1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011

91 604 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀCùng với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại khu vực nông nghiệp nôngthôn các tỉnh vùng Đồng bằng Bắc bộ thì rác thải sinh hoạt trong các hộ giađình sản xuất nông nghiệp và rơm r

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại khu vực nông nghiệp nôngthôn các tỉnh vùng Đồng bằng Bắc bộ thì rác thải sinh hoạt trong các hộ giađình sản xuất nông nghiệp và rơm rạ, phần loại bỏ của các loại cây trồng…hiện nay đang là một vấn đề nổi cộm, khó thực hiện trong quá trình thu gom,phân loại và xử lý [1], [2]

Rơm rạ trước đây được sử dụng chủ yếu làm nguồn chất đốt, nguồnthức ăn cho gia súc tại các hộ gia đình Đối với rác thải sinh hoạt thường đượcđốt, chôn lấp tại vườn nhà hoặc bổ sung vào chuồng gia súc để làm phânxanh Tuy nhiên, điều kiện kinh tế hộ gia đình nông thôn hiện nay đã được cảithiện đáng kể dẫn đến các hình thức sử dụng chất đốt trong các hộ gia đìnhnông thôn cũng thay đổi từ nguồn chất đốt là rơm rạ, phụ phẩm nôngnghiệp…sang nguồn điện, ga hoặc các loại than [7], [8]

Việc thay đổi hình thức sử dụng nguyên liệu làm chất đốt, thay đổi môhình trồng trọt từ việc sử dụng chủ yếu các nguồn phân bón là phân bắc vàphân xanh sang phụ thuộc chính vào nguồn phân bón tổng hợp là phân đạm,phân lân…điều này gây lãng phí đáng kể nguồn nguyên liệu chính cung cấpthành phần các-bon tham gia tổng hợp phân bón hữu cơ có trong rơm rạ vàcác loại cây nông nghiệp, chi phí sản xuất trong trồng trọt tăng cao do ngườidân phải mua phân bón hóa học và thuốc trừ sâu [8], [9]

Nguồn rơm rạ gần đây thường bị đốt bỏ với số lượng lớn sau các vụ thuhoạch tại hầu hết các địa phương Mặt khác, hoạt động đốt bỏ rơm rạ gây rahàng loạt các ảnh hưởng trực tiếp đến người dân như các bệnh đường hô hấp,các bệnh ngoài da và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Ngoài ra việc đốtrơm rạ còn gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh và các khu vực lâncận, ảnh hưởng đến giao thông công cộng, tăng nhiệt độ không khí cục bộ,tăng lượng khói bụi và hơi khí độc trong không khí, gây nguy hiểm cho hệthống đường điện…[5], [7]

Rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn chưa được xử lý ngày càng tăng,hầu hết rác thải sinh hoạt mới chỉ được thu gom, tập kết để chôn lấp Tuy nhiên,quĩ đất dành để làm bãi rác chôn lấp hầu như bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa

Trang 2

nông thôn Số lượng rác thải sinh hoạt chưa được xử lý ngày càng tăng đã gây ônhiễm môi trường không khí với mùi hôi thối và hơi khí độc kèm theo nước rỉrác chứa nhiều mầm bệnh phát tán ra môi trường xung quanh Các bãi rác lộthiên tạo điều kiện cho ruồi nhặng, chuột phát triển [10], [30]

Nhiều bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu khoa học cũng chothấy tình trạng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom, phân loại và chưa được xử

lý chiếm tỷ lệ cao Ví dụ tại Hà Nội cũng có đến 47,5% loại chất thải sinh hoạtkhông được thu gom và xử lí kịp thời [25] Theo nghiên cứu của Phạm Thị Hòa

và cs, có tới trên 54% các hộ gia đình tại nông thôn huyện Chi Linh vứt rác bừabãi [12] Nghiên cứu tại 3 tỉnh đồng bằng sông Hồng của Viện Chiến lược vàchính sách Y tế có khoảng 60% hộ gia đình chỉ có nơi thu gom nhưng khôngphân loại rác và xử lí chủ yếu là chôn lấp [40] Theo nghiên cứu của Mai ThếHưng năm 2010 cũng cho thấy lượng rác thải tại 2 phường của Thành phố TháiBình chủ yếu là rác thải hữu cơ (69,0%) hầu như chỉ được thu gom không quaphân loại và xử lý [16], [43]

Mặt khác cùng với thực trạng ô nhiễm môi trường do đốt rơm rạ trongtrồng trọt nên nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu các chế phẩm sinh học có tácdụng phân hủy nhanh rác, rơm rạ, lá cây, dây dưa, bí, đậu, bèo… và phân giasúc, gia cầm thành nguồn phân bón vi sinh Bước đầu một số mô hình được đánhgiá là có hiệu quả cao với mô hình đơn giản, chi phí thấp, dễ thực hiện tại hộ giađình nông dân tại một số xã thuộc các tỉnh Hải Dương, Nam Định, Phú Thọ,Yên Bái, Huế…[18], [46]

Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm EMIC-YTB tại 3 xã, Tiền Hải, Thái Bình năm 2011”

với các mục tiêu sau:

1 Đánh giá nhận thức, thái độ, thực hành của người dân về việc xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm EMIC-YTB tại 3 xã của huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình năm 2011.

2 Đánh giá sự huy động cộng đồng trong việc xây dựng mô hình xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm sinh học làm phân bón vi sinh.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Nguồn gốc rác thải

* Rác thải là gì? Rác thải là sản phẩm loại bỏ được thải ra trong quá

trình hoạt động, sản xuất, chế biến của con người [19]

Rác thải có nhiều nguồn khác nhau: Rác thải sinh hoạt; rơm rạ, rác thải

đô thị; rác thải do quá trình sản xuất, rác thải từ các nhà máy công nghiệp

Việt Nam là nước nông nghiệp có nguồn rác thải sau thu hoạch rất lớn,rất đa dạng Trên đồng ruộng hàng năm để lại hàng triệu tấn rác thải là rơm rạ,lõi ngô, cây sắn, thân lá thực vật ngoài ra còn có tới hàng triệu tấn rác thảisinh hoạt Ngành sản xuất đường mía đã để lại hàng chục vạn tấn bã mía, mùnmía và tàn dư rác thải từ sản xuất, chế biến mía ra đường Ngành công nghiệpchế biến xuất khẩu cà phê đã thải ra môi trường hơn 20 vạn tấn vỏ/năm tất

cả nguồn rác thải này một phần bị đốt, còn lại trở thành rác thải, rác thải gây ônhiễm nghiêm trọng môi trường và nguồn nước, trong khi đất đai lại thiếutrầm trọng nguồn dinh dưỡng cho cây và hàng năm chúng ta phải bỏ ra hàngtriệu đôla để mua phân hoá học ở nước ngoài [33]

Rác thải được xếp thành 3 nhóm sau:

- Rác thải hữu cơ

- Rác thải rắn

- Rác thải lỏng

* Các nguồn phát sinh ra rác thải

- Từ các khu dân cư (nhà riêng, nhà tập thể, nhà cao tầng, khu tập thể)gồm: Rác thực phẩm, giấy thải, các loại chất thải khác

- Từ các trung tâm thương mại (nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, các cơ

sở buôn bán, sửa chữa…): Rác thực phẩm, giấy thải, các loại chất thải khác

Trang 4

- Từ các công sở, trường học, khu công nghiệp, xây dựng (các nhà máy,

xí nghiệp, các công trình xây dựng…): Rác thực phẩm, xỉ than, giấy thải, vải,

đồ nhựa, chất thải độc hại

- Từ các khu trống (công viên, đường phố, xa lộ, sân chơi, bãi tắm, khugiải trí…): Các loại chất thải bình thường

- Từ các hoạt động nông nghiệp (Đồng ruộng, vườn ao, chuồng trại…):Phân, rác, rơm rạ, thức ăn, chất thải nguy hiểm

- Từ các khu vực xử lý chất thải (từ các quá trình xử lý nước thải, xử lýcông nghiệp): Các chất thải, chủ yếu là bùn, cát đất…

Nhờ việc đánh giá tìm hiểu các nguồn phát sinh ra rác thải, góp phần choviệc ứng dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật giảm thiểu ảnh hưởng của rácthải đến môi trường không khí [21]

1.2 Phân loại rác thải

1.2.1 Theo quan điểm thông thường

- Rác thực phẩm: bao gồm phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trongkhâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn…

- Chất rắn thải bỏ: bao gồm các chất thải cháy và không cháy sinh ra từcác hộ gia đình, công sở, hoạt động thương mại…

- Tro, xỉ: vật chất còn lại trong quá trình đốt than, củi, rơm rạ, lá…ở cácgia đình, nhà hàng, công sở, nhà máy, xí nghiệp…

- Rác thải xây dựng: rác từ các công trình xây dựng đã cũ nát, hư hỏnggọi là rác đổ vỡ, còn rác từ các công trình xây dựng, sửa chữa nhà cửa…là rácxây dựng

- Rác thải đặc biệt: Là các loại rác được thu gom từ đường phố, rác từcác thùng rác công cộng, xác động vật, phần vật liệu xây dựng bỏ đi…

- Rác thải nông nghiệp: vật chất loại bỏ từ các hoạt động nông nghiệpnhư gốc rơm rạ, cây trồng, chăn nuôi…[13]

Trang 5

Thông thường người ta phân chia rác thải thành 3 loại: rác thải rắn phát sinh

từ sinh hoạt của các hộ gia đình được gọi là rác sinh hoạt, rác thải Y tế phát sinh

từ các cơ sở Y tế và rác thải công nghiệp

1.2.2 Theo công nghệ quản lý, xử lý

Ngày nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong từng lĩnh vực thực tế đãgóp phần giảm thiểu chi phí cho các công đoạn thừa trong các quá trình xử lý.Việc phân chia rác thải rắn theo công nghệ quản lý xử lý là một bước tiến quantrọng, giúp hiệu quả của quy trình xử lý tăng lên, giảm thiểu lượng ô nhiễm

- Các chất cháy được: Giấy, hàng dệt, rác thải, cỏ, gỗ, củi, rơm rạ, chấtdẻo, da và cao su: Các túi giấy, các mảnh bìa, giấy vệ sinh, vải, len, bì tải, bìnilon, các cọng rau, vỏ quả, thân cây, lõi ngô, đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế,thang, giường, đồ chơi, vỏ dừa, phim cuộn, túi chất dẻo, chai, lọ chất dẻo, cácđầu vòi bằng chất dẻo, dây bện, bì nilon, bóng, giầy, ví, băng cao su…

- Các chất không cháy được: Các kim loại sắt, các kim loại không phải

là sắt, thủy tinh, đá và sành sứ: Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ, vỏhộp nhôm, giấy bao gói, đồ đựng, chai lọ, đồ đựng bằng thủy tinh, bóng đèn,

vỏ trai, xương, gạch, đá gốm…

- Các chất hỗn hợpg gồm tất cả các chất rắn có nguồn gốc vô cơ hoặchữu cơ [2], [10]

1.3 Tác hại của rác thải

1.3.1 Ảnh hưởng của rác thải đối với sức khỏe cộng đồng

Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm,gây dịch nguy hiểm do môi trường đang bị ô nhiễm

Ô nhiễm môi trường ở nước ta đã gia tăng tới mức độ ảnh hưởng tớisức khoẻ người dân Ngày càng có nhiều vấn đề về sức khoẻ liên quan tới yếu

tố môi trường bị ô nhiễm

Trang 6

Theo đánh giá của chuyên gia, chất thải rắn đã ảnh hưởng rất lớn đếnsức khoẻ cộng đồng; nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu vực làng nghề,khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm chất thảirắn đến mức báo động.

Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy,dịch tả, thương hàn…do chất thải rắn gây ra [6]

Đội ngũ lao động của các đơn vị làm vệ sinh đô thị phải làm việc trongđiều kiện nặng nhọc, ô nhiễm nặng, cụ thể: nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩncho phép từ 1,5 đến 1,9 lần, khí độc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 0,5 đến 0,9lần, các loại vi trùng, siêu vi trùng, nhất là trứng giun, trực tiếp ảnh hưởng đếnsức khoẻ của họ [13]

1.3.2 Rác thải làm giảm mỹ quan đô thị

Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý thì

sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Nguyên nhân là do ý thức của người dân chưacao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh hởvẫn còn phổ biến ở vùng nông thôn hiện nay gây ô nhiễm nguồn nước vàngập úng khi trời mưa

Nếu việc thu gom và vận chuyển rác thải không hết sẽ dẫn đến tình trạngtồn đọng chất thải trong các đô thị, làm mất mỹ quan, gây cảm giác khó chịucho cả dân cư trong đô thị

Không thu hồi và tái chế được các thành phần có ích trong rác thải, gây

ra sự lãng phí về của cải, vật chất cho xã hội [21]

1.3.3 Rác thải làm ô nhiễm môi trường

Rác thải đổ bừa bãi xuống cống rãnh, ao, hồ, kênh, rạch…làm quá tảithêm hệ thống thoát nước khu dân cư, là nguồn gây ô nhiễm cho nguồn nướcmặt và nước ngầm Khi có mưa lớn sẽ gây ô nhiễm trên diện rộng đối với cácvùng bị ngập úng

Trang 7

Trong môi trường khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, rácthải bị thối rữa nhanh gây ra mùi hôi thối khó chịu và là nguyên nhân gây rabệnh dịch, nhất là đối với rác thải độc hại, rác thải bệnh viện.

Các bãi rác không hợp vệ sinh là các nguồn gây ô nhiễm nặng cho cả đất,nước và không khí [22]

1.4 Tình hình thu gom, phân loại và vận chuyển, xử lý rác thải trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có 3 phương pháp xử lý rác được sử dụng phổbiến nhất là chôn lấp hợp vệ sinh, đốt và chế biến thành phân bón sinh học.Phương pháp chôn lấp đòi hỏi phải có những khu đất rộng, đồng thời chi phícho việc thu gom và xử lý nước từ các bãi rác này cũng rất tốn kém Phươngpháp đốt rác tuy không đòi hỏi nhiều diện tích nhưng lại nảy sinh rất nhiềuvấn đề khác như: các loại rác hữu cơ rất khó đốt và rất tốn kém, quá trình đốtlại sinh ra nhiều khói trong đó có thể có cả Dioxin và tro do quá trình đốt cầnđược chôn lấp hoặc xử lý tiếp theo [54]

Một phương pháp xử lý rác hiện nay đang được khuyến khích là xử lýrác thành phân bón hữu cơ để tái sử dụng trong nông nghiệp Ưu điểm chínhcủa phương pháp này là sử dụng vi sinh vật thúc đẩy quá trình phân huỷ ráchay sử dụng các loài sinh vật khác như giun đất để xử lý rác và điều này thểhiện tính bền vững thông qua việc chuyển đổi các chất hữu cơ bằng phươngthức sinh học giúp cho chu trình vật chất được tuần hoàn như nó cần phải có

Sử dụng giun đất để xử lý rác hữu cơ sẽ không tạo ra một nguy cơ ô nhiễmmới Phương pháp này lại rất đơn giản, dễ vận hành và duy trì, không cần mộtthiết bị phức tạp nào, lại có thể áp dụng ở nhiều mức độ khác nhau từ quy môgia đình đến các bãi xử lý lớn [4]

Trang 8

Tại Mỹ, rác được phân chia thành hai loại: rác hữu cơ sẽ được xaynghiền làm phân bón, còn rác vô cơ được đưa đi chôn lấp Khi chôn lấp người

ta lót phía dưới một lớp chống thấm, khi đầy lại phủ một lớp chống thấm rồi

đổ một lớp đất mầu lên để trồng cây Ưu điểm của phương pháp này là khônggây ô nhiễm môi trường, nước thải từ bãi rác được thu gom và xử lý

Tại các nước châu Á, điển hình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ởnơi công cộng người ta dùng các thùng chia làm 4 ngăn để thu gom rác theo 4loại: chai lọ thuỷ tinh, vỏ đồ hộp, giấy bỏ và các loại rau, cỏ, thực phẩm thừa.Các phương tiện sẽ thu gom từng loại và chuyển đến nơi tái chế hoặc xử lý Rácthải hữu cơ được sản xuất thành phân bón hoặc chôn lấp an toàn [43], [53]

1.4.2 Tình hình phân loại, thu gom, xử lý rác thải ở Việt Nam

Nghiên cứu xử lý rác thải tạo nguồn phân bón thích hợp phục vụ nôngnghiệp của tác giả Lý Kim Bảng và cộng sự đã thành công trong việc tuyển chọncác chủng vi sinh vật có hoạt tính cao và tìm điều kiện lên men thích hợp để rútngắn thời gian phân huỷ rác, tạo lượng mùn có giá trị dinh dưỡng cao

Nghiên cứu của Trường Đại học Dân lập Hồng Bàng Tp Hồ Chí Minhcũng đã ứng dụng thành công men vi sinh và công nghệ xử lý 1 tấn rác thành 500

kg phân hữu cơ sau 2 tháng bằng vi sinh, không gây ô nhiễm môi trường [42]

Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu thànhcông việc sử dụng sâu non của ruồi Lính đen để phân huỷ rác Mỗi tấn rácsinh hoạt sau khi xử lý sẽ cho 200 kg phân hữu cơ và 200 kg sâu non dùnglàm thức ăn cho gia cầm

Vụ Y tế Dự phòng và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cũng đãphối hợp nghiên cứu sử dụng giun đất để xử lý rác thải hữu cơ hộ gia đình.Kết quả là rác đã được giun phân huỷ thành chất mùn hữu cơ có giá trị dinhdưỡng cao để bón cho cây trồng, đặc biệt là cây cảnh [23]

Trang 9

1.4.3 Quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn Việt Nam

Khu vực nông thôn, chất thải rắn sinh hoạt chưa được quản lý tốt, nhìnchung mang tính chất tự phát và chủ yếu là các hộ gia đình phải tự giải quyết.Kinh phí đầu tư của nhà nước hầu như chưa có Một số chương trình đầu tưvào quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt tại vùng nông thôn chủ yếu tập trungcho cải thiện số lượng và chất lượng nhà tiêu, tập trung vào giải quyết quản lýphân người Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cũngtập trung vào vấn đề cấp nước sạch Đối với chất thải rắn hộ gia đình nôngthôn, chương trình chủ yếu là tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức vàhướng dẫn một số kỹ thuật để người dân tự cải thiện điều kiện vệ sinh hộ giađình, vệ sinh khuôn viên nhà, sân vườn, chuồng gia súc [38] Một số mô hình

xử lý rác sinh hoạt nông thôn của các tổ chức Quốc tế như UNICEF đượctriển khai như xây thùng rác tại khu vực tập kết trung chuyển dọc đường trongxóm làng, nhưng tính bền vững chưa cao do vệ sinh của các khu vực tập kếtrác lâm thời kém, nhiều ruồi, chuột bọ và nhất là mùi hôi thối nên các giađình cận kề rất phản đối, dẫn tới nhiều thùng rác như vậy bị bỏ hoang [34]

Đối với khu vực nông thôn đô thị hoá, có một số tiến bộ trong quản lý

và tiêu huỷ rác sinh hoạt như:

- Việc thành lập tổ tự quản (tổ môi trường tự quản) để thu gom và xử lýrác sinh hoạt Chi phí cho hoạt động này chủ yếu là do người dân trả

- Chính quyền xã, thôn xóm đã quy hoạch khu vực để tập kết rác sinhhoat tập trung, xa nhà dân ở các địa điểm canh tác ít hiệu quả

- Nhiều người dân đã tự nguyện chi trả tiền cho dịch vụ thu gom rác và

Trang 10

thị, nơi mà các công ty môi trường đô thị chưa với tới, đất đai lại chật hẹp,không có chỗ để chôn lấp rác Ở những khu vực này, hầu như chưa có cácbiện pháp tổ chức xử lý rác hữu hiệu khiến cho nguy cơ ô nhiễm môi trườngngày càng cao [27]

Do đó, để giải quyết tốt vấn đề rác thải sinh hoạt, cần phải có sự thamgia tích cực của cộng đồng

Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường và các văn bảndưới luật để hướng dẫn triển khai thực hiện Tuy nhiên, vấn đề thu gom rác,rơm rạ vẫn còn nhiều khó khăn và vướng mắc Công tác thu gom rác thải,rơm rạ tại các khu dân cư nông thôn đã được Nhà nước quan tâm nhưng việc

tổ chức và đầu tư chưa đồng bộ Tại các thôn, xóm đã tổ chức được mạng lưới

xe và nhân công thu gom rác, rơm rạ theo ngày giờ quy định, nhưng lại chưa

tổ chức tốt việc giáo dục và quy định cho người dân đổ rác vào thùng, vào xerác Vì vậy, người dân vẫn đổ rác ra đường, ra cống rãnh vào bất kỳ lúc nào,gây mất vệ sinh cảnh quan đường phố Các cơ quan chức năng và các tổ chức

xã hội chưa phối hợp chặt chẽ trong công tác giáo dục truyền thông nâng cao

ý thức bảo vệ môi trường sinh hoạt, vì vậy ý thức thu gom rác thải, rơm rạ saumùa gặt của người dân rất kém, đặc biệt là ở các khu dân cư nông thôn thìviệc tổ chức thu gom rác, rơm rạ còn nhiều bất cập Nhiều nơi không cóphương tiện vận chuyển rác đi đến bãi chôn rác lớn

Công tác phân loại rác thải sinh hoạt, trong đó phân loại rác thải hữu cơtại nguồn để xử lý thành phân hữu cơ vi sinh chưa được chú ý Hiện nay Nhànước và một số công ty thu gom rác thải, rơm rạ mới chỉ chú trọng thu gomrác, rơm rạ đến bãi chôn lấp, hoặc đến các nhà máy để tái chế rác song khôngphân loại, tách rác tại nguồn

Việc truyền thông, giáo dục trong cộng đồng dân cư đối với công tácthu gom rác, rơm rạ trong thôn, xóm đã có xong vẫn chưa chú ý đến vấn đề

Trang 11

phân loại rác, rơm rạ tại nguồn Người dân chưa có ý thức và thói quen giữ vệsinh công cộng bằng việc đổ, vứt rác, rơm rạ đúng lúc, đúng chỗ Đây có lẽ làvấn đề tồn tại và khó khăn nhất trong công tác giải quyết rác thải, rơm rạ, bảo

vệ môi trường sống vùng nông thôn

1.5 Một số kỹ thuật thông thường xử lý rác thải sinh hoạt

1.5.1 Chôn lấp

Công nghệ chôn lấp là tập trung chất thải và chôn trong đất tự nhiên đểchất thải tự tiêu huỷ theo thời gian Công nghệ này dựa trên hiện tượng tự làmsạch của đất do quá trình phân huỷ sinh học bởi các vi khuẩn lên men và phânhuỷ kỵ khí hay ái khí

Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành rẻ vàcho tới hiện nay chôn lấp vẫn đảm nhận xử lý khoảng 50% chất thải rắn sinhhoạt ở các nước phát triển Đối với các nước đang phát triển hay ở các nướcnghèo, xử lý chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu là áp dụng công nghệ chôn lấpthậm chí chỉ là biện pháp chôn lấp tự nhiên [34], [41]

1.5.2 Công nghệ Compost

Bản chất của công nghệ Compost là xử lý chất thải rắn sinh hoạt chứanhiều chất hữu cơ nhờ sự phân huỷ của các vi khuẩn phân huỷ trong điều kiệntối ưu hoá nhờ bảo đảm chất phụ gia, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm giúp cho vikhuẩn nhân lên và phát triển với tốc độ rất nhanh, theo đó vi khuẩn sử dụngrất nhanh lượng cơ chất có trong chất thải, phân huỷ chúng và biến chất thảihữu cơ trở thành chất mùn được gọi là phân vi sinh

Ưu điểm của phương pháp này là rất thân thiện với môi trường, đưachất thải trở về chu trình sinh thái và an toàn cho sức khoẻ của người cùngmôi trường Công nghệ này ít gây ô nhiễm thứ cấp, sản phẩm của nó là phân

vi sinh giúp cải thiện màu mỡ cho cây trồng Hiện nay đã có nhiều nhà máy

Trang 12

sản xuất phân vi sinh áp dụng công nghệ này, thường các dây chuyềnCompost được gắn liền với các bãi chôn lấp rác để tận dụng mặt bằng, hệthống cơ sở hạ tầng, và nguồn nguyên liệu cho dây chuyền hoạt động

Nhược điểm của công nghệ này tuy không nhiều nhưng cơ bản nhất làchỉ có chất thải dễ phân huỷ như các chất hữu cơ từ thức ăn thừa, chất thải bỏcủa thực phẩm mới có thể áp dụng Compost Một số dây chuyền Compost tạiViệt Nam, phải tự phân loại để tách rác hữu cơ từ trong rác sinh hoạt nóichung làm cho tăng chi phí xử lý và công nhân làm trong dây chuyền phânloại rác bị phơi nhiễm nhiều yếu tố bất lợi như nguồn lây nhiễm, mùi hôi, vậtsắc nhọn, côn trùng…[15], [20]

1.5.3 Phương pháp đốt

Phương pháp đốt có nhiều ưu thế như tiêu huỷ triệt để tác nhân lâynhiễm, giảm thiểu tối đa số lượng và đáp ứng yêu cầu về thời gian, ngược lạiphương pháp này lại có chi phí đắt, nguy cơ ô nhiễm thứ cấp do khí thải lòđốt do vậy hiện cũng còn có nhiều tranh cãi

Ngoài ra hiện nay người ta còn áp dụng nhiều công nghệ hiện đại để xử

lý chất thải rắn, tuy nhiên ở Việt Nam còn ít được áp dụng vì chi phí cao như:

xử lý hoá học, xử lý nhiệt khô và ướt, kỹ thuật vi sóng, nhốt chất thải…[23]

Chất thải rắn nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng đang là áplực, gánh nặng đối với ô nhiễm môi trường, gánh nặng tài nguyên và gánhnặng kinh tế cho hầu hết các quốc gia trên thế giới Việt Nam cũng trong tìnhtrạng như các nước đang phát triển, phải đối mặt với vấn đề chất thải rắn sinhhoạt, nhất là các khu vực đô thị, khu vực dân cư đô thị hoá [28]

Đối với khu vực nông thôn, nơi chưa có nhà cung cấp dịch vụ, nhưng

do áp lực tăng dân số, do đô thị hoá và do mức phát thải chất thải rắn sinhhoạt đang tăng lên, đòi hỏi phải có giải pháp thích hợp để quản lý và xử lýhiệu quả chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn đô thị hoá [31], [43]

Trang 13

1.5.4 Sử dụng giun đất để xử lý rác hữu cơ

Giun đất có mặt trong tất cả các loại đất trừ đất sa mạc, đất rất chuahoặc đất rất mặn Sinh khối của giun đất có thể thay đổi từ một vài trăm kg/hatrong rừng đến vài tấn/ha trong các bãi chăn thả gia súc ẩm ướt

Việc nghiên cứu vai trò của sinh vật trong đất trước hết là giun đất và cácđộng vật chân đốt trong phân huỷ chất thải hữu cơ đã được bắt đầu từ nhữngnăm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX Giun và các động vật trong đất đã góp phầntích cực trong việc phân huỷ lá cây rừng tạo nên mùn Các nhà khoa học đã xácđịnh được rằng trên trái đất có khoảng 44.000 loài giun đất, trong đó hàng trămloài có thể ứng dụng để xử lý rác và giun Quế, một loài giun khá phổ biến ởnước ta cũng thuộc nhóm này [23], [24]

1.5.5 Chế phẩm sinh học xử lý rác thải hữu cơ, rác thải nông nghiệp

Trong những năm gần đây, công nghệ sinh học là một trong nhữngngành công nghiệp phát triển nhanh nhất trên thế giới, đã tạo động lực đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp - nôngthôn Công nghệ sinh học mở rộng các ứng dụng, sự hiểu biết sâu rộng về câytrồng, vật nuôi, vi sinh vật, làm tăng thêm tính hữu dụng và hiệu quả cho nềnsản xuất, một trong những thành tự nổi bật đó là việc ứng dụng các chế phẩmsinh học Hiện nay chế phẩm sinh học đang được coi là công cụ hữu hiệu tạonền tảng vững chắc cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên thế giới.Ứng dụng các chế phẩm sinh học xử lý chất thải hữu cơ, phế phụ phẩm nôngnghiệp làm phân bón phục vụ cho cây trồng đang là hướng đi đúng đắn đểphát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững

Trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt trong lĩnh vực trồng trọt thì phânbón là cơ sở của việc nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, góp phần cảithiện độ phì nhiêu của đất Sử dụng phân bón phù hợp là nguyên nhân quantrong để nông dân làm giàu Việc sử dụng phân bón đã được áp dụng hiệu quảtrên 100 năm nay, dựa trên sự hiểu biết về khoa học dinh dưỡng thực vật, đã

Trang 14

góp phần to lớn vào việc tăng sản lượng và chất lượng nông sản Thế kỷ XX,

kể từ khi con người phát minh ra công nghệ tạo giống và các quy trình sảnxuất phân bón hóa học NPK và thuốc trừ sâu hóa chất thì con người tự tinrằng đã nắm được trong tay chìa khóa giải quyết về lương thực, thực phẩmbền vững cho nhân loại Song thực tế đã làm cho chúng ta phải suy nghĩ lại,

đó là: Khi áp dụng nông nghiệp hóa học thì môi trường đất, nước, thực phẩm

bị ô nhiễm nặng; Con người nhiều khi cũng bị nhiễm độc do ăn phải thựcphẩm ô nhiễm bởi hóa chất…; Đất đai ngày càng chai cứng, mất cân bằngsinh thái Nguy hiểm hơn là chúng ta đã vô tình tiêu diệt hàng tỷ vi sinh vật

có ích, mà chúng ta đem lại sự màu mỡ cho đất đai để cây xanh sinh trưởng.Một câu hỏi lớn đặt ra cho chúng ta là làm thế nào vừa song song với pháttriển sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng, vừa đảm bảo cân bằngsinh thái…nhằm tìm ra được giải pháp hữu ích và tận dụng được các phế thải,phụ phẩm nông nghiệp để tái đầu tư trở lại cho cây trồng Hiện nay, nhiềunước tiên tiến đã xem việc ứng dụng công nghệ vi sinh là chìa khóa then chốt

để giải quyết vấn đề này

Ở Việt Nam, hiện nay sự phát triển của sản xuất nông nghiệp đang đivào mức độ thâm canh cao với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóahọc, thuốc bảo vệ thực vật và hàng loạt các biện pháp như trồng lúa 3 vụ, phárừng canh tác cà phê, hồ tiêu, điều…với mục đích khai thác, chạy theo năngsuất và sản lượng Với sự canh tác như vậy đã làm cho đất đai ngày thoái hóa,dinh dưỡng bị mất cân đối, mất cân bằng hệ sinh thái trong đất, hệ vi sinh vậttrong đất bị phá hủy, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồnbệnh tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại khôngthể dự báo trước

Chính vì vậy, xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việctăng cường sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong canh tác câytrồng đang là xu hướng chung của Việt Nam nó riêng và thế giới nói chung

Trang 15

Thái Bình là tỉnh nông nghiệp, vì thế nhu cầu sử dụng phân bón trongsản xuất nông nghiệp là rất lớn Mặc dù vậy tập quán của người dân TháiBình chủ yếu sử dụng phân bón hóa học Việ sử dụng phân bón hữu cơ cònhạn chế, bởi thời gian ủ phân theo phương pháp truyền thống phải mất 50 - 60ngày mới có phân hoai mục đảm bảo kỹ thuật để bón cho đồng ruộng; chonên, nhiều lúc người dân phải bón phân còn tươi, chưa hoai mục…thông quacon đường này họ đã vô tình đưa các mầm bệnh, các chủng nấm, vi sinh cóhại vào đất, gây nên một số bệnh hại nguy hiểm cho cây trồng…dẫn đến năngsuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế chưa cao Chính vì vậy, việc sản xuất và

sử dụng chế phẩm sinh học nhằm giải quyết tốt vấn đề môi trường đồng thờitạo thêm nguồn phân bón hữu cơ ở Thái Bình là việc làm thiết thực hữu ích,góp phần cải tạo đất; hạn chế sử dụng phân bón hóa học; tăng hiệu quả kinh tếcho người dân Được sự đầu tư của Sở Khoa học & công nghệ và Sở Khoahọc công nghệ Thái Bình thông qua dự án "Ứng dụng công nghệ sinh học sảnxuất các chế phẩm vi sinh phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thônThái Bình", Trường Đại học Y Thái Bình nghiên cứu sản xuất thành công chếphẩm vi sinh xử lý chất thải hữu cơ, phế phụ phẩm nông nghiệp, làm phânbón "EMIC-YTB"

Đây là loại chế phẩm sinh học sử dụng các chủng vi sinh vật hữu íchtrong tự nhiên nhằm phân giải nhanh các chất hữu cơ có trong rác thải, rơm rạthành các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây Thành phần sinh học chính củachế phẩm này chủ yếu là các chủng loại vi sinh vật được phân lập tại các vùngsinh thái của Việt Nam

Thời gian qua Trường Đại học Y Thái Bình đã thử nghiệm chế phẩm ởqui mô nhỏ tại 10 xã của huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, với nguồn nguyênliệu chính để ủ phân gồm: rác, rơm rạ, bèo, cỏ, dây dưa dây bí và phânchuồng tươi…kết quả cho thấy khi sử dụng chế phẩm trong quá trình ủ không

có mùi hôi thối bay ra, nhìn bằng cảm quang các loại phế thải thực vật sau khi

Trang 16

ủ hoai mục hơn Sau ủ 20 - 25 ngày là có phân hoai mục để bón cho câytrồng, cây trồng phát triển tốt hơn, ít bị bệnh hơn Đặc biệt sử dụng chế phẩm

để ủ đất hoặc phân làm bầu cho cây gốc ghép tại vườn ươm giống cây ăn quảkhi ra ngôi cây sinh trưởng nhanh, không bị nấm bệnh hại

Nhận xét đánh giá của các hộ dân đều khẳng định việc sử dụng chế phẩm EMIC-YTB để ủ phân bón cho cây trồng mang lại kết quả khả quan Sử dụng chế phẩm EMIC-YTB giảm thời gian ủ phân so với phương pháp thông thường trên 30 ngày; hạn chế mùi hôi thối trong quá trình ủ do đó hạn chế được tổn thất đạm bị mất mát, giúp cây phát triển tốt Bên cạnh đó tận dụng được nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp, chất thải hữu cơ…làm phân nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư phân bón cho nông dân [33].

* Thành phần của rác thải sinh hoạt

Một trong những đặc điểm rõ nhất ở rác thải sinh hoạt Việt Nam là thànhphần các chất hữu cơ chiếm tỷ lệ rất cao 55 - 65% Trong rác thải sinh hoạtcác cấu tử phi hữu cơ (kim loại, thuỷ tinh, rác xây dựng ) chiếm khoảng 12 -15% Phần còn lại là các cấu tử khác Cơ cấu thành phần cơ học trên của rácthải đô thị không phải là những tỷ lệ bất biến, mà có biến động theo các thángtrong năm và thay đổi theo mức sống của cộng đồng

Ở các nước phát triển, do mức sống của người dân cao cho nên tỷ lệthành phần hữu cơ trong rác thải sinh hoạt thường chỉ chiếm 35 - 40% So vớithế giới thì rác thải sinh hoạt Việt Nam có tỷ lệ hữu cơ cao hơn rất nhiều nênviệc xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam bằng công nghệ vi sinh vật để sảnxuất phân hữu cơ vi sinh là rất thuận lợi

Trong các cấu tử hữu cơ của rác sinh hoạt, thành phần hóa học của chúngchủ yếu là: C, H, O, N, S và các chất tro

Rác thải đô thị nếu để phân huỷ một cách vô tổ chức thì môi trường, đặcbiệt là nguồn nước sẽ bị ô nhiễm một cách trầm trọng Ngược lại, nếu được

xử lý tốt sẽ tạo ra nguồn hữu cơ là nguồn dinh dưỡng khổng lồ trả lại cho đất,cung cấp dinh dưỡng cho cây, tạo ra được sự cân bằng về sinh thái [30]

Trang 17

* Vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ chứa xenlulose

Trong tự nhiên vi sinh vật phân giải xenlulose vô cùng phong phú baogồm: Vi khuẩn; nấm; xạ khuẩn; nguyên sinh động vật

+ Vi khuẩn: Là nhóm vi sinh vật lớn nhất và cũng được nghiên cứu

nhiều nhất Từ thế kỷ XIX các nhà khoa học đã phát hiện thấy một số loại vikhuẩn kỵ khí có khả năng phân giải xenlulose Những năm đầu thế kỷ XXngười ta lại phân lập được các vi khuẩn hiếu khí cũng có khả năng này Trongcác vi khuẩn hiếu khí phân giải xenlulose, thì niêm vi khuẩn có vai trò lớnnhất chủ yếu là các giống Cytophaga, Sporocytophaga và Sorangium Niêm vikhuẩn nhận được năng lượng khi oxy hoá các sản phẩm của sự phân giảixenlulose thành CO2 và H2O [43], [62]

+ Nấm sợi: Nấm sợi phân giải xenlulose mạnh hơn vi khuẩn vì chúng

tiết vào môi trường lượng Enzyme ngoại bào nhiều hơn vi khuẩn Vi khuẩnthường thường tiết vào môi trường phức hệ xenlulose không hoàn chỉnh chỉthuỷ phân được cơ chất đã cải tiến như giấy lọc và CMC, còn nấm tiết vàomôi trường hệ thống xenlulose hoàn chỉnh nên có thể thuỷ phân xenlulosehoàn toàn Các loại nấm phân huỷ mạnh xenlulose là: Trichoderma,Penicillium, Phanerochate, Sporotrichum, Sclerotium [60], [56]

Nấm ưa nhiệt, chúng có thể tổng hợp các Enzyme bền nhiệt hơn, chúng sinhtrưởng và phân giải nhanh xenlulose Nấm có thể phát triển ở pH = 3,5 - 6,6 Nguồn carbon giúp cho nấm phân giải mạnh xenlulose Trong rác thảichứa nhiều nitơrat cũng khích thích nấm phân giải xenlulose, nguồn nitơ hữu

cơ cũng giúp cho nấm phân giải xenlulose mạnh hơn

+ Xạ khuẩn: Xạ khuẩn có tác dụng phân giải rác thải khá mạnh Người ta

chia xạ khuẩn thành 2 nhóm: Xạ khuẩn ưa ấm, chúng phát triển mạnh ở nhiệt độ 28

- 30oC và xạ khuẩn ưa nhiệt, chúng có thể phát triển mạnh ở nhiệt độ 60 - 70oC

Trang 18

1.6 Quy trình xử lý rác thải hữu cơ

1.6.1 Các phương pháp xử lý rác thải bằng công nghệ sinh học

+ Phương pháp sản xuất khí sinh học

Cơ sở của phương pháp này là nhờ sự hoạt động của vi sinh vật mà cácchất khó tan (xenlulose, lignin, hemixeluloza và các chất cao phân tử khác)được chuyển thành chất dễ tan Sau đó lại được chuyển hoá tiếp thành cácchất khí trong đó chủ yếu là mêtan [57], [62]

Ưu điểm của phương pháp này là có thể thu được một loạt các chất khí,

có thể cháy được và cho nhiệt lượng cao sử dụng làm chất đốt, không ô nhiễmmôi trường Rác thải sau khi lên men được chuyển hoá thành phân hữu cơ cóhàm lượng dinh dưỡng cao để bón cho cây trồng Tuy nhiên phương pháp này

có những nhược điểm sau: Khó lấy các chất thải sau khi lên men; là quá trình

kỵ khí bắt buộc vì vậy việc thiết kế bể ủ rất phức tạp, vốn đầu tư lớn; năngsuất thấp do sự sinh trưởng của vi khuẩn sinh mêtan có mặt trong rác chậm;gặp nhiều khó khăn trong khâu tuyển chọn nguyên liệu

+ Phương pháp ủ rác thải thành đống, lên men tự nhiên có đảo trộn: Rác được chất thành đống có chiều cao từ 1,5 - 2,0m đảo trộn mỗi tuầnmột lần Nhiệt độ đống ủ là 55 - 60oC, độ ẩm 50 - 70% Sau 3 - 4 tuần tiếpkhông đảo trộn Phương pháp này đơn giản, nhưng mất vệ sinh, gây ô nhiễmnguồn nước và không khí

+ Phương pháp ủ rác thải thành đống không đảo trộn và có thổi khí: Rác thải được chất thành đống cao từ 1,5 - 2,0m Phía dưới được lắp đặtmột hệ thống phân phối khí Nhờ có quá trình thổi khí cưỡng bức, mà các quátrình chuyển hoá được nhanh hơn, nhiệt độ ổn định, ít ô nhiễm môi trường + Phương pháp lên men trong các thiết bị chứa:

Trang 19

Rác thải được cho vào các thiết bị chứa có dung tích khác nhau để lênmen Lượng khí và nước thải sinh ra trong quá trình lên men được kiểm soátchặt chẽ Các vi sinh vật đã được tuyển chọn bổ sung cho hệ vi sinh vật tựnhiên trong đống ủ, nhờ đó mà quá trình xảy ra nhanh và dễ kiểm soát, ít ônhiễm hơn

+ Phương pháp lên men trong lò quay:

Rác thải được thu gom, phân loại và đập nhỏ bằng búa đưa vào lò quaynghiêng với độ ẩm từ 50 - 60% Trong khi quay rác thải được đảo trộn do vậykhông phải thổi khí Rác sau khi lên men lại được ủ chín thành đống trongvòng 20 - 30 ngày [4]

+ Phương pháp xử lý rác thải hữu cơ công nghiệp:

Đặc điểm chung của kiểu ủ rác công nghiệp này là mức tự động hoá cao

do đó rác được phân huỷ rất tốt, nhưng lại đòi trình độ khoa học công nghệcao, chi phí tốn kém nên chưa phù hợp với trình độ và khả năng đầu tư củacác nước đang phát triển [3], [66], [68]

+ Phương pháp ủ rác thải hữu cơ làm phân:

Rác thải hay than bùn được tái chế thành sản phẩm cung cấp cho nôngnghiệp Cơ sở chế biến phân ủ đặt ở trung tâm do đó giảm được chi phí vậnchuyển Dễ dàng thu gom các nguyên liệu để tái chế và có thể xử lý đượcnước thải mùi cống Các nguyên tắc trong sản xuất phân ủ từ rác thải đô thị vàrác thải sinh hoạt, rác thải nông công nghiệp đều có thể xử lý được theophương pháp này

Phương pháp này còn có một số hạn chế sau: Vốn chi phí vận hànhtương đối lớn, diện tích sử dụng khá lớn, phân loại và tuyển chọn rác mấtnhiều công [20]

1.6.2 Xử lý rác thải ngành mía đường

Trang 20

Vũ Hữu Yêm, Trần Công Hạnh (1995 - 1997) đã nghiên cứu hiệu quảkinh tế của việc vùi lá, ngọn mía kết hợp với phân bón vô cơ Kết quả chothấy: Mía nẩy mầm đẻ nhánh sớm hơn, tỷ lệ nẩy mầm cho cao hơn so với ởcông thức bón phân bón vô cơ Tiết kiệm được 876.000đ/ha, điều quan trọng

là thay thế được lượng phân chuồng thiếu hụt hiện nay cho cây mía Mặc dù

có ưu điểm như trên, nhưng quá trình phân huỷ các chất xơ sợi trong lá, ngọnmía rất chậm Để khắc phục vấn đề này, Nguyễn Xuân Thành và NguyễnĐình Mạnh (2001) đã xử lý lá, ngọn mía được thu gom tại đồng ruộng bằngchế phẩm vi sinh vật, sau khi xử lý đã được đánh thành đống ủ trên đồngruộng với thời gian 45 - 60 ngày, sau đó đem bón lót cho mía Đây là phươngpháp xử lý rất tiện lợi, cho hiệu quả kinh tế cao, được người trồng mía tánđồng [71], [65]

1.6.3 Rác thải từ vỏ cà phê

Từ những năm 80 trở lại đây, trên thế giới mà nhất là ở những nước sảnxuất cà phê xuất khẩu, việc nghiên cứu các biện pháp sinh học để xử lý rácthải cà phê được nhiều người quan tâm Các nhà khoa học đã dùng một sốchủng giống vi sinh vật yếm khí có khả năng phân giải vỏ cà phê (các chấtxenluloza, lignin ) như nấm: Chladomyces, Penicilium, Trichderma,Fusarium oxysporium; vi khuẩn: Sporocytophaga methanogenes; Rudbeckiahirta L để xử lý đống ủ vỏ cà phê Kết quả rất khả quan, sau 2 - 3 tháng ủ tỷ

lệ xenluloza trong vỏ cà phê giảm 60 - 80% so với đống ủ đối chứng

Ở Việt Nam có trên 350.000ha cà phê và sản lượng cà phê trung bình là3.000 tấn nhân khô/năm với lượng vỏ cà phê khô khoảng 200.000 tấn/năm,

mà thành phần của nó chủ yếu là ligno - celluloza, một hợp chất rất khó phângiải trong điều kiện tự nhiên Những năm qua tuy đã dùng vỏ cà phê để làmgiá thể nuôi trồng nấm ăn, nhưng phần rất lớn vẫn thải ra môi trường gây ônhiễm nặng Hiện nay các nhà khoa học đang thử nghiệm xử lý rác thải nàybằng công nghệ vi sinh vật và tái chế thành phân hữu cơ bón cho cây trồng

Chương 2

Trang 21

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chủ hộ, lao động nông nghiệp chính trong hộ gia đình

- Người thu gom, vận chuyển rác, cán bộ chuyên trách vệ sinh môitrường, ban ngành đoàn thể và chính quyền cấp huyện, cấp xã

- Rác thải hộ gia đình, rơm rạ trước, trong và sau khi tạo đống ủ làmphân bón vi sinh

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu tại 3 xã: Vũ Lăng, Tây Ninh và Phương Côngthuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

2.1.4 Đặc điểm tình hình 3 xã nghiên cứu

* Xã Vũ Lăng nằm ở phía Tây Bắc huyện Tiền Hải, tiếp giáp với các xãcủa 2 huyện Thái Thụy và Kiến Xương, xã Vũ Lăng có 2 km đường sông giápvới huyện Thái Thụy Là xã thuần nông, Vũ Lăng có hơn 5000 nhân khẩu, đờisống của người dân chủ yếu từ lao động nông nghiệp trồng lúa, trồng bí vàphát triển gia trại

* Xã Tây Ninh là một xã có vị trí địa lý nằm ở khoảng giữa của huyệnTiền Hải phía Bắc giáp với xã Đông Quý, phía Nam giáp với xã Tây Sơn,phía đông giáp với xã Đông Trung, phía Tây giáp với xã Tây Lương, với diệntích 9,24 km2 dân số Tây Ninh là 5500 người Thành phần dân số nông thônchiếm 72% thành thị chiếm 28%, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng sốlao động chiếm khoảng 87%, cơ cấu kinh tế: Tây Ninh là 1 xã bán côngnghiệp, địa bàn xã có rất nhiều nhánh sông nhỏ chạy qua nên cây bèo cái ở xãTây Ninh phát triển mạnh gây ách tắc dòng chảy

Trang 22

* Phương Công nằm ở phía Nam huyện Tiền Hải, phía Đông giápvới xã Tây Phong, phía Tây giáp với xã Quang Trung, phía Nam giáp với

xã Vân Trường, phía Bắc giáp với xã An Ninh, với diện tích 8,57km2 dân

số khoảng 5200 người Thành phần dân số nông thôn chiếm 78% thành thịchiếm 22%, đời sống của người dân Phương Công chủ yếu là lao độngnông nghiệp trồng lúa, trồng màu và phát triển các gia trại

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Tiền Hải và 3 xã nghiên cứu 2.1.5 Đặc điểm tình hình huyện Tiền Hải

- Huyện Tiền Hải giáp huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình về phía tây.Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ Phía Bắc giáp huyện Thái Thụy Phía Namgiáp tỉnh Nam Định Huyện Tiền Hải nằm kẹp giữa hai cửa biển Trà Lý

và Ba Lạt của sông Hồng Huyện Tiền Hải gồm 1 Thị trấn và 34 xã, diệntích tự nhiên là khoảng: 225,9 km² và dân số khoảng: 204.200 người

Trang 23

Tiền Hải có gần 13.000 ha canh tác Trong đó có 10.700 ha đất 2lúa, còn lại là đất màu và các cây công nghiệp Là vùng đất trẻ ven biển,cách đây chưa lâu, đất canh tác của Tiền Hải chiếm 35 - 40% là chua mặn,năng suất cây trồng thấp Tiền Hải là một trong số huyện đi đầu đổi mới,đưa 100% diện tích cấy bằng các giống lúa ngắn ngày năng suất cao, đồngthời bằng nhiều biện pháp đã đưa khoa học kỹ thuật đến hộ và người laođộng nông nghiệp Nhờ vậy, năng suất lúa từ một huyện đứng dưới trungbình của tỉnh, vươn lên hàng khá, giỏi 5 năm (2005 - 2010) đạt 125 tạ/ha.Không chỉ có thế, Tiền Hải đang là huyện dẫn đầu Thái Bình về việc quihoạch vùng sản xuất, cấy các giống lúa chất lượng cao làm hàng hoá (năm

2007 chiếm 35%; năm 2008 chiếm 40%, năm 2009 chiếm 45%; năm 2010chiếm 50% diện tích vụ lúa)

2.1.6 Đặc điểm tình hình tỉnh Thái Bình

Thái Bình nằm trong đồng bằng Bắc bộ, có đặc điểm chung của đồngbằng châu thổ, đồng thời có những nét riêng Nhìn chung đất Thái Bình đượcbồi đắp từ phù sa của các dòng sông lớn: Sông Hồng, sông Trà Lý, sông Hóa.Trong đó vai trò bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng là chủ yếu Quá trìnhbồi tụ diễn ra liên tục và từ từ, trải qua thời gian dài (hàng nghìn năm), kếthợp với gió bão, sóng biển, diễn biến thủy triều của biển Đông, nên ở đây địahình thấp, bằng phẳng Song hành với thời gian diễn ra sự bồi tụ của tự nhiêncòn phải kể đến trí tuệ và sức lao động của con người sống trên mảnh đất này

Họ đã chống chọi với thiên nhiên (bão tố, ngập lụt, hạn hán…), cải tạo đấtđai, san gò, lấp trũng để có được những cánh đồng thẳng cánh cò bay vàquanh năm tươi tốt như ngày hôm nay Thái Bình trở thành một trọng điểmlúa nước nằm trong vựa lúa của đồng bằng Bắc bộ và cả nước

- PhÝa B¾c gi¸p huyÖn §«ng Hng;

- PhÝa Nam gi¸p huyÖn Vò Th;

- PhÝa §«ng gi¸p huyÖn KiÕn X¬ng vµ §«ng Hng;

- PhÝa T©y gi¸p huyÖn Vò Th

Trang 24

Th¸i B×nh lµ trung t©m chÝnh trÞ, kinh tÕ, v¨n ho¸, khoa häc kü thuËt, anninh - quèc phßng cña tØnh Cã diÖn tÝch 1.542km2, bao gåm 7 huyện, d©n sè1.902.400 ngh×n ngêi với mật độ dân số 1.195 người/km² Tỷ lệ tăng dân số tựnhiên giai đoạn 2006 - 2010 là 0.86 %/năm, th nh ành phần dân số nông thônchiếm 86%, thành thị chiếm 14%, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng sốlao động khoảng 67%.

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành tại 3 xã nội đồng chủ yếutrồng lúa và cây màu thuộc huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình Điều tra được tiếnhành bằng phỏng vấn trực tiếp các đối tượng qua bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn

và phỏng vấn sâu một số đối tượng để tìm hiểu về nhận thức, thái độ, thựchành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằngchế phẩm sinh học EMIC-YTB trước, trong và sau thời điểm áp dụng quitrình làm phân bón vi sinh

Thực hiện các biện pháp truyền thông, tập huấn, xây dựng đội ngũ cộngtác viên tại xã để vận động, xử lý môi trường, hướng dẫn qui trình tạo đống ủrác thải hữu cơ, rơm rạ, huy động cộng đồng tham gia xây dựng mô hình xử

lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm sinh học để làm phân bón vi sinh

2.2.2 Chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu: Chúng tôi chủ định chọn huyện Tiền Hải làhuyện ven biển nhưng phần lớn diện tích đất còn dành cho canh tác nôngnghiệp, nền văn hóa, kinh tế và xã hội vẫn chủ yếu từ sản xuất nông nghiệptrồng lúa và trồng màu như dưa, bí, lạc, đỗ

3 xã Vũ Lăng, Tây Ninh và Phương Công được chọn chủ đích vàonghiên cứu là các xã nội đồng đại diện đồng đều cho 3 khu vực của huyệnTiền Hải, nghề nghiệp của người dân chủ yếu là trồng lúa và trồng màu: nênrơm rạ luôn sẵn có tại địa phương Ngoài ra, trong những năm gần đây tình

Trang 25

hình đô thị hóa khu vực nông thôn diễn ra nhanh chóng làm thay đổi việc thugom và xử lý rác thải sinh hoạt, rác thải trong chăn nuôi Với các điều kiệnsẵn có trên là cơ sở và nguồn nguyên liệu cho giai đoạn thực hiện các biệnpháp xử lý rác thải và rơm rạ làm phân bón vi sinh

Chọn mẫu điều tra cơ bản được thực hiện theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫunhiên đơn Sử dụng danh sách hộ gia đình có trồng cây nông nghiệp do Hộinông dân cung cấp và bảng số ngẫu nhiên để chọn hộ gia đình điều tra đầutiên Những hộ gia đình tiếp theo được chọn theo kỹ thuật ngẫu nhiên đơn chođến khi đủ cỡ mẫu nghiên cứu sau đó cán bộ chuyên trách gửi giấy mời thamgia đối với chủ hộ gia đình (hoặc một lao động nông nghiệp chính) đến Ủyban nhân dân xã để phỏng vấn và đăng ký danh sách tự nguyện tham gia làmđống ủ phân bón vi sinh

* Chọn người thu gom rác: Chọn toàn bộ những người thực hiện việc

thu gom rác tại xã nghiên cứu

* Chọn đối tượng để phỏng vấn sâu: Lãnh đạo UBND huyện Tiền Hải,

Trưởng phòng tài nguyên môi trường huyện, các cán bộ chuyên trách về vệsinh môi trường của xã, đại diện các ban ngành đoàn thể (Lãnh đạo xã,Trưởng thôn, Hội phụ nữ, Y tế xã, Đoàn Thanh niên…)

2.2.3 Cỡ mẫu

* Cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả

2

2 ) 2 / 1 (

) 1 (

d

p p Z

n  

Trong đó:

n: Cỡ mẫu cần cho nghiên cứu

p: Là tỉ lệ hộ gia đình có thu gom và xử lý rác thải ước tính p = 0,5

Z(1 – α/2): Với độ tin cậy ước tính là 95%, tra bảng ta có Z(1 – α/2) = 1,96d: Sai số tối đa cho phép được lựa chọn là 0,05

Thay vào công thức ta có n = 385 người

Trang 26

Sau cuộc điều tra phỏng vấn đối tượng nghiên cứu đã thu được là 456phiếu đạt tiêu chuẩn nghiên cứu.

* Mỗi xã chọn 150 người dân trong số các hộ gia đình (người đại diện,

ưu tiên chủ hộ gia đình) có đối tượng đã tham gia tham gia tập huấn, hướngdẫn qui trình tạo đống ủ phân bón hữu cơ vi sinh

* Cỡ mẫu cho điều tra phỏng vấn sâu gồm có:

- Lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Thái Bình

- Lãnh đạo Trường Đại Học Y Thái Bình

- Người thu gom vận chuyển rác, cán bộ vệ sinh môi trường

2.3 Kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

- Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi thiết kế trước

- Phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu với nội dung chính liên quankiến thức, thái độ và thực hành thu gom rác thải, rơm rạ và xử lý bằng chếphẩm sinh học EMIC-YTB làm phân bón vi sinh

* Qui trình tạo đống ủ làm phân bón vi sinh

Bước 1 Chuẩn bị nguyên liệu tạo đống ủ làm 5 tạ phân bón hữu cơ

- Dùng 200 gam chế phẩm EMIC-YTB cho 5 tạ nguyên liệu

- Rác, rơm rạ, các loại lá, dây leo, phế thải nông nghiệp, …

- Phân gia súc, gia cầm…

Chú ý:

- Kích thước nguyên liệu càng nhỏ càng tốt Nguyên liệu như cây ngô thì nên chặtngắn khoảng 1 gang tay

- Đối với rơm rạ, rác lá khô phải tưới ẩm trước khi ủ

- Với các loại bèo thì cần phơi héo trước khi ủ để giảm lượng nước có sẵn

trong bèo.

Trang 27

Bước 2: Chọn nơi ủ

Chọn nơi có nền đất trống, khô ráo, gần nguồn nước nông nghiệp đểtiện tưới ẩm Có thể ủ trong nhà kho, chuồng nuôi gia súc không còn sử dụng

Bước 3: Cách trộn chế phẩm với nguyên liệu ủ

- Chia đều gói chế phẩm EMIC-YTB làm các phần nhỏ và lượng phân,rác, rơm rạ cũng chia làm các phần

- Sau đó cho từng phần chế phẩm EMIC-YTB vào 20 lít nước khuấy tan đều

- Rải từng phần rác, phân chuồng dầy khoảng 20 cm

- Dùng bình phun tưới đều chế phẩm EMIC-YTB

- Cứ tiếp tục rải từng lớp và phun chế phẩm sinh học như thế cho đếnkhi hoàn thành việc tạo đống ủ

Bước 4: Che phủ đống phân ủ

Sau khi đánh xong đống ủ, ta che đậy đống ủ bằng bạt, bao tải dứa hoặc nilon

Để rác, rơm rạ phân hủy nhanh và tránh ánh sáng chiếu trực tiếp đống ủ,

ta nên che thêm tấm che bằng rơm rạ

Vào mùa đông, cần phải che đậy kỹ để nhiệt độ đống ủ được duy trì ởmức 40 - 500C

Bước 5: Đảo trộn đống ủ

Khoảng 7 - 10 ngày tiến hành kiểm tra, đảo trộn và bổ sung nước

5- Sử dụng phân ủ hữu cơ vi sinh

Rác thải nông nghiệp, phân chuồng thường ủ 25 - 30 ngày là thànhphân bón vi sinh

Phân bón vi sinh dùng không hết nên đánh đống lại che đậy cẩn thận hoặcđóng bao để dùng về sau Phân bón vi sinh sử dụng tốt nhất trong vòng 1 năm

* Với lúa, ngô, khoai, sắn, rau quả…: Bón lót, bón thúc, mức bón từ 4

-5 tạ phân bón vi sinh thành phẩm/ sào

* Với cây ăn quả: Trước khi trồng: Trộn 15 - 20 kg phân bón vi sinh

thành phẩm với đất cho mỗi hố rồi trồng cây

Trang 28

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

- Bộ công cụ thu thập số liệu: bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn

- Phương pháp thu thập số liệu về nhận thức, thái độ của người dân vềviệc xử lý rác, rơm rạ và phụ phẩm nông nghiệp bằng chế phẩm sinh học tại 3

xã được tiến hành như sau:

Tập huấn cho các điều tra viên: phổ biến mục đích, tầm quan trọng củacuộc điều tra, sau đó thảo luận các vấn đề, giải thích nội dung các câu hỏi, các

kỹ thuật phỏng vấn và đóng vai để chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp trướckhi điều tra thử

Điều tra thử tại cộng đồng: Các điều tra viên xuống các xã nghiên cứu,điều tra thử 5% cỡ mẫu nghiên cứu (khoảng 20 phiếu) Chỉnh sửa phiếuphỏng vấn lần cuối nếu cần

Tiến hành điều tra chính thức theo mẫu phiếu đã hướng dẫn Các điềutra viên tiến hành phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu được mời tại hộitrường Ủy ban nhân dân xã nghiên cứu

- Đối với các hộ gia đình được chọn vào xây dựng mô hình tạo đống ủlàm phân bón hữu cơ vi sinh sẽ tự làm đống ủ sau khi được tập huấn và tư vấncủa cộng tác viên tại xã Nghiên cứu viên và cán bộ kỹ thuật của Trường Đạihọc Y Thái Bình sẽ trực tiếp theo dõi qui trình tạo đống ủ và các khâu đảotrộn, tưới nước và đánh giá chất lượng đến khi hoàn thành việc ủ phân bón visinh hữu cơ

2.5 Xử lý và phân tích số liệu

Sau khi thu thập số liệu sẽ được làm sạch, nhập máy tính bằng phần mềmEPI DATAENTRY 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 với số liệu địnhlượng được biểu thị qua số lượng, tỷ lệ (%) Phân tích thống kê so sánh sử dụngtest khi bình phương thông qua tra bảng giá trị p với độ tin cậy 95%

Trang 29

2.6 Một số biện pháp khống chế sai số

Thực hiện đầy đủ các bước tập huấn điều tra viên, giám sát chặt chẽ cáckhâu điều tra thử, cập nhật bộ câu hỏi trước khi điều tra chính thức

Xây dựng kế hoạch chi tiết trong việc giám sát thực hiện qui trình làmđống ủ phân bón vi sinh, sử dụng bảng kiểm với các tiêu chí chi tiết để đánhgiá chất lượng đống ủ phân vi sinh

2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Đảm bảo việc giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu với ngườitham gia nghiên cứu để họ hoàn toàn tự nguyện, cung cấp thông tin chính xác

Không ép buộc đối với một số đối tượng bỏ cuộc trong quá trình thựchiện nghiên cứu

Giải thích rõ và đảm bảo chắc chắn qui trình thực hiện nghiên cứu, chếphẩm sinh học EMIC-YTB không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân vàmôi trường

Đảm bảo thực hiện đầy đủ các văn bản, hợp đồng trách nhiệm với lãnh đạo xã đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về người dân được phỏng vấn

Nam:

74,1% 25,9%Nữ:

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính của người dân được phỏng vấn

Người dân tham gia trả lời phỏng vấn tại 3 xã là 456 người với tỷ lệđồng đều khoảng 150 người/xã Qua biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ đối tượngngười dân tham gia trả lời phỏng vấn theo giới tính có sự chênh lệnh trong đónam giới chiếm 74,1 % cao gấp 3 lần nữ giới (25,9%), từ đó có nhận định vớicông việc xử lý rác và rơm rạ thì góp phần chủ yếu của lao động là nam giới

Bảng 3.1 Nhóm tuổi của người dân được phỏng vấn theo xã

Xã

Nhóm tuổi

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456)

Trang 31

Qua bảng 3.1 cho thấy nhóm tuổi chung của người dân tham gia nghiêncứu chủ yếu từ 31 đến 60 tuổi, trong đó độ tuổi từ 51 đến 60 chiếm cao nhất

là 31,6%, tương ứng với người dân tại Phương Công, Tây Ninh và Vũ Lăng ở

độ tuổi 31 đến 60 cũng chiếm tỷ lệ từ 18,6% đến 36,9% Độ tuổi 24 đến 30chỉ chiếm 3,5%

9,3 8,1 10,9

62,9 73,8 73,7

26,5 14,1 13,5

1,3 4 1,9 0

20 40 60

Vũ Lăng

Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (n=456)

Qua biểu đồ 3.2 cho thấy trình độ học vấn của người dân được phỏngvấn tại 3 xã chủ yếu là THCS chiếm tỷ lệ từ 62,9% đến 73,8% Trình độ họcvấn THPT chiếm từ 13,5% đến 26,5% Người dân có trình độ học vấn tiểuhọc chiếm khoảng 10% Trình độ trên THPT chiếm dưới 5%

81,1 74,6 75,6

10 20 30 40 50 60 70 80 90

Biểu đồ 3.3 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n=456)

Trang 32

Qua biểu đồ 3.3 cho thấy nghề nghiệp của người dân chiếm tỷ lệ caonhất là làm ruộng từ 74,6% đến 81,1% Tỷ lệ các nghề nghiệp đều gần tươngđương tại cả 3 xã Nghề nghiệp là công nhân và buôn bán chiếm từ 5,3% đến13,5% Tỷ lệ hưu trí và các nghề khác chỉ chiếm từ 2 đến 9,3%.

Bảng 3.2 Phân bố về số người trong hộ gia đình

Xã

Số người

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456)

hộ gia đình có trên 5 người tại 3 xã chiếm tỷ lệ từ 16,8% đến 23,8%

Bảng 3.3 Phân bố về thu nhập bình quân người/tháng

Xã

Thu nhập

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456)

Bảng 3.3 cho thấy người dân tham gia nghiên cứu có mức thu nhập của

hộ gia đình dưới 500.000 đ/tháng chiếm tỷ lệ cao (59,9%), số hộ gia đình cóthu nhập từ 500.000 đến 1.000.000 đ/tháng chiếm 32,7%, các hộ gia đình cóthu nhập trên 1.500.000 đ/tháng chỉ chiếm từ 1,3% đến 4,5%

3.2 Thực trạng nguồn rác, rơm rạ tại 3 xã nghiên cứu

Trang 33

Nghiên cứu xác định thực trạng thông tin cơ bản về số lượng và thànhphần rác thải, ước tính số lượng rơm rạ/vụ trồng lúa mà người dân cần xử lýbằng các biện pháp đang áp dụng tại địa phương như đốt, chôn lấp và phươngpháp ủ với chế phẩm EMIC-YTB làm phân bón hữu cơ vi sinh.

Bảng 3.4 Thông tin về rác thải trong ngày của hộ gia đình tại 3 xã

Xã

Số lượng

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456)

Bảng 3.4 cho thấy số lượng rác thải sinh hoạt trung bình/ngày của các

hộ gia đình là 1 - 2 kg/ngày chiếm tỷ lệ 67,5%, số hộ gia đình có lượng rácthải sinh hoạt thải ra 2 - 5 kg/ngày trong ngày cũng chiếm tỷ lệ 30,5%, còn lạicác hộ gia đình có lượng rác thải trên 5 kg/ngày chỉ chiếm 2,0%

Bảng 3.5 Thành phần rác thải chủ yếu của hộ gia đình tại 3 xã

Thành phần rác thải chủ yếu Số lượng (n=456) Tỷ lệ (%)

Trang 34

24,1 27,4

17,8

6,8 0

20 40 60

80

Tỷ lệ (% )

Thức ăn thừa Rơm rạ Đất, gạch Phân gia súc Khác Rơm rạ

Biểu đồ 3.4 Thành phần rác thải chủ yếu của hộ gia đình

Bảng 3.5 và biểu đồ 3.4 cho ta thấy thực trạng thành phần rác thải tạicác hộ gia đình của người dân được phỏng vấn chủ yếu là thức ăn thừa chiếm

tỷ lệ rất cao 75,4%, còn lại rác thải là rơm rạ, dây dưa dây bí, đất, gạch, xỉthan chiếm tỷ lệ từ 24,1 % đến 27,4% Phân gia súc, gia cầm chiếm 17,8%

Bảng 3.6 Số lượng rơm rạ trung bình trong một vụ trồng lúa tại 3 xã

Xã

Số lượng

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456)

Trang 35

Tỷ lệ (%)

< 1 tấn 1-2 tấn 2-5 tấn Trên 5 tấn Rơm rạ

Biểu đồ 3.5 Số lượng rơm rạ trung bình/vụ của một hộ gia đình

Số lượng rơm rạ trong một vụ trồng lúa ở bảng 3.6 và biểu đồ 3.5 chothấy chủ yếu số hộ gia đình trong nghiên cứu có số lượng rơm rạ khoảng 2 - 5tấn chiếm tỷ lệ cao là 58,8%, lượng rơm rạ trên 5 tấn chiếm tỷ lệ 12,9%, số hộ

có lượng rơm rạ từ 1 đến 2 tấn chiếm tỷ lệ dưới 20,8% Hộ gia đình có lượngrơm rạ dưới 1 tấn chỉ chiếm 7,5% Từ số lượng rơm rạ bình quân/hộ gia đình

sẽ là nguồn thông tin hữu ích cho cán bộ chính quyền địa phương và lãnh đạocác ban ngành liên quan để đến vệ sinh môi trường và xử lý rơm rạ

Bảng 3.7 Số lần đổ rác của hộ gia đình tại 3 xã

Xã

Số lần

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456)

Trang 36

Bảng 3.7 cho thấy việc đi đổ rác của các hộ gia đình tại 3 xã phần lớn

là trên 3 ngày chiếm tỷ lệ 43,4%, việc đi đổ rác thải từ 2 đến 3 ngày chiếm tỷ

lệ từ 20,8% đến 34,9%, đổ rác hàng ngày là rất thấp chỉ chiếm 0,9%, riêng xãTây Ninh việc đi đổ rác từ một ngày đến hai ngày chỉ từ 1,3 đến 2%

Bảng 3.8 Cách thu gom rác của hộ gia đình tại 3 xã

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456) Giá trị

3.3 Nhận thức, thái độ và thực hành của người dân về xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm EMIC-YTB

3.3.1 Nhận thức của người dân về xử lý rác, rơm rạ bằng EMIC-YTB Bảng 3.9 Nhận thức chung của người dân về ảnh hưởng của rác thải

Xã

Tác hại

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456) Giá trị

p

Ô nhiễm

môi trường 140 92,7 148 99,3 137 87,8 425 93,2 < 0,05Ảnh hưởng

tới sức khỏe 43 28,5 129 86,6 85 54,5 257 56,4 < 0,05

Trang 37

Qua bảng 3.9 ta thấy rằng nhận thức chung của người dân về tác hạicủa rác thải ảnh hưởng tới môi trường chiếm tỷ lệ 93,2%, ngoài ra rác thảicũng ảnh hưởng không nhỏ đối với sức khỏe con người chiếm tỷ lệ 56,4%.Tuy nhiên khi so sánh về nhận thức của người dân tại 3 xã cũng có sự khácbiệt về ô nhiễm môi trường ở Tây Ninh cao hơn hẳn Vũ Lăng với p <0,05 vànhận thức về ảnh hưởng tới sức khỏe tại Tây Ninh cũng cao hơn hẳn Vũ Lăng

và Phương Công, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05

Bảng 3.10 Nhận thức của người dân về hình thức xử lý rác thải sinh hoạt

Xã

Hình thức

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456) Giá trị

Trang 38

Bảng 3.11 Nhận thức của người dân về sự tham gia của các ban ngành trong vận động thu gom và xử lý rác thải, rơm rạ bằng chế phẩm EMIC-

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456) Giá trị

p

Hội phụ nữ 28 18,5 23 15,4 18 11,5 69 15,1 > 0,05 Đoàn thanh niên 26 17,2 34 22,8 33 21,2 93 20,4 > 0,05 Hội nông dân 104 68,9 125 83,9 123 78,8 352 77,2 < 0,05 Cán bộ VSMT 25 16,6 82 55,0 36 23,1 143 31,4 < 0,05

Bảng 3.11 cho thấy sự tham gia của các ban ngành đoàn thể, chínhquyền địa phương trong việc thu gom và xử lý rác thải, rơm rạ bằng chế phẩmEMIC-YTB chủ yếu là do hội nông dân đảm nhiệm chiếm tỷ lệ 77,2%, trong

đó vai trò của hội nông dân hoạt động có hiệu quả trong vận động người dânthu gom và xử lý rơm rạ bằng chế phẩm EMIC-YTB tại xã Tây Ninh chiếm tỷ

lệ cao nhất (83,9%) Cán bộ vệ sinh môi trường cũng góp phần tuyên truyền

và thực hành làm đống ủ vi sinh chiếm 31,4% Sự hỗ trợ của Hội phụ nữ, Y

tế, đoàn thanh niên cũng góp phần quan trọng vào phong trào xử lý rác thảivới tỷ lệ từ 15% đến 20,4% So sánh cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê về sự tham gia tích cực của hội nông dân và cán bộ vệ sinh môi trường tại

xã Tây Ninh cao hơn 2 xã còn lại với p <0,05

Trang 39

Bảng 3.12 Nhận thức về hình thức thu gom rác chuẩn bị làm đống ủ vi sinh

Xã

Hình thức

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456) Giá trị

và Vũ Lăng (từ 43,6 đến 63,6%) cao hơn Tây Ninh (17,4%) với p <0,05.Ngược lại với hình thức thu gom vào túi nilon ở Tây Ninh cao hơn 2 xã cònlại với p < 0,05

Trang 40

Bảng 3.13 Nhận thức về lợi ích của việc thu gom, xử lý rác thải bằng

chế phẩm EMIC-YTB

Xã

Lợi ích

Phương Công (n=151)

Tây Ninh (n=149)

Vũ Lăng (n=156)

Chung (n=456) Giá trị

p

Giảm khói,

bụi do đốt rác 89 58,9 91 61,1 87 55,8 267 58,6 > 0,05Giảm mùi hôi

thối trong rác 140 92,7 133 89,3 145 92,9 418 91,7 > 0,05Giảm ruồi

nhặng, chuột 127 84,1 116 77,9 123 78,8 366 80,3 > 0,05Giảm thể tích

đó 58,6 % người dân cũng nhận thức rằng xử lý rơm rạ bằng hình thức nàycũng gián tiếp làm giảm khói bụi do thói quen đốt rác của người dân Nhậnthức về xử lý rác làm giảm thể tích rác thải do quá trình ủ phân hữu cơ củangười dân còn hạn chế, mới chiếm tỷ lệ chung là 34,4% Không có sự khácbiệt về nhận thức của người dân tại 3 xã về lợi ích của thu gom và xử lý rácthải bằng chế phẩm EMIC-YTB với p > 0,05

Bảng 3.14 Nhận thức về lợi ích của việc thu gom, xử lý rơm rạ bằng chế

phẩm EMIC-YTB

Ngày đăng: 04/09/2014, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đinh Thị Việt Huỳnh (2002), Nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn tại địa bàn xã An Thảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học giai đoạn 2002- 2004, Sở khoa học công nghệ An Giang, Tr 52 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn tại địa bàn xã An Thảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
Tác giả: Đinh Thị Việt Huỳnh
Năm: 2002
14. Võ Thị Hạnh, Lê Thị Bích Phượng, Trần Thạnh Phong, Lê Tấn Hưng, Trương Hồng Vân (2007), "Giảm thiểu ô nhiễm mùi hôi chuồng trại và sản xuất phân vi sinh từ phân chuồng bằng chế phẩm sinh học" Viện sinh học nhiệt đới, Hội nghị khoa học và công nghệ 2007 Tr 226 - 230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm thiểu ô nhiễm mùi hôi chuồng trại và sản xuất phân vi sinh từ phân chuồng bằng chế phẩm sinh học
Tác giả: Võ Thị Hạnh, Lê Thị Bích Phượng, Trần Thạnh Phong, Lê Tấn Hưng, Trương Hồng Vân
Năm: 2007
15. Phạm Hồng Hải và cộng sự (2009), "Sử dụng chế phẩm sinh học COMPOST MAKER sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp"Thông tin khoa học công nghệ Nghệ An số 2/ 2010, Tr 13 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm sinh học COMPOST MAKER sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp
Tác giả: Phạm Hồng Hải và cộng sự
Năm: 2009
16. Mai Thế Hưng (2010), "Đánh giá kiến thức, thái độ và thức hành của người dân về việc thu gom, xử lý rác thải sinh họat tại hai phường của Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình năm 2010" Luận văn chuyên nghành Y tế công cộng Trường Đại học Y Thái Bình Tr 84- 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức, thái độ và thức hành của người dân về việc thu gom, xử lý rác thải sinh họat tại hai phường của Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình năm 2010
Tác giả: Mai Thế Hưng
Năm: 2010
18. Trần Đức Hiền (2006), "Sử dụng chế phẩm sinh học EM trong sản xuất và đời sống" Sở khoa học và công nghệ Daklak, Tr 13- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm sinh học EM trong sản xuất và đời sống
Tác giả: Trần Đức Hiền
Năm: 2006
19. Trần Yêm (2003), Nghiên cứu, đánh giá sơ bộ tình hình chất thải rắn nông thôn. Hội thảo khoa học môi trường nông thôn Việt Nam, Tr 7- 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá sơ bộ tình hình chất thải rắn nông thôn
Tác giả: Trần Yêm
Năm: 2003
20. Kỹ thuật ủ compost, từ rác thải hữu cơ: Tô Vân Anh Y học dự phòng 2005 Số: 6 Tập: 15Trang: 89-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ rác thải hữu cơ
21. Nguyễn Hùng Long, Huỳnh Thị Kim Hối, Nguyễn Bình Minh (2006),"Đánh giá nhận thức của người dân đối với rác thải tại một số xã ven đô Hà Nội và Hà tây". Tạp chí Y học thực hành số 6 (547), tr 59- 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhận thức của người dân đối với rác thải tại một số xã ven đô Hà Nội và Hà tây
Tác giả: Nguyễn Hùng Long, Huỳnh Thị Kim Hối, Nguyễn Bình Minh
Năm: 2006
23. Nguyễn Hùng Long (2009), Nghiên cứu hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở 5 xã nông thôn đô thị hóa Hà Nội và xây dựng mô hình thử nghiệm can thiệp xử lý chất thải rắn hữu cơ bằng giun đất. Luận án Tiến sỹ Y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Tr 77, 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở 5 xã nông thôn đô thị hóa Hà Nội và xây dựng mô hình thử nghiệm can thiệp xử lý chất thải rắn hữu cơ bằng giun đất. Luận án Tiến sỹ Y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Tác giả: Nguyễn Hùng Long
Năm: 2009
26. Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2010), Khoa học &amp; công nghệ Bình Phước, xử lý rác thải thành phân hữu cơ, một giải pháp bảo vệ môi trường số 8/ 2010 Tr 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học & công nghệ Bình Phước, xử lý rác thải thành phân hữu cơ, một giải pháp bảo vệ môi trường số 8/ 2010
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Năm: 2010
28. Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Quang Huy (2004), "Công nghệ xử lý rác thải và chất thải rắn". Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, Tr 68- 93, 203- 219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ xử lý rác thải và chất thải rắn
Tác giả: Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Quang Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
30. Sở Khoa học &amp; công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc (2009), Xây dựng mô hình thu gom và xử lý rác thải nhằm bảo vệ môi trường nông thôn Tr 23- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình thu gom và xử lý rác thải nhằm bảo vệ môi trường nông thôn
Tác giả: Sở Khoa học &amp; công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2009
32. Mai Ngọc Tâm (2003), "Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải nilon và chất thải hữu cơ". Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải nilon và chất thải hữu cơ
Tác giả: Mai Ngọc Tâm
Năm: 2003
33. Nguyễn Thị Thanh Tâm, "chế phẩm sinh học xử lý chất thải hữu cơ làm phân bón trong sản xuất nông nghiệp" Sở Khoa học &amp; công nghệ tỉnh Hà Tĩnh,Tr 21-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chế phẩm sinh học xử lý chất thải hữu cơ làm phân bón trong sản xuất nông nghiệp
36. Vũ Văn Tân (2010), "Nông dân tự sản xuất chế phẩm sinh học BIOF xử lý đáy ao nuôi thủy sản". Tạp chí khoa học công nghệ môi trường Hải Dương số 5 - 10.2010, Tr 19 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dân tự sản xuất chế phẩm sinh học BIOF xử lý đáy ao nuôi thủy sản
Tác giả: Vũ Văn Tân
Năm: 2010
41. Phan Thế Vĩnh (2000), "Nghiên cứu lập dự án xử lý rác thải tại 2 thị xã Hà Đông và Sơn Tây". Kỷ yếu tóm tắt kết quả các dự án, đề tài khoa học và công nghệ tỉnh Hà Tây 1991- 2000, tr 287- 291 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lập dự án xử lý rác thải tại 2 thị xã Hà Đông và Sơn Tây
Tác giả: Phan Thế Vĩnh
Năm: 2000
42. Nguyễn Kim Vân và cộng sự (2007), "Kết quả nghiên cứu chế phẩm sinh học phòng trừ các bệnh hại cây có nguồn gốc trong đất ở miền bắc Việt Nam" Hội nghị khoa học công nghệ toàn quốc về bảo vệ thực vật lần thứ 3/ 2007, Tr 449 - 457.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chế phẩm sinh học phòng trừ các bệnh hại cây có nguồn gốc trong đất ở miền bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Vân và cộng sự
Năm: 2007
17. Nguyễn Đình Hoè, Tạ Hoàng Tùng Bắc (2003), Sổ tay hướng dẫn chiến dịch truyền thông môi trường Khác
24. Hoàng Đức Liên (2006), Kỹ thuật và thiết bị xử lý chất thải bảo vệ môi trường Khác
25. Luật Bảo vệ môi trường (2005), Nhà xuất bản chính trị quốc gia. NXB Nông nghiệp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Tiền Hải và 3 xã nghiên cứu 2.1.5. Đặc điểm tình hình huyện Tiền Hải - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Tiền Hải và 3 xã nghiên cứu 2.1.5. Đặc điểm tình hình huyện Tiền Hải (Trang 22)
Bảng 3.1. Nhóm tuổi của người dân được phỏng vấn theo xã - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.1. Nhóm tuổi của người dân được phỏng vấn theo xã (Trang 30)
Bảng 3.3. Phân bố về thu nhập bình quân người/tháng - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.3. Phân bố về thu nhập bình quân người/tháng (Trang 32)
Bảng 3.4 cho thấy số lượng rác thải sinh hoạt trung bình/ngày của các  hộ gia đình là 1 - 2 kg/ngày chiếm tỷ lệ 67,5%, số hộ gia đình có lượng rác  thải sinh hoạt thải ra 2 - 5 kg/ngày trong ngày cũng chiếm tỷ lệ 30,5%, còn lại  các hộ gia đình có lượng r - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.4 cho thấy số lượng rác thải sinh hoạt trung bình/ngày của các hộ gia đình là 1 - 2 kg/ngày chiếm tỷ lệ 67,5%, số hộ gia đình có lượng rác thải sinh hoạt thải ra 2 - 5 kg/ngày trong ngày cũng chiếm tỷ lệ 30,5%, còn lại các hộ gia đình có lượng r (Trang 33)
Bảng 3.5 và biểu đồ 3.4 cho ta thấy thực trạng thành phần rác thải tại  các hộ gia đình của người dân được phỏng vấn chủ yếu là thức ăn thừa chiếm  tỷ lệ rất cao 75,4%, còn lại rác thải là rơm rạ, dây dưa dây bí, đất, gạch, xỉ  than chiếm tỷ lệ từ 24,1 %  - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.5 và biểu đồ 3.4 cho ta thấy thực trạng thành phần rác thải tại các hộ gia đình của người dân được phỏng vấn chủ yếu là thức ăn thừa chiếm tỷ lệ rất cao 75,4%, còn lại rác thải là rơm rạ, dây dưa dây bí, đất, gạch, xỉ than chiếm tỷ lệ từ 24,1 % (Trang 34)
Bảng 3.7. Số lần đổ rác của hộ gia đình tại 3 xã - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.7. Số lần đổ rác của hộ gia đình tại 3 xã (Trang 35)
Bảng 3.8. Cách thu gom rác của hộ gia đình tại 3 xã - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.8. Cách thu gom rác của hộ gia đình tại 3 xã (Trang 36)
Bảng 3.8 cho ta thấy cách thu gom rác cho vào túi nilon của các hộ gia  đình tại 3 xã trong diện nghiên cứu là rất cao chiếm đến 88,8% - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.8 cho ta thấy cách thu gom rác cho vào túi nilon của các hộ gia đình tại 3 xã trong diện nghiên cứu là rất cao chiếm đến 88,8% (Trang 36)
Bảng 3.10. Nhận thức của người dân về hình thức xử lý rác thải sinh hoạt - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.10. Nhận thức của người dân về hình thức xử lý rác thải sinh hoạt (Trang 37)
Bảng 3.11 cho thấy sự tham gia của các ban ngành đoàn thể, chính  quyền địa phương trong việc thu gom và xử lý rác thải, rơm rạ bằng chế phẩm  EMIC-YTB chủ yếu là do hội nông dân đảm nhiệm chiếm tỷ lệ 77,2%, trong  đó vai trò của hội nông dân hoạt động có - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.11 cho thấy sự tham gia của các ban ngành đoàn thể, chính quyền địa phương trong việc thu gom và xử lý rác thải, rơm rạ bằng chế phẩm EMIC-YTB chủ yếu là do hội nông dân đảm nhiệm chiếm tỷ lệ 77,2%, trong đó vai trò của hội nông dân hoạt động có (Trang 38)
Bảng 3.12 cho biết người dân nhận thức rằng các dụng cụ thu gom rác  thải của hộ gia đình trước khi ủ phân hữu cơ vi sinh bằng chế phẩm  EMIC-YTB tại 3 xã chủ yếu là đựng vào thùng có nắp đậy và túi nilon chiếm tỷ lệ từ  40,8% đến 41,7%, một số hộ gia đìn - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.12 cho biết người dân nhận thức rằng các dụng cụ thu gom rác thải của hộ gia đình trước khi ủ phân hữu cơ vi sinh bằng chế phẩm EMIC-YTB tại 3 xã chủ yếu là đựng vào thùng có nắp đậy và túi nilon chiếm tỷ lệ từ 40,8% đến 41,7%, một số hộ gia đìn (Trang 39)
Bảng 3.13. Nhận thức về lợi ích của việc thu gom, xử lý rác thải bằng - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.13. Nhận thức về lợi ích của việc thu gom, xử lý rác thải bằng (Trang 40)
Bảng 3.15 cho thấy nhu cầu về thu gom rác thải chung của các hộ gia  đình tại 3 xã là rất cần thiết và cần thiết chiếm tỷ lệ tương đương nhau từ  42,8% đến 57,2% - nhận thức, thái độ, thực hành của người dân và sự huy động cộng đồng trong xử lý rác, rơm rạ bằng chế phẩm emic-ytb tại 3 xã, tiền hải, thái bình năm 2011
Bảng 3.15 cho thấy nhu cầu về thu gom rác thải chung của các hộ gia đình tại 3 xã là rất cần thiết và cần thiết chiếm tỷ lệ tương đương nhau từ 42,8% đến 57,2% (Trang 42)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w