Trong PHCN thì vai trò của điều dưỡng và kỹ thuật viên KTV rất quantrọng vì họ là những người trực tiếp thực hiện, hướng dẫn, giám sát, theo dõi các bàitập cho bệnh nhân.Hiện nay ở Việt
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC TH¡NG LONG
DO TAI BIÕN THIÕU M¸U N·O CôC Bé
SAU GIAI §O¹N CÊP
Trang 2DO TAI BIÕN THIÕU M¸U N·O CôC Bé
SAU GIAI §O¹N CÊP
ÐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HỆ VLVH
Ngêi híng dÉn: PGS – TS Vò Trêng S¬n
HÀ NỘI – Tháng 11 n¨m 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo đại học,Phòng Công tác học sinh - sinh viên trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện cho tôitrong quá trình học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, truyền đạt chotôi kiến thức chuyên môn, hết lòng giúp đỡ tôi trong những năm học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô khoa Điều Dưỡng, trường Đại học ThăngLong đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi thực hiện vàhoàn thành bản Khoá luận này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới PGS-TS.Vũ Thường Sơn - Phó giám
đốc bệnh viện Châm cứu TW đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôitrong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành Khoá luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cha mẹ, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trongquá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Khoá luận này
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2012
Người thực hiện khoá luận
Vũ Xuân Tú
Trang 4THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Đại học – Sau đại học ĐH – SĐH
Kỹ thuật viên KTVPhục hồi chức năng PHCNTai biến mạch máu não TBMMN
Tổ chức y tế thế giới TCYTTG Trình độ học vấn TĐHV Xoa bóp bấm huyệt XBBH
Y học cổ truyền YHCT
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một vấn đề lớn của Y học các nước trongnhiều thập kỷ qua Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể gây tử vong nhanhchóng hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề, đặc biệt là các di chứng về vận động Đó làgánh nặng không chỉ đối với người bệnh, gia đình mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng
và quốc gia của họ Philipe Frogn (Pháp) đã cảnh báo: “Nếu không có chiến dịch phòngchống đích thực về mặt sức khỏe, ta sẽ tạo ra một cộng đồng những người tàn tật” Dovậy, đây là vấn đề kinh tế - xã hội được nhiều lĩnh vực quan tâm, tìm mọi biện phápphòng ngừa và điều trị TBMMN xảy ra [28]
Kinh tế ngày càng phát triển thì tỷ lệ những người bị TBMMN ngày càng tăng cao,
số người mắc bệnh năm sau nhiều hơn năm trước và có xu hướng tăng ở người trẻ tuổi làđối tượng còn nhiều cống hiến cho xã hội Theo số liệu của bộ môn Thần kinh TrườngĐại học Y Hà Nội, tỷ lệ mới mắc TBMMN của Miền Bắc và Miền Trung là152/100.000dân.Theo báo cáo của Bộ môn Thần Kinh Trường Đại học Y Dược ThànhPhố Hồ Chí Minh, ở Miền Nam tỷ lệ mới mắc TBMMN là 161/100.000 dân, [15]
TBMMN là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế cho người bệnh và đứng hàng thứ 3trong các bệnh gây tử vong, sau ung thư và bệnh tim mạch, đứng hàng thứ nhất trong cácbệnh lý thần kinh [12].Theo Tổ chức Y tế Thế giới(TCYTTG), ước tính có tới 2.100.000người bị tử vong vì tai biến mạch máu não tại Châu Á, trong đó 1.300.000 người ở TrungQuốc, 448.000 người ở Ấn độ và 390.000 người ở các nước khác [13]
TBMMN chia làm hai loại: Xuất huyết não chiếm 15% và thiếu máu cục bộ nãochiếm 85% ( ở Mỹ), Ở Việt nam tỷ lệ này cũng gần tương đương [9] TBMMN ngay tạicác nước phát triển vẫn là biến chứng nặng, dễ tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề vềvận động, cảm giác, các rối loạn chức năng cao cấp của vỏ não [25]
Trong điều trị TBMMN, vấn đề đặt ra, không phải chỉ thêm năm tháng cho cuộcsống (tức kéo dài tuổi thọ), mà phải thêm sức sống cho năm tháng (tức chất lượng cuộcsống) Muốn vậy, ngoài việc luyện tập thể chất, tinh thần, người bệnh còn phải lo bảo vệsức khoẻ chống bệnh tật Ngày nay với sự tiến bộ không ngừng của y học, nhiều phươngtiện chẩn đoán và phương pháp điều trị hiện đại đã giúp cho việc dự phòng, điều trị
và phục hồi chức năng( PHCN) có hiệu quả cao hơn, cải thiện đáng kể tiên lượng của
Trang 6người bệnh Trong PHCN thì vai trò của điều dưỡng và kỹ thuật viên (KTV) rất quantrọng vì họ là những người trực tiếp thực hiện, hướng dẫn, giám sát, theo dõi các bàitập cho bệnh nhân.
Hiện nay ở Việt Nam, vấn đề phục hồi sau TBMMN ngày càng được quan tâm hơn.Những người bị liệt nửa người do TBMMN cũng được phục hồi vận động tốt hơn, giúp
họ được tái hội nhập với xã hội
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu đề cập đến PHCN vận động cho bệnh nhân liệt sauTBMMN nhưng chưa bàn sâu về tập vận động chủ động cho người bệnh Trên thực tế khiPHCN cho bệnh nhân chúng tôi đã kết hợp tập vận động chủ động tích cực với xoa bópbấm huyệt (XBBH) đã cho kết quả rất khả quan Điều này đã thúc đẩy, khích lệ chúng tôi
nghiên cứu đề tài :
“Tác dụng của xoa bóp bấm huyệt kết hợp tập vận động chủ động trong phục hồi vận động trên bệnh nhân liệt nửa người do tai biến thiếu máu não cục bộ sau giai đoạn cấp”
Với mong muốn phục hồi tối ưu chức năng vận động, rút ngắn thời gian điều trị vànâng cao chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân kém may mắn bị di chứng củaTBMMN Đề tài nghiên cứu của chúng tôi hướng tới hai mục tiêu sau:
1 Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động của bệnh nhân liệt nửa người
do tai biến nhồi máu não sau giai đoạn cấp trên lâm sàng bằng phương pháp xoa bóp bấm huyệt kết hợp tập vận động chủ động tích cực
2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới kết quả phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân tai biến mạch máu não.
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Đại cương về tai biến mạch máu não
1.1.1 Định nghĩa
Theo định nghĩa của TCYTTG TBMMN là những thiếu sót chức năng thần kinhthường là khu trú xảy ra đột ngột, có thể hồi phục hoàn toàn hoặc dẫn đến tử vong trongvòng 24 giờ do tổn thương mạch máu não, loại trừ các nguyên nhân sang chấn Nguyênnhân là do các bệnh lý khác nhau của mạch máu não.[16]
1.1.2 Tình hình tai biến mạch máu não trong nước và ngoài nước
- Tai biến mạch máu não trên thế giới
Theo thống kê của TCYTTG, hàng năm có hơn 4,5 triệu người tử vong doTBMMN, riêng ở châu Á, số dân bằng một nửa số dân thế giới nhưng hàng năm tử vong
do TBMMN là 2,1 triệu người [8].Về mặt dịch tễ học, theo (TCYTTG) tỷ lệ mới mắc và
tỷ lệ hiện mắc TBMMN ở nhiều nước tương ứng là 150-250/100.000 người dân và 700/100.000 người dân Hai tỷ lệ trên cũng rất khác nhau tùy theo địa dư như ở Hoa kỳnăm 1981 tỷ lệ này tương ứng là 73-195/100.000 người dân, còn tỷ lệ mới mắc ở NhậtBản là 91-317/100.000 người dân, Trung Quốc là 523/100.000 người dân.[13]
500-Theo thống kê của Hoa kỳ (1999): Tổng số bệnh nhân TBMMN chiếm 12% sốgiường điều trị nội trú, chi phí cho điều trị chiếm 4,5% ngân sách về sức khỏe của đấtnước.[26]
Theo Hiệp hội Thần kinh học các nước Đông Nam Á, tỷ lệ bệnh nhân TBMMNđiều trị nội trú là: Trung Quốc 40%; Triều Tiên 16%; Ấn Độ 11%; Philippin 10%;Indonexia 8%; Thái Lan 6%; Việt Nam 7%; Malayxia 2%[28]
- Tai biến mạch máu não ở Việt Nam
Các năm gần đây, tình hình mắc TBMMN ở nước ta có chiều hướng gia tăng đáng
kể đã cướp đi sinh mạng của nhiều người hoặc để lại di chứng nặng nề gây thiệt hại to lớncho gia đình và xã hội
Theo thống kê của Nguyễn Văn Đăng (1996) tại Khoa Thần kinh Bệnh viện BạchMai từ năm 1991 đến năm1993 có 631 trường hợp TBMMN, tăng gấp 2,5 lần so với thời
kỳ từ năm 1986 đến năm 1989, [9]
Trang 8Lê Văn Thành (1998), tỷ lệ hiện mắc trung bình hàng năm là 416/100.000 ngườidân, tỷ lệ mới mắc là 152/100.000 người dân, tỷ lệ tử vong ở Việt nam là từ 20-25/100.000 người dân, điều tra ở Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ hiện mắc là 6060/ 1 triệudân, tăng hơn năm 1993 với tỷ lệ 4160/1triệudân,[15]
1.1.3 Sơ lược giải phẫu - sinh lý mạch máu não
- Giải phẫu hệ mạch máu não
Não được nuôi dưỡng bởi 4 mạch máu chính xuất phát từ động mạch chủ: hai độngmạch cảnh trong và hai động mạch đốt sống thân nền nối với nhau qua đa giác Willis.+ Động mạch cảnh trong xuất phát từ động mạch cảnh gốc tại xoang cảnh, đi thẳnglên hộp sọ cung cấp máu cho phần lớn hệ bán cầu đại não Động mạch cảnh trong chialàm bốn ngành tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau vàđộng mạch mạc trước Mỗi động mạch não chia làm hai ngành tưới máu ở khu vực nông(vỏ não) và khu vực sâu (trung tâm não) Hai ngành nông và sâu này độc lập với nhau,không thông nối với nhau mà có cấu trúc tận cùng
Động mạch não trước: nhánh nông tưới máu cho mặt trong vỏ não của thùy trán vàthùy đỉnh Nhánh sâu tưới máu cho phần trước của bao trong, phần đầu của nhân đuôi vànhân bèo xám trong số đó có nhánh động mạch Heubner hay động mạch của chảy máuĐộng mạch não giữa: nhánh nông ở vỏ não tưới máu cho mặt ngoài bán cầu đại não.Nhánh sâu cung cấp máu cho các nhân xám trung ương, bao trong, thể vân, và đồi thịtrong đó có động mạch Charcot (hay động mạch chảy máu não) dễ bị vỡ do tăng huyết áphoặc xơ vữa động mạch
Động mạch thông sau: tiếp nối với động mạch não sau của động mạch thân nền, cungcấp máu cho mặt dưới bán cầu đại não tạo sự thông nối của vùng đa giác Willis là nơi có túiphình động mạch, chỗ nối động mạch cảnh, khi vỡ túi phình này gây liệt dây thần kinh mộtbên hoặc cơn đau nửa đầu, liệt mặt
Động mạch mạc trước: nhánh nông cung cấp máu cho vỏ não, nhánh sâu tưới máucho hạnh nhân, hồi hải mã, nhân đuôi, đám rối mạc mạch trước của sừng thái dương nãothất bên
Hệ thống động mạch trung tâm có các nhánh tận không thông nối với nhau và phảichịu áp lực cao, khi chảy máu do tăng huyết áp thường ở vị trí sâu và nặng Có hai nhánh
Trang 9động mạch hay chảy máu nhất la động mạch Heubner (nhánh động mạch não trước) vàđộng mạch Charcot (nhánh động mạch não giữa).
Hệ thống động mạch ngoại vi được nối với nhau bằng một mạng lưới phong phútrên khắp bề mặt của vỏ não, chia nhánh nhiều nên chịu áp lực thấp vậy khi huyết áp hạ
có thể gây nhồi máu não Vùng giao thủy giữa các nhánh nông và nhánh sâu hay xảy ratai biến gây tổn thương lan tỏa như thiếu máu não cục bộ
+ Động mạch đốt sống thân nền: xuất phát từ đoạn đầu của động mạch dưới đòn đilên trong các lỗ của mỏm ngang từ C1 đến C6 chui vào lỗ chẩm đến bờ dưới của cầu nãonhập với động mạch cùng tên bên đối diện tạo thành động mạch thân nền Động mạchthân nền nằm ở rãnh giữa cầu não, lên khỏi cầu não cho hai nhánh tận là động mạch nãocấp máu cho mặt dưới bán cầu đại não và khu vực gian não Động mạch não sau, nhánhnông cấp máu cho mặt trong và dưới thùy thái dương, thùy hải mã, phần giữa thùy chẩm,cực chẩm; nhánh sâu cấp máu cho 2/3 sau của đồi thị, màng mạch thành bên của não thấtIII, não thất bên, nhân nhạt, nhân đỏ, thể dưới đồi, tuyến tùng, củ não sinh tư và phầngiữa của thể gối.[3]
Đa giác Willis là vòng nối thông hệ động mạch cảnh trong và động mạch đốt sốngthân nền được cấu tạo bởi hai động mạch não trước, hai động mạch thông sau, hai độngmạch não sau và hai động mạch thông trước Đa giác Willis nằm dưới nền sọ có tác dụngđiều hòa lưu lượng dòng máu lên não[1],[2],[21]
Hình 1.1 Sơ đồ vòng đa giác Willis (Frank H Netter, MD (2008), ATLAS giải phẫu người)
Trang 10Theo Lazorthes, tuần hoàn não có hệ thống nhánh nông ở ba mức như sau:
+ Mức I: Nối thông giữa các động mạch lớn trước não (giữa động mạch cảnh trong,động mạch cảnh ngoài và động mạch đốt sống) qua động mạch võng mạc trung tâm.+ Mức II: Các động mạch lớn tạo vòng Willis ở đáy não
+ Mức III: Nối thông tầng nông bề mặt vỏ não giữa các động mạch tận thuộc hệđộng mạch cảnh trong và hệ động mạch đốt sống nền[1],[2]
Ở đại não cũng có nhánh nối mạch giữa màng mềm và bề mặt bán cầu đại não, cácnối tiếp này bình thường không hoạt động, mỗi động mạch chỉ tưới máu cho khu vực nóphụ trách Khi có tai biến tắc mạch, vỡ mạch não khu vực thì mạch nối thông này hoạtđộng bù trừ ngay, nhưng ở tiểu não không có mạch nối trên bề mặt khi tai biến xảy ra thìtiên lượng nặng
- Sinh lý tuần hoàn não
+ Theo Ingvar và cộng sự (1965), lưu lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn
là 49,8 ml ± 5,4 ml/100 gam não trong một phút Có sự khác biệt lớn giữa lưu lượng tuầnhoàn của chất xám (79,7 ml ± 10,7/100 gam não/ phút), trong chất trắng là20,5 ±2,5ml/100g năo /phút
+ Theo hiệu ứng Bayliss, ở người bình thường lưu lượng máu lên năo luôn hằngđịnh khoảng 55ml/100g năo/phút Lưu lượng này không biến đổi theo lưu lượng tim Khihuyết áp trung bình thấp dưới 60mmHg hoặc cao hơn 150mmHg thì lưu lượng máu năo
sẽ tăng hay giảm theo lưu lượng tim (mất hiệu ứng Bayliss)
+ Tai biến nhồi máu não sẽ xảy ra khi lưu lượng máu giảm dưới 18-20 ml/ 100 gamnão/ phút.[3]
1.2 Nhồi máu não (Thiếu máu não cục bộ)
Thiếu máu não cục bộ (TMNCB) là tình trạng mạch máu bị tắc nghẽn làm cho khu vựcnão mà mạch máu đó cung cấp bị thiếu máu gây ra hiện tượng hoại tử và nhũn tế bào não
Trang 11Hình 1.2 Thiếu máu não cục bộ
Tai biến TMNCB được phân biệt thành các loại như sau:
- Cơn thiếu máu não thoảng qua: Tai biến phục hồi trước 24 giờ, được coi là yếu tố
nguy cơ của tai biến nhồi máu não hình thành
- Tai biến nhồi máu não cục bộ hồi phục: Tai biến phục hồi trên 24 giờ, không để lại
di chứng hoặc di chứng không đáng kể
- Tai biến nhồi máu não cục bộ hình thành: Thời gian hồi phục kéo dài, để lại nhiều
di chứng nặng nề như liệt nửa người, thất ngôn.vv…
1.2.1 Cơ chế bệnh sinh của thiếu máu não cục bộ
- Cơ chế lấp mạch (Thrombosis): là sự bít tắc động mạch do những mảng vật chất trôitheo dòng máu gây ra có thể là cục huyết khối trắng (tiểu cầu và fibrin), có thể là cụchuyết khối đỏ (xác hồng cầu và fibrin) và ít hơn là các tinh thể cholesterol, mảng mô sợitách rời từ mảng xơ vữa,
- Cơ chế lưu lượng thấp: trên bệnh nhân đang hình thành huyết khối, có sự nghẽnmạch không hoàn toàn, máu vẫn qua được nhưng lưu lượng máu não và áp suất tưới máu
ở hạ lưu của nơi chít hẹp có giảm sút rõ rệt, do đó có thể gây thiếu máu não cục bộ Cơchế này giải thích những cơn thiếu máu não ngắn hạn hay thoáng qua trên lâm sàng vànhồi máu não thường xảy ra vào lúc giữa đêm hay rạng sáng khi mà hoạt động tim vàhuyết áp giảm nhiều nhất trong ngày, [3], [4],[15]
Trang 12Có nhiều nguyên nhân gây ra TBMMN đó là:
- Tăng huyết áp, xơ vữa động mạch
- Huyết khối mạch, co thắt và nghẽn mạch
- Bệnh tim, bệnh đái tháo đường
- Dị dạng động mạch não: túi phình động mạch, dị dạng thông động tĩnh mạch
1.2.3 Các yếu tố nguy cơ
Theo khuyến cáo của TCYTTG có hơn hai mươi yếu tố nguy cơ gây ra TBMMN.Các yếu tố nguy cơ có thể tác động riêng lẻ hoặc tác động phối hợp cùng một lúc Yếu tốnguy cơ chủ yếu nhất vẫn là tăng huyết áp và xơ vữa động mạch
- Tăng huyết áp:Theo Bousser MG và Hamin B, tăng huyết áp gây nguy hại gấp támlần đối với thiếu máu cục bộ và gấp mười ba lần đối với chảy máu não Tuy nhiên khôngphải lúc nào cũng có sự song hành giữa tăng huyết áp và tỷ lệ TBMMN Nhóm tuổi trên
60, hầu hết TBMMN xảy ra ở bệnh nhân có tăng huyết áp nhẹ Theo Framinham, nghiêncứu trên 500 trường hợp TBMMN, chỉ thấy 36% nam và 41% nữ có tăng huyết áp tâmthu từ 160 mmHg trở lên
- Xơ vữa động mạch: xơ vữa động mạch phổ biến ở người cao tuổi và là nguyênnhân gây tử vong hàng đầu ở các nước có nền kinh tế phát triển cao Theo TCYTTG,nguyên nhân gây tử vong do vữa xơ động mạch là 45% trong đó 32% ở động mạch vành,13% ở động mạch não Nguyễn Văn Tảo nghiên cứu trên 1.500 người tử vong do tai nạn
và thương tật thấy 100% người Việt Nam từ 30 tuổi trở lên bị vữa xơ động mạch
- Một số yếu tố nguy cơ khác: tăng đường huyết, bệnh thiếu máu cơ tim chiếm 16%,bệnh van tim chiếm 3,4% Về tuổi, tỷ lệ TBMMN tăng lên theo tuổi, hay gặp nhất ở lứatuổi từ 50 đến 70 Ngoài ra còn có các yếu tố nguy cơ khác như: béo phì, nghiện rượu,nghề nghiệp, khí hậu thời tiết…vv [10]
1.2.4 Đặc điểm của thiếu máu não cục bộ:
TMNCB xảy ra khi một mạch máu não bị tắc một phần hoặc tắc toàn bộ, có thể dotắc mạch ( Thrombus) hoặc do lấp mạch ( Embolus) Thường ở các nhánh nông và trêncác nhánh này tuần hoàn có thể bị nghẽn ở bất cứ vị trí nào cho nên tùy theo vị trí tổnthương mà có hội chứng lâm sàng của vỏ não khác nhau Nhồi máu não sẽ xảy ra khi lưulượng máu não giảm xuống dưới 18-20 ml/100gam não/phút, trung tâm ổ nhồi máu não làvùng hoại tử có lưu lượng máu từ 10- 15 ml/100gam não/phút còn xung quanh vùng này
Trang 13có lưu lượng máu não từ 20-25 ml/100gam não/phút, ở vùng này tuy các tế bào não tuyvẫn còn sống nhưng không hoạt động, điều trị tai biến nhằm phục hồi tưới máu cho vùngnày cho nên còn gọi đây là vùng điều trị.
- Đặc điểm triệu chứng
+ Tiền chứng: thường có triệu chứng báo động, nếu bán cầu não ưu thế bị xâm phạmthì sẽ có mất lời nói vận động kiểu Broca, nếu vào khu vực chi phối cảm giác sẽ có rốiloạn cảm giác
+ Giai đoạn khởi đầu: về lâm sàng có thể có hôn mê, liệt nửa người Riêng đối vớinhồi não do tắc mạch thì khởi đầu thường từ từ
+ Giai đoạn toàn phát: có thể hôn mê vừa hoặc nhẹ, rối loạn thực vật ở mức trung bình.+ Tiến triển: nếu qua được giai đoạn cấp tính ( nhất là từ ngày thứ 2 đến thứ 10)bệnh sẽ được phục hồi dần dần nhưng hay để lại di chứng, thường có liệt nửa ngườikhông toàn bộ, không thuần túy, không đồng đều Nếu vị trí tổn thương ở bán cầu não ưuthế thì sẽ có thêm triệu chứng mất lời nói vận động kiểu Broca Các dấu hiệu thần kinhxuất hiện nhanh chóng và sau đó giảm đi (thường vào tuần thứ hai) có thể do phù não bớt
đi hoặc có sự tưới bù phục hồi dần khu vực nhồi máu
- Các thể lâm sàng [19]
+ Nhũn vùng động mạch não giữa nông: liệt nửa người rõ ở ngọn chi và mắt, nếu ởbán cầu não ưu thế, sẽ có mất lời có khi có bán manh
+ Nhũn vùng động mạch não giữa sâu: liệt nửa người toàn bộ, đồng đều và không
có rối loạn cảm giác, có thể tiến triển thành liệt co cứng nửa người
+ Nhũn não toàn bộ vùng động mạch não giữa: hôn mê sâu với nhiều rối loạn thựcvật, liệt nửa người, rối loạn cảm giác, mất lời, bán manh
+ Nhũn vùng động mạch trước: liệt một chân hoặc liệt nửa người, rõ nhất là ở chân.Tổn thương ở thùy trán và thể trái hay có liệt mặt
+ Nhũn vùng động mạch não sau: giảm hoặc mất cảm giác nửa người, hội chứng đồithị hoặc bán manh
+ Nhũn vùng thân não: liệt tứ chi, liệt liếc dọc hoặc liệt vận nhãn toàn bộ
+ Nhũn khu vực động mạch mạc trước: liệt nửa người không kèm theo rối loạn cảmgiác,có bán manh
Trang 14+ Tắc động mạch bên của hành tủy: liệt dây V, IX, X, hội chứng tiền đình, ClaudeBernard Horner, hội chứng tiểu não một bên Bên đối diện mất cảm giác đau nóng lạnh ởchi.[22]
- Cận lâm sàng:
Chụp cắt lớp vi tính não: hình ảnh giảm tỷ trọng ổ nhồi máu đặc trưng cho nhồimáu não[20]
1.2.5 Hậu quả của tai biến nhồi máu não
Sau giai đoạn cấp của TMNCB, nếu không bị tử vong thì bệnh nhân chuyển sang
giai đoạn phục hồi dần các khiếm khuyết thần kinh do TMNCB để lại Đây là một quátrình phục hồi di chứng liệt nửa người và các rối loạn chức năng khác
1.3 Tai biến mạch máu não theo y học cổ truyền
Theo y học cổ truyền (YHCT), tai biến mạch máu não thuộc phạm vi chứng
“trúng phong” được mô tả là bệnh nhân đột nhiên chóng mặt, ngã, một nửa ngườikhông cử động được, méo mồm, nói ngọng, nếu nặng thì bất tỉnh hôn mê
1.3.1 Nguyên nhân: Có hai nguyên nhân chính gây ra trúng phong.
- Do ngoại nhân: Do ngoại phong xâm nhập vào người: theo Nội kinh, “Phong tà
xâm nhập vào kinh lạc tạng phủ của thân thể mà sinh ra chứng trạng như bất tỉnh, bánthân bất toại” Kim quỹ yếu lược nói: “Kinh mạch hư không, phong tà thừa cơ xâm nhậpgây chứng trúng phong” Tùy theo bệnh nặng nhẹ mà biểu hiện chứng hậu ở kinh lạc,
tạng phủ trong giai đoạn này
- Do nội nhân
+ Do tâm hỏa thịnh: theo Nội kinh, các chứng phát nhiệt, hoa mắt, đầu óc mờ tối, taychân co rút đều do hỏa mà ra Lưu Hà Gian nói: “Tâm hỏa thịnh, thận thủy hư, thủy không chếnổi hỏa, tức là âm hư dương thực, nhiệt khí uất lên, tâm thần bị mờ quáng, gân xương yếu liệtrồi ngã lăn ra bất tỉnh”
+ Do đàm nhiệt: theo Chu Đan Khê do ăn quá nhiều chất bổ béo ít vận động, tỳkhông kiện vận được thấp, thấp tụ sinh đàm; do thấp mà sinh ra đàm, đàm sinh ra nhiệt
mà nhiệt sinh ra phong
+ Do can thận âm hư: theo Diệp Thiên Sĩ, “Trúng phong dương khí trong thân thểbiến động hoặc do phần âm của can kém, huyết khô phát nóng thì phong khí đưa lên dừnglại ở những khiếu bị tắc nghẽn nên bệnh nhân ngã ra bất tỉnh”
+ Do khí hư: người lớn tuổi thể chất yếu kém, khí đã suy hoặc vì lo nghĩ nhiều, lao lựcquá sức làm hư tổn chân khí nên dễ bị chứng trúng phong [23]
Trang 151.3.2 Phân loại theo YHCT: Theo YHCT trúng phong chia làm hai thể
- Trúng phong kinh lạc: mức độ nhẹ, liệt nửa người không có hôn mê Bỗng nhiên
da thịt tê dại, đi lại nặng nhọc khó khăn, mắt miệng méo, nói ngọng, tê liệt nửa người, rêulưỡi trắng, mạch huyền tế hay phù sác
- Trúng phong tạng phủ: bệnh đột ngột, người bệnh bỗng lăn ra mê man bất tỉnh,
nói ú ớ hoặc không nói được, thở khò khè, miệng méo mắt lệch, tê liệt nửa người, nếunặng có thể tử vong Trong trúng phong tạng phủ có chứng bế và chứng thoát
+ Chứng bế: bất tỉnh, răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai bàn tay nắm chặt, da mặt
đỏ, chân tay ấm, mạch huyền hữu lực
+ Chứng thoát: hôn mê bất tỉnh, mắt nhắm, miệng há, chân tay lạnh, ra mồ hôinhiều, đại tiểu tiện mất tự chủ, người mềm lưỡi rụt, mạch trầm huyền vô lực
Sau khi trúng phong, bệnh nhân còn lại di chứng trúng phong mà chủ yếu là bánthân bất toại biểu hiện thượng hạ chi của bán thân bên trái hoặc bên phải tê dại không cửđộng được, còn có cảm giác biết đau, biết nóng, lạnh; tay không còn cầm nắm được, chân
không đi lại được, nói khó hoặc nói ngọng thể hiện ở hai trạng thái hư và thực( Trạng
thái hư hàn và Trạng thái thực nhiệt) [23]
1.4 Tình hình nghiên cứu PHCN cho bệnh nhân TBMMN trong và ngoài nước
- Tác giả Wang- XD, (1990) khoa thần kinh bệnh viện Bắc Kinh theo dõi 123 bệnhnhân có thiếu máu thoáng qua, 46,5% biến chứng TBMMN Can thiệp nội khoa cho thấykhả năng phục hồi từ 19,7% – 53%[28]
- Tại khoa Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai (2001) đã đánh giá kết quả phụchồi liệt trên 75 bệnh nhân TBMMN; 85% với bệnh nhân đến trong tháng đầu,81,8% với bệnh nhân đến trong 6 tháng đầu, đến sau 6 tháng chỉ đạt kết quả 61%.[6]
- Theo nghiên cứu của Dương Xuân Đạm, Cao Minh Châu, Nguyễn Văn Triệu ởtỉnh Hải Dương (2008), tỷ lệ hiện mắc là 374/100.000 dân, khiếm khuyết vận động chitrên 66,1% và chi dưới là 67,8%, độc lập hoàn toàn 31%, độc lập di chuyển 37,1%, trở lạinghề 22,4% Trong số bệnh nhân bị liệt sau TBMMN từ 1 đến 11 năm thì có 68% khôngđược phục hồi chức năng thường xuyên, 88,7% có nhu cầu chăm sóc y tế và phụ hồi chứcnăng [8]
- Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2002) về PHCN trên 50 bệnh nhân liệt nửangười sau tai biến nhồi máu não bằng phương pháp điện mãng châm cho kết quả phục hồikhá, tốt đạt 86% [11]
Trang 161.5 Phục hồi vận động bằng XBBH kết hợp tập vận động chủ động
1.5.1 Xoa bóp bấm huyệt:
- Xoa bóp là phương pháp dùng bàn tay, ngón tay tác động qua da, tổ chức liên kếtdưới da, cơ, gân, dây chằng để chữa bệnh, phòng bệnh, PHCN và nâng cao sức khoẻ
- Bấm huyệt: Là kỹ thuật dùng đầu ngón tay tác động lên các huyệt vị để chữa bệnh
1.5.1.1 Tác dụng sinh lý của xoa bóp bấm huyệt
- Đối với hệ thần kinh
+ Xoa bóp tác động trực tiếp lên các thụ cảm thể thần kinh dày đặc ở dưới da tạo racác phản xạ thần kinh đáp ứng từ đó gây nên tác dụng điều hòa quá trình hưng phấn hay
ức chế thần kinh trung ương, gây thư giãn thần kinh, giảm căng thẳng, tăng khả năng tậptrung, giảm đau, giãn cơ và điều hòa chức năng nội tạng
+ Xoa bóp lên vùng phản xạ thần kinh thực vật cạnh sống gây ra các ảnh hưởng rõ rệtlên hoạt động của các cơ quan nội tạng, vì vậy người ta chú trọng xoa bóp lên vùng đầumặt cổ, lưng và thắt lưng cùng, coi đó là vùng tác động chính để chữa các bệnh nội tạng + Xoa bóp trực tiếp lên các dây thần kinh hay đám rối thần kinh có thể gây tăng hoặcgiảm cảm giác, kích thích vận động, kích thích quá trình phát triển tái sinh nhanh những sợithần kinh bị tổn thương
- Đối với hệ tuần hoàn và chuyển hóa dưới da
+ Da và tổ chức dưới da có mạng lưới tuần hoàn mao mạch và bạch huyết rất phongphú, khi xoa bóp sẽ làm giãn hệ thống mao mạch này làm tăng tuần hoàn và dinh dưỡngtại chỗ Có thể nói xoa bóp là một biện pháp làm tăng dinh dưỡng tổ chức do giãn mạch,tăng tuần hoàn tại chỗ, giảm phù nề, và giảm đau rõ rệt, đặc biệt là đau do co mạch vàchèn ép do phù nề
+ Do hiện tượng giãn mạch, dẫn đến làm tăng quá trình chuyển hóa tại chỗ, tăng bàitiết và đào thải mồ hôi, tăng bài tiết nước tiểu, tăng quá trình oxy hóa khử, tăng huyết sắc
tố và lượng hồng cầu trong máu
- Đối với da và tổ chức dưới da
Da có nhiều chức năng quan trọng như: bảo vệ, điều hòa thân nhiệt, bài tiết, nhậncảm, thẩm mỹ Xoa bóp có tác dụng rõ rệt đối với da và tổ chức dưới da:
+ Giữ tính đàn hồi của da, kích thích chức năng miễn dịch không đặc hiệu của da,tăng chức năng bảo vệ của da
Trang 17+ Điều hòa chức năng bài tiết mồ hôi và tuyến bã nhờn
+ Gây giãn mạch, làm tăng lưu thông máu và bạch huyết, tăng cường dinh dưỡng da
và tổ chức dưới da làm cho da trở nên mịn màng và hồng hào, bởi vậy xoa bóp được coi
là một phương pháp thẩm mỹ cho da
+ Ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa và làm tiêu lớp mỡ dưới da
+ Làm bong các xơ dính của tổ chức do chấn thương hoặc vết thương, làm mềm tổchức sẹo
+ Làm bong các tế bào chết và làm sạch da
- Đối với hệ vận động (gân, cơ, khớp, dây chằng)
+ Đối với gân và cơ: xoa bóp làm tăng tính đàn hồi của gân, cơ, phát triển khối lượng
cơ, tăng sức cơ, tăng tuần hoàn dinh dưỡng cơ để phòng chống teo cơ cứng khớp Xoabóp còn làm tăng thải trừ nhanh các sản phẩm chuyển hóa của cơ sau vận động (quantrọng nhất là acid lactic) giúp khắc phục hiện tượng đau mỏi cơ, mỏi mệt thần kinh saulao động và tập luyện thể thao
+ Đối với xương khớp: xoa bóp làm tăng tuần hoàn tại chỗ nên có tác dụng tăngcường dinh dưỡng, giảm đau, hạn chế quá trình thoái hóa của xương khớp
1.5.1.2 Nguyên tắc của xoa bóp bấm huyệt:
Xoa nhẹ nhàng, liên tục và tăng dần để đạt một ngưỡng kích thích tốt nhất trên từngbệnh nhân
- Miết: KTV dùng gốc bàn tay hoặc đầu ngón tay cái tỳ lên da người bệnh một lực
đủ bám nhẹ bề mặt da Tiến hành đẩy hoặc kéo tay của KTV sao cho tay của KTV đi đếnđâu bề mặt da của người bệnh bám nhẹ nhẹ đến đấy và tạo ra lực ma sát
- Nhào cơ: KTV dùng hai bàn tay bóp cơ và đẩy rồi kéo cùng chiều hay ngượcchiều như nhào bột Lưu ý: Thủ thuật làm chậm sau đó nhanh dần, nhưng phải đảm bảo
độ thấm sâu vào cơ
Trang 18- Day cơ: KTV dùng gốc bàn tay hoặc ô mô út tỳ nhẹ lên vùng được day một lực
và di chuyển thuận theo chiều kim đồng hồ
- Lăn: KTV đặt nhẹ nắm tay lên vùng cần được lăn Thả lỏng cổ tay , dùng lựccẳng tay đẩy và kéo để cho bàn tay lăn ,thấm sâu vào vùng cơ cần được lăn
- Day huyệt: KTV dùng đầu ngón tay cái ,phần bụng ngón tay tỳ nhẹ vào da tươngứng vùng huyệt, day nhẹ theo chiều kim đồng hồ tới khi bệnh nhân có cảm giác tức nặng,duy trì lực và day nhẹ 15 đến 30 giây
- Ấn huyệt: KTV dùng đầu ngón tay cái ấn từ từ vào da tương ứng vùng huyệt, khibệnh nhân thở ra thì từ từ tăng lực tác dụng, khi bệnh nhân hít vào thì giữ nguyên lực tácdụng tới khi bệnh nhân có cảm giác tức nặng thì giữ nguyên từ 15 - 30 giây
- Bấm huyệt: KTV dùng đầu ngón tay cái ấn từ từ vào da tương ứng vùnghuyệt ,tương tự như ấn huyệt nhưng khi bệnh nhân đã có cảm giác tức nặng tại vùnghuyệt thì KTV rung nhẹ ngón tay cái và tác động thêm lực tới ngưỡng bệnh nhân chịuđược từ 15 đến 30 giây.[24]
1.5.2 Phục hồi chức năng bằng tập vận động chủ động:
1.5.2.1 Định nghĩa: PHCN là một chuyên ngành áp dụng các biện pháp y học , kỹ thuật
phục hồi,giáo dục học ,xã hội học…nhằm làm cho người tàn tật có thể thực hiện được tối
đa những chức năng đã bị giảm hoặc mất do khiếm khuyết và giảm chức năng gây nên;đảm bảo cho người tàn tật có thể độc lập tối đa, hoà nhập hoặc tái hoà nhập xã hội, có cơhội bình đẳng và tham gia vào các hoạt động xã hội
Trang 19+ Đây là bước tập đầu tiên đối với các cơ còn yếu Người điều trị hay dụng cụ giúploại bỏ trọng lực chi thể để tạo thuận lợi cho người bệnh thực hiện động tác hết tầm vận
động Tạo thuận trong vận động chủ động, khôi phục "cảm giác vận động".
Áp dụng với các cơ đủ mạnh có thể thắng được trọng lực của chi thể
Cần khuyến khích bệnh nhân tập thường xuyên
- Làm mạnh cơ
+ Là hình thức tập vận động chủ động có thêm lực trở kháng tăng dần Lực trở kháng
do người thầy thuốc hoặc dụng cụ tạo nên với mục đích làm tăng dần sức mạnh của cơ+ Áp dụng với các cơ hoặc nhóm cơ có đủ sức mạnh thắng trọng lực của chi thể hoặcvới các cơ còn bình thường cần tập để tăng cường sức mạnh
- Kết hợp tập vận động với các hoạt động sinh lý như các động tác tự phục vụ, tự
di chuyển, các hoạt động nghề nghiệp
- Phải kiên trì, bền bỉ không nôn nóng mới có được kết quả [14]
Trang 20CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm những bệnh nhân được chẩn đoán liệt nửa người do tai biến nhồi máu nãođược điều trị nội trú tại Khoa Điều Trị Toàn Diện Bệnh Viện Châm cứu TW
2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân bị TBMMN lần đầu được chẩn đoán là nhồi máu não sau giai đoạn cấp
- Chụp cắt lớp vi tính: có hình ảnh tổn thương giảm tỷ trọng trên phim
- Bệnh nhân đã được điều trị ổn định về các chức năng thần kinh, hô hấp ở giaiđoạn cấp
- Bệnh nhân không có các rối loạn tâm thần kinh
- Bệnh nhân có thể kèm theo các rối loạn khác như: Rối loạn cảm giác…
- Bệnh nhân tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những bệnh nhân bị nhồi máu não từ lần thứ 2 trở lên
- Những bệnh nhân bị TBNMN không đưa vào nghiên cứu do các nguyên nhân sau: + Chấn thương.- Bệnh lý về máu.- Tắc mạch do khí
+ U não.- Bệnh lý ở tim.- Tăng đường huyết
- Các bệnh nhân bỏ cuộc hoặc không tuân thủ đúng theo quy trình điều trị
- Ngoài ra chúng tôi loại trừ các trường hợp có bệnh kèm theo như: Lao, nhiễmHIV/AIDS, tăng huyết áp quá cao, các bệnh nhân không đủ các tiêu chuẩn trên
2.2.Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu theo phương pháp mô tả, tiến cứu
2.2.2.Cỡ mẫu nghiên cứu :
(Áp dụng công thức đo lường 1 nhóm )
- Ước tính tỷ lệ bệnh nhân đỡ, khỏi sau khi can thiệp là 95%
- Khoảng tin cậy 90%-100% Do vậy sai số chuẩn là 2,5%
Trang 21Thay vào công thức, ta tính được N=76 Chúng tôi lấy 80 bệnh nhân làm nghiên cứu
2.2.3.Phương tiện nghiên cứu
Nhóm điều dưỡng tham gia vào nghiên cứu, được tập huấn cách thử cơ bằng tay
và trợ giúp tập vận động chủ động từng nhóm cơ.Thực hiện XBBH trong vòng 15 phútsau đó tập vận động chủ động tích cực 30 phút trên nhóm bệnh nhân được nghiên cứu
2.2.4 Kỹ thuật :
Trước khi can thiệp có nhận định tình trạng sức khoẻ, thử cơ bằng tay Nhận định ,đánh giá cơ bậc của từng cơ,nhóm cơ sau đó tiến hành can thiệp ( phụ lục 1 và 2)
- Kỹ thuật thử cơ bằng tay :[16]
+ Thử cơ bằng tay là phương pháp đánh giá một cách khách quan khả năng củangười bệnh điều khiển một cơ hay một nhóm cơ hoạt động
+ Hệ thống bậc cơ: Được chia làm 6 bậc và được quy định như sau:[14]
Bậc 0: Không có sự co cơ
Bậc 1(rất yếu):Co cơ nhẹ, có thể sờ thấy nhưng không tạo được cử động
Bậc 2(yếu): Cử động hết tầm độ nhưng không kháng được trọng lực
Trang 22Ngoại quan Thủ tam lý Dương trì Bát tà Nội quan Thần môn Xích trạch Khúc trạch+ Với vùng chi dưới và mông háng: Xoa, bóp, day, lăn, vuốt, bấm huyệt: Giáp tích L1-S1 Ủy trung Thừa sơn Côn lôn Huyết hải
Lương khâu Âm lăng tuyền Dương lăng tuyền Trung đô
Giải khê Lệ đoài Hãm cốc Túc tam lý
là vô cùng quan trọng, nó giúp cho bệnh nhân cảm nhận được sự vận động, khích lệ
họ và tạo cho họ “cảm giác vận động” Thực hiện động tác này 10 -20 lần để bệnh
Liệu trình điều trị là 30 ngày
Trang 23
Hình 2.2 Hình ảnh tập vận động chủ động
2.3 Chỉ tiêu theo dõi
- Đánh giá độ liệt theo điểm Orgogozo
Đánh giá độ liệt theo điểm Orgogozo trước khi tiến hành, sau khi bệnh nhân đãđược điều trị qua giai đoạn cấp ở các cơ sở y tế tuyến trước chuyển đến, dựa vào thangđiểm thần kinh của Orgogozo được khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và được sửdụng trên thế giới để đánh giá tình trạng thần kinh, các khiếm khuyết và mức độ liệt
- Đánh giá độ liệt theo mức độ liệt của Henry và cộng sự(1984) :
Độ I (liệt nhẹ): giảm sức cơ, còn vận động chủ động
Độ II(liệt vừa): còn nâng được chi lên khỏi mặt giường
Độ III(liệt nặng): còn duỗi được chi khi tỳ lên mặt giường
Độ IV(liệt rất nặng): chỉ có biểu hiện co cơ nhẹ
Độ V(liệt hoàn toàn): không có biểu hiện co cơ
Trang 242.4 Phương pháp đánh giá kết quả
- Đánh giá kết quả phục hồi vận động bằng thang điểm Orgogozo theo mức độ
tăng điểm trước và sau liệu trình điều trị Kết quả được phân theo các mức độ sau:
+ Tốt (A): Số điểm đạt tối đa hoặc tăng > 50% số điểm so với trước điều trị
+ Khá (B): Tăng từ 30 – 50% số điểm so với trước điều trị
+ Trung bình (C): Tăng từ 10 – dưới 30% số điểm so với trước điều trị
+ Kém (D): Số điểm tăng dưới 10% hoặc giảm hơn so với trước điều trị
- Đánh giá tiến triển độ liệt dựa trên mức độ dịch chyển độ liệt sau điều trị 30ngày Đánh giá kết quả khỏi và đỡ khi có dịch chuyển từ 1- 3 độ liệt Độ dịch chuyểncàng nhiều thì kết quả càng tốt So sánh tỷ lệ dịch chuyển độ liệt trước và sau điều trị
2.5 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 19.0
2.6 Kỹ thuật khống chế sai số
- Thực hiện đúng tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.
- Tuân thủ đúng trình tự: lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn, thăm khám tỷ mỉ,chẩn đoán chính xác, thực hiện đúng kỹ thuật
2.7 Kế hoạch nghiên cứu
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Khoa Điều Trị Toàn Diện Bệnh Viện ChâmCứu TW Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2012
- Nội dung báo cáo: Đặt vấn đề, Tổng quan tài liệu, Phương pháp nghiên cứu, Kếtquả nghiên cứu, Bàn luận,kết luận, kiến nghị, Tài liệu tham khảo
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu này chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân sau taibiến mạch máu não ngoài ra không nhằm một mục đích nào khác
- Nghiên cứu phải được thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu, được sựđồng ý của lãnh đạo Bệnh viện Châm Cứu TW
- Bệnh nhân và các đối tượng tham gia nghiên cứu được cung cấp đầy đủ, chính xácthông tin nghiên cứu, những điểm lợi và hại khi tham gia nghiên cứu và đồng ý tham gianghiên cứu Bệnh nhân có quyền tự quyết tham gia hoặc rút khỏi quá trình nghiên cứu
- Không có sự phân biệt đối xử trong việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu và sẵnsàng hỗ trợ tư vấn các vấn đề liên quan tới sức khỏe khi đối tượng nghiên cứu cần
Trang 25CHƯƠNG 3 KẾT QỦA NGHIÊN CỨU
3.1 Các đặc điểm chung:
3.1.1 Phân loại theo tuổi và giới
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi và giới.
Nhận xét: Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu từ 39 – 86 tuổi Tuổi trung bình là 62
tuổi Trong đó, nhóm tuổi từ 59 – 68 chiếm tỷ lệ lớn nhất là 35%.Trong các trường hợpnghiên cứu có 50 bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 62,5% và 30 bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ37,5% Tỷ lệ nam và nữ được biểu diễn ở biểu đồ 3.1
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn cấp III chiếm tỷ lệ cao nhất
(32,5%),nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn cấp I ít nhất (17,5%) Kết quả được trìnhbày trên biểu đồ 3.2
62,5%
37,5%
Nam Nữ
Trang 26Biểu đồ 3.2 Phân bố theo trình độ học vấn
3.1.3 Bên liệt và tính thuận tay
Bảng 3.3.Phân bố theo bên liệt và tính thuận tay
Nhận xét: Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu tỷ lệ bệnh nhân thuận tay phải liệt bên phải
là cao nhất 42,5% Tỷ lệ bệnh nhân thuận tay trái liệt bên phải thấp nhất 12,5% Tỷ lệbệnh nhân theo bên liệt được biểu diễn trên biểu đồ 3.3
liệt bên Phải - Trái
3.1.4 Phân loại bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh.
Bảng 3.4 Phân loại bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh.
55%
phải
Trang 27Thời gian Bệnh nhân
Nhận xét: Số bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não đến điều trị và PHCN
trong khoảng thời gian bị bệnh ≤ 3 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 57,5% Trên 1 năm ít nhất1,25% Tỷ lệ được biểu diễn trên biểu đồ 3.4
Biểu đồ 3.4 Phân loại bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh.
3.1.5 Phân bố theo thang điểm thần kinh Orgogozo
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo thang điểm
Nhận xét: Trong số 80 bệnh nhân đánh giá theo thang điểm Orgogozo thì tỷ lệ nhóm
bệnh nhân có tổng điểm từ 26 – 55 (mức độ liệt trung bình ) chiếm tỷ lệ cao nhất 70% Tỷ
lệ phân bố trên biểu đồ 3.5