1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt ở thế kỉ XIII ( khóa luận tốt nghiệp)

50 630 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 14,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt ở thế kỉ XIII ( khóa luận tốt nghiệp) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt ở thế kỉ XIII ( khóa luận tốt nghiệp) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt ở thế kỉ XIII ( khóa luận tốt nghiệp) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt ở thế kỉ XIII ( khóa luận tốt nghiệp)

Trang 1

TRUONG DAI HOC SU PHAM HA NOI 2 KHOA GIAO DUC CHINH TRI

2k 2K ok

PHAM THI AN

THIEN PHAI TRUC LAM YEN TU

| VA ANH HUONG CUA NO DEN DOI SONG ||

NGUOI VIET O THE KY XIII

KHOA LUAN TOT NGHEP DAI HOC

Chuyén nganh: Triét hoc

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

TRUONG DAI HOC SU PHAM HA NOI 2 KHOA GIAO DUC CHINH TRI

ok 2 2

PHAM THI AN

THIEN PHAI TRUC LAM YEN TU

VA ANH HUONG CUA NO DEN DOI SONG

NGUOI VIET O THE KY XIII

KHOA LUAN TOT NGHEP DAI HOC

Chuyén nganh: Triét hoc

Người hướng dẫn khoa học

TS VI THÁI LANG

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LOI CAM ON

Trước tiên em xin phép được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Tiến

sĩ Vi Thái Lang - Người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn

thành tốt khóa luận này

Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô trong trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2 Đặc biệt là các thầy cô Khoa Giáo dục chính trị đã giảng dạy và

dành cho chúng em những tình cảm tốt đẹp nhất trong suốt thời gian qua

Em cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, bạn bẻ đã tạo điều kiện

và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, nên

khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo của các thầy

cô và các bạn sinh viên

Lời cuối cùng em xin kính chúc các thầy, cô và gia đình sức khỏe, hạnh phúc

Em xin chan thanh cam on!

Ha Noi, ngay 09 thang 05 nam 2013

Tac giả khóa luận

Pham Thi An

Trang 4

LOI CAM DOAN

Khóa luận tốt nghiệp được hình thành dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Vi

Thái Lang Tôi xin cam đoan răng: Đây là kêt quả nghiên cứu riêng của tôi

Nêu sai tô1 xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 09, tháng 05, năm 2013

Tac gia khóa luận

Pham Thi An

Trang 5

MUC LUC

MO DAU woececscscscecsecccscscececscsssescssessscscscseevevscessescsvesssescscseacevevessesesvesessessstacans 1

Chương 1: THIÊN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ . - 5 c2 +c+<+£zsz¿ 6 1.1 Sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử sec te£eeverered 6

1.2 Những tư tưởng cơ bản của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử I1

Chuong 2: SU ANH HUONG CUA THIEN PHAI TRUC LAM YEN TU

DEN ĐỜI SÔNG NGƯỜI VIỆT Ở THỂ KỶ XIII -5-5-5s+se<s2 21 2.1 Ảnh hưởng trên lĩnh vực chính trỊ - - -c< << sssssssssssssss 21 2.2 Ảnh hưởng trên lĩnh vực kinh tế - xã hội . - - xxx: 24

2.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 39

KET LUẬN ¿- E52 SzS2 SE E E1 5151511111111 111111, 43

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -. 5-5 +s+s+s£+xzxzzcxe: 45

Trang 6

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phật giáo giữ một vai trò quan trọng

không chỉ bởi đã xuất hiện sớm, nhiều thế kỷ từng được coi là quốc giáo, mà còn được khẳng định ở sự gắn bó với quá trình xây dựng, phát triển quốc gia, phổ cập tới khắp mọi vùng, miền trong cả nước và trở thành một bộ phận cơ hữu trong đời sống văn hóa dân tộc

Trên dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam có cả sự ảnh hướng, tiếp nhận từ phương Nam và phương Bắc, có cả các bậc sư tổ người nước ngoài

và người Việt, có cả sự trầm tích, cộng sinh và phát triển trên cơ sở văn hóa

truyền thông bản địa

Cùng theo dòng lịch sử ấy, chúng ta nhìn lại Phật giáo Việt Nam hẳn

thay noi bật một nét đột phá vô cùng thú vị - một thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc - Trần Nhân Tông Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật

giáo Việt Nam nói riêng

Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới vì "Tất cả chúng sinh đều có Phật tính" Tuy nhiên Phật

giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có

nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải

hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng Điều này,

điểm qua lịch sử, chúng ta thấy thiền phái Trúc Lâm Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam

Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: "Phật giáo Trúc Lâm là một nên Phật giáo độc lập, uy tín tỉnh thân của nó là uy tín tinh

thân quốc gia Đại Việt Nó là xương sống của một nên van hoá Việt Nam độc

lập Nên Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo

Trang 7

Trung Hoa, An Độ và Tây Tang nhung van giit ca tinh dac biét cua minh” [8,

tr 57] Phải nói rằng sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là niềm tự

hào lớn của dân tộc Nó thể hiện bản sắc, cũng như tính tự chủ, tinh thần

không chịu lệ thuộc bởi ngoại lai Cũng chính sự ra đời của thiền phái này đã

có những ảnh hưởng lớn đến đời sống người Việt ở thế kỷ XHI Đặc biệt

trong lúc đất nước bị quân Nguyên - Mông xâm lược đã tạo nên sức mạnh của toàn dân Từ vua quan đều là Phật tử cho đến những người dân đều đồng lòng

ra sức dẹp giặc để bảo vệ cho đất nước

Nguyễn Tài Thư trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam cũng đã khăng định:

“Nếu như nhập thể là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn dé

chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo nhập thể - trái lại

nó là tôn giáo xuất thế” [16, tr 98] Khác với các Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Đại Việt mang đậm tính thần nhập thế, điều đó cho thấy đạo Phật không phải là

đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thể từ bỏ thế gian này

mà giác ngộ được Với tỉnh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dẫn

thân vào cuộc sống, đồng su voi chung sinh, vui voi niềm vui của đất nước,

đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc

sống tu hành thoát tục

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc

luôn luôn song hành Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị

đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không

làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ay

Chính thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một thiền phái đã mang những đặc điểm ấy Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua,

Trang 8

không thể không hiểu rõ về Phật giáo Việt Nam, trong đó thiền phái Trúc

Lâm Yên Tử là một của báu của dân tộc càng phải được tìm hiểu và phát huy

Vậy nên, tác giả khóa luận đã chọn đề tài: “Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và

ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt ở thế kỷ XIII” làm khóa luận tốt

nghiệp của minh

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Với tầm quan trọng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử như vậy, nên cho đến nay đã có khá nhiều công trình ở các cấp bậc, góc độ khác nhau: “Tìm

hiểu xã hội Việt Nam thời Ly - Trần” của Viện sử học (1981), Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội; “Thơ văn thời Lý -Trần”, tập 2 của Uỷ ban Khoa học Xã hội

(1977), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; “Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông” của Hà Văn Tân, Phạm Thị Tâm (1968), Nxb Khoa học xã hội Ngoài ra còn một số bài báo về văn thơ, tư tưởng, tôn giáo, văn hóa, sử học, khảo cổ học, dân tộc học về thời Trần đã góp phần tạo nên khuôn mặt thời

phật giáo Việt Nam” (của Thích Minh Tuệ) vv

Ngoài ra phải kể đến những công trình nghiên cứu trực tiếp thiền phái Trúc Lâm Yên Tử như: “Yên Tử non thiêng” (Sở văn hóa Quảng Ninh); “Non thiêng Yên Tử” (NXB Văn hóa Thông tin 1994); “Yên Tử và thiền phái Trúc Lâm” (Sở văn hóa Thông tin Quảng Ninh); “Tam tô Trúc Lâm” của Thích

Trang 9

nhiên do tính chất phức tạp của vấn đề những nghiên cứu trên chỉ mới đừng lại ở những vẫn đề chung, chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về sự ảnh hưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đến đời sống của người Việt ở thế kỷ XII Bởi vậy việc nghiên cứu đề tài này mong góp được phần nhỏ bé vào

việc nghiên cứu văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Trần - thiền phái Trúc Lâm

Yên Tử và ảnh hưởng của nó đến sống của người Việt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của khóa luận là vạch ra những đặc điểm độc đáo, đặc sắc của Phật giáo thời Trần ở thế kỷ XII, đặc biệt là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Làm rõ sự ảnh hưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tới đời sống

người Việt ở thế ky XIII

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề thực hiện mục đích trên khóa luận có những nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ của khóa luận là nghiên cứu sự ra đời và một SỐ tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Phân tích một số ảnh hưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tới một số lĩnh vực trong đời sống người Việt thế ký XIII

Trên cơ sở đó đưa ra được một số ý nghĩa của việc nghiên cứu thiền phái

Truc Lam Yên Tử

4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu về sự ra đời, người sáng lập cũng như những tư tưởng cơ bản của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đến một số lĩnh vực trong đời sống người Việt ở thế kỷ XI

Trang 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt là một đề tài rộng lớn Do hạn chế về nhiều mặt, khóa luận chỉ giới hạn là bước đầu chỉ ra vài nét về thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và

ảnh hưởng của nó đến đời sống người Việt ở thế ký XIII trên một số lĩnh vực như chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận dựa trên cơ sở, nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta vé van đề tôn giáo nói chung và thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng, khóa luận còn dựa trên các công trình

nghiên cứu và các tài liệu khác nhau về thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Khóa luận được nghiên cứu theo phương pháp phân tích và tông hợp, logic và lịch sử, kết hợp với các phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa

6 Y nghĩa khóa luận

Thông qua việc nghiên cứu một trường phái Phật giáo Việt Nam sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu tô tiên chúng ta hơn, hiểu con người Việt Nam trong

lịch sử hơn Từ đó giúp chúng ta trở về với cội nguồn một cách đích thực, trở

về với tỉnh hoa văn hóa của dân tộc Đồng thời nghiên cứu thiền phái Trúc Lâm Yên Tử còn giúp ta phần nào hiểu được bề sâu, bề dày của văn hóa Việt

Nam nói chung, đặc biệt là văn hóa Việt Nam đời Trần thời thịnh trị của Quốc gia Đại Việt

Ngoài ra khóa luận còn làm tài liệu tham khảo cho những a1 quan tâm

đến đề tài này

7 Kết cầu của khóa luận

Ngoài phần mở đâu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận

còn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 11

Chuong 1 THIÊN PHÁI TRÚC LAM YEN TU’

1.1 Sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

1.1.1 Bỗi cảnh lịch sử ra đời của thiền phái Trúc Lâm Vên Tử

* Hoàn cảnh chính trị

Ở triều Lý (1009 - 1225) cùng một lúc có ba phái thiền cùng tổn tại: Tỳ

Ni Da Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường Sau khi nước nhà giành

được độc lập về chính trị, kinh tế, giành được độc lập về chủ quyên lãnh thổ,

Nha Ly muén có sự độc lập về văn hóa, tư tưởng Trong khi đó vào thời kỳ này đạo Phật là hệ thống tư tưởng chủ đạo, hệ tư tưởng chính thông của nước nhà “Nhưng trong phật giáo vê mặt tông phái lại chia năm xẻ bẩy, trải với xu hướng tập trung thống nhất lúc bấy giờ Trong những thiên phái với những màu sắc khác nhau cùng tôn tại lại thấy nổi trội hơn là thiên phải Tỳ Ni Đà Lưu Chỉ ngả về văn hóa An Độ, còn thiên phải Vô Ngôn Thông nghiêng về văn hóa Trung” [5, tr 50].Cả hai thiền phái đó điều đóng vai trò của một hệ

tư tưởng chủ đạo của một đất nước độc lập Có lẽ chính vì vậy mà trường phải

Thảo Đường xuất hiện Hiện nay về trường phái này vẫn còn nhiều vẫn đề tranh luận, song một điều có thể nói rằng trường phái này là sự kết hợp thiền,

nho và tịnh, nó nghiêng về khuynh hướng trí thức, bác học, quan lại

Nhà Lý đổ, nhà Trần lên (1226 - 1399) Nhà Trần không muốn dính

dáng với các quá khứ kể cả con người lẫn hệ tư tưởng, ở đây về hệ tư tưởng nhà Trần không thể phủ định sạch trơn các tư tưởng đã có ở thời Lý Với học thuyết Trần Thái Tông được trình bày trong tác phẩm nỗi tiếng Khóa hư lục

[14 tr 62 - 67], đã tạo nên một hệ tư tưởng mới của nhà Trần

Nhưng chẳng bao lâu sau khi thành lập triều đại, quân Nguyên Mông

xâm phạm bờ cối, bởi vậy van dé nay danh phai tam gac lai, sau ba cudc kháng chiến thắng lợi, khí thế đánh giặc ấy trỗi dậy mạnh mẽ chưa từng thấy,

Trang 12

tinh thần dân tộc độc lập tự cường được thôi bằng một luồng sinh khí mới, bởi vậy nhiệm vụ trước kia đáng lẽ đã phải làm, thì nay được đặt ra một cách cấp

bách gay gắt hơn bao giờ hết Trần Nhân Tông (1258 - 1308) đã đứng ra đảm nhiệm trọng trách này Sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến cuối cùng vào năm 1288, năm năm sau, tức vào năm 1923 ông đã nhường ngôi cho

con va di chu du khap thiên hạ, học hỏi đạo Phật Theo Đại Việt sứ ký toàn

th, nim 1294, Nhân Tông đến Vũ Lâm (Ninh Bình) vào chơi hang đá và đến tháng 8 - 1299, Nhân Tông mới thực sự vào Yên Tử tu khổ hạnh Kết hợp nhu

cầu nội tại với nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn xã hội, đất nước, nhu cầu chính

trị của Đại Việt cuối thế XIII, Nhân Tông đã lên núi thành lập thiền phái Trúc

Lâm Yên Tử

*Hoàn cảnh kinh tế - xã hội

Thực chất chế độ kinh tế thời Lý và thời Trần không có gì khác về căn bản, bởi lẽ đất đai vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà nước Nói thế không có gì

khác với triều Lý Như ta đã biết, cuối triều Lý sự xuất hiện sở hữu tư nhân về đất đai đã hình thành một cách tự phát Nhưng đến đầu triều Trần, nhà nước

cho phép bán ruộng công thành ruộng tư Như vậy ruộng đất đã biến thành

hàng hóa Điều đó kích thích tầng lớp quý tộc đây mạnh khai khẩn đất hoang, dap đê lắn biển, mua bán, cướp đoạt ruộng đất

Chính vì ruộng đất đã trở thành hàng hóa nên việc tranh nhau ruộng đất

đã trở thành những công việc thường nhật Trong tình hình như vậy giai cấp

quý tộc nhà Trần, một số đã trở nên tham lam, tích của, thích làm giàu Việc

sở hữu tư nhân về ruộng đất trong suốt chiều dài lịch sử của triều Trần ngày càng tăng, ngày càng trở nên phổ biến, chính những biến đổi kinh tế, xã hội triều Trần đã tạo nên những biến đổi trong kết cấu giai cấp xã hội của triều đại này

Cùng với sự phát triển của triều đại nhà Trần, giai cấp quý tộc đã có sự

phân hóa, một bên là tôn thất nhà vua có thế lực, có sản nghiệp, có khuynh

Trang 13

hướng ủng hộ Phật giáo và một bên là ngoại tộc đi lên bằng tài năng trí tuệ

Mâu thuẫn này biểu hiện bằng tư tưởng, một bên ủng hộ, đề cao Phật giáo, một bên lại đề cao Nho g1áo

Ở bia Sùng Nghiêm (Bắc Giang), Trương Hán Siêu viết rằng ngoài Nho

giáo ra, tất cả (kể cả Phật) điều là dị giáo, dị đoan: “Dj đoan đáng phải truất

bỏ, thánh đạo nên được phục hưng Làm sĩ đại phu, không phải đạo Nghiéu Thuần thì không trình bày, không phải đạo Không Mạnh thì không trước

thuật Thế mà cứ bo bo lải nhải, chuyện phát ta định lừa dối ai đáy” (9, tr

134 - 135)

Trải với tình hình trên, những người ủng hộ Phật giáo, ngay thời kỳ Pháp Loa, thời kỳ mà quý tộc tôn thất nhà Trần đua nhau xuất gia hay thụ giới tại gia như Anh Tông, Minh Tông, Hoàng Thái Hậu Tuyên Từ (vợ của Nhân Tông), Nhờ sự giúp đỡ của giới quý tộc này mà thế lực kinh tế của Phật giáo Trúc Lâm rất lớn Đứng trước mâu thuẫn ngày cảng tăng như vậy, những

vị vua anh minh của Nhà Trần đã điều hòa được trong thực tế cũng như trong

tư tưởng Việc phê phán những sự thái quá, việc không đi vào những vẫn đề

lý luận cao siêu của dân tộc, đất nước được trình bày khá rõ trong tư tưởng của Trúc Lâm Yên Tử

*Hoan cảnh văn hóa

Về văn hóa, Việt Nam thuộc bán đảo Đông Dương, gần hai quốc gia không lồ không chỉ về lãnh thổ, mà cả về văn hóa là Trung Quốc và Ấn Độ Bởi vậy, văn hóa vùng này nói chung là có nhiều ảnh hưởng và mang tính chất của hai nền văn hóa Ấn - Trung Tùy từng miền, từng vùng, từng nơi, từng lúc

ma mau sac An - Trung có sự thay đỗi Chắng hạn, miền Nam Việt Nam thì

ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ rõ nét hơn, còn miền Bắc Việt Nam vào thời Lê

- Nguyễn thì ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa sâu đậm hơn Trong thời kỳ

Bắc thuộc để chống lại sự đồng hóa về mặt văn hóa từ phía Trung Hoa, dân Việt Nam đã dương cao văn hóa Ấn Độ mà đại diện là Phật giáo

Trang 14

Kế tiếp văn hóa thời Lý, năm 1227 nhà Trần cho tổ chức thi Tam giáo

Năm 1230 cuốn “Quốc triều thống thế” và “Quốc triều thường lễ” bắt đầu được soạn Năm 1341, vua sai Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn biên

soạn bộ “Hoàng triều đại điển” và khảo soạn bộ “Hình thư” để ban hành

Phật giáo đã được nhà Trần và dân chúng ủng hộ Năm 1231, Thái Tông

xuống chiếu trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật đề thờ Năm 1295, vua Anh Tông sai Trần Khắc Dụng, Pham Thao theo sứ sang

Nguyên nhận Đại tạng kinh đem về ở phủ Thiên Trường ¡in bản phó đề lưu hành Công việc 1n dịch kinh về sau có lẽ do Pháp Loa đảm nhiệm Năm 1299 Thượng

hoàng Nhân Tông vào núi Yên Tử lập nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Vẻ Nho giáo, trước đó, năm 1253, nhà nước đã lập Quốc học viện, dap tuong Không Tử, Chu Công và Mạnh Tử, vẽ tranh thất thập nhị hiền để thờ

Nhưng có lẽ Nho giáo thời Trần vẫn chưa phát triển mạnh

Nói về văn hóa thời Trần, chúng ta không thể bỏ qua một điểm khá đặc

biệt, đó là sự xuất hiện chữ Quốc ngữ (chữ Nôm), bắt đầu từ Hàn Thuyên năm

1282 Đây là một cuộc cách mạng thực sự trong văn hóa và ngôn ngữ nói

riêng Cùng với việc phê phán những bắt chước phong tục tập quán phương

Bắc, nó chứng tỏ ý thức độc lập, tự cường của Đại Việt thế ky XIII Đến lượt

mình cái đó đòi hỏi cần có một ý thức hệ độc lập tương ứng Chính vì vậy mà

thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời

1.12 Vài nét về Trần Nhân Tông - vị vua sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tw

Trần Nhân Tông là con trưởng của Trần Thánh Tông, thân mẫu là

Nguyên Khánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, là Sơ Tổ phái thiền Trúc Lâm

Ngài tên là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) Vua tuy

ở địa vị sang cao mà tâm hâm mộ thiền tông từ thuở nhỏ Năm 16 tuôi (1274 ) được lập Hoàng thái tử, ngài cô từ chỗi để nhường lập cho em mà vua cha

Trang 15

không chấp nhận Vua cha cưới trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc Mẫu cho ngài, tức là Khâm Từ thái hậu sau này Mặc dù sống trong cảnh vui hoà hạnh phúc ấy mà tâm ngài vẫn thích đi tu Một hôm vào lúc giữa đêm, ngài trèo

thành trốn đi, định vào núi Yên Tử Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời

vừa sáng, trong người mệt nhọc quá ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp Vị sư trụ trì ở đây thấy ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thiết đãi Vua cha hay tin, sai các quan đi, tìm thấy, ngài bất đắc dĩ phải trở về

Năm 21 tuổi (1279 ), Trần Nhân Tông lên ngôi Hoàng đế Tuy ở địa vị cửu trùng mà ngài vẫn giữ mỉnh thanh tịnh để tu tập Thường ngày, ngài đến

chùa Tư Phước trong đại nội tu tập Vua rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điền (kinh Phật giáo ) và ngoại điển (sách đời) Những

khi nhàn rỗi, ngài mời các vị thiền sư khác bàn giải về thiền tông, tham học

thiền với Tuệ Trung Thượng ST, thâm đắc đến chỗ thiền tủy Vua tôn thờ Tuệ

Trung Thượng Sĩ làm thầy và hết lòng trọng đãi Ngài nhập tư tưởng thiên, lại

có một tâm hồn nghệ sĩ và khí tiết hào hùng trong việc trị nước an dân Trần

Nhân Tông là vị vua anh minh đức độ, lại là anh hùng của dân tộc Tat ca những đức tính cao cả, trí tuệ, từ bi, binh đăng, uy dũng đều kết tinh trong con

người của ngài Nhà vua luôn lấy đức trị dân, trong nước trên thuận dưới hòa, lẫy ý dân làm nên tảng xây dựng nước nhà, vui trong niềm vui của đân tộc Năm Quý Ty (1293), vua nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm thái Thượng hoàng Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, vua sắp đặt việc xuất gia Đến tháng mười năm Kỷ Hợi (1299), ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử Ở đây, người chuyên cần tu tập theo hạnh đầu

đà (khổ hạnh) lây hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà (sau này ngài đổi hiệu là

Trúc Lâm Đầu Đà) Trần Nhân Tông là người truyền thừa chính thức của phái

Vên Tử, thuộc hệ thứ sáu, tiếp nối vị Tổ thứ năm là ngài Huệ Tuệ Ngài là

người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông viên tịch tại

Trang 16

am Ngọc Vân núi Yên Tử, nhằm ngày mồng một tháng mười năm Hưng Long

thứ 16 (1308), thọ 51 tuôi

1.2 Những tư tưởng cơ bản của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

1.2.1 Tôn chỉ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Bắt cứ thiền phái nào cũng điều theo đuôi mục đích kiến tánh thành Phật,

thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cũng vậy Song điểm khác biệt ở đây là, quan

điểm Phật tại tâm của thiền phái Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cho rằng, bất

cứ ai cũng có thể trở thành Phật ngay giữa cuộc đời trần thế này, không phân biệt tại gia hay xuất gia, không phân chia đại ấn hay tiểu ấn, tùy vào thành

phân xã hội, tuỳ khả năng mà thể hiện đời sống của mình ở giữa đời

Quan điểm trên được Sơ tô Trúc Lâm nêu lên trong bốn câu kệ kết thúc của bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, mà đồng thời đó cũng là tôn chỉ của thiền phái

Trúc Lâm như sau:

“Cự trần lạc đạo thả tùy duyên

Co tac xan hê khốn tắc miên Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiên ” Dịch thơ:

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn đi mệt ngủ liễn

Trong nhà có bảu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiên ” [15, tr 505]

(Cư Ti ran Lac Đạo Phú, hội thứ mười)

Từ bài kệ trên, Đoàn Thị Thu Vân trong bài “Tuệ Trung Thuong Si va

Thiên Phong Doi Tran” đưa ra bỗn điểm sau, mà theo tác giả bài viết là tôn

chỉ của Sơ tô và cũng là tư tưởng nhất quán của thiền phái:

“- Hãy nên sông hòa mình với đời, không câu cháp

Trang 17

- Hành động tuỳ duyên, tức làm việc cần làm, đúng lúc phải làm, và không trải quy luật tự nhiên

- Tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực

- Không nô lệ vào bất cứ cái gì, dù là Thiên hay Phật” [18, tr 23 24] Đường lỗi nhập thế tích cực cũng đã được Sơ tô nêu ra: “Trần tục mà

nên, phúc ấy càng yêu hết sức, Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công ” Đường lỗi này cho thấy vấn đề là con người cần giác ngộ, cần có đức hạnh để giúp đời thì mới đáng ca ngợi, chạy vào rừng sâu ân nau mà không tỉnh thức, không làm được gì lợi ích cho đời thì cũng chắng có giá trị gì

Chính chủ trương như thế nên sau khi đi xuất gia, Trần Nhân Tông vẫn

tiếp tục lo cho dân cho nước chứ không phải vào rừng tu tĩnh mịch như một

số người đã cô tình hiểu sai Bằng chứng là vua đã sang Chiêm Thành với ý nguyện xây dựng một nền hòa bình Chiêm - Việt lâu dài Trong mục đích

thiết lập tình hữu nghị để làm nền táng cho nền hòa bình đó, vua đã hứa gả

công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân và bù lại vua Chế Mân đã hiến hai

châu Ô Mã và Việt Lý cho Đại Việt Đến 1307 hai châu này được đổi thành

hai châu Thuận và Hóa Vua cũng ngăn chặn việc phong tước quá nhiều của vua Anh Tông Nói chung, mọi công việc của triều chính liên quan đến vận mệnh quốc gia và cuộc sông nhân dân đều có sự chỉ đạo của Trần Nhân Tông

1.2.2 Hệ thống giáo lý của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

* Chủ trương của thiên phải

Chủ trương của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thê hiện qua khuynh hướng nhập thế trong tư tưởng Phật giáo Trần Nhân Tông

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, xuất thế là “lánh đời, lui vào ở ẩn hoặc đi

tu, không tham gia hoạt động xã hội nữa” [2I, tr.195] còn nhập thế là “gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời” [21, tr.143] Trước nay, nhiều người vẫn

Trang 18

định kiến rằng Phật giáo là một tôn giáo xuất thế, bởi bản thân Phật giáo

không chủ trương tham gia và giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội, mà dành công việc đó cho các các tôn giáo khác Ra đời trong một xã hội phân biệt đăng cấp khắc nghiệt với những đau thương, hờn tủi, nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển cả, song con đường giải thoát của Phật giáo không phải là

hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo tình trạng hiện tồn mà là tu luyện để đạt tới

cảnh giới niết bàn, không còn vui - buôn, sướng - khổ

Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong quá trình phát triển của mình, không phải lúc nào Phật giáo cũng xa lánh cõi đời, không liên quan tới các vẫn đề chính trị - xã hội Sự nhập thế của Phật giáo đã được minh chứng bằng nhiều hoạt động mang đây tính nhân văn và có ý nghĩa thiết thực Trong thời kỳ Lý -

Trần, vai trò của Phật giáo đã that sur toa sang, gan bo chat ché voi van ménh của dân tộc, với những thành tựu văn hóa rực rỡ và chiến công giữ nước oanh liệt Thời kỳ đó, cũng có nhiều vị vua hướng mình theo Phật, xuất gia và trở thành các bậc chân tu; nỗi bật lên là vua Trần Nhân Tông - vị tô thứ nhất của thiền phải Trúc Lâm Yên Tử Là một đẳng minh quân, rồi là một thiền sư,

Trần Nhân Tông đã “gắn đạo và đời”, đưa Phật giáo tham gia vào đời sống xã hội, trở thành ngọn cờ tư tưởng cho sự nghiệp dựng nước và g1ữ nước

Đến thời Trần Nhân Tông, “Ngài lại chủ trương xây dựng hệ thống giáo

lý Thiển - Giáo song hành” [12, tr 272] đề tính nhập thế được vận dụng tích

cực trong đời sống đạo nhằm tạo ra một đời sống hạnh phúc cho dân chúng Chủ trương của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là đào tạo ra những mẫu người dân Phật tử kế thừa tông phong được giáo dục toàn điện mới đáp ứng nhu cầu lịch sử đặt ra Đó là xây dựng và phát triển Đại Việt trở nên hùng cường thì

Phật giáo mới hưng thịnh Khi đất nước chưa có hệ thống giáo dục đào tạo

theo trường lớp, thì nhà chùa trở thành nhà trường, nơi đó dạy đủ các môn

học mà con người cân học

Trang 19

Một người Phật tử không chỉ thông thạo kinh điển nhà Phật mà còn phải

học những môn khác nữa mới đủ tri thức vận dụng thực tiễn các nhu cầu con người đặt ra Bên cạnh đó còn sử dụng Nho giáo như là một công cụ phục vụ lợi ích quốc gia và Phật giáo

Trần Nhân Nhân Tông dặn dò Đệ Nhị tô mở rộng việc học bên trong và bên ngoài Phật giáo là nhằm thực hiện xã hội hóa giao dục, nâng cao trình độ

dân trí sau này Tôn ý của Sơ tổ muốn Pháp Loa đủ kiến thức nội và ngoại điển để đào tạo ra những người thừa kế thiền phái đủ sức gánh vác các Phật

sự khác nhau của đạo cũng như đời Nếu không, thì Phật giáo chỉ biết đào tạo

cho xã hội những con người chuyên tu hành và làm các công việc khác xung quanh khuôn viên nhà chùa mà không tham gia hoạt động gì cả cho xã hội

Tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông được hình thành từ sự phản ánh

hoàn cảnh xã hội lúc bẫy giờ Quân Nguyên Mông liên tục sách nhiễu và gây

sự hòng tìm cớ tiến công xâm lược, mối hiểm họa mất nước như lưỡi guom

của thần Hades treo lơ lửng trên đầu nhân dân Đại Việt Mô tả điều này, Trần Hung Dao đã viết: “Thấy sứ giặc qua lại, nghênh ngang ngoài đường, khua

tắc lưỡi cú vọ mà làm nhục triếu đình, lấy cải thân chó đê mà ngạo mạn té

tuong, thac lénh Hot Tat Liét ma doi ngoc lua dé théa long tham v6 cing; gid

danh Van Nam Vuong ma doi bac vang để kiệt của kho có hạn! Ví như ném

thịt cho hồ đói, thế nào mà khỏi mối lo sau” [9, tr 554 - 555] Từ thực tế đó,

tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông đã thể hiện khát vọng cứu nhân độ thế, giải thoát chúng sinh bằng hành động bảo vệ vững chắc nền độc lập của

Tổ quốc, tránh cho nhân dân khỏi cảnh cửa nát, nhà tan, lầm than, đau khổ

Trần Nhân Tông chủ trương tìm Phật ngay trong cuộc sống hiện tại, sống

giữa đời mà vui với đạo (Cư trấn lạc đạo) Mẫu chốt của vẫn đề ở đây là

“chân lý giải thoát”, mà chân lý ấy tồn tại ở khắp mọi nơi, nhất là trong cuộc đời trân tục Cái tính sáng mà con người hăng mong mỏi năm chính trong con

Trang 20

người, trong thế giới trần tục cho nên con người trần tục muốn đạt đến cái nằm trong thế giới trần tục tốt nhất nên bằng con đường trần tục, khi đó giá trị của sự giải thoát còn tăng lên gấp nhiều lần

Dù ở nơi trần tục trên ngôi cao chín bệ hay ở đỉnh Yên Tử với cuộc sống thanh tao, đạm bạc, nhưng tư tưởng và hành động của Trần Nhân Tông đều thể hiện khuynh hướng nhập thế hết sức tích cực Cuộc đời của ông là ngọn đèn Thiền sáng nhất soi lối cho chúng sinh tới bến bờ giác ngộ, vì bất kề tăng

hay tục, đời hay đạo, chẳng câu nệ hình thức, chỉ cần có tắm lòng hướng

thiện, vì dân vì nước thì sẽ tìm ra chân lý giải thoát

Tóm lại, Trúc Lâm Yên Tử chủ trương muốn hiểu rõ tâm phải ngồi thiền

Ngồi thiền để tĩnh tâm, ngăn ác hướng thiện Trúc Lâm không chọn con

` %k

đường “Quán bích toạ thiên” mà chủ trương “Niệm Phật, thụ giới và toạ Thiền” Niệm Phật là cách tự giáo dục, tự ức ché dé giữ miệng và tâm thanh

tịnh Thụ giới là cách răn giữ bản thân theo giới luật nhằm để cho thân trong

sạch và không làm điều ác Niệm Phật, thụ gidi, toa thiền là cách giữ cho

thân, khâu, tâm của người học đạo không thể làm, nói, nghĩ đến điều ác Điều

ác không sinh tức điều thiện phát khởi Có lẽ ví thế mà Trần Thái Tông soạn Khoá hư luc dé người tu Phật tụng niệm Khoá ïư lục còn trình bày về

năm giới răn của Phật mà người tu hành phải triệt để tuân theo Có điều, qua việc trình bày giới luật, Trúc Lâm đã biến nó thành những bài học luân lý hơn

là giáo lý nhà Phật, với mục đích nhằm bình ôn trật xã hội lúc bay gid Khoa

hư lục khuyên răn con người không được tham lam của cải, sắc đẹp rượu

nông, thịt béo, công danh phú quý Do lòng tham đó mà dẫn dắt người ta đi

đến trộm cướp, bè phái, khinh vua, ghét cha, nhao Tang, chửi Phật Khoá hư /„c còn kêu gọi con người nên làm việc thiện, bố thí cho kẻ nghèo, thương

yêu người khác, tôn trọng phép nước, kính cha thờ vua Đây chính là cốt lõi nhập thế của đạo Thiền Trúc Lâm

Trang 21

* Giáo lý của thiên phái

Muốn thể hiện tính nhập thể tích cực vào đời song, nham mang lại những lợi ích thiết thực cho xã hội, thiền phái cần phải có hệ thống lí luận vững

vàng Chính vì thế mà Trần Nhân Tông đã chủ trương Thiền - Giáo song

hành Thiền phái không từ bỏ kinh điển, càng không tập trung vào việc tham

cứu cộng án, thoại đầu, mà chú trọng đến việc học tập diễn giải kinh điển, xem như một bộ phận trọng yếu của sinh hoạt thiền môn Trong việc học tập,

diễn giải kinh điển thì ba bộ kinh Pháp Hoa, Niết Bàn và Hoa Nghiêm được chú trọng nhiều nhất Bên cạnh đó, thiền phái cũng chủ trương học tập ngoại

điển nhằm tạo ra những con người có trình độ hiểu biết toàn diện mới có thể

đáp ứng nhu câu của thời đại

Trong bài Nhận định những ưu khuyết của thiên phải Trúc Lâm Yên

Tứ, Hòa thượng Thanh Từ có phát biểu như sau: “Thiển phải Trúc Lâm không cực đoan như mộ số thiên phải Trung Hoa Những thiên phái cực đoan cho rằng người thiền không được giảng học kinh điển vì lẽ làm tăng kiến giải, trở

ngại ngộ đạo Trái lại thiên phải Trúc Lám vừa tu thiên vừa học kinh điển ”

[17 tr 58]

Việc học tập, giảng giải kinh điển như thế đã được nâng lên thành hệ

thống của thiền phái Trong đó, kinh Hoa Nghiêm đặc biệt được chú trọng

Bởi lẽ kinh Hoa Nghiêm được xem là tư tưởng xung yếu của thiền phái Bài

kệ thị tịch của Trần Nhân Tông gồm năm câu thì trong đó bốn câu đều rút trực tiếp từ kinh Hoa Nghiêm:

“Nhất thiết pháp bắt sanh

Nhất thiết pháp bất điệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phát thường hiện tiền

Hà khứ lai chỉ hữu ”

Trang 22

Dich tho:

“Tất cả pháp chẳng sinh Tất cả pháp chẳng diệt

Nếu hay hiểu như thể

Chư Phát thường hiện tiền

Nào co dén di gi” [11, tr 98]

Tư tưởng Hoa Nghiêm trở thành nguồn suối cho tư tưởng Phật giáo Lý - Tran, là lý thuyết phố quát cho những người lãnh đạo quốc gia nhìn về đất nước mình, xã hội mình trong tương quan với đất nước xã hội khác cùng thời, đỉnh cao là sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Tư tưởng kinh Hoa Nghiêm như thế càng làm rõ thêm tư tưởng Cư đrần lạc đạo của Trần Nhân Tông, tạo nên nếp sống mới trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam Phật giáo

Việt Nam dưới sự lãnh đạo thống nhất của thiền phải Trúc lâm Yên Tử đã hoà nhập vào mọi sinh hoạt đời sống dân tộc và tạo nên thời đại vàng son nhất của

lịch sử dân tộc

* Tín đô và Nghỉ lễ truyền thừa

Chưa bao giờ trong lịch sử Phật giáo, số lượng tín đỗ Phật tử trở thành

thành viên thiền phái Trúc Lâm đông đảo như vậy “Tính đến năm 1329, số

Tăng sĩ đã được xuất gia trong những giới đàn do Giáo hội Nhất Tông (Trúc Lâm) tổ chức dưới quyên lãnh đạo của Pháp Loa là trên 15.000 vị” [3, tr 45] Các nghi lễ truyền thọ Tỳ kheo, Bồ tát, Tam quy Ngũ giới cho các vị

Hoàng tộc, Phật tử tại gia được tô chức thường xuyên Các buổi khóa niệm cầu an, cầu siêu chân tế cũng được tô chức, gọi là “Diệm khẩu thí pháp hội”,

có nghĩa là đại hội Phật pháp để bố thí cho loài quỷ đói Pháp này bày ra để

thực hiện giáo nghĩa từ bi, lợi lạc quân sinh Có thể nói từ khi tổ chức Giáo hội Nhat Tông này chính thức đi vào hoạt động trở về sau thì Phật giáo Việt

Nam bay giờ đã trở thành lực lượng tôn giáo hùng mạnh yêm trợ cho triều đại

nhà Trần thiết lập một nên độc lập hòa bình cho cả dân tộc

Trang 23

Sau đời Trần, Phật giáo Việt Nam tiếp tục song hành cùng dân tộc trong

sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay tiếp tục thừa kế truyền thống và phát huy sức mạnh nội tại “thống nhất lãnh đạo và tổ chức, thống nhất ý chí và hành động” để cùng dân tộc Việt Nam xây đựng một đời sống hạnh phúc an lành và thịnh vượng

1.2.3 Sự Truyền thừa của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

1 Đối với thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thì Trúc Lâm Điều Ngự- Trần

Nhân Tông là đệ nhất Tổ, nhưng tính theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử phải kể từ Thiền sư Hiện Quang là Tổ ban đầu Sư là người khai sơn chùa Vân Yên (chùa Hoa Yên như ngày nay) Vốn là đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu, đòng Vô Ngôn Thông, nhưng tỏ ngộ nơi Thiền sư Trí Thông chùa Thánh Quả

2 Thiền sư Viên Chứng, cũng gọi là Quốc Sư Trúc Lâm, người đã từng đón tiếp vua Trần Thái Tông tìm lên Yên Tử năm 1236

3 Quốc sư Đại Đăng, người đã tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa tại kinh đô Thăng Long va 1a thay của vua Trần Thánh Tông

4 Thiền sư Tiêu Dao, là Thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là Đại

Sư Phúc Đường, vì sư ở Tĩnh xá Phúc Đường mà Thượng sĩ Tuệ Trung có bài thơ tựa “Thượng Phúc Đường Tiêu Dao Thiền Sư”

5 Thiền sư Huệ Tuệ, theo Việt Nam Phật giáo Sử Luận của Nguyễn

Lang cho là sư vốn làm Hoà thượng Đường đầu truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia

6 Trúc Lâm Đại Đầu đà - Trần Nhân Tông, theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử, Ngài thuộc hàng thứ sáu, nhưng là người khai sáng ra dòng Thiền Trúc Lâm của Đại Việt nên là Sơ Tô

Theo sách Đại Nam Thiền Uyén Truyén Đăng Tập Lục, của Hòa thượng

Phúc Điền, hệ thống truyền thừa của Thiên phái Trúc Lâm Yên Tử được tiếp

nôi qua cac vi sau:

Trang 24

7 Tổ sư Pháp Loa

8 Tổ sư Huyền Quang

9, Quốc sư An Tâm

10 Quốc sư Phù Vân Tĩnh Lự

11 Quốc sư Vô Trước

12 Quốc sư Quốc Nhất

13 Tổ sư Viên Minh

14 Tổ sư Đạo Huệ

15 Tổ sư Viên Ngộ

16 Quốc sư Tổng Trì

17 Quốc sư Khuê Thám

18 Quốc sư Sơn Đăng

19 Đại sư Hương Sơn

20 Quốc sư Trí Dung

21 Tổ sư Tuệ Quang

22 Tổ sư Chân Tru

23 Đại sư Vô Phiên [3, tr 89]

Danh sách này được Thiền sư Tuệ Nhãn lược đẫn trong phan đầu của bia

ký tháp Giao Quang thờ Thiền sư Tính Đường hiệu Tuệ Cự ngay bên phải công chùa Lân - Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử: “Núi Yên Tử Sơ Tổ Hiện Quang đến Trúc Lâm Viên Chứng trải qua tới Trân Triéu Tam Tổ, lân lượt tiếp nối nhau, danh chép truyền đăng phần nhiều khó nêu ra hết Trong lý ấn hiện đến Tổ Sư Tuệ Quang trung hưng rộng lớn, Phật pháp thịnh hành, danh lam thăng cảnh, Tuệ Nguyệt sáng mãi, Tuệ Đăng chiếu khắp cho đến Tuệ Cự ” [8, tr 78]

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được một vị vua nhà Trần sảng lập, được xem là dạng Phật giáo chính thức của Đại Việt thời đó nên có liên quan mật

Trang 25

thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu một hoàn cảnh mai một sau khi triều đại

này suy tàn Vì vậy, sau ba vị Tổ là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sơ

tổ Trúc Lâm truyền thừa cho Pháp Loa là đệ nhị tổ, đến Huyền Quang đệ tam

tổ, sau đó hệ thông truyền thừa của phái này không còn rõ ràng, nhưng có lẽ

không bị gián đoạn bởi vì đến thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh (1600 - 1700), người ta lại thấy xuất hiện những vị Thiền sư của Trúc Lâm Yên Tử như Viên

Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm và nổi bật nhất là Thiền sư Minh Châu Hương Hải

Sau một thời gian an dat, dong thién này sản sinh ra một vi Thiền sư xuất

sắc là Hương Hải, người đã phục hưng tông phong Trúc Lâm Trong thế kỉ thứ 17 - 18, thiền phái này được hoà nhập vào tông Lâm Tế và vị Thiền sư xuất sắc cuối cùng là Chân Nguyên Huệ Đăng

Dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập như thế đã được

kế thừa từ đó cho đến ít nhất là thé ky XIX

Ngày đăng: 04/09/2014, 07:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hòa thượng Phúc Điền (1851), Đại Nam Thiên Uyến Đăng Tập Lục, Nxb Viện nhgiên cứu Hán Nôm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam Thiên Uyến Đăng Tập Lục
Tác giả: Hòa thượng Phúc Điền
Nhà XB: Nxb Viện nhgiên cứu Hán Nôm
Năm: 1851
4. Nguyễn Hùng Hậu (1989), “Thử bàn về một vài tư tưởng triết học Phật giáo qua tác phẩm Khoa hư lục”, Tạp chí triết học, số 1, trang 62 - 67, Viện triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn về một vài tư tưởng triết học Phật giáo qua tác phẩm Khoa hư lục
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Năm: 1989
5. Nguyễn Hùng Hậu (1990), “Góp phần nghiên cứu một số tưởng triết học phật giáo của thiền phai Vinitaria”, Tap chi triét hoc, s6 2, trang 49 - 52, Vién triét hoc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu một số tưởng triết học phật giáo của thiền phai Vinitaria
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: Tap chi triét hoc
Năm: 1990
7. Nguyễn Lang (1974), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Nxb Lá bỗi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Phật giáo sử luận
Tác giả: Nguyễn Lang
Nhà XB: Nxb Lá bỗi
Năm: 1974
10. Thích Thông Phương (2009), Trần Nhân Tông với thiên phái Trúc Lâm, `®Nxb Tôn giáo, Viện nghiên cứu Phật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Nhân Tông với thiên phái Trúc Lâm
Tác giả: Thích Thông Phương
Nhà XB: ®Nxb Tôn giáo
Năm: 2009
13. Lưu Thị Quyết Thắng (2008), “Bàn về trí tuệ trong đạo đức Phật”, Tạp chí nghiên cứu Phật học, SỐ 2, trang 18 - 20, Viện nghiên cứu Phật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về trí tuệ trong đạo đức Phật
Tác giả: Lưu Thị Quyết Thắng
Năm: 2008
1. Thích Đông Bốn (2006), Vai trò chính trị của tăng Sĩ thời đại Lý - Trần, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Khác
2. Trương Văn Chung (1998), 7 tưởng triết học của thiên phải Trúc Lâm đời Trấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Pham Ké (1995), Danh sơn Yên Tứ, Nxb Lao động, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội Khác
11. Thích Phước Sơn (1995), Tam T: 6 thực lục, Viện nghiên cứu Phật học Khác
12. Lê Mạnh Thát (2000), 7Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb TP, Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w