1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh cấu trúc hệ thống trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay với Mĩ, Pháp, Anh

18 1,9K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh cấu trúc hệ thống trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay với Mĩ, Pháp, Anh
Tác giả Phạm Trung Hiếu, Phạm Trí Trung, Nguyễn Văn Hải, Phạm Bùi Việt Phương, Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Hoàng Long, Lê Đức Hoàng, Lê Phương Toan, Hồ Mậu Lượng
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Tiền Tệ - Ngân Hàng
Thể loại Bài thảo luận
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 340 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung gian tài chính là những tổ chức huy động vốn từ người có tiền tạm thời nhàn rỗi và sử dụng vốn đầu tư đem lại lợi ích cho các bên khi họ giao dịch,

Trang 1

Tiền tệ - Ngân hàng

So sánh cấu trúc hệ thống

trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay với Mĩ, Pháp, Anh

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM:

1 Phạm Trung Hiếu - NT - 01649.727.456

2 Phạm Trí Trung

3 Nguyễn Văn Hải

4 Phạm Bùi Việt Phương

5 Nguyễn Tiến Lâm

6 Nguyễn Hoàng Long

7 Lê Đức Hoàng

8 Lê Phương Toan

9 Hồ mậu Lượng

Trang 3

NỘI DUNG:

I TỔNG QUAN VỀ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH 4

1 Khái niệm 4

2.Chức năng của trung gian tài chính 4

3 Phân loại trung gian tài chính 4

II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VIỆT NAM 5

1 Các ngân hàng trung gian 5

2 Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng 10

III SO SÁNH CẤU TRÚC HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VIỆT NAM VỚI MĨ, PHÁP, ANH 14

1 So sánh với Mĩ 14

2 So sánh với Pháp 16

3.So sánh với Anh 17

IV BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 18

I TỔNG QUAN VỀ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH

1 Khái niệm

Trung gian tài chính là những tổ chức huy động vốn từ người có tiền tạm thời nhàn rỗi và sử

dụng vốn đầu tư đem lại lợi ích cho các bên khi họ giao dịch, Hoạt dộng chủ yếu và thường xuyên của

Trang 4

các tổ chức này là thông qua việc cung ứng các dịch vụ tài chính thông qua hút khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi cung ứng cho những nơi có nhu cầu vốn.

2.Ch ức năng của trung gian tài chính :

Trung gian tài chính có 3 chức năng chủ yếu sau

► Chức năng tạo vốn : Các trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, hình thành các quỹ tiền tệ tập trung Bằng cách trả lãi suất, các trung gian tài chính đem lại lợi ích cho người có tiền tiết kiệm và đồng thời cũng làm lợi cho chính mình trong giai đoạn cung ứng vốn

► Chức năng cung ứng vốn : Trong nền kinh tế thị trường, người cần vốn là các doanh nghiệp, các

tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước Tổ chức tài chính trung gian sẽ đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn và nhận được một khoản lợi nhất định thông qua việc cho vay với lãi xuất cho vay lớn hơn lãi xuất các tổ chức này trả cho người tiếp kiệm

► Chức năng kiểm soát : Các tổ chức trung gian sẽ kiểm soát nhằm giảm tới mức tối thiểu sự rủi ro

bằng cách thường xuyên hoặc định kỳ kiểm soát trước khi cho vay, trong và sau khi cho các doanh nghiệp vay vốn

3 Phân loại trung gian tài chính : Có nhiều cách để phân loại trung gian tài chính

► Cách 1 :

► Cách 2 : Phân loại một cách tổng hợp trung gian tài chính bao gồm:

- Các loại hình tài chính trung gian ( NHTM, NH phát triển , NH đầu tư , NH chính sách … )

- Các loại hình tài chính phi ngân hàng ( Công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư …)

II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VIỆT NAM

Hiện nay, hệ thống trung gian tài chính Việt Nam đã phát triển đầy đủ 3 loại hình chủ yếu, bao gồm: các trung gian nhận tiền gửi, trung gian đầu tư và các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng Tuy nhiên, sự

Trung gian tài chính

trung gian nhận tiền

gửi

hợp đồng

Ngân hàng thương mại

Các tổ chức tiết kiệm

Ngân hàng đầu tư Công ty tài chính Quỹ đầu tư tương hỗ

Công ty bảo hiểm Quỹ hưu trí

Trang 5

phát triển các loại hình công ty, tổ chức trung gian tài chính trong mỗi loại là chưa thực sự đầy đủ, trong đó:

 Các ngân hàng trung gian (Các trung gian nhận tiền gửi) hệ thống ngân hàng

 Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng :Các trung gian đầu tư: công ty tài chính, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư; Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: công ty bảo hiểm

1 Các ngân hàng trung gian - trung gian nhận tiền gửi:

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tới tháng 11/2009 Việt nam hiện có 5 Ngân hàng thương mại lớn (Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên doanh; 36 Ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty tài chính; 13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở

Dân số nước ta hiện nay ước khoảng 86 triệu người, GDP khoảng 65 tỷ USD, số lượng các ngân hàng này hiện này được xem là đông đảo với một thị trường tài chính nhỏ như Việt Nam Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng rất nhanh trong những năm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân 35%/năm

1.1 Hệ thống các ngân hàng thương mại:

1.1.1 Lịch sử phát triển:

Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã được hình thành và hoàn thiện dần – Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam

từ 1 cấp sang 2 cấp – Trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.Trong thời gian này,

4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam; 2) Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam; 3) Ngân hàng Công thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng đổi mới

và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước trong thiên niên kỷ mới

Trang 6

Sự phát triển về mặt số lượng của các ngân hàng thấy rõ qua bảng sau:

NHTM quốc

doanh

NHNN

Tuy nhiên xét về quy mô vốn ta thấy sự áp đảo của NHTMNN:

Bảng 1: Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống (%)

Nguồn: Báo cáo số 49/BC-NHNN năm 2009 của NH Nhà nước về việc rà soát 10 năm thực hiện Luật các TCTD và tính toán của tác giả.

1.1.2.Khái quát hiện trạng các NHTM VN:

Với tổng tài sản có tỷ trong 140% GDP hệ thông ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng

trong sự phát triển của kinh tế VN khi các doanh nghiệp VN có tích lũy vốn chưa cao vôn kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay từ ngân hàng

Hiện nay số lượng NH quá nhiều, trong đó nhiều NH năng lực rất yếu Tôi cho rằng cơ cấu lại hệ thống NH thương mại trước hết cần giảm bớt số lượng NH thương mại nói riêng và các tổ chức tài chính nói chung thông qua việc nâng chuẩn hoạt động Khi đó những NH không đủ tiêu chuẩn để hoạt động toàn quốc có thể phát triển theo kiểu NH khu vực, bị giới hạn trong một phạm vi hoạt động nhất định tùy theo mức vốn cụ thể

Về hoạt động:

- Năng lực cạnh tranh

Một hệ thống NH không thể phát triển bền vững, năng lực cạnh tranh cao trong bối cảnh năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp Về các chỉ số phát triển tài chính, Báo cáo phát triển tài chính 2009 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) xếp hạng VN đứng thứ 49 trên 52 nước được đánh giá Hầu hết

Trang 7

các chỉ số được xếp hạng cạnh tranh thấp, chỉ có chỉ số ổn định tài chính, chỉ số về quy mô và hiệu quả của lĩnh vực NH được xếp hạng cao

- Chất lượng dịch vụ NH

Các dịch vụ mà các NH VN đang cung cấp hiện nay, dù đã được đa dạng hoá nhưng vẫn đơn điệu, chủ yếu vẫn là các sản phẩm truyền thống Các dịch vụ NH hiện đại chưa phát triển hoặc phát triển nhưng đồng bộ Rất nhiều dịch vụ phát triển chưa xứng với tiềm năng

1.2 Ngân hàng phát triển VN:

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Vietnam Development Bank - VDB) được thành lập trên cơ sở Quỹ

Hỗ trợ Phát triển theo quyết định 108/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/05/2006 Là một đơn vị cho vay chính sách phi lợi nhuận, với số vốn điều lệ lên tới 10 nghìn tỷ đồng Cùng với Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, VDB có mục tiêu đóng góp vào quá trình xoá đói giảm nghèo thông qua các khoản vay cho các công trình xây dựng thuỷ lợi và giao thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho các vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xuất khẩu

So với hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển, Ngân hàng Phát triển hiện nay sẽ được tăng quyền chủ động, tăng tính trách nhiệm trong đánh giá, thẩm định cho vay các dự án và có quyền từ chối cho vay đối với những dự án kém hiệu quả

So với các NHTM khác, Ngân hàng Phát triển có sự khác biệt là tổ chức tài chính thuộc sở hữu 100% của Chính phủ, không nhận tiền gửi từ dân cư Được huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của nhà nước theo quy định của Chính phủ.Do hoạt động của ngân hàng không vì mục đích lợi nhuận nên được hưởng một số ưu đãi đặc biệt như không phải dự trữ bắt buộc, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, ngân hàng vẫn chịu sự điều tiết của Luật các tổ chức tín dụng, do vậy vẫn phải chấp hành các quy định trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, và quản

lý ngoại hối của Ngân hàng nhà nước Trong năm 2007, hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

sẽ hoạt động theo nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 Về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước

1.3.Ngân hàng chính sách xã hội:

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày

04 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo Đây là sự nỗ lực rất lớn của Chính

Trang 8

phủ Việt Nam trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và cam kết trước cộng đồng quốc tế về "xóa đói giảm nghèo"

Là ngân hàng của nhà nước ,hoạt động không vì mục đích lợi nhuận ,phục vụ cho các đối tượng chính sách nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội nhất định của quốc gia

Từ khi thành lập, chỉ có 3 chương trình tín dụng, nay đã được Chính phủ giao 18 chương trình tín dụng trong nước và một số chương trình nhận ủy thác của nước ngoài, mà chương trình nào cũng thiết thực, ý nghĩa Đây thật sự là niềm vui đối với các đối tượng chính sách vì họ tiếp tục có cơ hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi chính thức của Nhà nước, nhất là dựa trên tiền đề thành công của 7 năm hoạt động Ngân hàng phục vụ người nghèo

Kết quả về xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Với mục tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ đói nghèo xuống 13% vào cuối năm 2010, NHCSXH phối hợp với các cấp, các ngành và các hội, đoàn thể, từng bước xã hội hóa hoạt động của NHCSXH, góp phân thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về "xóa đói, giảm nghèo" và tạo việc làm giai đoạn 2006 - 2010, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thực sự trở thành lực lượng kinh tế hữu hiệu nhằm ổn định chính trị, xã hội của đất nước

Mục tiêu hoạt động :

-nhằm tài trợ vốn cho các đối tượng chính sách vì mục đích xã hội và phát triển kinh tế

-hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận

Nguồn vốn

 Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo

 Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vay tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; vay Ngân hàng Nhà nước

 Được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các

cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và nước ngoài

Ngân hàng chính sách được hưởng các ưu đãi của nhà nước :

Do hoạt động của ngân hàng không vì mục đích lợi nhuận nên được hưởng một số ưu đãi đặc biệt như không phải dự trữ bắt buộc, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, ngân hàng vẫn chịu sự điều tiết của Luật các tổ chức tín dụng, do vậy vẫn phải chấp

Trang 9

hành các quy định trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, và quản lý ngoại hối của Ngân hàng nhà nước

1.4.Các tổ chức tín dụng hợp tác xã:

Ở Việt Nam tồn tại hai loại hình TCTD hợp tác xã:

1.4.1 Hợp tác xã tín dụng:

Loại hình hợp tác xã tín dụng xuất hiên ở Việt Nam từ năm 1956 ở miền Bắc và 1983 ở miền Nam Nguồn vốn hình thành từ NSNN cấp cho nên HTXTD hoạt động như đại lý của NHNN Tuy đã được cải tổ năm 1990 song hoạt động của HTX tín dụng vẫn đóng vai trò tích cực vào nền kinh tế và dần bị thay thế bởi QTDND

1.4.2 Quỹ tín dụng nhân dân:

Tại Việt Nam đã có nhiều loại hình quỹ tín dụng được thành lập : quỹ tín dụng nhân dân (từ năm 1993), quỹ tín dung sinh viên (năm 1988), quỹ tín dụng học tập…các loại quỹ này ra đời đều nhằm mục đích giúp đỡ hỗ trợ người dân, học sinh sinh viên

Hiện nay QTDND trung ương với 25 đon vị và QTDND cơ sở với 1052 đơn vị Hoạt động trên 52 tỉnh thành thu hút gần 1 triệu thành viên tham gia là những hộ sản xuất nông-lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh nhỏ và buôn bán nhỏ Tổng nguồn vốn huy động qua hệ thông đạt gân 6,5 nghìn

tỷ đồng

2 Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng:

2.1.Trung gian đầu tư:

2.1.1 Công ty tài chính

Thị trường tài chính Việt Nam phát triển sinh ra một nhu cầu lớn về vốn Khi này, các Ngân hàng với những điều kiện chặt chẽ về hạn mức cho vay, kỳ hạn vay, điều kiện giải ngân sẽ rất khó đáp ứng hết được nhu cầu vốn lớn này Sự ra đời của các công ty tài chính, cho thuê tài chính là một bước phát triển tất yếu của thị trường tài chính

Tại Việt Nam, hiện có tới 17 công ty tài chính, phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế Nhà nước Các công ty tài chính thường trực thuộc những Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước như: Công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy, Công ty tài chính Điện lực, công ty tài chính xi măng, công ty tài chính Than khoáng sản Việt nam, công ty tài chính Cổ phần Dầu khí…

Các công ty tài chính với ưu thế về nguồn vốn lớn từ các tập đoàn rót xuống đã liên tục đầu tư dài hạn, tài trợ các dự án như: Dự án đóng tàu, dự án thủy điện, đầu tư tài chính

Trang 10

Ưu điểm của các công ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự

án lớn trọng điểm Tuy nhiên ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực thuộc các tập đoàn mà các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước

Năm 2008 khi các Tập đoàn công bố báo cáo tài chính thì hầu hết các ngành nghề chính đều thua

lỗ trong khi phần thu lãi lại xuất phát từ đầu tư tài chính Trong khi đó, các Tổng công ty tập đoàn có vốn nhà nước thường xuyên “kêu” thiếu vốn đầu tư cho các dự án thì vẫn thành lập ra hàng loạt các công ty tài chính để nhằm mục đích đầu tư tài chính

2.1.2 Công ty chứng khoán

Tính từ khi ra đời, số lượng các công ty Chứng khoán không ngừng tăng nhanh về số lượng Nếu như năm 2000 khi thị trường Chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động với 4 công ty Chứng khoán thì đến thời điểm năm 2007 đã có tới 61 công ty Chứng khoán với tổng số vốn điều lệ đạt 5735 tỷ đồng Và đến nay đã có hơn 100 công ty Chứng khoán đang hoạt động

Các công ty Chứng khoán trong quá trình phát triển luôn đồng thời tăng vốn điều lệ, nhằm đáp ứng được khả năng tài chính và sự phát triển Các công ty chứng khoán đã góp phần tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Tính đến cuối năm 2008, tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 40% GDP quốc dân Điều này chứng tỏ, Các công ty chứng khoán đã giúp các doanh nghiệp niêm yết có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn từ công chúng đầu tư, ổn định và với chi phí vốn thấp, mang tính dài hạn

2.1.3 Sở giao dịch chứng khoán:

Sở giao dịch chứng khoán thành phố HCM (HOSE) được thành lập tháng 7 năm 2000, là một đơn

vị trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và quản lý hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết của

VN SGDCK HCM hoạt động như một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhà nước với số vốn điều lệ là 1000 tỷ đồng

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCKHN) được thành lập theo Quyết định số 01/2009/QĐ-Ttg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở chuyển đổi, tổ chức lại TTGDCKHN Trước đó, TTGDCKHN, được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2005 với các hoạt động chính là tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán niêm yết, đấu giá cổ phần và đấu thầu trái phiếu SGDCK HN hoạt động theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước với vốn điều lệ là 1000

tỷ đồng

Chức năng:

 Cung cấp, đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc giao dịch chứng khoán (địa điểm và hệ thống giao dịch) Đảm bảo viejc giao dịch chứng khoán được diễn ra thông suốt, đúng pháp luật và công khai kể cả giá cả

 Tổ chức niêm yết và giám sát các chứng khoán niêm yết, các tổ chức niêm yết

 Tổ chức và giám sát chặt chẽ quá trính giao dịch chứng khoán

 Giám sát chặt chẽ nhưng người tham dự vào quá trình giao dịch

Ngày đăng: 25/03/2013, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống (%) - So sánh cấu trúc hệ thống trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay với Mĩ, Pháp, Anh
Bảng 1 Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống (%) (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w