Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Xuất phát từ thực trạng tác hại của bệnh hại rễ gây ra cho cây Keo tai tượng và những khó khăn trong công tá
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN THỊ BÍCH PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU BỆNH HẠI RỄ KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM ) LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP
QUẢN LÝ DỊCH BỆNH TẠI TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Thu
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu tính toán chính xác và được lấy từ việc
đi thực tế và làm phòng thí nghiệm Nếu có điều gì sai sót tôi xin chịu trách nhiệm
Nguyễn Thị Bích Phượng
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao học Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khoá XVII (2009 - 2011)
Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ và đóng góp của cán bộ Phòng nghiên cứu Bảo vệ Thực vật rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Khoa đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, từ gia đình và bạn bè đồng nghiệp Tác giả xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ đó Đặc biệt tác giả muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Quang Thu, người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi và truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình thực hiện
Luận văn được hoàn thiện trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu có liên quan và ý kiến đóng góp của nhiều nhà chuyên môn và sự nỗ lực của tác giả Tuy nhiên do khả năng, điều kiện và thời gian còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp, xây dựng của các nhà khoa học cũng như của bạn bè đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Phượng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tỉ lệ bị bệnh hại rễ Keo tai tượng tại một số khu vực nghiên cứu 41
Bảng 4.2 Mức độ bị bệnh hại rễ Keo tai tượng tại một số khu vực điều tra 42
Bảng 4.3 Tỉ lệ bị bệnh tại các vị trí địa hình 43
Bảng 4.4 Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỉ lệ bị bệnh tại các địa hình theo tiêu chuẩn Bonferroni 45
Bảng 4.5 So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các vị trí địa hình bằng tiêu chuẩn Duncan 45
Bảng 4.6 Tỉ lệ bị bệnh ở các hướng phơi 46
Bảng 4.7 So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các hướng phơi bằng tiêu chuẩn Duncan 47
Bảng 4.8 Tỷ lệ bị bệnh ở các cấp độ dốc 48
Bảng 4.9 Kết quả phân tích phương sai 48
Bảng 4.10 Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỉ lệ bị bệnh theo độ dốc 49
Bảng 4.11 So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các cấp độ dốc bằng trắc nghiệm Duncan 49
Bảng 4.12 Tỉ lệ bị bệnh ở các độ tàn che 50
Bảng 4.13 Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỉ lệ bị bệnh theo độ tàn che 51
Bảng 4.14 So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các mức độ tàn che bằng tiêu chuẩn Duncan 51
Bảng 4.15 Tỉ lệ bị bệnh tại các tuổi 53
Bảng 4.16 Kết quả phân tích phương sai 53
Bảng 4.17 Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỉ lệ bị bệnh theo tuổi 54
Bảng 4.18 So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các tuổi bằng trắc nghiệm Duncan 55
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 4.19 Tốc độ phát triển của hệ sợi nấm ở các môi trường dinh dưỡng
khác nhau ở các khu vực khác nhau 56Bảng 4.20 Tốc độ phát triển của hệ sợi nấm ở các nhiệt độ khác nhau trên
các khu vực khác nhau 58Bảng 4.21 Ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến sinh trưởng phát triển
đường kính hệ sợi 60Bảng 4.22 Ảnh hưởng của môi trường pH đến sinh trưởng phát triển
đường kính hệ sợi 63Bảng 4.23 Kết quả đo vòng kháng nấm của thuốc 66
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Bẫy đất 15
Hình 4.1 Lá cây bị héo rũ 36
Hình 4.2 Lá keo bị héo từ ngọn xuống 36
Hình 4.3 Cây bị chết khô do bệnh hại rễ 37
Hình 4.4 Rễ cây bị bệnh 37
Hình 4.5 Rễ cây bị bệnh 37
Hình 4.6 Bào tử áo (Chlamydospore) 39
Hình 4.8 Túi bào tử động (Sporangia) 39
Hình 4.9 Hệ sợi nấm trên 39
Hình 4.10 Bào tử áo (Chlamydospore) 40
Hình 4.11 Bào tử noãn (Oospore) 40
Hình 4.12 Túi bào tử động (Sporangia) 40
Hình 4.13 Hệ sợi nấm trên môi trường CMA 40
Hình 4.14 Biểu đồ tỷ lệ bị bệnh tại các khu vực nghiên cứu 42
Hình 4.15 Mức độ bị hại tại các khu vực nghiên cứu 43
Hình 4.16 Biểu đồ tỷ lệ bị bệnh tại các vị trí địa hình 44
Hình 4.17 Biểu đồ tỷ lệ bị bệnh tại các hướng phơi 47
Hình 4.18 Tỉ lệ bị bệnh ở các độ dốc khác nhau 50
Hình 4.19 Tỷ lệ bị bệnh ở các độ tàn che khác nhau 52
Hình 4.20 Biểu đồ tỷ lệ bị bệnh theo các tuổi 56
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 4.21 Biểu đồ tốc độ phát triển của bào tử nấm trên môi trường dinh
dưỡng (m/giờ) 57
Hình 4.22 Hệ sợi nấm trên các môi trường dinh dưỡng 58
Hình 4.24 Biểu đồ tốc độ phát triển của bào tử nấm (m/giờ) 59
Hình 4.25 Hệ sợi nấm trên môi trường dinh dưỡng ở các thang nhiệt độ 60
Hình 4.26 Biểu đồ tốc độ mọc của hệ sợi ở các thang độ ẩm khác nhau 61
Hình 4.27 Hệ sợi nấm trên môi trường dinh dưỡng theo thang độ ẩm 62
Hình 4.28 Biểu đồ tốc độ mọc của khuẩn lạc ở các pH môi trường khác nhau 63
Hình 4.29 Hệ sợi nấm trên môi trường dinh dưỡng theo các thang pH 64
Hình 4.30 Khả năng kháng nấm của ba loại thuốc so với đối chứng 67
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.Trên thế giới 4
1.1.1 Nghiên cứu về bệnh hại cây rừng 4
1.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại Keo 6
1.1.3 Một số nghiên cứu về sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM 7
1.2 Ở Việt Nam 9
1.2.1 Những nghiên cứu về bệnh trong nước 9
1.2.2 Những nghiên cứu về bệnh hại Keo 9
1.2.3 Một số nghiên cứu về sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM ở Việt Nam 10
1.3 Nhận xét chung 11
CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.2 Đối tượng nghiên cứu 12
2.3 Địa điểm nghiên cứu 12
2.4 Nội dung nghiên cứu 12
2.4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh: Phân lập và giám định mẫu vật gây bệnh 13
2.4.2 Xác định tỷ lệ bị bệnh (P%) và mức độ bị bệnh (R%) của bệnh hại rễ Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 13
2.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của vật gây bệnh 13
2.4.4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của vật gây bệnh trong nuôi cấy thuần khiết 13
2.5 Phương pháp nghiên cứu 13
2.5.1 Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh 13
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.5.2 Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái
đến tỷ lệ và mức độ bị bệnh 16
2.5.2.1 Điều tra sơ bộ 16
2.5.2.2 Điều tra tỷ mỉ 16
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vật gây bệnh 18
2.5.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm nẩy mầm của bào tử nấm 18
2.5.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc 19
2.5.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến tốc độ sinh trưởng phát triển của khuẩn lạc 19
2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu……….19
2.5.5 Đề xuất biện pháp phòng trừ 20
CHƯƠNG III KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
3.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1 Vị trí địa lý 21
3.1.2 Địa hình, địa thế 22
3.1.3 Đặc điểm khí tượng, thủy văn 23
3.1.3.1 Khí hậu 23
3.1.3.2 Đặc điểm thủy văn 23
3.1.4 Địa chất thổ nhưỡng 24
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động 28
3.2.2 Thực trạng chung về kinh tế của tỉnh 28
3.2.2.1 Nông nghiệp 29
3.2.2.3 Lâm nghiệp 30
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.2.2.4 Thuỷ sản 30
3.2.2.5 Công nghiệp 30
3.2.2.6 Năng lượng 31
3.2.3 Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng 31
3.2.3.1 Giáo dục 31
3.2.3.2 Y tế 32
3.2.3.3 Văn hoá thông tin 32
3.2.3.4 Giao thông 32
3.2.3.5 Du lịch 33
3.3 Nhận xét và đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 33
3.3.1 Thuận lợi 33
3.3.2 Khó khăn 34
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh và tỉ lệ bị bệnh hại rễ làm khô cành ngọn Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 35
4.1.1 Mô tả triệu chứng 35
4.1.2 Phân lập mẫu bệnh 38
4.1.3 Giám định sinh vật gây bệnh 38
4.2 Xác định tỉ lệ bị bệnh (P%) và mức độ bị hại (R%) của bệnh hại rễ Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 41
4.2.1 Xác định tỉ lệ bị bệnh (P%) của bệnh hại rễ Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 41
4.2.2 Mức độ bị hại (R%) của bệnh hại rễ Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 42
4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tỷ lệ bị bệnh tại khu vực nghiên cứu 43
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4.3.1 Ảnh hưởng của địa hình đến tỉ lệ bị bệnh 43
4.3.2 Ảnh hưởng của hướng phơi đến tỉ lệ bị bệnh 46
4.3.3 Ảnh hưởng của độ dốc đến tỉ lệ bị bệnh 48
4.3.4 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tỉ lệ bị bệnh 50
4.3.5 Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỉ lệ bị bệnh 53
4.4 Đặc điểm sinh học của vật gây bệnh trong nuôi cấy thuần khiết 56
4.4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc 56
4.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc 58
4.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm độ đến sinh trưởng phát triển của khuẩn lạc 60
4.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến sinh trưởng phát triển của khuẩn lạc 62
4.5 Đề xuất các biện pháp phòng trừ và quản lý dịch bệnh hại theo hướng IPM 64
4.5.1 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 64
4.5.2 Biện pháp kiểm dịch thực vật 65
4.5.3 Biện pháp hoá học 65
4.5.3.2 Phương pháp sử dụng thuốc hóa học 67
CHƯƠNG V KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.2 Tồn tại 70
5.3 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ BIỂU
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO), ở thập niên trước, mỗi năm toàn thế giới có khoảng 83.000 km2
rừng bị chặt phá Trong giai đoạn từ 2000 - 2010, mỗi năm có 52.000 km2
rừng biến mất [34] Ở Việt Nam tình hình diễn biến tài nguyên rừng cũng xảy ra tương tự Năm 1943, diện tích rừng toàn quốc là 14,3 triệu ha, tương ứng độ che phủ là 43%, đến ngày
31/12/2009 diện tích rừng toàn quốc là 13.258.843 ha (diện tích rừng tự nhiên là
10.339.305 ha và rừng trồng là 2.919.538 ha) với độ che phủ 39,1% [3]
Sự suy giảm diện tích rừng do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Quản
lý rừng không chặt chẽ, kinh doanh rừng không đúng mục đích, khai thác rừng bất hợp pháp… Một trong những nguyên nhân chính là công tác bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh hại chưa được quan tâm đúng mức Hàng năm có hàng nghìn ha rừng trên đất nước ta, đặc biệt là rừng trồng bị các trận dịch sâu bệnh tàn phá, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của rừng mà chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu
Trước những thực trạng trên, nhiệm vụ chính và quan trọng hiện nay của ngành Lâm Nghiệp và toàn xã hội là việc bảo vệ và duy trì vốn rừng hiện
có, đi đôi với công tác cải tạo và xây dựng vốn rừng Đảng và nhà Nước thông qua chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 nhằm quản lý rừng hợp lý, đẩy nhanh tốc độ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ vốn rừng Phấn đấu đến năm 2010 nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% và 47% vào năm 2020 [4]
Việt Nam là một trong những nước được đánh giá cao vì nỗ lực trồng mới rừng Đó là nhận xét nêu trong bản phúc trình của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) công bố vào thời điểm khởi đầu Năm Quốc tế bảo vệ rừng 2011 Theo Trợ lý Tổng Giám đốc Bộ phận lâm nghiệp của FAO Eduardo Rojas - Briales, Việt Nam, một nước nhỏ, dân số đông nhưng đã áp dụng việc cải cách rừng rất thông minh và toàn diện [34]
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Công tác chọn loài cây trồng phù hợp với mục đích kinh doanh và yêu cầu phòng hộ là một vấn đề quan trọng, trong đó cây Keo tai tượng được coi
là một trong các loài cây trồng chủ yếu cùng với Keo lai, Bạch đàn và Thông
ở các chương trình, dự án tạo rừng Theo tổng cục thống kê, diện tích rừng trồng tập trung năm 2009 ước tính đạt 212 nghìn ha, tăng 5,9% so với năm
2008 trong đó Tuyên Quang là một trong những địa phương có diện tích trồng rừng tập trung cao là 14,9 nghìn ha và chủ yếu trồng các loài cây nhập nội như Keo, Bạch đàn, Thông [33]
Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.) thuộc chi Acacia, họ trinh
nữ (Mimosaceae R.Br.) là loài cây có phạm vi sinh thái rộng, dễ trồng, mọc
nhanh sớm khép tán, thích ứng với các điều kiện lập địa khác nhau, có tác dụng che phủ và cải tại đất, có khả năng đảm bảo thành công trong công tác trồng rừng và đã được khẳng định Là cây cung cấp nguyên vật liệu cho ngành chế biến bột giấy, gỗ ván dăm, ngành xây dựng, tận dụng lá và hạt keo tai tượng trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chế biến phân vi sinh, Tuy là cây trồng dễ thích ứng dễ sinh trưởng song cây Keo tai tượng là một trong những loài cây trồng rừng hiện nay mắc phải nhiều sâu bệnh hại xảy ra tại vườn ươm cũng như rừng trồng, gây ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng rừng Bệnh nghiêm trọng có thể làm chết cây trên diện rộng Mới đây tại nhiều xã của huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang keo trồng bỗng nhiên héo ngọn, chết dần [32] Qua điều tra sơ bộ tìm hướng nghiên cứu, chúng tôi phát hiện nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng cây Keo tai tượng héo ngọn và lá là do rễ cây bị thối khiến cây không hút được chất dinh dưỡng dẫn tới cây ngừng hoặc kém phát triển làm giảm năng suất, chất lượng rừng trồng Có rất ít công trình nghiên cứu về loại bệnh hại này nên khi dịch bệnh xảy ra thì người dân chỉ có thể làm một số biện pháp thủ công như chặt bỏ cây, đào rễ, khử trùng đất hoặc trồng loài cây mới trên đất đó
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Xuất phát từ thực trạng tác hại của bệnh hại rễ gây ra cho cây Keo tai tượng và những khó khăn trong công tác phòng trừ bệnh, được sự phân công của Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Quang Thu, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu bệnh hại rễ Keo tai tượng (Acacia mangium) làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý dịch bệnh tại Tuyên Quang”
Từ đó tìm hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh cho cây keo tai tượng và đề xuất các biện pháp quản lý dịch bệnh hiệu quả
Trang 17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về bệnh hại cây rừng
Bệnh cây rừng là một môn khoa học còn rất non trẻ đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay tuy vậy sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn
Lịch sử phát triển môn bệnh cây rừng trải qua 3 giai đoạn, theo G.H.Heptig, nhà bệnh cây rừng nước Mỹ; mỗi một giai đoạn thường khoảng 30 - 40 năm Thời kỳ đầu là nghiên cứu chủng loại, phân bố, mức độ bị hại, quy luật phát bệnh và biện pháp phòng trừ Thời kỳ thứ 2 đã chuyển hướng sang nghiên cứu thăm dò, đặc tính sinh thái các bệnh có tính hủy diệt, các biện pháp chọn giống và kỹ thuật lai tạo các loài cây chống chịu bệnh Các quan hệ bệnh hại
và ô nhiễm môi trường, các bệnh do Mycoplasma gây ra Thời kỳ thứ 3 từ năm 1970 đến nay, sự phát triển bệnh cây rừng bước vào nghiên cứu sâu hơn
về đánh giá tổn thất, dự tính dự báo, hiệu quả kinh tế thông qua toán học hiện đại và quản lý thông tin và đưa việc “Quản lý tổng hợp sâu bệnh hại rừng” (IPM) đến những người làm công tác lâm nghiệp [16]
Sử sách đã ghi chép các hiện tượng tự nhiên gây ra những tổn thất cho kinh tế, trong đó có bệnh cây rừng Hơn 300 năm trước công nguyên người Cổ
Hy Lạp Theophrastus đã mô tả khả năng chống chịu bệnh của cây gỗ Trong cuốn “Thần nông bản thảo kinh” trước công nguyên người Trung Quốc đã mô
tả bệnh thối nâu quả đào Có những tài liệu thống kê cho biết đời Chu đến đời Thanh đã có 5000 điều ghi chép về bệnh hại cây gỗ Trước thế kỷ 19 một số
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhà khoa học bệnh cây Châu Âu đã có những thăm dò vật gây bệnh trên cây
gỗ Trong đó có G.L.Hartig và con ông là T.Hartig đã có những mô tả về nguyên nhân gỗ bị mục, nhưng học thuyết đó chưa được xác lập nhiều kết luận sai Cho nên những quan sát, thí nghiệm và phân tích bước đầu về bệnh cây rừng đầu thế kỷ XIX được xem là phôi thai của khoa học bệnh cây rừng [16]
Bệnh cây rừng đã trở thành môn học độc lập bắt đầu từ năm 1980 và được phát triển trên cơ sở của khoa học lâm sinh học và bệnh thực vật Năm
1966, nhà thực vật học người Đức M.Willkomm đã phát biểu bài báo “Kẻ thù nhỏ của cây rừng” (Die microcopischen Feinde des Waldes) đã có tác dụng thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học này và Robert Hartig, người cháu nội của G.L.Hartig đã được công nhận là người đặt nền móng cho khoa học bệnh cây rừng Năm 1974 và 1975 ông phát biểu các tài liệu chuyên khảo về bệnh cây rừng như “Bệnh hại chủ yếu cây rừng”, “Hiện tượng tổn thương gỗ” Năm 1982 ông xuất bản cuốn “Khoa học bệnh cây” (Lehrbuch der Baumkrankheiten) Đó
là cuốn giáo trình bệnh cây rừng đầu tiên trên thế giới R.Hartig còn bồi dưỡng nhiều nhà bệnh cây rừng nổi tiếng và trở thành các nhà sáng lập bệnh cây rừng ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ [16]
Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L Roger (1953) đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong đó có một
số bệnh hại lá của Thông, Keo, Bạch đàn …54
Cuốn sách “Forest pathology” của John Boyce xuất bản năm 1961 đã
mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada 40
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại Keo
Theo kết quả nghiên cứu của Pedley, 1978 và Boland, 1986 với tổng số
trên dưới 1200 loài, chi Keo Acacia là một chi thực vật quan trọng đối với đời
sống xã hội của nhiều nước [37], [51]
Theo các ghi chép của Trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia thì các loài
keo Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích
khoảng 1.750.000 ha vào thời điểm đó Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường (Maslin và McDonald, 1996) [49] Các loài có tiếng về cung cấp
nguyên liệu gỗ và bột giấy là Keo lá tràm (A auriculiformis), Keo lá liềm (A
crassicarpa), Keo tai tượng (A mangium), Keo đa thân (A aulacocarpa),
còn các loài khác như A colei, A tumida lại có tiềm năng cung cấp gỗ củi,
chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng [43], [45]
Năm 1961 - 1968, John Boyce nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một
số bệnh cây rừng trong cuốn “Forest pathology” và trong đó có bệnh hại Keo 40
Năm 1952 - 1954, Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây Bạch đàn và Keo trong cuốn “Phytopathologie des pays chauds” 54 G.F Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại Keo trong cuốn “Forest
tree pests and deseases in plantation” 39
Theo Shaama nghiên cứu (1994), Cây trồng bị khô héo, rụng lá và tàn
lụitừ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm Colletotrichum gleosporioides.) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo Acacia mangium trong vườn giống ở Papua New
Guinea và Ấn Độ (FAO 1981) [57] Theo nhà nghiên cứu bệnh cây Lee
(1993) loài nấm này còn gây hại với các loài Acacia ssp [48]
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo Zhou zaizhi (1964) tại hội nghị lần thứ III họp tại Đài Loan cuối
tháng 6 năm 1964, nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia,
nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài
Acacia [61]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006 thực tế có một số
nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo Đó là nấm Glomerella
cingulata gây bệnh đốm lá ở A simsii; nấm Uromycladium robinsonii gây
bệnh rỉ sắt ở lá giả loài A melanoxylon; nấm Oidium sp có trên các loài A
mangium và A auriculiformis 24
Theo nghiên cứu của Chris Lang (1996) trong thực tế có một số nấm
bệnh đã được phân lập từ một số loài keo Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A simsii; nấm Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở
lá giả loài A melanoxylon; nấm Oidium sp có trên các loài A mangium và A
auriculiformis ở Trung Quốc nhưng loài A confusa (Đài Loan tương tư) địa
phương lại không bị bệnh 41
Năm 2000, Old et al đã phát hiện, mô tả các bệnh hại keo ở các nước Đông Nam Á và Ấn Độ, các bệnh thường gặp là: bệnh phấn trắng (Powdery mildew), bệnh đốm lá, bệnh bồ hóng, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Heart rot) 50
1.1.3 Một số nghiên cứu về sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM
Về phòng trừ vật gây hại nói chung, bệnh cây nói riêng, trong những năm gần đây các nhà khoa học đã kết hợp việc khống chế sinh vật với lợi ích kinh tế và cân bằng sinh thái đã đưa ra khái niệm về quản lý vật gây hại tổng hợp hay phòng trừ tổng hợp IPM (Integrated Pest Management)
Theo Water, 1976 đã định nghĩa IPM như sau: “Quản lý vật gây hại tổng hợp là sách lược thông qua việc vận dụng nguyên lý sinh thái học phù
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hợp với hiệu quả kinh tế và xã hội, bao gồm các biện pháp đề phòng vật gây hại phát sinh, làm giảm bớt và điều chỉnh quần thể vật gây hại, giữ mật độ quần thể ở mức độ có thể chịu đựng được, nghĩa là từ thiết kế đến thi công, trong quá trình quản lý tài nguyên rừng phải hoàn toàn tổng hợp” [60]
Các bước nghiên cứu IPM như sau:
- Phân tích vị trí vật gây hại trong hệ sinh thái rừng, xác định ngưỡng gây hại kinh tế của vật gây hại
- Lập phương án làm giảm sâu bệnh hại chủ yếu bao gồm cả việc tạo sinh vật thiên địch mới trong tự nhiên, chọn cây chống chịu, thay đổi môi trường sống của vật gây hại
- Trong tình hình khẩn cấp, tìm biện pháp phòng trừ ít ảnh hưởng đến
hệ sinh thái Nếu cần có thể dùng thuốc hoá học nhưng phải nghiên cứu tỷ mỷ đến loại thuốc, liều lượng, nồng độ, thời gian và phạm vi sử dụng
- Xây dựng phương án kỹ thuật khống chế sâu hại [55]
L Araujo và cộng sự đã tiến hành biện pháp phòng trừ sinh học bằng
việc sử dụng sản phẩm trao đổi chất của vi khuẩn Bacillus sp, được phân lập
từ mô thực vật Ông và cộng sự đã đi sâu vào nghiên cứu các loài vi khuẩn sống trong mô của thực vật để tìm ra các chất kháng sinh có khả năng kiềm chế các nguồn gây bệnh ở cây trồng bằng phương pháp sinh học nhằm làm giảm bớt tác động đến môi trường, bởi hiện nay con người đang sử dụng rất nhiều chất hoá học để phòng trừ bệnh cây và côn trùng gây hại trên các cánh đồng Phương pháp phòng trừ sinh học của ông tạo nên từ các vi sinh vật sống nội sinh Đó là những tổ chức vi sinh vật mà có ít nhất có một pha đời sống của chúng sống ở trong cây chủ mà chúng không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Với phương pháp này nhóm của ông đã phân lập và tuyển chọn một số mẫu vi khuẩn nội sinh được lựa chọn trong các giống cam, quýt
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghiên cứu để tìm ra các chất kháng sinh mới có hiệu lực cao trong việc phòng trừ nấm bệnh [35]
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về bệnh trong nước
Bệnh cây rừng ở nước ta bắt đầu muộn hơn so với các nước trên thế
giới Nhiều công trình đã khởi đầu đề cập đến một số loại bệnh hại
Theo Trần Văn Mão, 1998 môn học bệnh cây rừng được bắt đầu giảng dạy ở trường Đại học Lâm nghiệp từ năm 1963 Từ đó đến nay các nhà khoa học bệnh cây rừng đã đóng góp đáng kể cho nền khoa học chung trong cả nước, nhiều công trình điều tra bệnh cây rừng đã được công bố Năm 1974 giáo trình bệnh cây rừng đã được xuất bản lần đầu tiên ở nước ta Cùng với sự phát triển khoa học côn trùng rừng khoa học bệnh cây rừng đã có những bước phát triển từ khi thành lập bộ môn gỗ sâu bệnh 1964, bộ môn bảo vệ thực vật năm 1968 tại trường Đại học Lâm nghiệp Trải qua gần 40 năm, chúng ta đang ở giai đoạn đầu của giai đoạn thứ ba của lịch sử phát triển bệnh cây rừng, nhưng do sự tiếp nền khoa học hiện đại các nhà khoa học bệnh cây rừng đang
cố gắng hòa nhập vào nền khoa học chung của thế giới, nhiều nhà khoa học bệnh cây nước ta đã được tham gia làm thành viên của tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế IUFRO và các tổ chức khác [16]
Từ năm 1971, với nhiều công trình nghiên cứu của mình, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố một số bệnh trên các loài cây: Trẩu, Sở, Quế, Hồi,… Bệnh hại thân cành đã được các tác giả: Lê Văn Liễu, Nguyễn Sỹ Giao, Nguyễn Kim Oanh, Đỗ Xuân Quy, Phạm Văn Mạch nghiên cứu [14]
Trên Tạp chí Lâm nghiệp năm 1994, Trần Văn Mão đã đưa ra một số biện pháp phòng trừ bệnh hại thân cành Keo và Bạch đàn [20]
1.2.2 Những nghiên cứu về bệnh hại Keo
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Từ đầu những năm 1980 trở lại đây, nhiều loài Keo đã được nhập về
thử nghiệm ở nước ta như Keo tai tượng (A mangium), Keo lá liềm (A
crassicarpa), Keo đa thân (A aulacocarpa), Keo bụi (A cincinnata), Keo lá
sim (A holosericea) và sau này là Keo lai tự nhiên được phát hiện và chủ
động lai tạo (Sedgley et al., 1992) 56]
Trong những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu bệnh cây rừng nước ngoài đã tiến hành nghiên cứu lâu năm ở nước ta về bệnh hại keo như Hodge (1990), Zhon (1992), Sharma (1994) đã công bố trong báo cáo chuyên đề bệnh cây ở Việt Nam [57]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Quang Thu, 2002 đã chỉ ra rằng một vài năm gần đây khi diện tích gây trồng keo đã tăng lên đáng kể (gần 230.000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện bệnh ở rừng trồng Tại Đạ Tẻh (Lâm Đồng) Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích 400 ha đã có 118,5 ha bị bệnh với tỷ lệ từ 7 đến 59% trong đó có một số diện tích bị khá nặng [27] Tại Bầu Bàng, một số dòng Keo lai đã bị mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỷ
lệ mắc và mức độ bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất Tại Kon Tum năm
2001, có khoảng 1000 ha rừng keo lai 2 tuổi bị nhiễm bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn Tỷ lệ nặng nhất là ở Ngọc Tụ, Ngọc Hồi (Kon Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn 22, 27
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa từ năm 2001 đến năm 2005 thực hiện đề tài: “Chọn giống kháng bệnh cho năng xuất cao, kháng bệnh cho bạch đàn và keo”, tác giả đã tiến hành điều tra bệnh hại các loài keo ở vườn ươm và rừng trồng, một số bệnh quan trọng được tác giả nhắc đến là: bệnh
phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor, bệnh loét thân do nấm
Colletotrichum gloeosporioides và nấm Pestalotiopsis neglecta và Pestalotiopsis acaciae, bệnh rỗng ruột do nấm Ganoderma spp [23]
1.2.3 Một số nghiên cứu về sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM ở Việt Nam
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Biện pháp phòng trừ các loại nấm bệnh bằng các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ nấm và vi khuẩn đã được rất nhiều nhà khoa học trong nước nghiên cứu và áp dụng GS Nguyễn Lân Dũng, TS Phạm Văn Ty và Lê Mai Hương đã sử dụng xạ khuẩn để phòng chống bệnh thối cổ rễ cây thông con ở
vườn ươm do nấm Fusarium oxysporum gây ra 10 TS Phạm Văn Mạch, năm
1991 trong công trình nghiên cứu của mình đã sử dụng các chủng Tricoderma
spp, xạ khuẩn Streptomyces spp để phòng chống bệnh thối cổ rễ cây thông con
vườn ươm 14 Tuy nhiên những nghiên cứu này mới dừng lại ở những thí
nghiệm các chủng nấm và xạ khuẩn đều được phân lập từ đất
Sử dụng vi sinh vật nội sinh thực vật có khả năng ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh cây rừng đã được nghiên cứu ở Việt Nam từ năm 2002 (Phạm Quang Thu, 2002) 27 Các tác giả như Phạm Văn Toản, Nguyễn Phương Chi, Phạm Việt Cường, Phạm Quang Thu (2004) đã đi sâu vào nghiên cứu khả năng tương tác của các vi sinh vật có khả năng ức chế sinh vật gây bệnh với các loài sinh vật đặc thù khác nhau như vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật kích thích sinh trưởng, vi sinh vật cố định đạm nội sinh và cộng sinh, vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh…để tạo ra chế phẩm hỗn hợp được gọi là “phân vi sinh chức năng” Phân vi sinh chức năng này đã được nghiên cứu và sản xuất thử cho từng đối tượng cây trồng như: cây Bông, cây Đậu, cây Cà chua, cây Điều và một số cây khác như cây keo, cây Thông nhựa, Thông mã vĩ [28]
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
pháp phòng trừ và quản lý dịch bệnh hại nhằm phát triển tốt loài Keo tai tượng phục vụ nhu cầu kinh doanh và sinh thái của người trồng rừng
CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm thực hiện các mục tiêu như sau:
Xác định được sinh vật gây bệnh hại rễ gây chết khô cành ngọn Keo tai
tượng (Acacia mangium)
Điều tra, đánh giá được tình hình và thực trạng vấn đề bệnh hại rễ gây
chết khô cành ngọn Keo tai tượng (Acacia mangium) ở Tuyên Quang
Đề xuất một số biện pháp phòng trừ và quản lý dịch bệnh hại
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Keo tai tượng tuổi 1 đến tuổi 5 bị bệnh hại rễ gây chết khô cành ngọn
Keo tai tượng (Acacia mangium)
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Tuyên Quang có 6 huyện bao gồm Yên sơn, Sơn Dương, Na Hang, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Lâm Bình trong đó huyện Yên Sơn, huyện Chiêm Hóa
là khu vực rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) phổ biến nhất nên đề
tài được tiến hành chủ yếu ở hai huyện: Yên Sơn, Chiêm Hóa
Đề tài được tiến hành tại phòng Nghiên cứu bảo vệ thực vật rừng, viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
2.4 Nội dung nghiên cứu
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh: Phân lập và giám định mẫu vật gây bệnh
+ Mô tả triệu chứng,
+ Phân lập vật gây bệnh
+ Giám định mẫu vật gây bệnh
2.4.2 Xác định tỷ lệ bị bệnh (P%) và mức độ bị bệnh (R%) của bệnh hại rễ Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu
2.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của vật gây bệnh
+ Ảnh hưởng của địa hình (Độ dốc, hướng dốc và vị trí) đến tỷ lệ bị bệnh
+ Ảnh hưởng của độ tàn che đến tỷ lệ bị bệnh
+ Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỷ lệ bị bệnh
2.4.4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của vật gây bệnh trong nuôi cấy thuần khiết
+ Đặc điểm nẩy mầm của bào tử
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sinh trưởng
và phát triển của khuẩn lạc
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm độ đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh
* Mô tả triệu chứng và quan sát cơ quan sinh sản của vật gây bệnh
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Đối với rễ bị bệnh: Chụp ảnh và quan sát bằng mắt thường mô tả các biểu hiện bên ngoài như: màu sắc lá, tình trạng thân, rễ Lấy mẫu rễ quan sát trên kính soi nổi, mô tả các triệu chứng như: thối, loét… Chọn những rễ con
có cả phần khỏe và phần bị bệnh, rửa bằng nước cất vô trùng nhiều lần, nhúng qua các rễ con trong cồn 70%, rửa nhanh và hơ khô trên đèn cồn Dùng dụng
cụ đã khử trùng cắt rễ thành từng miếng dài 1 - 2 mm ở phần ranh giới giữa
mô khỏe và mô bệnh sau đó cấy lên môi trường CMA (Corn Meal Agar) có kháng sinh NARPH ((Nilstat 1ml; Ampicillin 0.1g; Rifadin 0.5ml; Terraclor (PCNB) 0.1g; Hymexazol 0.05g))/lít)
- Đối với đất bị nhiễm bệnh: Dùng phương pháp bẫy đất vì nó thích hợp cho việc phân lập các loài sản sinh ra du động bào tử
+ Cho khoảng 200g đất vào một hộp nhựa
+ Đổ nước vô trùng hoặc nước cất vào hộp đựng sao cho ngập đất khoảng 5 - 10cm
+ Để lắng và vớt sạch rác nổi trên bề mặt nước
+ Thả vào hộp nhựa những lá non, tươi của cây trồng mẫn cảm với các bệnh như lá Keo tai tượng, lá các cây thuộc họ dẻ, lá cây đỗ quyên, Các lá này sẽ để nổi trên mặt nước (Hình 01)
+ Đặt các hộp nhựa vào 1 nơi để nguyên vị trí trong vòng 2 - 4 ngày + Sau 1- 3 ngày phân lập nấm từ mép vết bệnh đã phát triển trên các lá bẫy sau khi rửa trong nước vô trùng và khử trùng bề mặt, dùng môi trường NARPH để phân lập
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 2.1 Bẫy đất
- Đặt đĩa cấy ở nhiệt độ khoảng 250C cấy truyền từng tản nấm lên môi trường PDA hoặc môi trường CMA và quan sát hàng ngày dưới kính lúp soi nổi để kiểm tra nấm mọc từ các miếng rễ cây hoặc các mảnh vật liệu bẫy bị nhiễm bệnh Làm thuần nấm bằng cách cấy đỉnh sinh trưởng của sợi nấm trên môi trường CMA
- Phương pháp thí nghiệm gây bệnh nhân tạo
Thí nghiệm gây bệnh nhân tạo là phương pháp kiểm tra và khẳng định được loài nấm phân lập từ các tổ chức bị bệnh trên rễ có chính xác hay không
Phương pháp thí nghiệm: Lấy bào tử từ cơ quan sinh sản của nấm bằng que cấy inox được khử trùng trên ngọn đèn cồn, cho bào tử nấm vào cốc nước
vô trùng tới khi mật độ đạt khoảng 1 x 106 tế bào/ml Tưới dung dịch bào tử vào
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
các cây con trồng thí nghiệm Cây đối chứng tưới nước Quan sát thí nghiệm, ghi chéo triệu chứng xảy ra đối với cây con thí nghiệm và cây đối chứng
- Giám định loài nấm gây bệnh
Định loài nấm gây bệnh dựa theo tài liệu chuyên khảo về nấm, đặc biệt
các chuyên khảo về Phytopthora của Waterhouse & Waterston (1966) [59]
2.5.2 Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến tỷ lệ và mức độ bị bệnh
2.5.2.1 Điều tra sơ bộ
Phương pháp điều tra sơ bộ: Lập các tuyến điều tra đại diện cho các dạng địa hình, loài cây, đất đai, thực bì Tuyến điều tra đi theo đường đồng mức, đường mòn Trên tuyến, cứ cách 100 m lại xác định một điểm điều tra vuông góc với tuyến và cách tuyến điều tra 20 m Căn cứ vào kết quả điều tra để xác định điểm bị bệnh hại rễ Keo, khoanh trên bản đồ địa hình hoặc bản đồ hiện trạng sử dụng đất những diện tích bị bệnh hại làm cơ sở cho điều tra tỷ mỉ
2.5.2.2 Điều tra tỷ mỉ
Mục đích là để nắm vững tình hình phân bố, mức độ bị hại đồng thời nghiên cứu mối quan hệ giữa vật gây bệnh và các nhân tố sinh thái xung quanh ảnh hưởng tới sự phát sinh, sinh trưởng và phát triển của bệnh
Trong khu vực nghiên cứu tại các vị trí địa hình như chân, sườn, đỉnh; hướng phơi, loài cây, tuổi cây chúng tôi lập các ô tiêu chuẩn đại diện để điều tra, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 200 m2 (10 m x 20 m), dung lượng mẫu điều tra đủ lớn n 30) Sau khi điều tra trên ô tiêu chuẩn tỷ lệ và mức độ bị bệnh được tính toán như sau :
* Điều tra tỷ lệ bị bệnh (P%)
Trong mỗi ô tiêu chuẩn, đếm tổng số cây điều tra và số cây bị bệnh hại
rễ trong ô Tỷ lệ bị bệnh trong ô tiêu chuẩn được tính theo công thức của James năm 1974 như sau qua (CT 2 - 1):
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
P = * 100
N
n
(CT 2 - 1) Trong đó:
Cấp 0 : Cây khỏe, không bị bệnh
Cấp I : < 10 % diện tích thân, cành ngọn bị bệnh
Cấp II : 10 25 % diện tích thân, cành ngọn bị bệnh
Cấp III : 26 50 % diện tích thân, cành ngọn bị bệnh
Cấp IV : > 50 % diện tích thân, cành ngọn bị bệnh, cây bị khô ngọn Mức độ bị bệnh được tính theo công thức:
Ri =
∑Ri*vi N*V Với: Ri: Mức độ bị bệnh OTC i
vi tương ứng với các cấp bệnh từ 0 – 4 N: Tổng số cây OTC
V: Cấp bị bệnh lớn nhất (V = 4) Mức độ bị bệnh của toàn khu vực điều tra được tính theo công thức:
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
n
Trong đó: Rtb là mức độ bị hại của toàn khu vực điều tra
Ri là mức độ bị hại của từng ô tiêu chuẩn
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vật gây bệnh
2.5.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm nẩy mầm của bào
tử nấm
Thí nghiệm được thực hiện trên môi trường dinh dưỡng PDA, đặt trong
tủ định ôn có các mức nhiệt độ không khí khác nhau Phương pháp thí nghiệm được tiến hành như sau:
Đổ môi trường dinh dưỡng PDA đã nấu vào đĩa petri được khử trùng dầy 2 - 3 mm, để nguội cho môi trường đông cứng lại, cấy giống nấm đã được phân lập từ 10 - 12 ngày tuổi vào chính giữa hộp lồng rồi băng lại cho kín Xếp các hộp lồng vào tủ định ôn có nhiệt độ: 200C ± 1; 250C ± 1; 300C ± 1;
350C ± 1, mỗi tủ đặt 2 hộp lồng Đo đường kính của khuẩn lạc theo hai chiều vuông góc, lấy trị số trung bình và đo ở ngày thứ 3 - 6 Thí nghiệm được lập lại 2 lần và lấy trị số bình quân làm đại diện cho thí nghiệm
Tốc độ nảy mầm của bào tử nấm được tính theo công thức:
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
L là chiều dài trung bình của sợi nấm sau thời gian t giờ
2.5.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của khuẩn lạc
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp của Both.C Dung dịch NaCL được pha với các nồng độ khác nhau trong bình hút ẩm tạo cho chúng
nghiệm được lặp lại 2 lần
2.5.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến tốc độ sinh trưởng phát triển của khuẩn lạc
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thí nghiệm được tiến hành trên môi trường dinh dưỡng PDA có độ pH khác nhau Môi trường lỏng nước khoai tây, đã đun sôi và lọc, cho vào 20g thạch và 4g đường D - glucoza, một lít môi trường cho đều vào 5 bình tam giác có dung tích 250 ml Dùng máy đo pH để xác định trị số pH của môi trường Dung dịch gốc có pH = 6,0; dùng HCL 10% để điều chỉnh các mức
pH của môi trường là: 4,0; 5,0 và NaOH để điều chỉnh pH môi trường theo các mức: 7,0; 8,0 Sau đó nút miệng bình tam giác bằng bông sạch và quấn giấy báo phía trên, môi trường được hấp khử trùng ở 1210C, áp suất 1 atm trong 30 phút Đổ mỗi môi trường có các mức pH khác nhau vào 3 hộp lồng
đã được khử trùng dày 2 - 3 mm Sau khi mặt thạch khô, đông cứng lại rồi tiến hành cấy vào chính giữa hộp lồng 1 điểm giống nhau đúng bằng que cấy Băng kín hộp lồng lại và để trong tủ định ôn có nhiệt độ 250C ± 1 Đo đường kính khuẩn lạc theo hai chiều vuông góc rồi lấy trị số trung bình, đo ở ngày thứ 3 - 7 Thí nghiệm được lặp lại 2 lần và lấy trị số đường kính khuẩn lạc bình quân làm đại diện cho thí nghiệm
Biện pháp kỹ thuật lâm sinh, biện pháp sinh học được đề xuất dựa trên các tài liệu tham khảo Schmitthenner, A.F and R.G Bhat 1994; Phytophthora Technical Group, 2006 [58], [52] và những kết quả nghiên cứu
về đặc điểm sinh học, sinh thái của vật gây bệnh
Biện pháp hóa học được đề xuất dựa trên thí nghiệm xác định loại thuốc đặc hiệu được tiến hành trong phòng thí nghiệm Dựa theo một số tài liệu
nghiên cứu về kiểm soát nấm Pythium bằng thuốc hóa học theo JJ
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bezuidenhout, JM Darvas &JC Toerien,1987 [47] và Coffey, M D & Joseph,
M C 1985 [42] Thử nghiệm trên 3 loại thuốc là: Agri-Fos 400; Phos-inject 200; Ridomil Nồng độ pha lần lượt như sau Agri-Fos 400 pha 2,5- 5ml/l; Phos-inject 200 pha 5-10ml/l; Ridomil pha 5g/l
Mỗi loại cấy trên 3 đĩa petri và có đĩa petri đối chứng Trước tiên đục một lỗ thạch có đường kính 1cm ở giữa hộp lồng, cấy nấm ở ba điểm góc hộp lồng tạo thành một tam giác Dùng pipét hút dịch thuốc đã pha theo đúng nồng độ cho vào lỗ đục, băng kín và để ở tủ định ôn ở nhiệt độ 25oC Sau 24 giờ; 48 giờ và 60 giờ kiểm tra và đo vòng kháng nấm của thuốc so với đối chứng
Phương pháp kiểm tra khả năng kháng nấm bằng cách đo khoảng cách
từ tâm đĩa petri cho đến đỉnh sinh trưởng của sợi nấm Khoảng cách càng lớn thì khả năng kháng nấm càng cao Làm cơ sở cho việc lựa chọn và sử dụng
thuốc phòng trừ
CHƯƠNG III KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có tọa độ địa lý từ 21o29’ ÷
22o42’ vĩ độ Bắc và 104o50’ ÷ 105o36’ kinh độ Đông
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Giang
- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên
- Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ
- Phía Đông Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái
Tổng diện tích đất tự nhiên là 586.732,71 ha
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Về đơn vị hành chính: tỉnh có 06 huyện và 01 thành phố với 129 xã, 07 phường và 05 thị trấn
Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và chia thành 3 vùng chính sau:
* Địa hình núi cao: Là vùng núi cao nằm ở phía Bắc tỉnh bao gồm toàn
bộ huyện Nà Hang, 11 xã vùng cao của huyện Chiêm Hoá, 2 xã vùng cao của huyện Hàm Yên và một phần phía Bắc của huyện Yên Sơn; Chiếm trên 50 % diện tích toàn tỉnh, độ dốc trung bình từ 20o 25o Độ cao trung bình khoảng
660 m, địa hình giảm dần từ Bắc xuống Nam Có một số ngọn núi cao trên 1.000m như: Cuối Toong cao 1.112m, Ta Pao cao 1.388 m, Chạm Chu cao 1.587 m Địa hình vùng núi cao, dốc không có khả năng trữ nước, thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp Ở một số nơi vùng núi đá vôi như: Na Hang, Bắc Chiêm Hoá, Sơn Dương có hiện tượng karst, cần thận trọng khi xây dựng các công trình cấp nước tránh hiện tượng thấm mất nước
* Địa hình vùng núi thấp: Gồm các xã của huyện Chiêm Hoá (trừ 11 xã
vùng cao), huyện Hàm Yên (trừ 2 xã vùng cao), một phần phía Nam huyện Yên Sơn và huyện Sơn Dương, chiếm khoảng 40% diện tích toàn tỉnh Địa hình phức tạp, có nhiều sông suối, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn Độ cao trung bình dưới 500 m, thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc thường từ
15o- 20o Địa hình đồi núi thấp có nhiều loại hình thuỷ tự nhiên có thể đắp
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ngăn các đồi nhỏ tạo thành hồ chứa nước nhân tạo phục vụ dân sinh, sản xuất nông nghiệp và phát triển nuôi trồng thuỷ sản
* Địa hình đồi và thung lũng (dọc sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy):
Vùng đồi trung du nằm ở phần giữa tỉnh, gồm thị xã Tuyên Quang, phần còn lại của huyện Yên Sơn và Sơn Dương; có diện tích nhỏ, chiếm khoảng 10% diện tích toàn tỉnh Vùng này có những cánh đồng tương đối rộng, bằng phẳng, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Địa hình thung lũng phân bố dọc theo các con sông, tạo thành các bãi bồi thuận lợi cho việc trồng cây nông nghiệp và hoa màu, tuy nhiên kiểu địa hình này thường bị ngập nước vào mùa mưa lũ
Tuyên Quang nằm khoảng giữa miền núi cao với vùng trung du nên so với các tỉnh lân cận về phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang thì độ dốc tương đối nhỏ hơn Tuy nhiên với địa hình đồi núi dốc có ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng và phân bố dân cư Ngoài ra địa hình đồi núi dốc còn làm gia tăng quá trình xói mòn đất, làm đất trống bạc màu nhanh chóng, gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông - lâm nghiệp
3.1.3 Đặc điểm khí tượng, thủy văn
3.1.3.1 Khí hậu
Mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á Trung Hoa có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh - khô hạn và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều; mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 và thường gây
ra lũ lụt, lũ quét Các hiện tượng như mưa đá, gió lốc thường xảy ra trong mùa mưa bão với lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.500 - 1.700 mm
Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 220 - 240C Cao nhất trung bình 330 -
350C, thấp nhất trung bình từ 120 - 130 C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch), hay có sương muối
3.1.3.2 Đặc điểm thủy văn
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Các sông chính chảy qua đất Tuyên Quang gồm có: sông Lô, sông Gâm
và phần thượng nguồn sông Phó Đáy
a Sông Lô: Bắt nguồn từ Trung Quốc vào Việt Nam nhập vào sông
Hồng ở Việt Trì, dài 470 km (phần Việt Nam 275 km), sông Lô có nhiều nhánh sông lớn hình rẻ quạt, có diện tích lưu vực là 39.000 km2 (Việt Nam 22.600 km2) cùng với các sông nhánh lớn như sông Gâm, sông Chảy và sông Phó Đáy Đoạn sông Lô chảy trên địa phận tỉnh Tuyên Quang dài 145 Km với diện tích lưu vực khoảng 2.090 km2, bao gồm cả trung và hạ lưu sông
b Sông Gâm: Là phụ lưu cấp I lớn nhất của lưu vực sông Lô, chiếm
khoảng 44,1% diện tích của toàn bộ lưu vực sông Lô Sông Gâm dài 297 km (Phần Việt Nam 217 km), diện tích lưu vực là 17.200 km2 Đoạn sông Gâm chảy trong tỉnh dài 109km với diện tích lưu vực 2.870 km2, chảy theo hướng Bắc Nam, hợp lưu với sông Lô ở ngã ba Lô - Gâm phía trên thị xã Tuyên Quang khoảng 10 km
c Sông Phó Đáy: Là phụ lưu cuối cùng đổ vào sông Lô ở gần cửa sông
Tổng diện tích toàn lưu vực 1610 km2, tương ứng với chiều dài 170km Đoạn chảy trên đất Tuyên Quang dài 84 km với diện tích lưu vực khoảng 800 km2 Sông chảy theo hướng Bắc Nam qua vùng mưa ít nên dòng chảy không dồi dào như sông Lô, sông Gâm Sông Phó Đáy có lòng sông hẹp, nông, khả năng vận tải thuỷ rất hạn chế
Ngoài các sông chính trên, trong tỉnh còn có nhiều sông suối nhỏ chằng chịt có độ dốc lớn có khả năng khai thác thuỷ năng cho tỉnh
3.1.4 Địa chất thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra trước đây và kết quả nghiên cứu từ bản đồ đất tỷ
lệ 1/100.000 tháng 11/2001, Tuyên Quang có 7 nhóm đất sau:
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 15.945 ha, chiếm 2,72% DTTN, trong đó
có các loại đất:
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Diện tích 1.380 ha, chủ yếu
phân bố dọc các sông lớn (sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy) trên địa bàn các huyện Sơn Dương, Yên Sơn và Hàm Yên Đất thường bị ngập vào mùa mưa lũ; mùa khô không được tưới nên hàng năm chỉ gieo trồng các cây màu ngắn ngày như ngô, lạc, đậu, đỗ, năng suất đạt ở mức trung bình
+ Đất phù sa không được bồi (P): Diện tích 3.310 ha, có nhiều ở các
huyện Sơn Dương và Chiêm Hoá, phân bố ở địa hình cao hơn so với đất phù
sa được bồi hàng năm Phần l ớn trên đất này đã được trồng cây ngắn ngày như lúa, hoa màu nhưng năng suất thấp
+ Đất phù sa có tầng loang l ổ đỏ vàng (Pf): Diện tích 685 ha, phân bố
chủ yếu ở 2 huyện Yên Sơn và Sơn Dương nơi địa hình cao, thiếu nước Do điều kiện tưới khó khăn đất này thường chỉ được cấy 1 vụ lúa mùa
+ Đất phù sa ngòi suối (Py): Diện tích 9.940 ha, phân bố rải rác ở các
huyện nhưng nhiều nhất ở huyện Chiêm Hoá Phần lớn loại đất này được sử dụng trồng 1 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa, năng suất trung bình thấp
+ Đất phù sa Glây (Pg): Diện tích 630 ha, phân bố chủ yếu ở TX
Tuyên Quang nơi địa hình thấp, khó thoát nước
- Nhóm đất dốc tụ
+ Đất thung lũng do sản phẩm d ốc tụ (D): Diện tích 7.125 ha, chiếm
1,21% DTTN, có nhiều ở huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên ở các thung lũng thấp giữa các dãy núi Đất thường được sử dụng trồng lúa và các cây trồng ngắn ngày khác, năng suất trung bình khá
- Nhóm đất bạc màu
+ Đất xám bạc màu (Ba): Diện tích 3.570 ha chiếm 0,61% DTTN,
phân bố rải rác ở các huyện Yên Sơn, Chiêm Hoá và Sơn Dương, thường được sử dụng trồng một vụ lúa hoặc chuyên màu, năng suất thấp
- Nhóm đất đen
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Đất đen do bồi tụ cacbonát (Rdv): Diện tích 280 ha chiếm 0,05%
DTTN, phân bố rải rác ở Sơn Dương, Chiêm Hoá, Nà Hang Đất này có thành phần cơ giới thịt nặng, chua, cần cải tạo bổ sung lân và kali
- Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích 397.535 ha chiếm 67,75% diện tích tự
nhiên, gồm các loại đất:
+ Đất nâu đỏ trên đá vôi (Fv): Diện tích 3.862 ha, phân bố chủ yếu ở
huyện Sơn Dương, Yên Sơn và một ít ở huyện Chiêm Hoá xen kẽ giữa các dãy núi đá vôi Tầng đất dày khá tơi xốp, thường có thành phần cơ gi ới thịt trung bình đến sét, hàm lượng dinh dưỡng cao và cân đối, thích hợp với nhiều loại cây trồng dài ngày
+ Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Fs): Diện tích 390.661 ha,
phân bố rộng khắp các huyện trong tỉnh Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày (chè) và cây ăn quả, vùng đồi núi dốc trên 250 cần bảo vệ rừng và trồng rừng là chính Đất này cũng có ý nghĩa sử dụng lớn trong nhiều lĩnh vực khác
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl): Diện tích 3.012 ha, phân
bố rải rác ở các huyện nhưng nhiều nhất ở huyện Chiêm Hoá Đất thường ở địa hình bậc thang thấp sát chân núi, thoát nước tốt nhưng dễ bị hạn Loại đất này thường cấy 1 vụ lúa hoặc một vụ lúa 1 vụ màu cho năng suất thấp
- Nhóm đất vàng đỏ: Diện tích 101.670 ha, chiếm 17,33% DTTN
+ Đất đỏ vàng trên đá granít (Fa): Diện tích 25.158 ha, phân bố ở các
huyện Sơn Dương, Hàm Yên, Yên Sơn Đất có địa hình đồi dốc lớn, chia cắt xen kẽ với các đồi đá cát và phiến sét, khả năng khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế
+ Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Diện tích 69.731 ha, tập trung ở các
huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn Đất này có địa hình, độ dốc biến động, đất
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thường khô hạn, chặt rắn Trên loại đất này phần l ớn còn rừng, nơi độ dốc <
250 có thể khai thác trồng cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Diện tích 6.781 ha, phân bố rải rác
ở tất cả các huyện Đất có địa hình thấp thoải, có nhiều cuội sỏi cục lớn kích thước từ 1 - 6 cm ở độ sâu dưới 50 cm Loại đất này thường được sử dụng trồng các loại cây như chè, cây ăn quả, mía, nhưng do dễ b ị mất nước nên đất chặt rắn
- Nhóm đất vàng đỏ tích mùn: Diện tích 36.285 ha chiếm 6,18% DTTN
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá sét và đá biến chất (Hs): Diện tích 26.969
ha, phân bố chủ yếu ở địa bàn núi cao huyện Nà Hang Trên đất này phần lớn còn thảm thực vật rừng
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá granít (Ha): Diện tích 3.309 ha, phân bố
chủ yếu ở huyện Sơn Dương (khu vực núi Tam Đảo), có độ dốc từ 250 trở lên Loại đất này chủ yếu sử dụng vào mục đích lâm nghiệp
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá cát (Hq): Diện tích 6.007 ha, phân bố chủ
yếu ở huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên (khu vực núi Chạm Chu), độ dốc từ 250 trở lên do vậy chủ yếu cũng chỉ dùng vào lâm nghiệp
3.1.5 Tài nguyên khoáng sản
Theo tài liệu của Đoàn Địa chất 109, Liên đoàn Bản đồ 207 công bố năm 1994 - 1995 và tài liệu của các Bộ, ngành hữu quan, Tuyên Quang có khoảng trên 200 mỏ và điểm mỏ khoáng sản khác nhau: Sắt (Yên sơn, Hàm Yên), Thiếc (Sơn Dương), Barit (Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá), Mangan (Chiêm Hoá, Nà Hang), Antimoan (Chiêm Hoá, Nà Hang, Yên Sơn), Cao Lanh (Sơn Dương, Yên Sơn), đá vôi, đất Sét,
Ngoài các loại khoáng sản trên, Tuyên Quang còn nhiều loại khoáng sản khác như vonfram, pirit, kẽm, chì, sét chịu lửa, nước khoáng, vàng, cát, sỏi, Những loại này có trữ lượng nhỏ, nằm rải rác nhưng cũng đang được khai thác sử dụng ở nhiều điểm