đây phân bố rải rác dọc hai bên sông Đà Đặc biệt ở đây còn

có hệ thống di tích lịch sử của thời kỳ chống Pháp tương đối đầy đủ như nhà tù Sơn

La, hệ thống di tích lịch sử Điện Biên Phủ

Những tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn của vùng này là rất đa dạng và phong phú cho phép phát triển một ngành du lịch với nhiều loại hình du lịch khác nhau

2.2 Cơ sở hạ tầng du lịch

Nói chung, Tây Bắc là một vùng khó khăn về cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch

vì điạ thế vùng này hiểm trở, dân trí còn thấp

Các tuyến đường bộ còn thiếu về số lượng và kém về chất lượng Các tuyến quốc lộ lớn như 32, 6, 12, 37, 279 chỉ chạy qua một số tỉnh và ở đây chưa có một tuyến quốc lộ nào gắn kết giữa các tỉnh trong tiểu vùng với nhau

Đường sắt mới chỉ có duy nhất tuyến đường sắt chạy từ Hà Nội lên Lạng Sơn chưa đáp ứng hết nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách

Trang 21

Trong tiểu vùng chưa có

một sân bay quốc tế nào, các sân

bay như Điện Biên Phủ, Nà Sản

cần được đầu tư, nâng cấp và xây

dựng thêm nột số sân bay mới

Ở đây có các cửa khẩu

quan trọng như là Lào Cai, Ma

Lu Thàng, Tây Trang, Huổi

Puốc, Chiềng Khương, Long

Sập Hình 10 Tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai

Trong tiểu vùng có thủy điện Hòa Bình là nhà máy điện lớn nhất nước đảm bảo

nh càu năng lượng và thủy lợi

Hệ thống thông tin liên lạc đang trong giai đoạn phát triển

Hệ thống nhà nghỉ chưa đáp ứng được nhu cầu lưu trú của du khách đặc biệt ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái

3 Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế

3.1 Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế ở Vĩnh Phúc

3.1.1 Vườn quốc gia Tam Đảo

Vị trí: Vườn quốc gia Tam Đảo mằm trọn trong dãy nuisTam Đảo, tỉnh Vĩnh phúc

Đặc điểm: Vườn quốc gia Tam Đảo là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, là kho dự trữ các nguồn gen động thực vật quý hiếm của nước ta

Trang 22

Vườn Quốc gia Tam Đảo có diện tích 36.883 ha Thảm thực vật ở đây đặc trưng cho 5 kiểu rừng Hệ thực vật có 904 loài thuộc 478 chi, 213 họ thực vật bậc cao, trong đó có 64 loài thực vật quí hiếm được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam Động vật gồm

có 307 loài, trong đó 56 loài động vật quí hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (gồm

22 loài thú, 9 loài chim, 17 loài bò sát, 7 loài lưỡng cư và 1 loài côn trùng)

Hình 11 Vườn quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc

Hình 12 Thằn lằn ở Vườn quốc gia Hình 13 Cá cóc ở Vườn Quốc Gia

Vườn quốc gia Tam Đảo là tài sản quý của quốc gia, có nhiều lợi ích cho cộng đồng cư dân trong khu vực Vườn còn đem lại giá trị to lớn trong việc bảo vệ môi

Trang 23

trường, điều tiết và cung cấp nước, phục vụ nghiên cứu khoa học và phục vụ cho du lịch và nghỉ dưỡng, cung cấp lâm sản, dược liệu…

3.1.2 Khu du lịch Tam Đảo

Vị trí: Khu du lịch Tam Đảo Thuộc thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Hà Nội 86 km

Đặc điểm: Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong ngày; khung cảnh thơ

mộng, hùng vĩ Mùa du lịch đẹp nhất trong năm ở Tam Đảo là vào mùa hè

Hình 14 Khu du lịch Tam Đảo

Thiên nhiên và dấu vết thời gian đã ban tặng cho Tam Ðảo một khung cảnh tuyệt vời: vừa thơ mộng, u tịch, vừa hùng vĩ, huyền ảo trong cảnh mây gió, sương khói vờn trên đỉnh núi rồi sà xuống những thảm cỏ, những ngôi nhà ven sườn núi Hè về, Tam Ðảo vào mùa du lịch đẹp nhất trong năm

Tam Ðảo là một dãy núi dài khoảng 80km theo hướng tây bắc - đông nam, rộng

từ 10 - 15km, là khu nghỉ mát ở núi lý tưởng của miền Bắc Tam Đảo có diện tích 253ha nằm trên độ cao 900m so với mặt biển Từ thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc sau

Trang 24

1 giờ xe chạy là lên tới Tam Ðảo Thêm 20km đường dốc, lượn qua các sườn núi thông mọc thẳng tắp nhìn lên cao vút, mờ mờ ẩn hiện Tam Ðảo trong sương.

Núi Tam Đảo có 3 đỉnh nổi lên như 3 hòn đảo: đỉnh giữa có tên Bàn Thạch cao 1.388m; bên trái là đỉnh Thiên Nhị (chợ trời) cao 1.375m, trên có tháp truyền hình cao 93m, bên phải là đỉnh Phù Nghĩa cao 1.400m

Thị trấn Tam Ðảo rộng hơn 300ha, nằm gọn trong một thung lũng nhỏ của dãy Tam Ðảo, đồng thời cũng là một trong những vườn quốc gia lớn nhất miền Bắc Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong một ngày Buổi sáng se se gió xuân, buổi trưa nóng ấm mùa hạ, buổi chiều lãng đãng heo may mùa thu, buổi tối lạnh giá của đông Thị trấn bé xíu, xinh xắn với những con đường lên xuống ngoằn ngoèo, quanh co nho nhỏ, một dòng suối như vệt nước cắt ngang chảy suốt bốn mùa

Ðầu thế kỷ 20, người Pháp đã "tấn công" lên Tam Ðảo, xây dựng ở nơi đây thành khu nghỉ mát với 200 biệt thự, khách sạn, nhà hàng, sân chơi thể thao, bể bơi, sàn nhảy

Ðường đi lên núi Tam Đảo tuy hơi vất vả nhưng rất đẹp Hoa phong lan, hoa cúc quì và các loài hoa dại không tên khác nở đầy lối đi, toả hương thơm rất lạ, màu sắc rực rỡ cộng thêm không biết bao nhiêu là bướm đủ loại rập rờn trên hoa lá, đậu trên tóc người, bay theo người hàng đàn như các sứ giả Tam Ðảo đón khách lên chơi Lên tới đỉnh, phóng tầm mắt ra bốn phía là mênh mông trời, đất, gió, mây

Từ trung tâm thị trấn, rẽ bên phải theo một con đường mòn, hút xuống thung lũng sâu, thác Bạc giấu mình trong núi, bí ẩn đổ xuống dòng nước trắng bạc, lóng lánh ánh mặt trời phản chiếu sắc cầu vồng Một dòng suối nhỏ từ trên cao 30m ào ào tuôn nước, thả vào gió tiếng suối, tiếng rừng, tiếng lá dội vào vách đá nghe thâm u như tiếng ngàn xưa Nếu thích mạo hiểm, hãy đi xa chút nữa tới đỉnh Rùng Rình, ở đây cây cối, núi non đẹp như trong cổ tích, có nhiều cây to mấy người ôm phủ đầy hoa phong lan, tiếng chim hót ríu rít vang động, bươm bướm bay rợp trời Xa hơn nữa là Tam Ðảo 2, nơi mà vào thời Pháp cũng là điểm du lịch nghỉ mát lý tưởng, nhưng nay

bị bỏ hoang mang vẻ đẹp hoang dã, cô liêu

3.1.3 Tháp Bình Sơn

Vị trí: Tháp Bình Sơn thuộc địa phận thôn Bình Sơn, xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 25

Đặc điểm: Tháp Bình Sơn là một di sản của kiến trúc độc đáo thời Lý - Trần còn được bảo tồn nguyên vẹn đến ngày nay.

Tháp nằm cạnh chùa Vĩnh Khánh (chùa Then), cách Hà Nội khoảng 150km Tháp cao gần 16m, được xây dựng vào đời Lý - Trần Tháp có 11 tầng, mỗi tầng có mái nhô ra Lòng tháp rỗng, bệ tháp hình

vuông mỗi cạnh là 4,45m Tháp được thu

nhỏ dần đến đỉnh Tầng trên cùng của tháp

mỗi cạnh 1,55m Tháp được xây bằng

gạch nung già, màu đỏ sậm, rắn chắc như

sành, bệ tháp được xây bằng gạch vồ

Mặt ngoài ở các tầng tháp ốp gạch

mịn mặt, màu vàng sậm, hoa văn trang trí

và đường nét rất tinh xảo, hài hoà tạo

thành khối kiến trúc hoàn hảo ở mọi góc

3.1.4 Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên

Vị trí: Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, cách Hà Nội khoảng 85km về phía tây

Đặc điểm:Cùng với Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt và Thiền viện Trúc Lâm Yên

Tử, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên là một trong 3 thiền viện lớn nhất của Việt Nam

Đến với Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên du khách đều bị hút hồn bởi cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kỳ thú Núi cao vút tận trời được phủ lên một lớp rừng già

Trang 26

xanh thẫm với nhiều cây cổ thụ, những con suối khi tỏa ra khi thu lại, chảy quanh co,

Hình 16 Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên

lúc ào ào trên vách đá, lúc lững lờ trôi dưới chân núi, nước suối trong suốt nhìn thấu những tảng đá nhỏ li ti Thiền viện Trúc Lâm mọc lên nguy nga giữa ngàn cây như

mở rộng con đường thiền đưa con người tìm về với thế giới tâm linh

Được xây dựng trên nền ngôi chùa Thiên Ân cổ, với diện tích rộng khoảng 4,5ha, và rừng ngoại vi rộng 50 ha, nằm trên độ cao khoảng 300m so với mực nước biển Từ chánh điện, nhà tổ, nhà khách, nhà trưng bày, cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống đến khu nội viện gồm: tăng đường, thiền đường, trai đường và các thất chuyên

tu được xây dựng rất kỳ công và độc đáo mang đậm dấu ấn của kiến trúc Á Đông Thư viện hình bát giác nằm trên đồi và một tượng phật cao 35m Tất cả các tranh tượng,

Trang 27

phù điêu trên vách tháp chuông, tháp trống trong và ngoài chánh điện đều ẩn chứa những tích xưa thiền sử thu hút du khách ra về rồi còn muốn trở lại.

Đến Thiền Viện,du khách sẽ được thả hồn trong không gian trong lành mát mẻ với những đồi thông cao vút, những vườn hoa đang nở rộ Đường lên núi được xây bằng bê tông nên du khách nếu đi bằng xe máy hay ôtô đều có thể đi lên đến tận cổng Nếu muốn ngắm Thiền Viện từ dưới lên, có thể đi bộ như leo núi du khách sẽ thấy Thiền Viện đồ sộ đến mức nào

Thiền Viện chỉ cách khu nghỉ mát và sân golf Tam Đảo khoảng chừng 16-17km nên du khách có thể kết hợp hai chuyến du lịch này làm một vừa thăm quan vừa nghỉ mát, dã ngoại để có những giây phút thư giãn tuyệt vời

3.2 Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế ở Phú Thọ

3.2.1 Khu di tích đền Hùng

Vị trí: Nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km Từ Hà Nội, du khách có thể đến Đền Hùng bằng đường bộ theo quốc lộ 2 hoặc tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai

Đặc điểm: Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc thâm nghiêm trên núi Nghĩa Lĩnh Khu di tích lịch sử đền Hùng gồm có đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ

Trang 28

Hình 17 Khu di tích đền Hùng

Đây là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam Đền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang

Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng (hay còn gọi là núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn…) thuộc đất Phong Châu - vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây, có độ cao 175 m so với mặt nước biển Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng

về phía Nam, mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo… Núi Vặn cao 170m, xấp xỉ núi Hùng Núi Trọc nằm giữa núi Hùng và núi Vặn, cao 145 m Ba đỉnh núi: núi Hùng, núi Vặn, núi Trọc theo truyền thuyết là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời

Toàn khu di tích Đền Hùng xưa kia là rừng già nhiệt đới, đến nay chỉ còn núi Hùng là rậm rạp xanh tươi với 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn sót lại một

số cây đại thụ như chò, thông, lụ…và một vài giống cây cổ sơ như kim giao, thiên tuế

Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia

Cổng đền

Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917) Cổng xây kiểu vòm cuốn cao 8,5m, hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái trang trí Rồng, đắp nổi hai con Nghê Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sỹ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù Giữa tầng một có đề bức đại tự:

“Cao sơn cảnh hành” (lên núi cao nhìn xa rộng) Còn có người dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao) Mặt sau cổng đắp hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần

Trang 29

Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII - XVIII Kiến trúc kiểu chữ “nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước Đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa Bờ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật Mái lợp ngói mũi, địa phương gọi

là ngói mũi lợn

Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái Trên đỉnh

có đắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can Trong nhà bia trước đây đặt

Trang 30

tấm bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá, nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1945:

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Gần Đền Hạ có một ngôi chùa, xưa có tên là Sơn cảnh thừa long tự, sau đổi là Thiên quang thiền tự Chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các nhà: tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt Mái chùa được lập ngói mũi, đầu đao cong Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa

Hình 19 Đền Hạ

Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội Trước sân chùa có 2 tháp sư hình trụ 4 tầng Trên nóc đắp hình hoa sen Lòng tháp xây rỗng, cửa vòm nhỏ Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá khắc tên các vị hoà thượng

đã tu hành và viên tịch tại chùa

Trang 31

Hình 20 Chứng tích Bác Hồ Thăm Đền Hùng

Chùa còn có một gác chuông được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo cột kiểu chồng giường kết hợp với bẩy lẻ Các bẩy lẻ hầu như để trơn không chạm trổ gì Trên gác chuông có treo quả chuông, không ghi niên đại đúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây dạo Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng” Qua đó có thể đoán quả chuông được đúc thời Hậu Lê

Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu)

Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu - người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày

Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m, rộng 3,7m Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở 3 cửa

Trang 32

Hình 21 Đền Trung

Ðền Thượng

Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là đến đền Thượng, nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa Ðây cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp nhà Hùng

Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của

cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh

Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi Về sau nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện” (Điện cầu trời) còn có tên là

“Cửu trùng tiên điện” (Điện giữa chín tầng mây) Trong Đền Thượng có bức đại tự đề

“Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng nước Việt Nam) Đền được làm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn giản, kèo cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm: nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV)

Trang 33

Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện nay.

Hình 22: Đền Thượng

Lăng vua Hùng

Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6, sau khi Thánh Dóng đánh giặc Ân bay lên trời, vua Hùng đã hoá ở đây Lăng mộ nằm ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam

Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng lăng Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu” Mái đắp ngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù

Ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh

có tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá Trong lăng có mộ Vua Hùng Mộ xây hình hộp chữ nhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m Mộ có mái mui luyện Phía

Ngày đăng: 05/09/2014, 11:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các tỉnh thuộc tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 1 Các tỉnh thuộc tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc (Trang 4)
Hình 2: Bản đồ du lịch tỉnh Vĩnh Phúc - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 2 Bản đồ du lịch tỉnh Vĩnh Phúc (Trang 5)
Hình 3: Bản đồ du lịch tỉnh Phú Thọ - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 3 Bản đồ du lịch tỉnh Phú Thọ (Trang 6)
Hình 4 : Bản đồ du lịch tỉnh Yên Bái - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 4 Bản đồ du lịch tỉnh Yên Bái (Trang 8)
Hình 5: Bản đồ du lịch tỉnh Lào Cai - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 5 Bản đồ du lịch tỉnh Lào Cai (Trang 9)
Hình 6: Bản đồ du lịch tỉnh Lai Châu - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 6 Bản đồ du lịch tỉnh Lai Châu (Trang 12)
Hình 7: Bản đồ du lịch tỉnh Điện Biên - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 7 Bản đồ du lịch tỉnh Điện Biên (Trang 14)
Hình 8: Bản đồ du lịch tỉnh Sơn La - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 8 Bản đồ du lịch tỉnh Sơn La (Trang 15)
Hình 9: Bản đồ du lịch tỉnh Hòa Bình - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 9 Bản đồ du lịch tỉnh Hòa Bình (Trang 17)
Hình 11. Vườn quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 11. Vườn quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc (Trang 22)
Hình 12. Thằn lằn ở Vườn quốc gia                     Hình 13. Cá cóc ở Vườn Quốc Gia - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 12. Thằn lằn ở Vườn quốc gia Hình 13. Cá cóc ở Vườn Quốc Gia (Trang 22)
Hình 14. Khu du lịch Tam Đảo - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 14. Khu du lịch Tam Đảo (Trang 23)
Hình 16. Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 16. Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên (Trang 26)
Hình 18: Cổng Đền - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 18 Cổng Đền (Trang 29)
Hình 19. Đền Hạ - báo cáo về tiểu vùng du lịch miền núi tây bắc và nam bắc bộ
Hình 19. Đền Hạ (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w