Từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu nồng độ protein S100B trong chẩn đoán và tiên lượng ở bệnh nhân dập não do chấn thương sọ não kín” với 2 mục tiêu: não do chấn
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương sọ não (CTSN) là một cấp cứu ngoại khoa rất thường gặp,chiếm 25 -30% số bệnh nhân bị chấn thương và 2/3 số bệnh nhân tử vong dochấn thương là do chấn thương sọ não Chấn thương sọ não đã được nghiêncứu từ lâu Hypocrate (460 - 377 TCN) đã nghiên cứu về chảy máu nội sọ
do chấn thương Năm 1773 Petit lần đầu lên đã chia CTSN thành 3 thể cơbản: Chấn động não, đụng giập não và đè ép não Cho đến nay có nhiềucách phân loại mới, song về cơ bản vẫn phải dựa theo phân loại của Petit Ngày nay CTSN không ngừng gia tăng ở Việt Nam mà nguyên nhân chính
do tại nạn giao thông [1], [2]
Tai nạn giao thông mang tính toàn cầu Theo hiệp hội chữ thập đỏ vàlưỡi liềm đỏ quốc tế, năm 1998 có ít nhất 500.000 người chết và 15.000 bịthương do tai nạn giao thông Trong 6 tháng đầu năm 1998: Việt Nam có11.488 vụ tai nạn giao thông tăng 10,68% so với 6 tháng đầu năm 1997 [3].Tại bệnh viên Chợ Rẫy, số lượng bệnh nhân bị tai nạn giao thông ngàycàng tăng cao trong đó chủ yếu bị chấn thương sọ não: năm 1995 có 23.737trường hợp bị tai nạn giao thông với 21.700 trường hợp bị chấn thương sọnão, năm 1996 có 24.537 trường hợp tai nạn giao thông với 22.261 trườnghợp bị chấn thương sọ não Năm 1997 có 14.209 trường hợp bị tai nạn giaothông với 12.568 trường hợp bị chấn thương sọ não 1998 có 14.530 trườnghợp chấn thương sọ não được điều trị tại viện trong đó tai nạn giao thôngchiếm tỉ lệ 62,9 %, chủ yếu gặp ở nam giới [4]
Dập não là một tổn thương hay gặp đồng thời cũng là một trong nhữngtổn thương nặng nề nhất của chấn thương não nặng Nếu nhẹ, dập não thường
để lại di chứng về sau (như động kinh) Nếu nặng, nó thường kèm theo phầnlớn các máu tụ trong sọ Chúng tôi thấy dập não nặng trong phần lớn máu tụdưới màng não Chính dập não là tổn thương chủ yếu, đã gây phần lớn các tử
Trang 2vong Mặc dù những năm gần đây đã có nhiều bước phát triển lớn trong chẩnđoán và điều trị nhưng tỷ lệ tử vong và di chứng còn rất cao [5]
Do vậy việc chẩn đoán và tiên lượng sớm là vấn đề vô cùng quan trọng,giúp can thiệp kịp thời và phù hợp nhằm giảm thiểu tỷ lệ tử vong, tàn phế.Đánh giá điểm Glassgow và chụp cắt lớp vi tính sọ não được sử dụng phổbiến trong chẩn đoán chấn thương sọ não Tuy nhiên điểm Glassgow bị nhiềuyếu tố chi phối như: rượu, ma túy, các bệnh lý chuyển hóa, rối loạn tâmthần… Chụp cắt lớp vi tính thì có những hạn chế như: tiếp xúc bức xạ làmtăng nguy cơ ung thư, đặc biệt ở trẻ em, phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu cóthể gây các dị tật bẩm sinh và trong nhiều trường hợp còn bỏ sót tổn thương ởgiai đoạn sớm, giá thành cao làm tăng chi phí điều trị cho người bệnh
Protein S100B là một calcium acid gắn protein được sản xuất chủ yếubởi các tế bào hình sao [6] Khi chấn thương, nồng độ protein S100B huyếtthanh tăng rất sớm ngay cả với những tổn thương rất nhỏ ở não Xét nghiệmnày ít tốn kém, đơn giản hơn nên có thể xét nghiệm lặp đi lặp lại giúp tiênlượng và chẩn đoán sớm chấn thương sọ não trong khi chưa thấy tổn thươngtrên phim chụp cắt lớp vi tính
Mặc dù, ở nước ngoài đã có những nghiên cứu về giá trị của xét nghiệmprotein S100B trong chẩn đoán và tiên lượng chấn thương sọ não [7], [10],[30] nhưng ở Việt Nam chưa thấy nghiên cứu về vấn đề này Từ tình hình
trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu nồng độ protein S100B trong chẩn đoán và tiên lượng ở bệnh nhân dập não do chấn thương sọ não kín” với 2 mục tiêu:
não do chấn thương sọ não kín.
2. Tìm hiểu giá trị của xét nghiệm protein S100B huyết thanh đối chiếu với các triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về CTSN kín
1.1.1 Khái niệm chấn thương sọ não kín
Chấn thương so não kín bao gồm tất cả các chấn thương sọ não chưagây rách màng cứng (màng bao bọc não), chưa gây thông não bộ với môitrường bên ngoài Tổn thương hộp sọ có thể lún sọ, rạn vỡ sọ Tổn thương nãogồm chấn động não, dập não, chèn ép não do máu tụ, phù não [6]
1.1.2 Phân loại chấn thương sọ não [1],[6]
1.1.2.1.Phân loại theo nội dung tổn thương não
Tổn thương não nguyên phát:
Là những tổn thương xuất hiện ngay khi lực chấn thương gây nên Tổnthương có thể ít, nhiều, nông, sâu tuỳ theo lực chấn thương Các tổn thươngnão nguyên phát như: chấn động não, nứt sọ, dập não…
Tổn thương thứ phát:
Là những tổn thương não xuất hiện sau chấn thương một thời gian, cóthể tổn thương khu trú hay lan rộng Thường là các loại tụ máu trong hộp sọcấp tính, bán cấp và mãn tính Máu tụ ngoài màng cứng, dưới màng cứng vàtrong não hoặc phối hợp các loại máu tụ trên cùng bệnh nhân
1.1.2.2 Phân loại mức độ theo điểm Glassgow:
Năm 1974 hai thầy thuốc người Anh quốc tên là Teasdale.G và Jennet.B
ở thành phố Glasgow phía bắc nước Anh, đã đề xuất một bảng lượng giá tri giáccho BN sau CTSN gọi là thang điểm Glasgow (Glasgow Coma Scale - GCS)Bảng Glasgow dựa vào 3 đáp ứng là mắt (eyes) - lời nói (verbal) - vậnđộng (motor)
Trang 4Điểm Glasgow cao nhất là 15 điểm và thấp nhất là 3 điểm, hầu hết tácgiả đều thống nhất:
CTSN nặng (nguy cơ cao): điểm Glasgow 3-8 điểm
CTSN vừa (nguy cơ trung bình): điểm Glasgow 9-12 điểm
CTSN nhẹ (nguy cơ thấp): điểm Glasgow 13-15 điểm
Chấn thương sọ não mức độ nhẹ (Glassgow 13-15 điểm)
- Ý thức có thể bình thường (chấn động não), hoặc ngủ gà và lẫn lộn(đụng giập não) nhưng vẫn có thể tiếp xúc, làm theo yêu cầu
- Có thể có biến đổi cấu trúc não dẫn đến triệu chứng kéo dài, đôi khi
có thể diễn biến xấu hơn do biến chứng máu tụ trong sọ lan tỏa
Chấn thương sọ não mức độ vừa (Glassgow từ 9 -12 điểm)
-Ý thức xấu hơn nhưng không hôn mê sâu, có thể ngủ lịm, không tiếpxúc, hoặc hiểu lời nói chút ít, kích thích đau mở mắt và đáp ứng chính xác
-Cần đánh giá kỹ những tổn thương và rối loạn phối hợp khác như: ngộđộc, giảm oxy máu và rối loạn chuyển hóa
-Thường có tổn thương cấu trúc não mức độ nặng hơn, có nguy cơ tổnthương thứ phát lớn hơn và diễn biến xấu hơn về sau
Chấn thương sọ não mức độ nặng (Glassgow ≤ 8 điểm)
- Hôn mê sâu sau chấn thương
- Không mở mắt, không làm theo yêu cầu, đáp ứng đau từ chính xáccho đến duỗi cứng mất vỏ, mất não hay hoàn toàn không đáp ứng
-Thường chấn thương sọ não nặng đe dọa tính mạng phải nhanh chóngcan thiệp tích cực và toàn diện
1.2.Tổng quan về dập não
Dập não là một trong những tổn thương hay gặp đồng thời cũng là mộttrong những thương tổn nặng nề nhất của chấn thương sọ não Đó là những ổchảy máu phối hợp với hoại tử tổ chức não ở các mức độ khác nhau
Trang 51.2.1.Cơ chế hình thành dập não [5].
Do lực tác động vào hộp sọ lan truyền đến vùng vỏ não gây ra đụng dập
tổ chức não Cơ chế hình thành dập não do nhiều nguyên nhân có thể do đụngdập trực tiếp vào tổ chức não do tác nhân chấn thương, do thay đổi áp lựctrong hộp sọ hoặc do tình trạng tăng giảm gia tốc đột ngột gây nên sự vachạm giữa não vào xương sọ hay màng cứng
Có nhiều loại dập não tùy theo cơ chế tổn thương:
- Trực tiếp:
+ Dập não do tác động trực tiếp: là loại dập não xuất hiện ngay dưới điểm
va chạm vào hộp sọ do lực tác động vào hộp sọ mà không làm vỡ xương sọ
+ Dập não do vỡ xương sọ: Thương tổn não dập ngay dưới điểm vachạm của lực tác động trực tiếp vào sọ gây vỡ xương sọ kèm theo, dập não là hậu quả lực tác động trực tiếp vào hộp sọ dẫn tới thương tổn nhu mô não và mạch máu ngay dưới sọ
- Gián tiếp:
Thương tổn não dập ở đối bên với lực va chạm do lực tác động làm
tổ chức não di chuyển trong chấn thương đập vào thành xương đối diệngây tổn thương
1.2.2.Triệu chứng lâm sàng dập não [1],[2],[5],[6].
Về phương diện giải phẫu bệnh thì dập não là vùng não bị tổn thương,bầm dập nhưng màng mềm (pia) ở bề mặt não còn nguyên vẹn Dập não vàrách vỏ não thường xảy ra tại nơi va chạm trực tiếp vào đầu hoặc ở phía đốidiện (contre-coup) Vị trí thường gặp nhất là thùy trán và thùy thái dương.Vùng não dập có thể ở nông ngay bề mặt của não (dập chất xám của vỏ não),nhưng cũng có thể dập sâu tới chất trắng của não và thậm chí dập sâu tới thân
Trang 6não Có thể thấy một hoặc nhiều ổ dập não ở các vị trí khác nhau Dập não cóthể kèm theo máu tụ Nếu dập não lan đến vùng trụ trước bao trong có thể làmyếu hoặc liệt vận động chân và tay, đôi khi gây tụt não dưới liềm, nguy cơdẫn đến tử vong.
Nhìn chung dập thân não hoặc dập kèm theo phù não là tình trạngnặng, tỷ lệ tử vong cao
Lâm sàng biểu hiện:
Rối loạn tri giác: thường biểu hiện của dập não là rối loạn tri giác ngaysau chấn thương Những trường hợp dập não chảy máu lớn bệnh nhânthường hôn mê ngay sau tai nạn Tình trạng tri giác phụ thuộc nhiều vàomức độ và vị trí tổn thương Thời gian phục hồi tri giác khác nhau tùytheo mức độ của dập não
+ Nếu dập não mức độ nhẹ và vừa (dập nông ở vỏ não): bệnh nhân bấttỉnh 5 - 10 phút rồi tỉnh lại, có thể tiếp xúc được nhưng chậm Bệnh nhânkích thích, dãy dụa, buồn nôn và nôn Tri giác tốt dần lên sau vài ngày đến 1 -
2 tuần điều trị
+ Nếu dập não mức độ nặng (dập sâu tới chất trắng của não, ổ dập nãolớn và lan rộng, có thể nhiều ổ dập não): rối loạn tri giác biểu hiện qua cácgiai đoạn sau: bệnh nhân mê ngay sau chấn thương kéo dài 10 - 20 phút sautỉnh lại trong trạng thái dãy dụa, không thể tiếp xúc được Sau vài giờ, do phùnão tăng lên, tri giác bệnh nhân có xu hướng xấu đi Nếu điều trị tích cực thìmột số trường hợp qua được giai đoạn nguy kịch, ý thức tốt dần lên và hồiphục sau 3 - 4 tuần điều trị (thường để lại di chứng như liệt 1/2 người, rối loạntâm thần kinh) Một số khác nặng hơn, hôn mê sâu kéo dài và tử vong.Trường hợp dập thân não hoặc dập não lớn bệnh nhân hôn mê sâu ngay từđầu sau chấn thương và kéo dài cho tới khi tử vong
Trang 7Dập não nặng có tỉ lệ tử vong rất cao, tới 60 - 70%.
Rối loạn tâm thần: Gặp trong một số trường hợp biểu hiện kích thíchtâm thần: Kêu la, vật vã, giãy dụa, đứng dậy hoặc ngồi dậy khỏigiường Trong dập não trạng thái kích thích tâm thần xu hướng giảmdần do phù não giảm, bệnh nhân tỉnh táo dần, tiếp xúc được
Các rối loạn thần kinh thực vật:
Biểu hiện rối loạn hô hấp, tim mạch và thân nhiệt:
+ Mức độ dập não nhẹ: rối loạn thần kinh thực vật không nặng lắm.Mạch nhanh vừa phải (95 - 100 lần/phút), huyết áp động mạch (HAĐM) tăngnhẹ do phù não; bệnh nhân tự thở với tần số 25 - 30 lần/phút, có thể chưa có
ùn tắc hô hấp ngoại vi
+ Mức độ dập não nặng: Rối loạn nghiêm trọng về hô hấp và tim mạch.Bệnh nhân có thể ngừng thở ngay sau chấn thương hoặc rối loạn hô hấp
về cả tần số và biên độ, rối loạn nhịp thở kiểu Cheyne - stocker Thở nhanhsau đó thở chậm rồi ngừng thở, trường hợp nặng bao giờ trung tâm hô hấpcũng ngừng hoạt động trước; mạch chậm 60 - 50 lần/phút ngay sau chấnthương, HAĐM tăng cao do ảnh hưởng thân não; nhiệt độ 390C – 400C, vã mồhôi, rung cơ, có những cơn duỗi cứng mất não, áp lực nội sọ (ALNS) tăng cao
do phù não và sau đó não mất bù, mạch nhanh, nhỏ, yếu, huyết áp động mạchtụt thấp, tiên lượng cực kỳ nặng
Trong dập não mức độ nhẹ và trung bình: Hô hấp và tim mạch không nghiêm trọng và có xu hướng tốt dần lên
Các biểu hiện của thần kinh khu trú: Thường xuất hiện ngay sau chấn thương+ Giãn đồng tử cùng bên với ổ dập não
+ Liệt nửa người đối bên với ổ dập não
+ Dấu hiệu Babinski dương tính một bên
Trang 8+ Liệt VII trung ương hoặc ngoại biên; tổn thương dây thần kinh số III
và VI với biểu hiện lác ngoài hoặc lác trong
+ Cơn co giật động kinh cục bộ (cơn Bravais-Jackson) biểu hiện co giậtnửa người hoặc chỉ co giật cơ mặt một bên
Một số dấu hiệu thần kinh khu trú khác chỉ phát hiện được khi bệnhnhân đã hồi phục sức khỏe, tỉnh táo tiếp xúc được như rối loạn ngôn ngữ, rốiloạn thị lực, thính lực và rối loạn ngửi
Trong thực tế có những trường hợp chấn thương sọ não mở, não nátchảy ra ngoài nhưng không phát hiện dấu hiệu thần kinh khu trú như nói ởtrên Nhiều trường hợp dập não vùng nền sọ là vùng đảm nhận ít chức năng,khi khám khó phát hiện dấu hiệu thần kinh khu trú Có những trường hợp liệtrất đồng đều nửa người nhưng trên phim chụp cắt lớp vi tính không thấy hìnhảnh dập não hoặc máu tụ nội sọ
Hội chứng tăng áp lực nội sọ
Tổ chức não bị bầm giập dẫn đến rối loạn tính thấm của thành mạch, rốiloạn vận chuyển nước trong và ngoài tế bào làm cho tế bào não bị ứ nước và phùnão Phù não là tình trạng tích tụ nước quá nhiều cả trong và ngoài tế bào não
Dập não càng lớn, phù não càng nặng Phù não sẽ dẫn tới tăng áp lựcnội sọ, biểu hiện đau đầu, buồn nôn và nôn; ứ phù đĩa thị; kích thích tâm thần;mạch chậm, huyết áp tăng cao; thở nhanh nông; rối loạn hô hấp và tim mạchtrầm trọng Nếu áp lực nội sọ (ALNS) tăng cao và kéo dài sẽ gây nhiều biếnchứng như thiếu máu nuôi dưỡng tổ chức não, đặc biệt là chèn ép và tụt kẹtnão: đẩy thùy thái dương vào khe Bichat; đẩy thùy nhộng tiểu não vào lỗchẩm và gây rối loạn hô hấp và tim mạch nghiêm trọng do chèn ép hành tủy.Nếu phù não mức độ nhẹ, tăng ALNS sẽ giảm dần và tình trạng chung củabệnh nhân sẽ tốt dần lên
Trang 91.2.3 Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong dập não [5].
Chụp cắt lớp vi tính có vai trò quan trọng để chẩn đoán dập não
Vị trí tổn thương: Phần lớn tổn thương thường nằm ở thùy thái dương
(50%), thùy trán (33%), cạnh đường giữa (25%) Một số tổn thương khu trúnằm ngay tại vùng vỡ, lún sọ
Hình chụp cắt lớp vi tính dập não: trên ảnh cắt lớp vi tính ổ dập nãochính là vùng giảm tỷ trọng so với mô não lành có kích thước to nhỏ khôngđều, đồng thời có choán chỗ do phù não nên đẩy đường giữa sang bên (đẩyđường giữa càng nhiều tiên lượng càng nặng), làm thay đổi hình dáng não thất(não thất bị thu nhỏ hoặc bị mất không nhìn thấy) Nếu ổ dập não kèm chảymáu thì trên ảnh cắt lớp vi tính sẽ thấy những ổ nhỏ tăng tỷ trọng, đó lànhững ổ máu tụ to nhỏ khác nhau trên nền của vùng não phù và giảm tỷ trọng.Chụp cắt lớp vi tính có khi bỏ sót những ổ dập nhỏ vùng đỉnh do không cắt
tới hoặc do bề dày các lớp cắt không mỏng nên không cắt qua tổn thương.
Ngoài ra có thể có hình ảnh của các tổn thương phối hợp như: lún vỡxương sọ, phù não, chảy máu não, tụ máu nội sọ…
Hình 1.1: Dập não vùng trán – thái dương phải [5]
Trang 101.3 Tổng quan về protein S100B
1.3.1 Protein S100
1.3.1.1 Đại cương về protein S100
Protein S100 là một gia đình protein trọng lượng phân tử thấp được tìmthấy trong các loài động vật có xương sống đặc trưng bởi hai vị trí gắn canxicủa xoắn vòng lặp lại EF-tay (helix E-loop-helix F) Có ít nhất 21 loại khácnhau của các protein S100 [7] [8]
Protein S100 đầu tiên được phát hiện vào năm 1965 bởi Moore Moorephân lập protein S100 từ não bò Sở dĩ nó được gọi là protein S100 vì nó hòatan trong dung dịch ammonium sulfate bão hòa 100% tại PH trung tính
Protein S100 được tìm thấy trong các tế bào có nguồn gốc từ mào dâythần kinh (tế bào Schwann, tế bào biểu bì tạo hắc tố và các tế bào thần kinhđệm), các tế bào mỡ, đại thực bào, tế bào sụn, tế bào Langerhans, tế bào đuôigai và tế bào sừng Nó có thể có mặt trong một số tế bào biểu mô vú [9]
1.3.2.2 Cấu trúc của protein S100
Protein S100 có trọng lượng phân tử 10-12 kDa và ở dạng homodimerhoặc heterodimers Mỗi monomer gồm có hai motif xoắn vòng lặp lại (gọi
là EF-tay): một đầu tận N và một đầu tận C EF tay, tiếp theo là một phần
mở rộng đầu tận C Hai EF-tay được kết nối bởi một khu vực trung gian,được gọi là khu vực bản lề Protein S100 được đặc trưng bởi hai vị trí liênkết với Ca2+ của hai loại EF-tay, trong đó đầu tận N gồm 14 acid amin đặctrưng cho protein S100 và một mô-típ EF- tay cổ điển với 12 acid amin tạiđầu tận C [10]
Trang 11Hình 1.2: Cấu trúc dạng thẳng của protein S100 [10].
Hình 1.3: Cấu trúc không gian của protein S100 [10].
Các loại protein S100 khác nhau chủ yếu ở chiều dài và trình tự củakhu vực bản lề và phần đầu tận C mở rộng
Protein S100 liên kết với 4 ion Ca2+ mỗi dimer Ngoài Ca2+, một sốprotein S100 còn liên kết với Zn2+ và một số protein S100 (S100B vàS100A5) còn liên kết với Cu2+ Điều này cho thấy rằng mục tiêu tương tác vàchức năng tế bào của protein S100 có thể được kích hoạt bởi Ca2+, Zn2+ và
Cu2+ [7], [11], [12]
S100 tồn tại ở những dạng khác nhau phụ thuộc vào đơn vị alpha vàbeta Loại beta rất đặc hiệu cho tế bào não [7]
Trang 12 Loại beta-beta có mặt ở trong tế bào thần kinh đệm và tế bào hình sao
Loại alpha-beta chỉ có trong tế bào thần kinh đệm nhưng không cótrong tế bào hình sao
Loại alpha-alpha có trong sợi cơ, tim và thận
Trang 13nhưng thường xuất hiện như là một homodimer (S-100BB) hoặc mộtheterodimer với S-100A1 (S-100AB) [10].
Nó có thể được tìm thấy với nồng độ rất thấp trong dịch não tủy của vàhuyết thanh Nồng độ bình thường của protein này có liên quan chặt chẽ với
sự vắng mặt của các tổn thương nội sọ Mức gia tăng nồng độ của protein này
là chỉ số nhạy cảm của chấn thương sọ não[8]
Nồng độ S100B trong máu: bình thường: 0,046-0,105 ng/mL
S100B được chuyển hoá ở thận và bài tiết ra nước tiểu, có thời gian bánhủy sinh học là khoảng 2 giờ
1.3.2.2 Vai trò của protein S100B
S100B có thể điều chỉnh một nhóm đa dạng các chức năng tế bào baogồm tế bào truyền thông, sự phát triển của tế bào, cấu trúc tế bào, chuyển hóanăng lượng, co thắt và truyền tín hiệu nội bào Chúng hoạt động như cácprotein gắn canxi trong tế bào và kích thích ngoại bào phản ứng thông qua sựtương tác với các protein khác tế bào gọi là các protein đích Protein này đóngmột vai trò rất quan trọng trong sự tăng sinh tế bào thần kinh đệm, sự khácbiệt của tế bào thần kinh và sự trưởng thành của một loạt các tế bào thần kinh.Trong tế bào, S100B ức chế phosphoryl hóa một số protein đích như annexin
II, neurogranin [13], P53 (Baudier et al, 1992.)
S100B nằm trong hạt nhân và tế bào chất Nó có cả hai vai trò nội bào vàngoại bào
Tác dụng nội bào:
Là một yếu tố nội bào, S100B thể hiện tác dụng sinh học bằng cáchgắn với protein đích trong tế bào và hoạt hóa protein đó Trong các tế bào,S100B điều chỉnh các hoạt động enzyme, tình trạng lắp ráp các thành phần
Trang 14cấu trúc tế bào, yếu tố phiên mã, cân bằng Ca2+, phosphoryl hóa và thoái hóaprotein, sự vận động, phát triển, biệt hóa và bảo vệ tế bào [13]
Hình 1.5: Tác dụng nội bào của S100B [13]
Tác dụng ngoại bào
Nồng độ S100B trong toàn bộ não từ 10-20 microM, một phần nhỏS100B được khuếch tán vào dịch não tủy, nồng độ S100B ngoài tế bào nãochỉ khoảng vài nM trong điều kiện sinh lý bình thường S100B được tiết rachủ yếu bởi các tế bào hình sao ở trong não và sự tiết ra S100B có thể đượckích thích hoặc giảm bởi một số yếu tố / điều kiện [13]
S100B ở ngoại bào có chức năng như một yếu tố dinh dưỡng đối vớicác tế bào thần kinh và tế bào hình sao ở nồng độ sinh lý và gây ra cái chếtcủa tế bào thần kinh ở nồng độ cao Tất cả những hiệu ứng này đòi hỏi phải
Trang 15có sự tương tác của S100B và RAGE RAGE (receptor for advancedglycation end products) là một thụ thể multiligand của globulin miễn dịchtham gia vào các phản ứng miễn dịch bẩm sinh Tuy nhiên, RAGE cũng đóngmột vai trò trong phát triển mô (Rauvala và Rouhiainen, 2010) Ngoài ra,nồng độ S100B thấp còn giúp bảo vệ các tế bào thần kinh chống lại độc tínhbeta-amyloid thông qua sự tham gia của RAGE (Businaro et al, 2006) Nhưngnồng độ S100B cao lại gây ra kích thích quá mức RAGE trong tế bào thầnkinh dẫn đến sản xuất thừa ROS (reactive oxygen species), nguyên nhân cuốicùng của quá trình chết theo chương trình [11].
S100B ngoại bào còn đóng một vai trò trong chứng viêm thần kinh Ởnồng độ cao S100B kích hoạt các đại thực bào cư trú của não, ở nồng độ cao
và có sự hiện diện của nội độc tố vi khuẩn hoặc interferon-γ (IFN- γ), S100Btăng cảm ứng tổng hợp và giải phóng nitric oxide [14], [15]
S100B ngoại bào cũng đóng một vai trò trong sự hình thành cơ S100B
ức chế sự khác biệt myoblast, kích thích sự phát triển của myoblasts và làmgiảm sự chết theo chương trình của chúng Những ảnh hưởng này độc lập vớitín hiệu RAGE mặc dù các myoblast cũng bộc lộ các RAGE [16]
Trang 16Hình 1.6: Tác dụng ngoại bào của S100B [13]
Tác dụng của S100B trên tế bào thần kinh: Ở nồng độ thấp, S100Btương tá với thụ thể RAGE của tế bào kích hoạt sản xuất một lượng vừa phảiROS dẫn đến sự tồn tại của tế bào thần kinh Ở nồng độ cao, S100B lại gâychết tế bào thần kinh thông qua sản xuất quá nhiều ROS Ngoài ra ở nồng độcao S100B còn gây hoạt hóa lipid peroxidation là nguyên nhân gây chết theochương trình các neuron hạch rễ lưng
Tác dụng của S100B trên tế bào thần kinh đệm: nồng độ thấp S100Btương tác với thụ thể RAGE của tế bào dẫn tới sự phát triển và biệt hóa tế bàothần kinh đệm Ở nồng độ cao s100B tác dụng hiệp lực với IFN-γ điều chỉnh
sự biểu hiện của iNOS và sự sản xuất NOS trong tế bào thần kinh đệm, tuy
Trang 17nhiên cơ chế này chưa được biết rõ Tại nồng độ cao S100B cũng gây sảnxuất quá nhiều ROS gây điều chỉnh biểu hiện của COX-2, IL-1β và TNF-α.
Tác dụng của protein S100B trên tế bào hình sao: S100B tương tác vớithụ thể RAGE của tế bào dẫn tới điều chỉnh biểu hiện của IL-1β, IL-6, TNF-α
và iNOS phụ thuộc NF-KB
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ S100B huyết thanh.
Tế bào hình sao tiết S100B trong điều kiện bình thường Sự tiết S100B
từ tế bào hình sao theo 1 con đường không kinh điển và được quy định bởi 1
số yếu tố/điều kiện Một số yếu tố làm tăng bài tiết (serotonin,lysophosphatidic acid, nồng độ glutamate thấp, nồng độ Ca2+ và / hoặc K+
trong ngoại bào thấp, các chất độc thần kinh như: 1-metyl-4-phenyl 1,2,3,6tetrahydropyridine, chất chống oxy hóa tự nhiên, và các thuốc chống loạnthần) trong khi một số khác làm giảm tiết (ví dụ như nồng độ cao của glucose,glutamate và K+, thuốc chẹn kênh Ca) [13]
Nồng độ S100B huyết thanh thay đổi theo tuổi : Ở độ tuổi dưới 20 tuổiS100B huyết thanh tỷ lệ nghịch với tuổi tức là tuổi càng lớn thì nồng độS100B huyết thanh thấp hơn, còn ở độ tuổi trên 20 tuổi thì không thấy có sựkhác biệt [17]
S100B chủ yếu được sản xuất bởi các tế bào hình sao và tế bào thầnkinh đệm Tuy nhiên nó còn được sản xuất bởi các tế bào sụn nên trong cáctrường hợp gãy xương dài xương cũng có thể gây tăng nồng độ của S100Btrong huyết thanh [18]
Ngoài ra nồng độ S100B trong huyết thanh còn tăng ở những bệnhnhân bị hội chứng Down, động kinh, hoặc bệnh Alzheimer, bệnh lý tim mạch,bệnh gan, u ác tính, chấn thương thận, viêm và nhiễm trùng [19], [20]
Trang 181.4 Nghiên cứu S100B và các bệnh lý liên quan.
1.4.1 S100B và bệnh dập não do CTSN kín:
Bởi vì trọng lượng phân tử lớn, S100B chỉ có thể đi vào hệ tuần hoànkhi hàng rào máu - não bị phá vỡ, chẳng hạn như khi bị tổn thương đụng dậpnão Khi não bị tổn thương ngay lập tức sẽ gây ra sự rò rỉ của S100B từ các tếbào thần kinh đệm bị hư hỏng vào máu hoặc dịch não tủy Cơ chế chính xáccủa tăng nồng độ S100B huyết thanh trong các trường hợp CTSN còn chưachắc chắn Các protein S100B có thể được phát hành trực tiếp bởi các tế bào
bị hư hại, nhưng nó cũng có thể được bài tiết vào không gian ngoại bào bởicác tế bào thần kinh đệm được kích hoạt Nó có thể đi vào máu thông qua một
sự gián đoạn tạm thời của hàng rào máu não [21]
Người ta đã chỉ ra rằng mức độ tăng S100B huyết thanh có mối tươngquan tốt với tình trạng lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh cũng như kết quả củabệnh nhân trong chấn thương sọ não Nó đã được mặc nhiên công nhận rằngprotein S100B là 1 dấu ấn sinh học có triển vọng nhất để đánh giá mức độnghiêm trọng của những bệnh nhân chấn thương sọ não Nó cũng đã được chỉ
ra rằng ở những bệnh nhân CTSN, nồng độ S100B huyết thanh tăng cao hơn1,13 ng/ml có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong Vì vậy, protein này đãđược đề xuất như một dấu ấn sinh học tiềm năng cho biết mức độ nghiêmtrọng của chấn thương thần kinh cũng như dự đoán kết quả của bệnh nhân.Mặt khác, S100B đã được chứng minh rằng sự gia tăng nồng độ của nó tronghuyết thanh có thể là dấu hiệu của sự phá vỡ hàng rào máu não [22]
S-100B được giải phóng và lưu thông trong máu ngoại vi trong mộtloạt các rối loạn của hệ thống thần kinh trung ương và có thể được coi là mộtdấu hiệu của tổn thương hệ thần kinh trung ương
Trong chấn thương sọ não, nồng độ S100B huyết thanh tăng trong vòng
3 giờ đầu ngay cả với những tổn thương rất nhỏ ở não Nồng độ S100B trong
Trang 19huyết thanh tỷ lệ thuận với mức độ tổn thương não sau chấn thương [23]
S100Β xuất hiện dương tính sớm hơn chụp cắt lớp vi tính (trong 24 giờđầu sau chấn thương) Giá thành xét nghiệm rẻ và phương pháp thực hiện lạiđơn giản hơn rất nhiều so với chụp cắt lớp vi tính Chính vì thê mà xétnghiệm định lượng protein S100B trong huyết thanh rất có giá trị trong chẩnđoán, tiên lượng và theo dõi bệnh nhân chấn thương sọ não Nó giúp giảm chiphí trong điều trị cho bệnh nhân đồng thời giúp cho các bác sỹ đưa ra cácquyết định can thiệp kịp thời
1.4.2 S100B và các bệnh lý khác:
S100B trong các rối loạn thoái hóa thần kinh [19], [20]
Năm 1979 Michetti, lần đầu tiên phát hiện protein S100B trong dịchngoại bào sinh học - đặc biệt là dịch não tủy của bệnh nhân đa xơ cứng ở giaiđoạn cấp tính Vào thời điểm đó, sự xuất hiện của protein S100B trong dịchsinh học được coi như là một hậu quả của sự rò rỉ từ các tế bào bị hưhỏng Ngày nay, S100B có thể được coi như là một loại protein được pháthành trong viêm thần kinh Điều này giải thích cho sự tham gia tích cực củaS100B trong giai đoạn trầm trọng của bệnh đa xơ cứng (Michetti F, Massaro
A, Murazio M năm 1979: “The nervous system-specific S-100 antigen incerebrospinal fluid of multiple sclerosis patients”)
Trong số các rối loạn thoái hóa thần kinh cổ điển, trong đó sự tham giacủa S100B như là một dấu ấn sinh học và quan trọng hơn như một tác nhân gâybệnh đã được chú ý nghiên cứu ở bệnh Alzheimer Có bằng chứng về S100B pháthành ở nồng độ cao sau khi kích hoạt kéo dài tế bào hình sao đóng một vai trò bấtlợi trong sinh bệnh học của Alzheimer (Griffin WS , Stanley LC và cộng sự năm1989: Brain interleukin 1 and S-100 immunoreactivity are elevated in Downsyndrome and Alzheimer disease”)
Trong tâm thần phân liệt cũng thấy có sự tăng nồng độ S100B trong
Trang 20huyết thanh Nghiên cứu về S100B trong huyết thanh đầu tiên được công bốnăm 1999 Weismann định lượng nồng độ S100B trong huyết thanh của 20bệnh nhân TTPL ở nhiều giai đoạn của bệnh Tất cả các bệnh nhân đều dùngthuốc an thần kinh Nồng độ S100B huyết thanh ở bệnh nhân TTPL cao hơn
có ý nghĩa so với người khỏe mạnh Không có tương quan giữa S100B và tuổi
khởi phát bệnh cũng như thời gian mắc bệnh (Matthias Rothermundt và cộng
sự: “S100B in schizophrenia: an update”)
S100B trong các khối u:
S100B đã được phát hiện trong dịch não tủy của bệnh nhân có khối u não
và S100B huyết thanh thậm chí đã được đề xuất như là một dự báo sớm di cănnão Tăng S100B trong huyết thanh chủ yếu do tổn thương hàng rào máu não
đi kèm với khối u [24]
Các nghiên cứu gần đây cho thấy S100B, có tiện ích đặc biệt trong việc quản lý lâm sàng của u hắc tố ác tính Protein này đã được chứng minh có tác dụng trong việc tiên lượng, đánh giá điều trị và dự đoán tái phát S100B là một yếu tố tiên lượng độc lập và giúp dự đoán thời gian sống sót ở những bệnh nhân u ác tính Thời gian sống là dài hơn đáng
kể ở những bệnh nhân u ác tính với nồng độ S100B bình thường so với những người có nồng độ cao S100B còn là 1 chỉ số rất nhạy cảm để phát hiện sự phát triển di căn của khối u ác tính Nồng độ huyết thanh S100B cũng giúp dự đoán hiệu quả của điều trị Giảm nồng độ S100B phản ánh đáp ứng tốt với điều trị trong khi tăng nồng độ S100B lại cho thấy sự tiến triển của khối u Như vậy định lượng S100B có một vai trò quan trọng trong việc quyết định chuyển đổi phác đồ điều trị [25].
S100B trong bệnh lý tim mạch:
Trang 21Nồng độ S100B huyết thanh gần đây đã được chứng minh có liên quan
đến mức độ nghiêm trọng của các sự kiện lớn của tim Tăng nồng độ S100B
huyết thanh đã được tìm thấy ở những bệnh nhân với bệnh cơ tim giãn nởhoặc bệnh tim thiếu máu cục bộ [26]
Ngoài ra nồng độ S100B còn tăng trong một số bệnh lý khác như:S100B tăng trong nước tiểu của bệnh nhi sơ sinh đủ tháng ngạt thở, trẻ sơsinh thiếu tháng chảy máu não thất, thiếu máu não, chết chu sinh S100B tăngtrong nước bọt khi hoạt động thể lực mạnh S100B tăng trong dịch ối trongthai chết lưu, dị tật hệ thần kinh trung ương, trisomi 21 S100B tăng trong sữacủa phụ nữ mang thai đôi một túi ối, sự phát triển của tuyến sữa …[9]
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu được chia 2 nhóm: nhóm bệnh và nhóm chứng
2.1.1 Nhóm bệnh
Gồm 47 bệnh nhân dập não do CTSN kín điều trị tại khoa phẫu thuậtthần kinh – bệnh viện Việt Đức Các bệnh nhân này được theo dõi, nghiêncứu lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và nghiên cứu kết quả xét nghiệm nồng độprotein S100B huyết thanh ở thời điểm vào viện
*Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Gồm các bệnh nhân bị dập não do chấn thương sọ não kín mới vào viện
- Không phân biệt tuổi và giới
- Trên phim chụp cắt lớp vi tính có hình ảnh dập não
- Hồ sơ bệnh án có đầy đủ thông tin chẩn đoán lâm sàng, hình chụp cắtlớp vi tính
*Tiêu chuẩn loại trừ:
- Hồ sơ bệnh án không đầy đủ, không rõ ràng
Trang 23tháo đường loại trừ bằng xét nghiệm glucose máu), các bệnh lý tim mạch,bệnh lý gan mật (loại trừ bằng các xét nghiệm đánh giá chức năng gan như:bilirubin toàn phần, biirubin trực tiếp, protein, albumin, AST, ALT, GGT),bệnh lý về thận tiết niệu (loại trừ bằng xét nghiệm ure, creatinin máu)…
- Những bệnh nhân mắc các bệnh thực tổn của não hay có di chứng củacác bệnh của não – màng não, bệnh nhân bị bệnh động kinh, hội chứng Down,tâm thần phân liệt, Alzheimer, chậm phát triển trí tuệ, bệnh não, bại não…
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp tiến cứu
Theo dõi cắt ngang: phân tích các triệu chứng lâm sàng của từng bệnhnhân nghiên cứu tương ứng với thời gian lấy máu làm xét nghiệm định lượngnồng độ S100B huyết thanh
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Mẫu nghiên cứu gồm 47 bệnh nhân dập não do chấn thương sọ não kínđược điều trị tại khoa phẫu thuật thần kinh - bệnh viện Việt Đức từ tháng1/2013 đến tháng 6/2013 và 30 người bình thường
Trang 242.2.3 Công cụ chẩn đoán và đánh giá triệu chứng lâm sàng:
- Bệnh án nghiên cứu đáp phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
- Thang điểm Glassgow
Thang điểm có 3 yếu tố, gồm các đáp ứng bằng mắt, lời nói và vận động.Tổng điểm GCS thấp nhất là 3 (hôn mê sâu hoặc chết), và cao nhất là
15 (người hoàn toàn tỉnh và đang thức)
Ở Việt Nam, khi dùng thang điểm Glasgow người ta thường giữnguyên các chữ viết tắt bằng tiếng Anh là E (mắt - eye opening), V (lời nói -best verbal response) và M (vận động - best motor response)
Nguyên tắc là phải luôn bắt đầu bằng việc quan sát, hỏi han, lay gọingười bệnh để xem đáp ứng của họ Nếu không có đáp ứng với lời nói mớibắt đầu các biện pháp gây đau
Ghi nhận điểm cao nhất mà bệnh nhân đạt được trong từng loại đáp ứng.
- Làm theo lệnh
- Bấu đau: gạt tay đúng chỗ
- Bấu đau: gạt tay không đúng chỗ
- Gấp cứng hai tay
- Duỗi cứng tứ chi
- Nằm im không đáp ứng
654321
Trang 25Tổng số điểm cũng như từng điểm chi tiết đều có ý nghĩa quan trọng,
do đó, điểm Glasgow của một bệnh nhân thường được ghi theo kiểu của thí
2.2.4 Các kỹ thuật hóa sinh sử dụng trong nghiên cứu:
2.2.4.1 Phương pháp định lượng S100B huyết thanh:
Nguyên lý xét nghiệm: Định lượng nồng độ S100B huyết thanh bằngphương pháp miễn dịch sandwich dựa trên công nghệ điện hóa phát quangcủa Roche Diagnostic
Phương pháp định lượng:
S100B được định lượng bằng phương pháp miễn dịch sandwich sửdụng công nghệ điện hóa phát quang – ECL (Electro Chemiluminescence).Phương pháp miễn dịch Sandwich được thực hiện như sau: Chất cần địnhlượng (kháng nguyên) được kẹp giữa hai kháng thể đơn dòng Kháng thể thứnhất được gắn với hạt từ là chất giá (Magnetic Microparticle), ở nhữngphương pháp sandwich cổ điển thì không có chất giá mà thành ống nghiệmdùng để thực hiện phản ứng đóng vai trò chất giá, kháng thể thứ hai được gắnvới chất đánh dấu có khả năng phát tín hiệu Khi trong máu bệnh nhân xuấthiện kháng nguyên nó sẽ bị kháng thể bắt lấy nhờ phản ứng kháng nguyên –kháng thể Phức hợp kháng nguyên kháng thể này được phát hiện bởi chấtđánh dấu Chất đánh dấu là chất có khả năng phát tín hiệu, tín hiệu phát ra là
Trang 26gì thì tùy thuộc vào bản chất chất đánh dấu và phương pháp phát hiện tín hiệucủa chất đánh dấu Nó có thể phát ra tia phóng xạ nếu là phương pháp miễndịch phóng xạ, phát ra ánh sáng huỳnh quang nếu là xét nghiệm miễn dịchhuỳnh quang, trường hợp sử dụng công nghệ ECL thì chất đánh dấu phát ratín hiệu là photon ánh sáng.
Cụ thể các bước định lượng S100B như sau:
+ Mẫu phân tích có chứa S100B sẽ kết hợp với kháng thể S100B biotinhóa và kháng thể S100B gắn ruthenium trong cốc phản ứng Thời gian ủ trong
9 phút để kháng thể bắt giữ S100B trong mẫu phân tích
+ Trong bước tiếp theo các vi hạt từ phủ streptavidin được cho vào cốcphản ứng, tiếp tục ủ trong 9 phút, kháng thể biotin hóa sẽ gắn vào các vi hạtphủ streptavidin
+ Sau khi ủ 2 lần (18 phút), phức hợp miễn dịch được chuyển tới buồng
đo Phức hợp này sẽ được gắn lên điện cực đang làm việc, còn thuốc thử vàmẫu không gắn kết sẽ bị thải ra ngoài bởi dung dịch ProCell
+ Trong phản ứng ECL, chất liên kết là dẫn xuất ruthenium Phản ứngtạo ra ánh sáng Cường độ ánh sáng tỷ lệ thuận với nồng độ S100B có trongmẫu thử
Công nghệ ECL là kỹ thuật hiện đại sử dụng chất đánh dấu làRuthenium(II)-tris(bipyrrydyl) [Ru(bys)32+] và Tripopylamine (TPA) Khiphức hợp kháng nguyên – kháng thể có gắn chất đánh dấu được gắn lên bềmặt điện cực thì quá trình khởi động điện bắt đầu Dưới tác dụng của dòngđiện điện áp 2V, hợp chất phát ra photon ánh sáng và giải phóng electronquay trở lại bám trên bề mặt điện cực (Điều này là cơ sở để giải thích tại saokhi vận hành máy phân tích cứ mỗi 2 tuần lại phải rửa điện cực bằng dungdịch rửa và qui trình dành riêng Việc làm này nhằm loại bỏ các electron bám
Trang 27trên bề mặt điện cực làm cản trở hoạt động của điện cực) Cường độ ánh sáng
tỷ lệ với nồng độ chất cần phân tích và là cơ sở cho việc tính toán nồng độchất này ECL đã khắc phục nhược điểm của hóa phát quang(Chemiluminescence) nên có độ nhạy và đặc hiệu cao hơn hóa phát quang dovậy kết quả xét nghiệm sử dụng công nghệ ECL có độ chính xác cao và tincậy Công nghệ này được phát triển ở nhiều hệ thống máy phân tích của hãngRoche như Elecsys 2010, Cobas e411, Cobas 6000 – Modul e601, ModularAnalytics – Modul E170…là những hệ thống máy phân tích có ở Khoa Hóasinh Bệnh viện Bạch mai dùng để định lượng S100B và các thông số hóa sinhkhác khi tiến hành nghiên cứu
Đặc tính kỹ thuật khi phân tích S100B trên hệ thống máy miễn dịch tựđộng của Roche như sau:
S100BCông nghệ Điện hóa phát quang-ECL
Độ chính xác E2010/e411:CV 1.3 – 2.1 %
E170/e601 CV 0.7 – 1.8 %
Thu thập và bảo quản mẫu:
Trang 28- Mẫu thu thập là huyết thanh không vỡ hồng cầu, Bilirubin < 428micromoL/L (<25mg/dL), Lipid < 1500 mg/dL.
- Mẫu được bảo quản ở – 200 C (bền trong 3 tháng)
2.2.4.2 Phương pháp định lượng một số xét nghiệm hóa sinh máu
Xét nghiệm Phương pháp định lượng
Glucose (mmol/L) Phương pháp động học enzym
Ure (mmol/L) Phương pháp động học enzym
Creatinin (µmol/L) Phương pháp động học enzym
Bil T (µmol/L) Phương pháp enzym so màu
Bil D (µmol/L) Phương pháp enzym so màu
Albumin ( g/L) Phương pháp so màu
Protein (g/L) Phương pháp so màu
AST (U/L) Phương pháp động học enzym
ALT (U/L) Phương pháp động học enzym
GGT (U/L) Phương pháp động học enzym
- Các xét nghiệm thực hiện trên máy phân tích hóa sinh tự động tạikhoa Hóa sinh, bệnh viện Bạch Mai gồm Cobas 8000 modul c702, Cobas
6000 modul c501, Modular modul P800 và thuốc thử, chất chuẩn của RocheDianogstic, kiểm tra chất lượng của Bio-Rad
2.2.5 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu:
2.2.5.1.Các biến số, chỉ số lâm sàng trong nghiên cứu:
- Tuổi, giới tính
- Nghề nghiệp, địa dư
- Thời gian từ lúc xảy ra tai nạn đến khi vào viện của bệnh nhân
Trang 29- Tri giác của bệnh nhân theo thang điểm Glassgow.
- Mức độ tổn thương não theo điểm Glassgow
- Xét nghiệm nồng độ S100B trong huyết thanh của nhóm bệnh nhân vànhóm đối chứng
2.2.6 Quy trình nghiên cứu:
- Lập hồ sơ bệnh án nghiên cứu phù hơp với mục tiêu nghiên cứu
- Khám lâm sàng tại thời điểm lấy máu xét nghiệm
- Bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được lấy máu xét nghiệm tại thờiđiểm vào viện
- Phân tích sự thay đổi nồng độ S100B huyết thanh:
+ Nồng độ S100B huyết thanh ở người bình thường theo giới
+ Nồng độ S100B huyết thanh ở bệnh nhân dập não so với người bìnhthường
- Phân tích mối liên quan giữa nồng độ S100B huyết thanh với thờiđiểm vào viện của bệnh nhân
- Mối tương quan giữa nồng độ S100B huyết thanh và điểm Glasgowcủa bệnh nhân
- Mối tương quan giữa nồng độ S100B huyết thanh và hình chụp cắtlớp vi tính
- Phân tích mối liên quan giữa nồng độ S100B huyết thanh và tỷ lệ tửvong của bệnh nhân dập não
Trang 302.2.7 Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh nhân CTSN kín tại khoa
- XN nồng độ S100B huyết thanh lúc vào viện
Cộng đồng
Nhóm chứng (30 người khỏe mạnh bình thường)
- XN nồng độ S100B huyết thanh
Kết quả, phân tích, kết luận
Trang 312.3 Xử lý số liệu.
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0
Các thuật toán áp dụng:
- So sánh giá trị trung bình của 2 nhóm độc lập
- Các giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn được ứng dụng đểtính các thông số thực nghiệm
- Sử dụng thuật toán T – test để đánh giá và so sánh các thông số thựcnghiệm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
- Tìm mối tương quan giữa 2 biến bằng tương quan PEARSON(-1≤ r ≤ 1)
+) | r | ≥ 0,7: tương quan rất chặt chẽ
+) 0,5 ≤ | r | < 0,7: tương quan khá chặt chẽ
+) 0,3 ≤ | r | < 0,5: tương quan vừa
+) | r | < 0,3 : ít tương quan
+) Nếu r dương : tương quan thuận
+) Nếu r âm : tương quan nghịch
- Bảng biểu, đồ thị được vẽ tự động trên máy vi tính
2.4 Thời gian nghiên cứu
Tổng thời gian nghiên cứu: 12 tháng (từ tháng 11/2012 đến tháng 10/2013).Thời gian thu thập số liệu: 06 tháng ( từ tháng 01/2013 đến tháng 07/2013)
Trang 322.5 Vấn đề đạo đức của đề tài
Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe và giúp chẩn đoán sớm
để có thái độ xử trí kịp thời và phù hợp cho bệnh nhân chứ không nhằm mụcđích nào khác
Đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ mục đích nghiên cứu
và tự nguyện tham gia
Các đối tượng nghiên cứu được đảm bảo chống lây nhiễm chéo trongquá trình lấy máu, đồng thời không phải chi trả tiền cho xét nghiệm nồng độS100B huyết thanh Các đối tượng nghiên cứu cũng có quyền từ chối khôngtham gia hoặc ngừng hợp tác nghiên cứu ở bất kì giai đoạn nào của quá trìnhnghiên cứu
Tất cả các thông tin về bệnh tật, địa chỉ của đối tượng nghiên cứu đềuđược giữ kín và mã hóa
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ3.1 Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân nhóm tuổi của nhóm nghiên cứu
>50
Biểu đồ 3.1: Phân nhóm tuổi của nhóm nghiên cứu
Nhận xét:
Trang 34- Bệnh nhân nghiên cứu có tuổi trung bình là 40,02±19,38, trong đóbệnh nhân có tuổi nhỏ nhất là 12 tuổi và bệnh nhân cao tuổi nhất là 84 tuổi.
- Các bệnh nhân trong độ tuổi lao động (từ 20 đến 50 tuổi) chiếm tỉ lệcao nhất 59,6%, ở lứa tuổi dưới 20 tuổi chỉ chiếm có 14,9% và trên 50 tuổichiếm 25,5 %
- Khi so sánh giữa 3 nhóm tuổi của nhóm bệnh nhân thấy có sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01)
Bảng 3.2: Giới tính của nhóm nghiên cứu
Trang 3517%
Nam Nữ
Biểu đồ 3.2: Giới tính của nhóm nghiên cứu:
Bảng 3.3: Nghề nghiệp của nhóm bệnh nhân ngiên cứu:
la các nghề nghiệp khác có 5 người chiếm 10,6%
Bảng 3.4: Địa dư của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Trang 36Bảng 3.5: Vị trí dập não trên hình chụp CLVT của bệnh nhân:
Bảng 3.6: Liên quan điểm Glasgow với giới tính ở nhóm bệnh nhân
nghiên cứu
Trang 37Khi so sánh điểm Glasgow giữa 2 giới ở các nhóm thì không thấy có sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.7: Một số xét nghiệm đánh giá chức năng gan của nhóm bệnh
nhân nghiên cứu
Khi so sánh thấy nồng độ Bilirubin toàn phần, Bilirubin trực tiếp và nồng
độ các men gan AST, ALT, GGT giữa 2 giới nam và nữ không thấy sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Trang 38Bảng 3.8: Một số xét nghiệm đánh giá chức năng thận của nhóm
bệnh nhân nghiên cứu
Trang 39Bảng 3.9 Một số xét nghiệm kiểm tra chung của nhóm bệnh nhân nghiên
Từ kết quả ở bảng 3.5 cho thấy các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu
có nồng độ glucose, albumin, protein trong máu đều nằm trong giới hạn bìnhthường và khi so sánh giữa hai giới nhận thấy không có sự khác biệt có ýnghĩa thống kê (p>0,05)
3.2 Kết quả nồng độ S100B huyết thanh.
3.2.1 Nồng độ S100B huyết thanh ở người bình thường
Bảng 3.10: Nồng độ S100B huyết thanh ở người bình thường theo giới