1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh

100 687 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

61 Bảng 3.14: Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn của ốc Limnaea tại các địa điểm nghiên cứu... Bệnh sán lá gan lớn là một trong những bệnh ký sinh trùng nguy hiểm, nó có thể

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Đức

Thái Nguyên, 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ

rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã đƣợc cảm ơn

Tác giả luận văn

Mai Anh Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Văn Đức người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực

hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong bộ môn Ký Sinh Trùng - Khoa Thú Y; các thầy, cô giáo trong khoa Sau Đại Học - Trường Đại Học Nông Lâm - Thái nguyên và các thầy, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học vừa qua

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Mai Anh Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA SÁN LÁ FASCIOLA 3

1.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola 3

1.1.3 Đặc điểm vòng đời của sán lá Fasciola 4

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH DO SÁN LÁ FASCIOLA GÂY RA Ở TRÂU, BÒ 7

1.2.1 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá Fasciola 7

1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò 9

1.2.3 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bò 12

1.2.4 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan 13

1.2.5 Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò 14

1.2.6 Phòng và trị bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò 15

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 16

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 16

1.3.1.1 Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò trong nước 16

1.3.1.2 Vật chủ trung gian của Fasciola spp 18

1.3.1.3 Tình hình nghiên cứu nang sán lá gan ở thực vật thủy sinh 19

1.3.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển Fasciola spp 20

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 21

1.3.2.1 Thiệt hại do sán lá gan lớn gây ra 21

Trang 6

1.3.2.2 Phân bố và tình hình nhiễm của sán lá gan lớn ở gia súc trên thế giới 22

1.3.2.3 Vật chủ trung gian của Fasciola spp 24

1.3.2.4 Vai trò của thực vật thủy sinh đối với sự lưu tồn và phát triển Fasciola spp 30

1.3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển Fasciola spp 31

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 33

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 33

2.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 34

2.2.1 Mẫu vật nghiên cứu 34

2.2.2 Dụng cụ và hoá chất 34

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 34

2.3.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hộ và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm gần đây 34

2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

2.3.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh 34

2.3.2 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của Fasciola spp ở các địa điểm nghiên cứu 34

2.3.2.1 Các yếu tố xã hội 34

2.3.2.2 Các yếu tố tự nhiên 35

2.3.3 Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò ở 4 huyện, thành của tỉnh Quảng Ninh 35

2.3.4 Tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở 4 huyện, thành tỉnh Quảng Ninh 35

2.3.4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò theo tuổi 35

2.3.4.2 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò theo vùng 35

2.3.4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo phương thức chăn nuôi 35

2.3.4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo mùa vụ 35

2.3.5 Nghiên cứu vật chủ trung gian của sán lá Fasciola spp 35

2.3.5.1 Thành phần loài của 2 loài ốc giống Limnaea 35

2.3.5.2 Kết quả xét nghiệm ốc Limnaea tìm ấu trùng sán lá gan lớn 35

Trang 7

2.3.5 Nghiên cứu các biện pháp phòng, trừ 35

2.3.5.1 Thử nghiệm xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò 35

2.3.5.2 Xác định độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò 35

2.3.5.3 Đề xuất biện pháp phòng trị sán lá gan lớn cho trâu, bò 35

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.4.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hộ và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm gần đây 35

2.4.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

2.4.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh năm 2006-2010 35

2.4.2 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của Fasciola spp ở các địa điểm nghiên cứu 36

2.4.2.1 Các yếu tố xã hội 36

2.4.2.2 Các yếu tố tự nhiên 36

2.4.3 Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò ở 4 huyện, thành của tỉnh Quảng Ninh 36

2.4.3.1 Phương pháp thu thập mẫu sán lá gan lớn trưởng thành 36

2.4.3.2 Phương pháp xử lý và bảo quản tạm thời mẫu sán lá gan lớn 37

2.4.3.3 Phương pháp làm tiêu bản cố định sán lá gan lớn 37

2.4.3.4 Định loại loài sán lá gây bệnh Fasciolasis ở trâu, bò 37

2.4.4 Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò một số huyện, thị thuộc tỉnh Quảng Ninh 38

2.4.4.1 Phương pháp lấy mẫu phân 38

2.4.4.2 Phương pháp xét nghiệm phân 38

2.4.4.3 Phương pháp xác định cường độ nhiễm 38

2.4.5 Nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn ở ốc Limnaea 39

2.4.5.1 Phương pháp lấy mẫu 39

2.4.5.2 Phương pháp định loại ốc 39

2.4.5.3 Phương pháp ép ốc xét nghiệm mẫu: 39

2.4.5.4 Phương pháp định loại ấu trùng sán 40

2.4.6 Biện pháp phòng và trị SLGL cho trâu, bò 40

2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 41

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

Trang 8

3.1 ĐIỀU TRA VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ Ở TỈNH QUẢNG NINH 44

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 44

3.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh 48

3.2 ĐIỀU TRA CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN SÁN LÁ FASCIOLA VÀ BỆNH DO CHÚNG GÂY RA 49

3.2.1 Các yếu tố xã hội 49

3.2.2 Các yếu tố tự nhiên 54

3.3 NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN LỚN Ở TRÂU BÒ Ở 4 HUYỆN, THÀNH CỦA TỈNH QUẢNG NINH 54

3.3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò (Qua mổ khám) 54

3.3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở 4 huyện, thành tỉnh Quảng Ninh (Qua xét nghiệm phân) 56

3.3.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò theo tuổi 56

3.3.2.2 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò theo vùng 58

3.3.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo phương thức chăn nuôi 60

3.3.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo mùa vụ 61

3.4 NGHIÊN CỨU VẬT CHỦ TRUNG GIAN CỦA SÁN LÁ FASCIOLA SSP 63

3.4.1 Thành phần loài của 2 loài ốc giống Limnaea 63

3.4.2 Kết quả xét nghiệm ốc Limnaea tìm ấu trùng sán lá gan lớn 63

3.5 NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN 65

3.5.1 Thử nghiệm xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò 65

3.5.2 Xác định độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò 68

3.5.3 Đề xuất biện pháp phòng trị sán lá gan lớn cho trâu, bò 70

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

1 KẾT LUẬN 73

2 ĐỀ NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC

Trang 9

7 F hepatica Fasciola hepatica

8 F gigantica Fasciola gigantica

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Tỷ lệ nhiễm F hepatica trên thế giới 23

Bảng 1.2 Tỷ lệ nhiễm Fasciola gigantica trên thế giới 24

Bảng 1.3 Vật chủ trung gian của F Hepatica trên thế giới 25

Bảng 1.4 Vật chủ trung gian của F gigantica trên thế giới 27

Bảng 3.1 Phân chia các huyện, thành phố của tỉnh Quảng Ninh theo vùng sinh thái chăn nuôi 47

Bảng 3.2 Số lượng trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh năm 2006 - 2010 48

Bảng 3.3 Phương thức chăn nuôi trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu 50

Bảng 3.4 Tình hình sử dụng bãi chăn thả trâu, bò ở các địa điểm nghiên cứu 50

Bảng 3.5 Thực trạng vệ sinh thú y đối với trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu 51

Bảng 3.6: Hiện trạng xử lý và sử dụng phân trâu, bò 52

Bảng 3.7: Thực trạng vấn đề tẩy sán lá gan lớn định kỳ cho trâu bò 53

Bảng 3.8: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò 54

Bảng 3.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo tuổi trâu 56

Bảng 3.10 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo tuổi bò 56

Bảng 3.11 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò theo vùng 58

Bảng 3.12 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò theo phương thức chăn nuôi 60

Bảng 3.13 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo mùa vụ 61

Bảng 3.14: Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn của ốc Limnaea tại các địa điểm nghiên cứu 64

Bảng 3.15: Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan lớn trên trâu 66

Bảng 3.16: Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan lớn trên bò 67

Bảng 3.17: Độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá gan lớn trên trâu 68

Bảng 3.18: Độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá gan lớn trên bò 69

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh 45

Hình 3.2 Biểu đồ tình hình chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh từ năm 2006 đến năm 2010 49

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò mổ khám 55

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò theo tuổi 57

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo phương thức chăn nuôi 61

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo mùa vụ ở trâu 62

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo mùa vụ ở bò 63

Trang 12

MỞ ĐẦU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực cả về tốc độ phát triển, phương thức chăn nuôi cũng như địa bàn phân bố Ở Việt Nam, chăn nuôi giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp, cung cấp thực phẩm cho xã hội

Cùng với sự phát triển và tầm quan trọng của ngành chăn nuôi là sự xuất hiện nhiều nhân tố tác động tiêu cực đến xã hội như gây ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là tình hình dịch bệnh ngày càng phức tạp Trong đó bệnh

ký sinh trùng cũng gây tác hại không nhỏ đến ngành chăn nuôi cũng như đời sống

xã hội

Phần lớn các ký sinh trùng gây bệnh ở người và động vật thường không ở thể cấp, tác hại của chúng là âm thầm và dai dẳng; vì vậy nhiều nhà quản lý, người chăn nuôi chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc phòng trị các bệnh ký sinh trùng Chính

vì vậy, việc nghiên cứu các bệnh ký sinh trùng trên vật nuôi, đồng thời xây dựng các quy trình phòng chống các bệnh đó tại từng địa phương là việc làm cần thiết, nhằm nâng cao sức khỏe đàn gia súc và phát triển kinh tế xã hội

Bệnh sán lá gan lớn là một trong những bệnh ký sinh trùng nguy hiểm, nó có thể lây nhiễm từ động vật sang người, có thể gây tử vong khi động vật hoặc người nhiễm với tỷ lệ sán cao Người bị nhiễm bệnh sán lá gan lớn là do ăn phải rau sống, rau tái có nhiễm Aldolescaria (hoặc gan trâu, bò tái, trong đó có sán non)

Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, được đánh giá có tiềm năng phát triển chăn nuôi trâu, bò Tuy nhiên, các bệnh ký sinh trùng ở trâu, bò chưa được các nhà quản lý và người chăn nuôi quan tâm đúng mức Trong những năm qua, việc nghiên cứu về bệnh sán lá gan lớn trên đàn trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh còn chưa được thực hiện một cách đầy đủ, vì vậy việc phòng trừ bệnh sán lá gan lớn trên trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh cũng chưa được chú ý

Trang 13

Để góp phần phòng chống bệnh sán lá gan lớn cho đàn trâu, bò ở Quảng Ninh có hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm dịch tễ bệnh sán

lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh Quảng Ninh, biện pháp phòng và trị bệnh”

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định được đặc điểm dịch tễ học của bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh

Quảng Ninh, từ đó bước đầu thử nghiệm hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá gan lớn và đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh sán lá gan lớn cho trâu, bỏ tỉnh Quảng Ninh

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả nghiên cứu là những thông tin có giá trị khoa học và thực tiễn, làm

cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi trâu, bò thực hiện các biện pháp phòng và trị sán lá gan lớn, nhằm đảm bảo sức khỏe đàn trâu, bò, góp phần phát triển chăn nuôi,

từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA SÁN LÁ FASCIOLA

1.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Skrjabin và cs (1937) [30]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Ngành Plathelminthes Schneider, 1873

Phân ngành Platodes Leuckart, 1954

Lớp Trematoda Rudolphhi, 1808

Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962

Bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937 Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Fasciolidae Railliet, 1895 Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898 Giống Fasciola Linnaeus (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1856)

1.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola

Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh Sán lá có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá Sán lá không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán lá Tử cung sán lá chứa đầy trứng

Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:

- F.gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, "vai" không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang

Trang 15

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] mô tả F.gigantica như sau: sán hình

lá, có chiều dài 25 - 75mm, rộng 3 - 12mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có "vai" như loài khác của giống Fasciola Hai rìa bên thân sán lá song song với nhau, đầu cuối của thân tù Giác bụng tròn lồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh Trứng hình bầu dục, phôi bào phân bố đều và màu vàng nâu Kích thước trứng 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10mm Giác bụng có đường kính từ 1,491- 1,785 mm và giác miệng có dường kính từ 1,092 - 1,555mm

- F.hepatica (linnaeus, 1758): trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán lá có "vai", nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn

- F.hepatica dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13mm, phần trước thân nhô ra, tạo cho sán lá có vai bè ra hai bên Hai rìa bên thân sán lá không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán lá thành phần trước và phần sau thân Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nên một mạng lưới rối như tơ vò Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung

Trứng của sán F.hepatica có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F.gigantica, kích thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09mm

1.1.3 Đặc điểm vòng đời của sán lá Fasciola

Chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola đã được Leukart (1882) nghiên cứu ở Đức và Thomas (1882) nghiên cứu ở Anh

Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau khi thụ tinh mỗi sán lá đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước…, nhiệt độ 15 - 30oC, pH = 5 - 7,7,

có ánh sáng thích hợp… sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước Nếu thiếu ánh sáng Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông

Trang 16

và di chuyển được trong nước Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Những Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết

Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sán lá, được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi Trong 1 ốc

có thể có 1 - 2 ấu trùng Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu) Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu

Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung gian Ở nhiệt độ 16oc hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sinh sản Redia I và dừng phát triển,

ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30oC), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria

Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh

Theo Ginyecisz - Kaija (1960), trong cơ thể Cercaria có những dạng Glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận động không ngừng của đuôi Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi trường nước Lizz (1922) cho biết, nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria)

Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50-80 ngày Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi vỏ ốc, ra môi trường ngoài, bơi

tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30mm chiều dài và 0,23mm chiều rộng Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria

Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết, Adolescaria thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh Nếu trâu, bò, nuốt phải Adolescaria vào đến dạ dày

và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:

Trang 17

- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật

- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật

- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật

Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan trưởng thành Theo Skerman (1966), thời gian hoàn thành vòng đời là 92 - 117 ngày Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của trâu bò 3 - 5 năm,

có khi tới 11 năm

Theo Phan Địch Lân (1994) [18] khoa học thú y nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 - 30o

C), có ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae viridis), có vật chủ cuối cùng (trâu, bò, dê, cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức thời gian sau:

- Ở ngoài thiên nhiên: trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium) trong khoảng 14 - 16 ngày

- Ở trong ốc vật chủ trung gian: mao ấu (Miracidium) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria) non cần 7 -

14 ngày, thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày

- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria) sau 2 giờ

- Ở trâu, bò: khi trâu bò, bê nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài

Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và gây bệnh sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên) Ở những vùng có mầm bệnh tồn tại, trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong cơ thể trâu, bò, nghĩa là trâu cứ 3 tháng lại tạo ra một đời sán lá mới Trong khi trâu bò đã có sán lá gan ký sinh, tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường

độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu, bò

Trang 18

Tóm tắt sơ đồ vòng đời của sán lá Fasciola 1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH DO SÁN LÁ FASCIOLA GÂY RA Ở TRÂU, BÕ

Trâu bò bị bệnh sán lá gan thể hiện những biến đổi cơ bản ở gan và ống mật

do tác động của Fasciola gây ra

1.2.1 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá Fasciola

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [15] và các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng và tác động mang trùng Khi trâu bò mới nhiễm bệnh, sán lá non di hành trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan Một số

ấu trùng có thể theo máu di chuyển "lạc chỗ" đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tụy, gây tổn thương và xuất huyết nặng hoặc nhẹ Sán lá non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể Trâu bò bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu

Tác động cơ giới của sán lá còn tiếp tục khi sán lá đã vào ống dẫn mật, tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán lá trưởng thành Sán lá trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutin trên cơ hể, gây viêm ống mật Số lượng sán lá nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản

Lôi ấu

Ốc nước ngọt

Vĩ ấu

Rời KCTG Nang ấu

(Lơ lửng trong nước hoặc bám vào cỏ thuỷ sinh) sinh)

Trang 19

Trong quá trình ký sinh, sán lá thường xuyên tiết độc tố Độc tố tác động vào thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá trình viêm Đồng thời, độc tố của sán lá còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm Albumin giảm, Globulin tăng Độc tố của sán lá còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan) Độc tố của sán lá còn tác động vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo,…) Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thẩm thấu của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thấm nhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày lên Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào yêu cầu tăng sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan Khi trâu bò nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ chướng, xoang phúc mạc tích nước

Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm đoạt dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu trâu bò mà nó ký sinh Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán lá ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu trâu bò nhiễm ít sán lá thì vai trò chiếm đoạt dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu mỗi trâu bò có hàng trăm, hàng nghìn sán lá ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều

Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán lá non còn mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây những bọc

mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm ghép với bệnh sán lá gan

Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng của

cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể trâu bò nặng thêm lên

Trang 20

1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò

Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước

Houmeder (1938) đã điều tra và thấy, trâu, bò ở miền Bắc Việt Nam đều nhiễm sán lá F.gigantica với tỷ lệ là 64,7% ở trâu và 23,5% ở bò, đặc biệt có 2 trường hợp người nhiễm sán lá gan

Theo Phan Địch Lân (1980), mổ khám 1043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lượng sán lá quá nhiều Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Nam Hà, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 - 57,5%

Đoàn Văn Phúc (1980) [28] đã kiểm tra 64 bò tại trại bò sữa Hà Nội, thấy tỷ

lệ nhiễm sán lá Fasciola là 73,43% Tác giả còn cho biết, bệnh sán lá gan đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [29] cho biết, trâu bò khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan tỷ lệ 53,41%

Kết quả kiểm tra trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53% Trong đó, trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Thị Tố Thu và cs, 1996 [35])

Mức độ nhiễm sán lá gan ở trâu bò phụ thuộc vào những yếu tố sau:

- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ

Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan Điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh sản thuận lợi

Trịnh Văn Thịnh (1963) [34], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [14]… đều cho biết, trâu bò nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển Những năm mưa, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra

Trang 21

- Yếu tố vùng và địa hình

Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ với nhau Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau Địa hình là yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng

Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều thuộc bốn loại địa hình: ven biểu, đồng bằng, trung du và miền núi

Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả (Trịnh Văn Thịnh, 1963 [34]; Phạm Văn Khuê và

cs, 1996 [11]…) đều giải thích: Vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng

Phan Địch Lân (1994) [18] đã điều tra 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh miền Bắc Việt Nam, kết quả thấy: trâu bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao nhất, sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình quân tỷ lệ nhiễm sán lá ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%, vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%, vùng núi từ 14,7% đến 44,0%)

- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng

Các loài nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán lá gan Fasciola Ngoài ra, các loài nhai lại hoang dã cùng nhiễm sán lá này (hươu, nai, hoẵng) cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, người cũng có thể nhiễm sán lá này

Ở nước ta, theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] loài gia súc nhiễm sán lá Fasciola nhiều nhất là trâu (79,6%), bò ít hơn (36%), dê ít nhất (20%) Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều là do đặc tính ưa nước của chúng (thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng, ao, kênh rạch), trong khi bò và dê ít ưa nước hơn

Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ, các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi trâu bò càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm càng tăng lên Một điều dễ nhận thấy là, trâu bò tuổi càng tăng lên (thời gian sống càng dài) thì

Trang 22

sự tiếp súc với môi trường ngoại cảnh càng nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải nang ấu (Adolescaria) càng cao Mặt khác, sán lá Fasciola trưởng thành có thời gian ký sinh ở trâu bò nhai lại tương đối dài (3 - 5 năm, thậm chí tới 11 năm) Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho quy luật nhiễm theo tuổi vật chủ của sán lá Fasciola spp

Phan Địch Lân (1994) [18] cho biết, trâu dưới 3 năm tuổi chỉ nhiễm sán lá gan 17,2 - 22,0%; trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2% - 40,2%, trâu 5 - 8 năm tuổi nhiễm 42,4% - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 - 66,3%, trâu ở độ tuổi phế canh (loại thải) khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm cao tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bỏ toàn bộ do có quá nhiều sán lá ký sinh)

Nguồn gieo rắc bệnh chủ yếu là (trâu, bò, dê, cừu,…và những dã thú mang Fasciola Trứng sán lá gan theo phân của trâu bò ra ngoài tự nhiên Hàng năm mỗi sán lá gan đẻ ra hàng trục vạn trứng Vì vậy, mỗi trâu bò mang sán lá hàng năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và các bãi chăn thả Những đồng cỏ ẩm thấp lầy lội là những nơi cần thiết để mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào trâu bò, đồng thời thuận lợi cho trứng nở thành Miracidium và thuận lợi cho vật chủ trung gian tồn tại và phát triển

- Vật chủ trung gian của Fasciola spp

Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vào các vùng địa lý khác nhau Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt Lymnaea: L auricularia, L swinhoei, L.viridis, Agalba truncatula, Radix ovata

Phan Địch Lân và cs (1985) đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc - vật chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam Tác giả cho biết, vật chủ trung

gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống Lymnae với tên gọi là

ốc vành tai (L.swinhoei) và ốc chanh (L.viridis) Loài swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ,

không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai Loài L viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4 - 5 vòng xoắn cuối cùng lớn

Ốc L.viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ổ 7 - 10 trứng sau 7 ngày nở thành ốc con, ốc L.swinhoei thường sống trôi nổi ở cống rãnh,

Trang 23

ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng Trong điều kiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra

Phan Địch Lân (1994) [18] cho biết: ốc L.swinhoei phân bố nhiều hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L.viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung du và ven

biển Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc này đều xuất hiện trong cả

12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1m2) khác nhau theo vùng: vùng đồng bằng, mật độ ốc L.swinhoei cao hơn và phân bố đều trong năm Cụ thể ở Mỹ Hào (Hưng Yên) bình quân mật độ là 110,4 con/m2, ở Bình Lục (Hà Nam) 116,2 con/m2

, còn ốc L.viridis thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở các vùng núi là 75%, trung du 66,5%, ven biển 42% Từ đó, tác giả nhận xét rằng, L.swinhoei chịu nước hơn, còn L.viridis chịu cạn hơn

Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [9], giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của

ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối tương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao

- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan

Trứng sán lá gan được thải theo phân trâu bò ra môi trường ngoại cảnh Trứng sán lá rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị chết sau 8 - 9 ngày

Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng, Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày Ở môi trường ẩm ướt, trứng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng) Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh Phôi bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ thấp (-5oC

 -15oC) Nhiệt độ 10 - 20oC trứng ngừng phát triển Nhiệt độ 40 - 50oC, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs, 1996 [11])

1.2.3 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bò

Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây bệnh của sán lá Fasciola Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán lá gan, tình trạng sức khoẻ và tuổi trâu bò, tình trạng chăm sóc quản lý,…

Trang 24

- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê và cs,

1996 [11]) trong giai đoạn sán lá non di hành hoặc khi nuôi dưỡng, chăm sóc kém

Trâu bò biểu hiện: ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy, miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo) Trâu bò có thể chết do xuất huyết nặng, trúng độc và suy nhược cơ thể

Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi trâu bò được nuôi dưỡng tốt và sán lá ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật với số lượng ít Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng

Phan Địch Lân (1994) [18] đã theo dõi 37 trâu bị bệnh sán lá gan nặng, thấy các triệu chứng thường lặp đi lặp lại như: gầy rạc, suy nhược cơ thể (37/37); phân nhão không thành khuôn, có lúc ỉa lỏng (32/37); niêm mạc mắt nhợt nhạt, thiếu máu kéo dài (27/37); lông xù, da mốc, lông dễ rụng (26/37); phân đen, thối khắm (22/37); mắt sâu có dử (18/37); bụng ỏng, ỉa chảy kéo dài (13/37); thuỷ thũng ở nách, hai chân trước, gan to (11/37); thuỷ thũng ở ngực, ức liên tục (9/37)

Nhìn chung, khi trâu bò bị bệnh sán lá gan kéo dài, nếu không được điều trị kịp thời thì trâu bò thường chết trong tình trạng thiếu máu, ỉa chảy và suy kiệt

1.2.4 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan

Tuỳ theo mức độ nhiễm sán lá mà bệnh tích có sự khác nhau

Đối với trâu bò nhiễm sán lá nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính, gan sưng to, màu nâu sẫm, xung huyết Trên mặt gan có thể thấy những đường di hành của sán lá non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4mm, trong có sán lá non với số lượng nhiều Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt nhợt nhạt

Ở những trâu bò nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ mô gan bị phá huỷ tạo thành sẹo mầu vàng xám Gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống Lòng ống dẫn mật giãn rộng, chứa đầy dịch màu nâu và sán lá Fasciola Khi ống mật bị canxi hoá nhiều, sán lá ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn

Trang 25

Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu bò, Phan Địch Lân (1994) [18] cho biết: khi mổ khám trâu bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần) Gan màu đỏ sẫm, biểu hiện xung huyết Dưới vỏ gan thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại những đường ngoằn nghèo do sán lá di hành Tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹo đặc biệt Trong gan còn thấy những sán lá non không đến được ống dẫn mật, đóng kén to bằng hạt đậu

và chết trong kén Cắt tổ chức gan thấy lạo xạo do biến chất thoái hoá Do tăng sinh

tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ gan Trường hợp viêm phúc mạc xoang bụng chứa nhiều nước (cổ chướng)

1.2.5 Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò

Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên trâu bò còn sống hoặc đã chết, tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp

- Đối với trâu bò còn sống

Để chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện pháp như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học

Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường thấy nhất là: kiệt sức,thiếu máu, ỉa chảy, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức,… Tuy nhiên, các biểu hiện trên không chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên Vì vậy, triệu chứng lâm sàng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh

Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: yếu tố mùa vụ, vùng và tuổi trâu bò bệnh Song, những dẫn liệu này chỉ là những thông tin cần xem xét trong các chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhất trong chẩn đoán

Việc xét nghiệm phân tìm trứng sán lá Fasciola là biện pháp quyết định trong chẩn đoán Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] phương pháp này phổ biến nhưng chưa phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán lá Fasciola, nhất là ở những trâu bò nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán lá còn non Khi xét nghiệm phân, cần phân biệt trứng Fasciola với trứng Paramphistomum ký sinh

ở dạ cỏ (phân biệt về màu sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và kích thước)

Trang 26

Phương pháp miễn dịch học để phát hiện trâu bò nhiễm Fasciola đã được sử dụng là: dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào phản ứng ở nơi tiêm để kết luận Các phương pháp khác như: phương pháp miễn dịch men ELISA, phương pháp miễn dịch huỳnh quang… Tuy nhiên, do khó khăn về phương tiện và việc chế kháng nguyên chuẩn nên các phương pháp này còn ít được dùng trong bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng

- Đối với trâu bò chết:

Khi trâu bò chết, mổ khám tìm sán lá Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng… Phương pháp này chính xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán lá non ở giai đoạn di hành

Liều lượng: Bò: 5 - 6 mg/kgTT; Trâu: 8 - 9 mg/kgTT, uống thuốc

- Thuốc Fasciolid (tên khác: Fasciolidum)

Liều lượng: 0,04 ml/ kg TT (1 ml/25kgTT, tương đương 1 mg hoạt chất/kg TT) Ngoài các thuốc tên, Albendazole, Bithionl, Closantel,… cũng có tác dụng tẩy sán lá Fasciola ở trâu bò

Các loại thuốc trên còn dùng để phòng định kỳ hàng năm cho trâu bò, thuốc

sử dụng an toàn, có hiệu quả phòng trị bệnh cao

* Phòng bệnh sán lá gan Fasciola

- Định kỳ tẩy sán lá gan cho trâu bò để ngăn chặn mầm bệnh

- Ủ phân theo phương pháp sinh học

- Xử lý các cơ quan có sán lá ký sinh

- Diệt vật chủ trung gian của sán lá

- Tăng cường vệ sinh thức ăn, nước uống

- Không nhập trâu bò từ vùng có bệnh, khi chưa kiểm tra

Trang 27

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu giun sán học như: (Trịnh Văn Thịnh (1963, 1966); Bùi Lập (1966); Nguyễn Thị Lê (1968, 1970, 1980, 1991, 1995); Hà Duy Ngọ (1987, 1990); Nguyễn Thị Lê và cs (1996), Nguyễn Thị Lê (2000) ) ở

Việt Nam có mặt cả 2 loài sán lá gan lớn F hepatica và F Gigantica Tuy nhiên cho đến nay hầu hết các tác giả này chỉ mới thu được mẫu sán của loài F gigantica còn loài F hepatica hầu như chưa thu được mẫu

Lê Thanh Hòa, Nguyễn Văn Đề và cs (2002 [6], 2007 [7]) đã nghiên cứu khi phân tích chỉ thị di truyền hệ gen ty thể (sử dụng đoạn gen nad l) của sán lá gan lớn

trên gia súc và trên người đã xác định sán lá gan lớn của Việt Nam là F gigantica

F gigantica của Việt Nam có hệ số đồng nhất nội loài rất cao khi so sánh với các

chủng khác vùng địa lý ở Việt Nam, nhưng tác giả cho rằng ở nước ta có “loài lai”

tự nhiên của F hepatica và F gigantica vì xuất hiện của một số cá thể có đặc điểm

chung của 2 loài

Ở Việt Nam, bệnh sán lá gan lớn rất phổ biến ở động vật, thường gặp ở các động vật ăn cỏ như: trâu, bò, dê, cừu

1.3.1.1 Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò trong nước

Hiện nay, bệnh sán lá gan lớn dường như phân bố ở khắp gần 50 tỉnh, thành Theo Phan Địch Lân, (1985) [17] tổng kết tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu bò cho thấy tỷ lệ nhiễm tăng theo lứa tuổi và tăng dần từ miền biển đến miền núi, trung du

và đồng bằng; tỷ lệ nhiễm dao động từ 13,7-61,3% Kết quả điều tra của Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương, (1987) [37] ở các tỉnh miền Nam cho thấy tỷ lệ trâu bò nhiễm sán lá gan từ 1,4 - 36,2%

Vũ Sĩ Nhàn và cs (1989) [26] cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu bò ở miền biển thấp 4,17%, còn ở đồng bằng cao hơn tới 44,5% Phan Lục và cs (1993) [22] điều tra bò nuôi ở đồng bằng sông Hồng thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 62,2% Vương Đức Chất (1994) [1] cho mặc dù được nuôi trong điều kiện vệ sinh tương

Trang 28

đối tốt, đàn bò sữa ngoại thành Hà Nội vẫn bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 34,42% Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [29] thông báo trâu bò ở khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 33,9%

Lương Thị Tố Thu và cs (1996) [35] Theo dõi tình hình nhiễm sán lá gan ở một số địa phương tại đồng bằng sông Hồng, miền núi và trung du Bắc Bộ cho thấy,

tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở trâu, bò là 44,53% Tác giả nhận xét tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan là 54,21% nặng hơn trâu là 33,92% Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] kiểm tra thấy đàn bò sữa ở Ba Vì nhiễm sán là gan tới 46,23%

Nguyễn Trọng Kim và Phạm Ngọc Vĩnh (1997) [9] công bố tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò ở Hà Bắc (cũ) là 49,95%; ở Nghệ An từ 25,27 - 32,65%; tỷ lệ nhiễm sán

lá gan chung ở miền Bắc Việt Nam là 43,56% Lương Thị Tố Thu và cs (2000) [36] cho thấy bò ở khu vực Hà Nội bị nhiễm với tỷ lệ 42,3 - 73,3%, ở trâu là 32,3 - 76,8%

Kết quả nghiên cứu của Lê Hữu Khương và cs (2001) [12] cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan trung bình trên cả nước ở trâu là 46,23%, dao động từ 8,74 - 61,09%, ở bò là 30,64%, tỷ lệ này tăng dần từ Nam ra Bắc Đỗ Đức Ngái và cs (2006) [27] thông báo tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở Đắklắk từ 34,2-62,6%; Geurden et

al (2008) [52] thông báo tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò xung quanh Hà Nội là 28% ở bò từ 3 - 24 tháng tuổi và 39% ở trâu bò trưởng thành

Phạm Văn Lực và cs (2006) [25], ở Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và các cán bộ Phòng ký sinh trùng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành đề tài điều tra, nghiên cứu hiện trạng các bệnh ký sinh trùng lây truyền giữa người và động vật ở Gia Lai và Đắk Lắk Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn

ở trâu, bò tại đây khá cao 35 - 65% Kết quả điều tra sán lá gan lớn đã cho biết, tính bình quân tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn trong trâu, bò ở nước ta như sau:

Vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%

Vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%

Vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%

Vùng núi từ 14,7% đến 44%

Trang 29

Gần đây, Giang Hoàng Hà và cs (2008) [5] thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò sữa tại Hà Nội là 29,45%, trong đó là bê có tỷ lệ nhiễm là 22,03%, bò tỷ lệ nhiễm là 34,48%

1.3.1.2 Vật chủ trung gian của Fasciola spp

Ở Việt Nam có ít tài liệu về ốc Lymnaea Duy nhất trong cuốn sách “Định

loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam” của Đặng Ngọc Thanh

và cs (1980) [32] mô tả 2 loài L viridis và L swinhoei ở miền Bắc Việt Nam Đặc

biệt, có rất ít nghiên cứu về sinh thái của 2 loài ốc này

Duy nhất có công trình của Phan Địch Lân (1985) [17] cho thấy ốc L viridis phân bố rộng ở tất cả các vùng, ở vùng núi chiếm 75% trong số 2 loài ốc Lymnaea

thu được, còn ở vùng trung du chiếm 66,5%, ven biển chiếm 51,5% và vùng đồng

bằng là 42,0% Còn L swinhoei phân bố hẹp hơn, tập trung chủ yếu ở đồng bằng và

ven biển, còn ở vùng núi và trung du ít hơn, đặc biệt ở miền núi rất ít, có nhiều nơi không có, vùng đồng bằng chiếm 58%

Cũng theo Phan Địch Lân (1985) [17], trứng ốc có thể nở được quanh năm với tỷ lệ rất cao, từ 89,1 - 100% và thời gian nở rất nhanh, mùa hè cần 5,5 ngày, mùa đông xuân là 8,5 ngày Về hình thái, có thể phân biệt những các thể trưởng thành của 2 loài ốc này, tuy nhiên với những cá thể còn non thì việc phân biệt 2 loài này không phải dễ dàng Vì vậy, còn có những thông báo khác nhau về vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan của 2 loài ốc này

Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy: với nhiệt độ từ 28 - 300C, trứng F gigantica nở thành miracidium sau 14 - 16 ngày Gây nhiễm miracidium cho ốc sạch sẽ phát triển thành sporocyt mất 7 ngày, từ sporocyst đến redia con cần

8 - 21 ngày, từ redia đến cercaria non cần 7 - 14 ngày và từ cercaria non đến già cần

13 - 14 ngày Ở môi trường, cercaria chui ra khỏi ốc sau 2 giờ rụng đuôi tạo thành Adolescaria bám vào cây cỏ thủy sinh Khoảng thời gian cần thiết cho chu trình

phát triển của sán lá gan F gigantica ở nước ta là 50 - 73 ngày trong ốc L viridis hoặc L swinhoei

Trang 30

Ngoài tự nhiên, Phan Địch Lân (1985) [17] thông báo cả 2 loài ốc L viridis

và L swinhoei đóng vai trò là vật chủ trung gian của sán lá gan

Nguyễn Trọng Kim và Phạm Ngọc Vĩnh (1997) [10] cũng thông báo cả 2 loài

ốc Lymnaea đều bị nhiễm ấu trùng sán lá gan với tỷ lệ nhiễm rất cao 43,1 - 62,1% ở

tỉnh Hà Bắc (cũ) Cũng Nguyễn Trọng Kim (1998), công bố tỷ lệ nhiễm trung bình

ở các tỉnh miền Bắc ở ốc L swinhoei là 20,8% và ở ốc L viridis là 19,6%

Vũ Sĩ Nhàn và cs (1989) [26] cũng cho thấy ốc L swinhoei ở Đắklắk nhiễm

ấu trùng sán lá gan với tỷ lệ là 40,0 - 50,0% Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương (1987) [37] cũng công bố cả 2 loài ốc ở các tỉnh miền nam đều là vật chủ trung gian của sán lá gan, nhưng tỷ lệ nhiễm nhiễm rất thấp (1,1%) Điều tra trong nhiều năm của Nguyễn Thị Kim Thành và cs (1995) [31] ở Cổ Nhuế, Hà Nội cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở 2 loài ốc chỉ từ 0,7 - 3,0%

Trong khi đó, Nguyễn Thị Lê và cs (1995) [19] không tìm thấy ấu trùng sán

lá gan trong hơn 1.000 ốc Lymneae ở tỉnh Hà Tây (cũ) Gần đây, The and Nawa (2005) công bố 1,2 - 2,1% ốc Lymnaea ở tỉnh Bình Định bị nhiễm ấu trùng sán lá gan Đỗ Đức Ngái và cs (2006) [27] thông báo tỷ lệ nhiễm ở ốc L swinhoei ở Đắk

Lắk là 0,45%

Kết quả điều tra của Phạm Ngọc Doanh và Nguyễn Thị Lê (2005) [2] cho thấy chỉ 0,06% và 1% ốc L viridis ở Đông Anh và Phú Xuyên, Hà Nội bị nhiễm ấu trùng sán lá gan

1.3.1.3 Tình hình nghiên cứu nang sán lá gan ở thực vật thủy sinh

Ở Việt Nam ít có nghiên cứu về tình hình nhiễm nang sán nói chung cũng như nang sán lá gan nói riêng ở rau thủy sinh Duy nhất có thông báo của Lê Văn Thọ và cs (2009) công bố tìm thấy nang sán lá gan ở 10 mẫu thực vật thủy sinh Tuy nhiên, tác giả dùng phương pháp nạo vét rau, sau đó ly tâm Việc nạo vét rau sẽ tạo

ra các mảnh vụn, nang sán dễ bám dính vào đó Hơn nữa, việc ly tâm sẽ càng làm cho chất bẩn dính vào nang sán, nên sẽ khó phát hiện khi xem dưới kính

Trang 31

Theo Phạm Ngọc Doanh (2010) [3], kết quả xét nghiệm mẫu rau thủy sinh phổ biến ở tại 9 tỉnh nghiên cứu chưa thu được nang sán lá gan Tuy nhiên, kiểm tra

cỏ ở ruộng lúa có ốc nhiễm ấu trùng sán lá gan đã phát hiện nang sán ở cỏ với số lượng 10,5 nang sán/ kg cỏ

1.3.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển Fasciola spp

* Các yếu tố xã hội:

Theo Phạm Ngọc Doanh (2010) [4], phân bố của ký sinh trùng trong môi trường rất khác nhau Tuy nhiên, để sán lá gan hoàn thành vòng đời thì môi trường cần cung cấp các điều kiện ổn định về độ ẩm và nhiệt độ cho sự phát triển của các giai đoạn ấu trùng và vật chủ trung gian của nó Trong vòng đời phát triển của sán lá gan gồm các giai đoạn phát triển phôi trứng ở môi trường ngoài, các giai đoạn ấu trùng ở ốc vật chủ trung gian và giai đoạn phát triển ở vật chủ chính Vì vậy, có thể thấy rằng sự nhiễm sán lá gan ở động vật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm vùng địa lý, loài vật chủ, vật chủ trung gian, khí hậu, mùa vụ, tuổi, chế độ dinh dưỡng

Phương thức chăn nuôi và tập quán canh tác của người dân có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò Trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp, trâu bò được giữ trong chuồng và ăn thức ăn công nghiệp thì ít có nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh, ngược lại, trong điều kiện chăn thả tự do, trâu bò ăn cỏ và uống nước tự nhiên dễ bị nuốt phải Adolescaria của sán lá gan và bị nhiễm bệnh Đồng thời, trâu

bò lại thải phân ra ngoài môi trường làm gieo giắt trứng sán ra môi trường Ngoài

ra, tập quán sử dụng phân trâu bò tươi để bón ruộng cũng giúp phát tán mầm bệnh

ra môi trường và tăng nguy cơ nhiễm bệnh cho trâu bò

Các yếu tố xã hội bao gồm các tập quán chăn nuôi, tập quán canh tác và trồng trọt thủy sinh Những nghiên cứu về ảnh hưởng các yếu tố xã hội đến sự lưu trữ, phát tán đến, sự nhiễm mầm bệnh sán lá gan lớn vào ốc và thực vật thủy sinh vẫn chưa được tác giả nào nghiên cứu

Trang 32

* Các yếu tố tự nhiên:

Các yếu tố tự nhiên (khí hậu, chế độ mưa, nhiệt độ, sinh thái chăn nuôi ) ảnh hưởng đến sự phát triển của ốc - ký chủ trung gian, ảnh hưởng đến sự phát triển thực vật thủy sinh (đối tượng chủ yếu nhiễm nang sán lá gan lớn) do đó cũng ảnh hưởng đến bệnh sán lá gan lớn Các yếu tố này cũng đã được nghiên cứu nhưng còn quá ít, chưa toàn diện và nhiều khi chưa đúng với mục tiêu đề ra Đặc biệt là chưa

có các nghiên cứu định hướng rõ ràng phục vụ nghiên cứu dịch tễ học theo 8 vùng sinh thái đặc trưng cho cả nước

Những nghiên cứu cho thấy, bệnh sán lá gan lớn thường phát triển theo chu

kỳ, chẳng hạn ở miền Bắc Việt Nam, lượng mưa và nhiệt độ cao vào tháng 5 đến tháng 9 hàng năm nên bệnh sán lá gan lớn vì thế cũng tăng lên rất nhiều

Ở Việt Nam, theo một số nghiên cứu, trong đó có nghiên cứu Nguyễn Khắc Lực và cs (2008) [24] cho thấy mùa nhiễm sán lá gan lớn ở khu vực Quảng Nam là

từ tháng 4 đến tháng 9

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3.2.1 Thiệt hại do sán lá gan lớn gây ra

Sán lá gan lớn (Fasciola spp.) là các loài sán lá lớn thuộc giống Fasciola L

1758 gây bệnh phổ biến ở động vật ăn cỏ (trâu, bò, dê, cừu,…) và ở người Ngoài ra sán lá gan lớn còn gặp ở động vật hoang dã như khỉ, chuột, mèo rừng Sán lá gan lớn phân bố trên toàn cầu Trên thế giới sán lá gan lớn được phát hiện từ rất lâu Năm

1379, lần đầu tiên một người Pháp tên là Jehan de Gerger đã phát hiện sán lá gan lớn trên cừu - gọi là sán lá gan cừu (sheep liver fluke) (Jehan de Gerger, 1379) Cho đến khi được Carl Linaeus (Carl von Linné), ông tổ của ngành phân loại học, người sáng

lập ra hệ thống danh pháp hiện đại, đặt tên khoa học là Fasciola hepatica vào năm

1758 Năm 1856, Fasciola gigantica được Cobbol tìm ra tại Nhật Bản

Nhiều thông báo từ tất cả các vùng nơi có nhiễm sán lá gan F gigantica đều

cho thấy rằng bệnh sán lá gan là bệnh quan trọng nhất ở động vật nuôi, đặc biệt là

Trang 33

trâu, bò, cừu (Kendal.l, 1954 [56]; Tongson, 1978 [68]; Swarup and Pachauri, 1987 [64]) Hầu hết các nghiên cứu là kết quả tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan của các động vật đó, dựa trên mổ khám không toàn diện hoặc xét nghiệm phân tìm trứng sán

Sự thiệt hại về kinh tế toàn cầu do bệnh sán lá gan rất khó ước lượng vì không biết chính xác số lượng gia súc bị nhiễm bệnh và cường độ nhiễm tương đối Có thể

tỷ lệ nhiễm thực tế ở các nước nhiệt đới thấp hơn so với ước tính vì kiểm tra bằng

huyết thanh được thiết kế cho chẩn đoán sán lá gan do F hepatica ở những nước phát

triển (Dumenigo et al 1996 [48]) chưa được sử dụng rộng rãi trong thực địa (Fagbemi et al 1997 [55]; Guobadia and Fagbemi, 1997 [51]) Xem xét tỷ lệ nhiễm

F hepatica và F gigantica của trâu, bò một số nước (bảng 1.1và 1.2) ta có thể ước

đoán được mức độ thiệt hại của bệnh Fasciolasis gây ra cho nghề chăn nuôi trâu, bò

Ở Indonesia, tỉ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 25 - 90% (Partoutomo et al 1985); các nước khác (Cămpuchia, Việt Nam, Philippines…) trong khu vực Đông Nam Á cũng có tỉ lệ nhiễm sán lá tương tự như vậy Năm 1997 đàn trâu của châu Á khoảng 589 triệu con (FAO, 1997 [54]) thì đàn trâu của Indonesian khoảng 15 triệu con (chiếm 2,5%) Với tỷ lệ nhiễm 10% và thiệt hại kinh tế mỗi đầu gia súc 42 USD/năm thì tổng thiệt hại kinh tế lên tới trong nghề nuôi trâu ở châu Á đã lên tới 2,4 tỷ USD Tương tự cách tính ở châu Phi thiệt hại kinh tế là 0,84 tỷ USD Toàn thế cầu mất 3,2 tỷ USD

Bệnh sán lá gan lớn là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, ở cả 5 châu lục: Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á, Châu Đại Dương

1.3.2.2 Phân bố và tình hình nhiễm của sán lá gan lớn ở gia súc trên thế giới

Trong số 2 loài sán lá gan phổ biến, loài F hepatica có phân bố rộng; loài F

gigantica phân bố hẹp hơn, giới hạn ở vùng nhiệt đới và có mặt ở châu Phi, Viễn Đông,

Đông Âu và Nam Đông Á Mặc dù nhiều sách cho rằng F gigantica có ở cả phía Nam

nước Mỹ và Hawaii, nhưng không có bằng chứng để chứng minh loài này trên nước Mỹ

Dưới đây là tỷ lệ nhiễm F hepatica ở gia súc của một số nước trên thế giới

Trang 34

Bảng 1.1 Tỷ lệ nhiễm F hepatica trên thế giới

Nước/vùng Loài gia súc Tỷ lệ nhiễm (%) Nguồn tài liệu

Africa

Americas

Canada (Quebec) Dairy cows up to 68 Bouvry and Rau (1986)

Brazil (state of Parana) Bò 0,95 Luz et al (1992)

Asia and Austral.asia

Jammu and Kashmir,

Qua bảng 1 cho thấy, F hepatica phân bố rộng và được điều tra về tỷ lệ

nhiễm trên trâu, bò, dê, cừu ở nhiều nước trên thế giới Tỷ lệ nhiễm dao động lớn, tùy thuộc vào loài gia súc và địa điểm có thể nhiễm tới 94% ở bò tại Chile

năm 1985 So với loài F hepatica, loài F gigantica phân bố hẹp hơn, chủ yếu ở

châu Phi và châu Á, tỷ lệ nhiễm cũng dao động lớn tùy từng vùng miền Được thể hiện ở bảng 1.2

Trang 35

Bảng 1.2 Tỷ lệ nhiễm Fasciola gigantica trên thế giới

Nước/vùng Loài gia súc Tỷ lệ nhiễm (%) Nguồn tài liệu

India

Uttar Pradesh Trâu 39,0 Bhatia et al (1989)

Maharashtra Trâu 7,4 Ratnaparkhi et al (1993)

Nepal Trâu 33,3-71,4 Shrestha et al (1992)

Campuchia Trâu, bò 7-50,0 Sothoeun et al (2006)

Molina et al (2005) Bò đực 27

1.3.2.3 Vật chủ trung gian của Fasciola spp

Sán lá gan không có mặt ở những vùng mà điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển của ốc - vật chủ trung gian của chúng Ốc đóng vai trò là vật chủ trung gian thích hợp của sán lá gan khác nhau tùy theo loài sán và cả vùng địa lý

* Vật chủ trung gian của F hepatica

Loài ốc điển hình liên quan đến truyền bệnh do F hepatica là Lymnaea

truncatula Có thể là các loài ốc khác như: L cubensis và L viatrix ở Nam Mỹ, L

Trang 36

tomentosa ở New Zeal.and và Australia (Boray, 1985) [44] Ốc Lymnaea truncatula

có khả năng thích nghi với nhiều môi trường sống như độ cao (>4000m) ở Bolivian Altiplano Dưới đây là danh sách các loài ốc đóng vai trò là vật chủ trung gian của

F hepatica ở các nước và vùng địa lý

Bảng 1.3 Vật chủ trung gian của F Hepatica trên thế giới

L (F.) bulimoides Australia Lang (1977)USA

McKown and Ridley (1995)

L (P.) columella North and South Price (1953)

L (Fossaria) cubensis North and Central Price (1953)

L ollula (= L viridis?) Japan

Watanabe (1962)

Lang (1977)

Trang 37

* Vật chủ trung gian của F gigantica

Trong tổng kết về bệnh sán lá gan, Kendall (1954 [56], 1965) [57]), kết luận

rằng F gigantica được truyền trên toàn thế giới bởi các dòng ốc không dễ dàng phân biệt về mặt hình thái hoặc sinh thái của chúng từ loài Lymnaea auricularia

sensu lato Ông cho rằng các dòng của vật chủ trung gian chính ở nam, tây và đông

châu Phi là L a natalensis và ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan là L a rufescens

Theo giải thích của ông, 2 dòng này hợp nhất ở lưỡng hà Ông cho rằng ốc vật chủ ở

Đông Nam Á là L a rubiginosa Một loài ốc tương tự, L ollula, là vật chủ của F

gigantica ở Nhật Bản (Ueno et al 1975) [70] và Hawaii (Alicata, 1938) [39]

Loài ốc L auricularia sensu lato là vật chủ trung gian chính của F gigantica theo Kendall (1954) [56] Tuy nhiên, một số loài ốc khác cũng bị nhiễm F

gigantica Trong nghiên cứu phòng thí nghiệm, Boray (1965) [43] gây nhiễm thành

công F gigantica ở ốc L stagnalis mới nở, L pergera 4 - 6 tuần tuổi, L auricularia

và L tomentosa, L truncatula and L palustris trưởng thành Shahlapour et al (1994) [27] cũng thấy L stagnalis, L pergera và L palustris (ngoài L auricularia)

có khả năng là vật chủ trung gian của F gigantica Ngược lại, Guralp et al (1964) [53] không thu được cercariae từ ốc L pergera hoặc L palustris sau khi cho nhiễm miracidia của F gigantica Ở Nepal, Morel và Mahato (1987) [58], kết luận rằng L

a rufescens và L luteola (L viridis) là vật chủ trung gian của F gigantica; L tomentosa và L truncatula cũng bị nhiễm F gigantica khi gây nhiễm trong phòng

thí nghiệm (Dreyfuss và Rondelaud (1994 [49], 1997) [50] Ngược lại, Kendall

(1954) [56] và Guralp et al (1964) [53] không thành công trong việc gây nhiễm F

gigantica cho ốc L truncatula ở Pakistan và Turkey Sự khác nhau này có thể do sự

khác biệt giữa các chủng F gigantica và ốc làm thay đổi quan hệ vật chủ - vật ký sinh Hơn nữa, F gigantica không xuất hiện một cách tự nhiên ngoài vùng phân bố của ốc L auricularia sensu lato, vì vậy có thể kết luận rằng đóng góp của các loài

ốc khác đối với phân bố của loài sán này là rất ít Dưới đây là danh sách các loài ốc

đóng vai trò là vật chủ trung gian của F gigantica ở các nước và vùng địa lý Thể

hiện ở bảng 1.4

Trang 38

Bảng 1.4 Vật chủ trung gian của F gigantica trên thế giới

L auricularia/natalensis Africa, Asia Dacosta et al 1994),

Tembely et al (1995), Chartier et al (1995), Chaudhri et al (1995)

Biomphalaria alexandrina Egypt Farag and El Sayad (1995)

Thật thú vị, vật chủ trung gian của sán lá gan F gigantica, (L auricularia

sensu lato), không bị nhiễm F hepatica, trong khi F gigantica dường như không có

khả năng phát triển ở ốc L truncatula (Boray, 1985) [44]

Môi trường sống của các loài ốc và các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc truyền sán lá gan bởi ốc vật chủ trung gian

Các loài ốc vật chủ trung gian của F hepatica là ốc sống ở bùn và đẻ trứng,

sống ở những nơi ít bị lụt và khô hạn Chúng dường như tìm thấy ở môi trường ẩm đan xen hơn là môi trường ẩm thường xuyên và trong nước hơi axit (Villegas, 1984) Sự phân bố không đồng nhất vì trong mỗi môi trường ốc có thể tập trung ở vùng nhỏ rất ẩm (Kendall and Parfitt, 1975) Ốc có thể di chuyển với khoảng cách

xa bằng cách trôi theo nước (Ollerenshaw, 1971) 32% số ốc sống ở môi trường khô nhân tạo tới 12 tháng (Soulsby, 1982) và thậm chí ốc được nở ra có thể sống 2 tháng khô (Kendal.l, 1949) Đến khi có nước, ốc có thể sinh sản rất nhanh

Các dòng L auricularia sensu lato đóng vai trò là vật chủ trung gian của F

gigantica là ốc nước ngọt vùng nhiệt đới sống ở nước chảy chậm hoặc tĩnh trong với

nồng độ oxy cao và thực vật thủy sinh nhiều (Kendal.l, 1954) [56] Những tình trạng

Trang 39

sinh thái như thế là đặc trưng ở bờ sông, hồ khi mức nước ổn định và ở ruộng lúa Ốc

vật chủ trung gian F gigantica tìm thấy ở vùng nhiệt đới và của F hepatica đặc trưng

ở vùng ôn đới Tuy nhiên, như ở Pakistan và Nepal nơi có núi cao với sự thay đổi

nhiệt độ dần dần theo độ cao thì có thông báo về sự chồng chéo nhau, mặc dù ốc L

truncatula và F hepatica đa số thấy ở độ cao 1.200m; còn ốc L a rufescens và F gigantica ở độ cao thấp hơn (Kendal.l, 1954 [56]; Morel and Mahato, 1987) [58])

Ở vùng nhiệt đới thấp, L auricularia sinh sản quanh năm trong môi trường thích hợp (Chartier et al 1990) [46] Các tác giả cũng thấy rằng quần thể L

natal.ensis ở sông vùng Zaire có quan hệ ngược với thác nước Điều đó phản ánh sự

phá vỡ môi trường sống của ốc bởi lũ và cũng phát tán chúng với nước lũ vì chúng sử dụng tới 70% thời gian trôi nổi trên bề mặt (Widjajanti, 1989) [71] Tuy nhiên, khi mức nước ổn định thì quần thể ốc tăng lên Quá trình và thời gian của điều kiện phù hợp này cho ốc khác nhau ở từng môi trường Có thể chỉ vài tháng ở cuối mùa mưa

và bắt bầu mùa khô ở những vùng nước kín hoặc tồn tại qua mùa khô ở các sông chảy chậm (Mzembe and Chaudhry, 1979 [60]; Chartier et al 1990 [46]; Tembely et al

1995 [69]) Khi mức nước giảm quá nhanh cho thực vật thủy sinh ở ven bờ tồn tại hoặc mức oxy giảm xuống thấp, môi trường sẽ không tốt cho ốc (Kendall, 1954) [56]

Ở đồng lúa, mật độ ốc không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thác nước, nhưng bị ảnh hưởng bởi mức nước tưới tiêu và giai đoạn phát triển của mùa vụ Ốc và trứng của chúng sống từ mùa trước có thể phát triển ở mùa vụ mới hoặc chúng có thể được đưa vào cùng với nước Sau đó, số lượng của chúng tăng lên qua vài tháng tiếp theo, sau đó giảm xuống vài tuần trước khi thu hoạch (Widjajanti, 1989) [71] Widjajanti cho rằng kiểu phát triển này phản ánh thức ăn cho ốc sẵn có, do các loại thức ăn đó được kích thích phát triển bởi ánh sáng mặt trời xuyên mạnh xuống lớp dưới ở thời

kỳ đầu của mùa vụ, và nó giảm xuống khi lúa trưởng thành vì che bóng lớp dưới

Mặc dù là động vật thủy sinh, nhưng ốc vật chủ của sán lá gan F gigantica

có thể sống qua một giai đoạn khô, vì thế Mahato et al (1995) [59], kết luận rằng sự ngủ hè có thể đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ của sán lá gan ở Nepal Họ quan

sát thấy ốc non L auricularia dòng rufescens và L viridis sống ở bùn khô ít nhất 1

Trang 40

tháng Có thể dài hơn cũng đã được công bố bởi Bitakaramire (1968) [42] khi ông

tìm thấy L natal.ensis sống dưới điều kiện thí nghiệm trong bùn khô cứng ít nhất 24

tuần Tuy nhiên, những loài ốc này thường không vùi mình xuống bùn khi nước khô, mà vẫn nằm trên bề mặt Vì vậy, chúng dễ bị khô nhiều hơn và bị vật ăn mồi nhiều hơn so với khi chúng vùi mình xuống đất Tuy nhiên, khi không tiếp xúc với mặt trời, chúng vẫn sống và sản sinh trứng trong một số tuần sau khi môi trường của chúng bị khô

Ốc ngủ đông cũng được xem xét bởi Ueno et al (1975) [70], nhưng chưa chắc đóng vai trò quan trọng trong nhiễm metacercariae ở đồng lúa tại Nhật bản, mặc dù một số có chứa redia

Tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm và thải cercaria là các chỉ số thường được sử

dụng để đánh giá về dịch tễ truyền bệnh F hepatica bởi vật chủ trung gian (Roberts and Suhardono, 1996) [62] Việc truyền F hepatica bởi ốc cho thấy rất phụ thuộc

vào mùa và thường xuất hiện vào mùa xuân (Roberts and Suhardono, 1996) [62], ngoại trừ một số nơi sự nhiễm bệnh chỉ xuất hiện vào cuối mùa thu như ở Montana (USA) Sự nhiễm bệnh vào đầu mùa xuân vì giai đoạn ấu trùng trong ốc có thể trải qua mùa đông và kết quả là sản sinh số lượng lớn metacercaria vào đầu mùa xuân (Luzon-Pena et al 1994) Giai đoạn trứng nở là yếu tố xác định trứng sống trong môi trường; trứng không chứa phôi thì không trải qua được mùa đông Cũng như thế, metacercariae có thể sống qua mùa đông Sự phát triển của ấu trùng không bị ảnh hưởng trong ốc nếu như nhiệt độ trên 12°C Sự phát triển của rediae đặc biệt được thúc đẩy vào mùa hè bởi nhiệt độ (Ginetsinkaya, 1988) Sự sản sinh cercaria

bị ảnh hưởng mạnh bởi nhiệt độ mà ốc chứa giai đoạn tiền nhiễm sống trong đó Trong nhiều năm với lượng mưa lớn, tỷ lệ ốc bị nhiễm cao hơn tương đối vì tình trạng thức ăn của ốc được cải thiện

Sau khi thoát khỏi ốc, cercariae hóa nang thành metacercariae Khoảng 2/3 metacercariae bám vào giá thể trong nước Phần còn lại không bám vào giá thể mà trôi nổi trong nước (Dreyfuss and Rondelaud, 1994) [49] Da Costa et al (1994) [47] thấy 35% cercariae thoát khỏi ốc ở đợt thứ 2 trở thành những nang trôi nổi, tỷ

lệ giảm ở những đợt tiếp sau

Ngày đăng: 05/09/2014, 04:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Đức Chất (1994), “Vài nhận xét về bệnh sán lá gan trâu, bò vùng ngoại thành Hà Nội và biện pháp tẩy trừ”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 1, số 5, tr. 90 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về bệnh sán lá gan trâu, bò vùng ngoại thành Hà Nội và biện pháp tẩy trừ"”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 1, số 5
Tác giả: Vương Đức Chất
Năm: 1994
2. Phạm Ngọc Doanh, Nguyễn Thị Lê (2005), “Đặc điểm nhận dạng các nhóm ấu trùng sán lá và phân biệt ấu trùng sán lá gan ở ốc Lymnaea”. Tạp chí Sinh học, tập 27, số 3, tr. 31 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nhận dạng các nhóm ấu trùng sán lá và phân biệt ấu trùng sán lá gan ở ốc Lymnaea”. "Tạp chí Sinh học, tập 27, số 3
Tác giả: Phạm Ngọc Doanh, Nguyễn Thị Lê
Năm: 2005
3. Phạm Ngọc Doanh (2010), “Nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở thực vật thủy sinh tại các vùng sinh thái” báo cáo Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Ngọc Doanh (2010), “Nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở thực vật thủy sinh tại các vùng sinh thái” báo cáo "Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
Tác giả: Phạm Ngọc Doanh
Năm: 2010
4. Phạm Ngọc Doanh (2010), “Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò” báo cáo Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, tr. 4 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò” báo cáo "Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật
Tác giả: Phạm Ngọc Doanh
Năm: 2010
5. Giang Hoàng Hà, Nguyễn Thị Giang Thanh, Đào Thị Hà Thanh (2008), “Tình hình nhiễm bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa của đàn bò sữa tại Hà Nội và vùng phụ cận”, Tạp chí khoa học ky thuật Thú y, tập XV, số 2, tr. 58 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa của đàn bò sữa tại Hà Nội và vùng phụ cận”, "Tạp chí khoa học ky thuật Thú y, tập XV, số 2
Tác giả: Giang Hoàng Hà, Nguyễn Thị Giang Thanh, Đào Thị Hà Thanh
Năm: 2008
6. Lê Thanh Hòa, Nguyễn Văn Đề (2002), “Xác định sán lá gan lớn Fasciola spp. ở Việt Nam bằng sinh học phân tử gen ty thể sử dụng gen NAG1 (Nicotinamide de hydrogenase subunit 1). Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 4: tr 53 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định sán lá gan lớn "Fasciola spp." ở Việt Nam bằng sinh học phân tử gen ty thể sử dụng gen NAG1 (Nicotinamide de hydrogenase subunit 1). "Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số 4
Tác giả: Lê Thanh Hòa, Nguyễn Văn Đề
Năm: 2002
7. Lê Thanh Hòa, Nguyễn Văn Đề (2007), “Xác định lai ngoại loài giữa F. Gigantica và F. Hepatica trong quần thể sán lá gan lớn ở Việt Nam trên cơ sở sinh học phân tử”, Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh , số 2, tr. 89 - 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định lai ngoại loài giữa "F. "Gigantica" và" F. Hepatica" trong quần thể sán lá gan lớn ở Việt Nam trên cơ sở sinh học phân tử"”, Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh , số 2
Tác giả: Lê Thanh Hòa, Nguyễn Văn Đề
Năm: 2007
8. Nguyễn Trọng Kim (1995), “Kết quả điều tra tình hình nhiễm sán lá gan trâu, bò ven biển Nghệ An và biện pháp phòng trừ”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 4, tr. 70 - 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra tình hình nhiễm sán lá gan trâu, bò ven biển Nghệ An và biện pháp phòng trừ"”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 4
Tác giả: Nguyễn Trọng Kim
Năm: 1995
9. Nguyễn Trọng Kim (1997), “Nghiên cứu sự liên quan đến tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc (KCTG) với tỷ lệ nhiễm sán lá ở trâu bò (KCCC) để đánh giá tình hình dịch tễ của bệnh ở một số vùng miền Bắc Việt Nam”, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự liên quan đến tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc (KCTG) với tỷ lệ nhiễm sán lá ở trâu bò (KCCC) để đánh giá tình hình dịch tễ của bệnh ở một số vùng miền Bắc Việt Nam”, "Luận án tiến sỹ nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Trọng Kim
Năm: 1997
10. Nguyễn Trọng Kim, Phạm Ngọc Vĩnh (1997). “Điều tra tình hình nhiễm bệnh sán lá gan trâu bò, ấu trùng sán lá gan ở ốc (ký chủ trung gian) vùng trung du Hà Bắc và biện pháp tẩy trừ”. Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, quyển 5, tr. 407 - 411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình nhiễm bệnh sán lá gan trâu bò, ấu trùng sán lá gan ở ốc (ký chủ trung gian) vùng trung du Hà Bắc và biện pháp tẩy trừ”." Kết quả nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Trọng Kim, Phạm Ngọc Vĩnh
Năm: 1997
11. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội, tr. 53 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê và Phan Lục
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
12. Lê Hữu Khương, Nguyễn Văn Khanh, Huỳnh Hữu Lợi, (2001). “Tình hình nhiễm sán lá gan trên trâu bò thuộc các vùng sinh thái ở Việt Nam”. Khoa học kỹ thuật thú y, số 1, tr. 36 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá gan trên trâu bò thuộc các vùng sinh thái ở Việt Nam”. "Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Lê Hữu Khương, Nguyễn Văn Khanh, Huỳnh Hữu Lợi
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Kim Lan, (1999), Bệnh giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía bắc Việt nam và biện pháp phòng trị luận án tiến sĩ Nông Nghiệp, Viện thú y Quốc gia, tr. 55 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía bắc Việt nam và biện pháp phòng trị" luận án tiến sĩ Nông Nghiệp, "Viện thú y Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 1999
14. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 37 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), ký sinh trùng cao học thú y, (Giáo trình dành cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 123 - 144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ký sinh trùng cao học thú y, (Giáo trình dành cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
16. Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn (1972), “Vài dẫn liệu về sinh thái học của ốc Limnaea viridis và Limnaea swinhoei ký chủ trung gian của sán lá gan trâu, bò Fasciola gigantica ”, KHKT Nông nghiệp, số 8. tr. 593 - 601 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài dẫn liệu về sinh thái học của ốc Limnaea viridis và Limnaea swinhoei ký chủ trung gian của sán lá gan trâu, bò Fasciola gigantica ”
Tác giả: Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn
Năm: 1972
17. Phan Địch Lân (1985), “Những nghiên cứu về sán lá gan và bệnh sán lá gan ở trâu bò ở nước ta”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 6, tr. 29 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu về sán lá gan và bệnh sán lá gan ở trâu bò ở nước ta”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Phan Địch Lân
Năm: 1985
19. Nguyễn Thị Lê, Đặng Tất Thế, Đỗ Đức Ngái, Hà Duy Ngọ, (1995), “Ấu trùng sán lá và sán dây ở ốc Lymnaea”, Tạp chí Sinh học 17, tr. 11 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấu trùng sán lá và sán dây ở ốc Lymnaea”, "Tạp chí Sinh học 17
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Đặng Tất Thế, Đỗ Đức Ngái, Hà Duy Ngọ
Năm: 1995
20. Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh (1996), Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, tr. 64 - 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
21. Nguyễn Thị Lê, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Thị Minh, Đặng tất Thế, Đỗ Đức Ngái, Phạm Ngọc Doanh, Nguyễn Kim Ninh, Nguyễn Thị Công (1996), “Kết quả nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan và biện pháp phòng chống ở đàn bò sữa Ba Vì - Hà Tây” Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 3, số 3, tr. 76 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan và biện pháp phòng chống ở đàn bò sữa Ba Vì - Hà Tây” "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 3, số 3
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Thị Minh, Đặng tất Thế, Đỗ Đức Ngái, Phạm Ngọc Doanh, Nguyễn Kim Ninh, Nguyễn Thị Công
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ lệ nhiễm F. hepatica trên thế giới - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 1.1. Tỷ lệ nhiễm F. hepatica trên thế giới (Trang 34)
Bảng 1.2. Tỷ lệ nhiễm Fasciola gigantica trên thế giới. - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 1.2. Tỷ lệ nhiễm Fasciola gigantica trên thế giới (Trang 35)
Bảng 1.4 .Vật chủ trung gian của F. gigantica trên thế giới - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 1.4 Vật chủ trung gian của F. gigantica trên thế giới (Trang 38)
Hình 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Hình 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh (Trang 56)
Bảng 3.1. Phân chia các huyện, thành phố của tỉnh Quảng Ninh - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.1. Phân chia các huyện, thành phố của tỉnh Quảng Ninh (Trang 58)
Bảng 3.2. Số lƣợng trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh năm 2006 - 2010 - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.2. Số lƣợng trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh năm 2006 - 2010 (Trang 59)
Hình 3.2. Biểu đồ tình hình chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Hình 3.2. Biểu đồ tình hình chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Quảng Ninh (Trang 60)
Bảng 3.3. Phương thức chăn nuôi trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.3. Phương thức chăn nuôi trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu (Trang 61)
Bảng 3.4. Tình hình sử dụng bãi chăn thả trâu, bò ở - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.4. Tình hình sử dụng bãi chăn thả trâu, bò ở (Trang 61)
Bảng 3.5. Thực trạng vệ sinh thú y đối với trâu, bò - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.5. Thực trạng vệ sinh thú y đối với trâu, bò (Trang 62)
Bảng 3.6 cho thấy: - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.6 cho thấy: (Trang 63)
Bảng 3.7: Thực trạng vấn đề tẩy sán lá gan lớn định kỳ cho trâu bò - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.7 Thực trạng vấn đề tẩy sán lá gan lớn định kỳ cho trâu bò (Trang 64)
Bảng 3.8: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò (Trang 65)
Bảng 3.8 cho thấy: có 55,00% số trâu mổ khám nhiễm sán lá gan lớn, cường  độ nhiễm từ 1  -  120 sán  /trâu - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.8 cho thấy: có 55,00% số trâu mổ khám nhiễm sán lá gan lớn, cường độ nhiễm từ 1 - 120 sán /trâu (Trang 66)
Bảng 3.10. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo tuổi bò. - đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tỉnh quảng ninh, biện pháp phòng và trị bệnh
Bảng 3.10. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn theo tuổi bò (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w