Vận dông dạy học phân hoá theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4 Vận dông dạy học phân hoá theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4 Vận dông dạy học phân hoá theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4 Vận dông dạy học phân hoá theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4 Vận dông dạy học phân hoá theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4 Vận dông dạy học phân hoá theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước (2000 - 2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trênđường tiến vào thế kỷ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi chúng taphải đổi mới giáo dục nhất là phương pháp dạy và học Vấn đề này khôngchỉ của riêng nước ta mà là vấn đề chung cho tất cả các nước đang pháttriển Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trongnghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1 - 1993); nghị quyết Trung ương 2khoá VIII (12 - 1996) và được thể chế hoá trong Luật giáo dục (6 - 2005).[33] [37]
Luật giáo dục điều 2.5 đã ghi: ‘Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và
ý chí vươn lên’.
Điều 28.2 còng ghi: ‘phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh’ [31]
1.2 Chóng ta đang bước vào giai đoạn II thực hiện chiến lược pháttriển giáo dục 2000 - 2010 cần đổi mới mạnh mẽ và toàn diện giáo dục -đào tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua ‘dạy tốt - học tốt’ nhằm nâng cao chấtlượng dạy và học, để làm được điều đó chúng ta phải tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học [9] [37]
Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã và đang tiến hành tốt yêucầu đổi mới chương trình, nội dung, đưa SGK mới vào trường phổ thông.Song song với việc đưa SGK mới vào trường phổ thông là đổi mới phươngpháp dạy học (PPDH) Nhưng đổi mới PPDH như thế nào để vận dụng có
Trang 2hiệu quả và khơi dậy được năng lực học tập của tất cả các đối tượng họcsinh (HS)? Câu hỏi này cần được mọi giáo viên (GV) đặt ra cho mình vàtìm cách giải quyết Hầu hết các GV chỉ quan tâm đến đối tượng học sinhtrung bình, nắm được kiến thức cơ bản trong SGK còn đối với đối tượnghọc sinh khá, giỏi có năng lực tư duy sáng tạo toán học và học sinh lực họcyếu kém còn chưa được quan tâm, bồi dưỡng trong giờ học, chưa khuyếnkhích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của từng cá nhân học sinh.
1.3 Vấn đề phát huy tính tích cực của HS đã được đặt ra cho nước
ta từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước Trong công cuộc cải cách giáo dục, pháthuy tính tích cực là một trong các hướng cải cách nhằm đào tạo những conngười lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Nhưng cho đến nay sự chuyểnbiến về PPDH ở trường phổ thông vẫn phổ biến là cách dạy thông báo cáckiến thức định sẵn, cách học thụ động, sách vở Mặc dù ngày càng xuất hiệnnhiều những tiết dạy tốt của các GV giỏi theo hướng tổ chức cho HS hoạtđộng, tự chiếm lĩnh tri thức mới nhưng tình trạng chung hàng ngày vẫn là
“thầy đọc - trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện, giải thíchminh hoạ bằng tranh [1]
1.4 Toán học là một môn học quan trọng trong việc thực hiện cácmục tiêu giáo dục của nhà trường Những kiến thức, kĩ năng và phươngpháp làm việc trong Toán giúp HS phát triển năng lực tư duy như phân tích,tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá Rèn luyện những phẩm chất tốtđẹp của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, kỉ luật, phê phán
và sáng tạo Qua đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho họcsinh
1.5 Vậy lựa chọn PPDH nào để phát huy tối đa năng lực học tậpcủa HS, phát huy được tính tích cực của các em Phải tổ chức quá trình dạyhọc như thế nào để người học không những lĩnh hội được tri thức mà cònbiết cách thức, con đường lĩnh hội tri thức đó - học cách học Đó là nhữngtrăn trở mà tôi một giáo viên trực tiếp đứng trên bục giảng luôn muốn đi tìm
Trang 3giải đáp Để góp một phần nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển nguồnlực con người phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội, đào tạo thế hệ trẻnhững người chủ nhân tương lai của đất nước tôi chọn đề tài:
‘V ận dông Dạy học phân hoá theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4’
2 Mục đích nghiên cứu:
2.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học phân hoá.2.2 Nghiên cứu việc vận dụng dạy học phân hoá trong dạy họcphân số ở lớp 4 theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách thể: Dạy học phân hoá theo hướng tích cực hoá hoạtđộng học tập của học sinh
3.2 Chủ thể: Dạy học phân số ở lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc vận dụng dạy học phân hoá theohướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ởlớp 4
4.2 Khảo sát, phân tích thực trạng dạy học phân hóa nói chung và dạyhọc phân số nói riêng ở trường tiểu học
4.3 Đề xuất quy trình thiết kế giáo án dạy học phân hoá phần phân số
5 Giả thuyết khoa học:
Nếu vận dụng dạy học phân hoá theo hướng tích cực hoá hoạt độnghọc tập của học sinh trong dạy học thì góp phần phát huy năng lực lĩnh hội
Trang 4tri thức, hình thành kỹ năng; phát triển tư duy của bản thân học sinh và gópphần nâng cao chất lượng dạy học.
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích và tổng hợp: Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học; cáctài liệu liên quan đến đề tài (sách giáo khoa, sách tham khảo, tạp chí nghiêncứu giáo dục ) hệ thống hoá các kiến thức làm cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Quan sát và điều tra: Dự giờ, trao đổi, tìm hiểu ý kiến của các đồngnghiệp dạy giỏi, có kinh nghiệm
Thực nghiệm sư phạm: Kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của kết quảnghiên cứu
Tổng kết kinh nghiệm: Thu thập, xử lý và đánh giá số liệu những bàihọc rót ra cần được phân tích, tổng kết và phổ biến rộng rãi
7 Những đóng góp của luận văn:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học phân hoá
- Đề xuất được quy trình xây dựng bài soạn vận dụng dạy học phân hoá
- Đề xuất phương án tổ chức dạy học phân hoá theo hướng tích cực hoáhoạt động học tập của học sinh trong dạy học phân số ở lớp 4
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, các phụ lục, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương II: Đề xuất phương án vận dụng dạy học phân hoá trong dạyhọc phân số ở lớp 4
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
-
Trang 5 -CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Ở Phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã đề cao phương phápdạy học phân hoá Trong giảng dạy ông chia làm hai phần một phần tâmtruyền và một phần công truyền Phần công truyền nói về luân thường đạo
lý để dạy cho mọi người, phần tâm truyền nói về sự cao xa khó hiểu hơn đểdạy riêng cho những người có tư chất đặc biệt Ông nhấn mạnh mỗi ngườiphải tự mình học tập để lĩnh hội lấy kiến thức chứ không phải qua giảnggiải nhiều lời của thầy giáo Ông đòi hỏi sự nỗ lực cao của từng cá nhân vàyêu cầu thầy giáo phải tuỳ vào đặc điểm của từng người mà tìm ra cách dạycho thích hợp [28.tr101]
Từ xa xưa ông cha ta cũng đã vận dụng cách thức dạy học dựa trên đặcđiểm và trình độ cá nhân của mỗi người học Trong thời phong kiến xuất hiệnkiểu dạy học thầy đồ (một thầy cùng một lúc dạy nhiều trò với nhiều lứa tuổi
và trình độ khác nhau) Kiểu dạy này bắt buộc thầy phải quan tâm đến từngngười để có cách dạy phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức vànhu cầu của họ
Ở Phương Tây, xuất hiện nhiều nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đãchú ý đến dạy học hướng vào người học, khai thác tiềm năng của mỗi cánhân học sinh
Từ những năm 30 - 40 của thế kỷ trước, dạy học phát huy tính tích cựccủa học sinh đã được các nhà giáo dục Nga quan tâm và đặt lên hàng đầu vềcông cuộc đổi mới phương pháp dạy học [2]
J.A.Cômenxki (1592 - 1670) cho rằng dạy học phải phát huy tínhtích cực, tính chủ động của HS, dẫn đắt các em suy nghĩ tìm tòi để tựmình nắm được bản chất vấn đề học tập Ông cho rằng nếu không pháthuy được tính tích cực, chủ động tồn tại trong mỗi HS thì dạy học sẽkhông có ý nghĩa gì cả [8.tr24]
Trang 6J.J.Rutxô (1712 - 1778) quan tâm đến sự phát triển tự nhiên của mỗicon người, phải lôi cuốn HS vào mỗi quá trình học tập làm cho họ tích cực,
tự lực tìm tòi, khám phá giành lấy tri thức
A.Dictecvec chú trọng đến sự phát triển của từng HS và cho rằng dạyhọc cần dựa trên các đặc điểm tâm lý của trẻ Ông đã từng nói: “Người giáoviên tồi là người cung cấp cho học sinh chân lý, người giáo viên giỏi làngười dạy cho họ tìm chân lý [41.tr274]
Thế kỷ XX, J.Dewey (1916) cho rằng giáo dục và dạy học là sự chỉdẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS Do vậy, quá trình dạyhọc phải hướng vào người học, đảm bảo cho họ học bằng sự phân tích kinhnghiệm của mình Việc học tập là quá trình sử lý kinh nghiệm mà người học
tự tiến hành với sự giúp đỡ của nhà giáo dục theo nhu cầu và lợi Ých cánhân Như vậy, Dạy học phải chú ý đến cái riêng của mỗi người, đặc biệt lànhu cầu, hứng thú Dạy học dựa trên kinh nghiệm cá nhân và hiệu quả họctập do từng người quyết định[11]
E.Claparide cho rằng quá trình dạy học phải hướng vào việc kích thích
sự ham muốn học tập, phải đặt trẻ vào trong tình huống, phải khơi dậynhững phản ứng thích hợp của trẻ nhằm thoả mãn nhu cầu, sở thích đó Dựavào khả năng riêng biệt của từng cá nhân điều khiển và hướng dẫn họ đạtđược mục tiêu dạy học đã đặt ra [13.tr21]
Iu.K.Babanxki cho rằng quá trình dạy học bao gồm ba công việc cơbản: tổ chức thực hiện các hoạt động học tập; kích thích hoạt động nhậnthức; kiểm tra đánh giá Theo ông, muốn kích thích hoạt động nhận thứccủa HS thì phải phát huy tính tích cực, tính tự giác của họ[24.tr14]
Ở Pháp người ta đã coi trọng việc rèn luyện cho HS phương pháp tựtìm kiếm tri thức ngay từ bậc học Tiểu học Trong một văn bản của Bộ giáodục Pháp (1991) đã nêu rõ: “Cần đưa trẻ vào học ở các trung tâm giáo dục
có sự thích ứng tế nhị với mọi trường hợp Khi tính đến sự không đồng nhất
Trang 7của từng HS thì hoạt động của GV phải tập trung vào chính đứa trẻ đanghọc, không kém gì chú ý đến nội dung mà nó đang phải học”[34.tr85].
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu tổ chức dạy học phân hoá chưanhiều,
một số tác giả nh Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Hữu Châu, Hà Sĩ Hồ, ĐặngThành Hưng [7]; [14]; [18]; [27] đã có những nghiên cứu về dạy học phânhoá Giúp HS tự tìm tòi, khám phá tri thức bằng khả năng của mình sẽ đemlại niềm vui hứng thú học tập cho các em
II Cơ sở tâm lý học - giáo dục học:
1 Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học:
1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học:
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì bậc học tiểu học là bậc học nềntảng Nơi đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhâncách của con người Trẻ em từ 6 tuổi bắt đầu bậc học tiểu học Mục đíchcủa bậc học này là trang bị cho các em những tri thức sơ đẳng về tự nhiên
xã hội gần gũi với các em trong cuộc sống, giúp các em phát triển tính linhhoạt, sáng tạo trong học tập và đời sống nhưng vẫn giữ được tình cảm hồnnhiên, ngây thơ của trẻ thơ Đầu bậc tiểu học, trẻ bắt đầu chuyển từ hoạtđộng chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập Các em chưa có thói quen,
kỹ năng, phương pháp học tập mà GV phải thường xuyên nhắc nhở, uốnnắn[22]
Các nhà tâm lý học cũng đã lưu ý đến đặc điểm phát triển tâm lý củatrẻ em gắn liền với từng lứa tuổi trong quá trình trưởng thành Mỗi thời kỳphát triển được đánh dấu bằng những biểu hiện tâm lý đặc thù gọi là các đặcđiểm lứa tuổi Sự phát triển tâm lý trẻ em rất phức tạp gắn liền với nhữngđiều kiện sống, với tác động qua lại giữa đứa trẻ và môi trường, đặc biệt làgiáo dục và môi trường giáo dục Các đặc điểm lứa tuổi bao gồm:
1.1.1 Tri giác:
Trang 8Tri giác của HS tiểu học mang tính chất đại thể, Ýt đi sâu vào chi tiết
và mang tính không chủ định Do đó, các em phân biệt các đối tượng cònchưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn
Theo nhà tâm lý học V.A.Cruchétxki thì những bức tranh có màu sắcsặc sỡ trong sách có ảnh hưởng không tốt đến sự học tập bởi tính cảm xúc ở
HS tiểu học thể hiện rất rõ khi các em tri giác Tri giác trước hết là những
sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em nhữngxúc cảm Vì thế, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em trigiác tốt hơn, dễ gây Ên tượng tích cực cho chóng [22.tr83]
Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập,khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp vàsâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hoá hơn thì tri giác sẽmang tính chất của sự quan sát có tổ chức Vai trò của giáo viên tiểu học rấtlớn trong quá trình phát triển tri giác của HS tiểu học
1.1.2 Chó ý:
Ở lứa tuổi HS tiểu học, chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năngđiều chỉnh chú ý một cách có ý chí còn hạn chế Sự chú ý của HS đòi hỏi mộtđộng cơ gần thúc đẩy Chú ý không chủ định được phát triển Những gì mangtính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các
em, không có sự nỗ lực của ý chí Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học nhưtranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mô hình vật thật, … là điều kiện quan trọng để tổchức sự chú ý Như vậy, nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì đượcchú ý không chủ định cho nên mỗi giáo viên cần tìm cách làm cho giờ họcđược hấp dẫn và lý thó Tuy nhiên, cần rèn luyện cho HS chó ý cả đối với sựvật, hiện tượng, công việc không gây được chú ý trực tiếp, chưa phải là lý thúlắm K Đ Usinxi đã nói ‘Bạn hãy nhớ rằng trong việc học tập không phải tất
cả đều trở thành lý thú, mà nhất định sẽ có những điều buồn tẻ Vậy, hãy rènluyện cho trẻ không chỉ quen làm cái gì mà trẻ hứng thú mà còn quen làm cảnhững cái không lý thú nữa…’[22.tr 85]
Trang 91.1.3 Trí nhớ
Ở lứa tuổi này trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trínhớ từ ngữ - logic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật hiệntượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thíchdài dòng Cho nên cũng dễ hiểu các em thường học thuộc lòng tài liệu họctập theo đúng câu, từng chữ mà không sắp xếp lại, sửa đổi, diễn đạt lại bằnglời lẽ của mình Đặc điểm này do 4 nguyên nhân sau :
+ Ghi nhớ máy móc của các em thường chiếm ưu thế
+ HS chưa hiểu cụ thể cần phải nhớ cái gì, bao lâu ?
tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bềnvững Càng về cuối cấp (lớp 4, líp 5) tưởng tượng của các em càng gần hiệnthực hơn, tính hiện thực trong tưởng tượng của HS gắn liền với sự phát triểncủa tư duy và ngôn ngữ
1.1.5 Tư duy
Nhà tâm lý học Thụy Sĩ, Ông G.Piagiê đã khẳng định tư duy của trẻ từ
7 đến 10 tuổi về cơ bản còn ở những thao tác cụ thể mang tính hình tượngbằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiệntượng cụ thể Nhờ quá trình học tập, HS tiểu học dần chuyển từ nhận thứccác mặt bên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính
và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Tuy nhiên kỹ năng phânbiệt các dấu hiệu và ‘lấy’ ra các thuộc tính bản chất không dễ gì thực hiện
Trang 10ngay được vì với HS tiểu học, tri giác thường là những dấu hiệu bên ngoài
mà những dấu hiệu này chưa chắc đã là bản chất Đó cũng chính là nguyênnhân dẫn đến những sai lầm của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức
Đối với HS mới bước vào bậc học tiểu học khi khái quát hoá, HSthường chỉ quan tâm đến những dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quanđến chức năng của đối tượng Nhờ có học tập mà trình độ nhận thức của HSđược phát triển, các em đã biết phân loại và phân hạng trong nhận thức Sựphân loại là căn cứ vào dấu hiệu chung còn phân hạng là dựa vào các dấuhiệu có thể biến thiên Các khả năng hoạt động của tư duy như phân tích, tổng hợp, trừu trượng hoá, khái quát hoá được nâng cao dần khi học toán.Trong quá trình học tập, tư duy của HS tiểu học thay đổi rất nhiều Sựphát triển của tư duy dẫn đến sự tổ chức lại một cách căn bản quá trình nhậnthức, chúng được tiến hành một cách có chủ định Tuy nhiên vai trò của nộidung dạy học (NDDH) và PPDH đặc biệt quan trọng, nhất là khi NDDH vàPPDH được thay đổi tương ứng thì trẻ em có thể có được một số đặc điểm
tư duy hoàn toàn khác [22]
1.2 Đặc điểm nhân cách học sinh tiểu học
Vào học lớp 1 là một bước ngoặt trong đời sống của trẻ, các em tiếnhành hoạt động học mang tính chất nghiêm chỉnh, phải thiết lập nhữngmối quan hệ với giáo viên, với bạn bè cùng lớp Trẻ gia nhập cuộc sốngtập thể mới : tập thể lớp học, tập thể đội nhi đồng.Tất cả điều đó ảnhhưởng đến sự hình thành các phẩm chất của ý chí, tính cách, tình cảm vàhành vi đạo đức ở học sinh tiểu học
1.2.1 Tính cách
Tính cách của trẻ em thường hình thành rất sớm ở thời kỳ trước tuổihọc nhưng không ổn định vì mới được hình thành, có thể thay đổi dướitác động giáo dục của gia đình
Ở lứa tuổi này, khi hoạt động dễ nhận ra tính xung động trong hành
vi của các em Do vậy, hành vi của các em dễ có tính tự phát Nguyên
Trang 11nhân của hiện tượng này là sự điều chỉnh của ý chí đối với hành vi củalứa tuổi còn yếu, các em chưa biết đề ra mục đích của hoạt động và theođuổi mục đích đó đến cùng Tính cách của các em có nhược điểm làbướng bỉnh và bất thường
Tính hay bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổinày Tuy nhiên, trẻ em bắt chước cái tốt cũng lắm mà cái xấu cũng nhiều
Vì vậy khi giáo dục trẻ bằng những tấm gương cụ thể thì cũng cần chú ýđến cả khả năng tiêu cực của tính bắt chước
Ngay từ bậc tiểu học đã cần hình thành nhu cầu nhận thức cho HS.Khi có nhu cầu nhận thức, các em sẽ khắc phục được khó khăn để tựmình chiếm lĩnh tri thức, tự học suốt đời
1.2.3 Tình cảm
Tình cảm là một mặt rất quan trọng đối với HS tiểu học, nó gắn liềnnhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực không chỉ kíchthích trẻ em nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ em hoạt động Trong giáo dục
Trang 12tiểu học, nếu quá quan tâm đến sự phát triển của trí tuệ mà xem nhẹ giáodục tình cảm thì sẽ làm cho nhân cách của trẻ em phát triển phiến diện.Tình cảm, cảm xúc của HS tiểu học thường là những sự vật, hiệntượng cụ thể, sinh động Vì thế các em rất thích những bài giảng mà cô
sử dụng những đồ dùng dạy học đẹp có màu sắc rực rỡ
HS tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm củamình Do đó, các quá trình nhận thức, hoạt động của các em đều chịu sựchi phối mạnh mẽ của cảm xúc và đều đượm màu sắc cảm xúc
Tình cảm của HS tiểu học còn mỏng manh chưa bền vững, chưa sâusắc Các em đang thích đối tượng này nhưng nếu có đối tượng khác thíchhơn, đặc biệt hơn thì dễ dàng bị lôi cuốn vào đó, quên mất đối tượng cũ
2.1.4 Sự phát triển của năng khiếu
Trẻ em có năng khiếu là những trẻ em thường ngày hoàn thànhcác
công việc một cách dễ dàng trong khi đó có những em phải rất vất vả mớithực hiện được các công việc đó Năng khiếu được bộc lộ sớm và pháttriển rất nhanh ở các lĩnh vực nghệ thuật, văn thơ, khoa học tự nhiên và
kỹ thuật Tuy việc phát hiện năng khiếu là công việc phức tạp, khó khăn
và còn nhiều bí Èn song các nhà sư phạm lại có vai trò quan trọng trongviệc phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu Vì HS có năng khiếu có thể trởthành tài năng, nếu các em gặp người thầy biết cách dạy dỗ và người thầy
đó xuất hiện đúng lúc [22]
2 Những đặc điểm của tâm lý học sinh Tiểu học trong dạy học toán
Nhà lý luận dạy học xô viết N.V.Verdilin nhận xét : "Các khái niệmkhoa học không được hình thành ngay tức khắc ở HS mà phải trải qua nhiềumức độ, nhiều giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, trí nhớ lại giầu thêm những tàiliệu, sự kiện, sự phân tích lại sâu sắc và toàn diện hơn, làm cho những kếtluận, những khái quát hoá hoặc những quy tắc đã được lĩnh hội biến thànhtài sản trí tuệ của học sinh” [24]
Trang 13Sự phát triển tâm lý của HS tiểu học theo quy luật không đồng đều:Trong cùng một lứa tuổi, khả năng và sự phát triển trí tuệ của các em khônggiống nhau, hứng thú, nhu cầu, động cơ học tập… cũng khác nhau, chưa kểđến các khác biệt về môi trường xã hội, gia đình và các điều kiện học tập.
Sự khác biệt này tạo nên bộ mặt riêng biệt trong đời sống tâm lý của HS
"Trong một lớp học có 50 học sinh thì có 50 sự khác biệt” [4 tr7] Dựa trênnhững đặc điểm tâm lý của HS tiểu học đã nêu ở trên việc học toán có ảnhhưởng rất lớn đến quá trình lĩnh hội tri thức của các em Chóng ta có thểhình dung quá trình lĩnh hội tri thức của HS dưới dạng hình xoắn ốc trong
đó mỗi bậc thang của việc học tập (tri giác tài liệu, hiểu thấu, ghi nhớ, luyệntập vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hệ thống hóa và tiếp tục khái quáthoá) sẽ nâng cao trình độ của HS, kích thích tính ham hiểu biết, tính tíchcực tư duy của các em Song người GV cũng phải lưu ý rằng chúng takhông thể làm sáng tỏ ngay tức khắc được mọi chi tiết muôn hình muôn vẻcủa tài liệu học tập, và điều này lại mâu thuẫn với quy luật tri giác của trẻ
em Vì vậy việc học toán sẽ giúp các em dần chiếm lĩnh nội dung kiến thứcthể hiện trong tài liệu học tập
Do đặc điểm nhận thức của HS tiểu học nên quá trình dạy học toán phảiđặc biệt coi trọng công tác thực hành toán học Thông qua thực hành toánhọc có thể hình thành bước đầu các khái niệm toán học, các quy tắc tính toán,bằng thực hành toán học sẽ củng cố tri thức mới rèn luyện các kỹ năng cơ sở,phát triển tư duy, phát triển trí thông minh Tư duy của các em chủ yếu là tưduy cụ thể, mang tính hình thức, dựa vào các đặc điểm bên ngoài Nhờ hoạtđộng học tập, tư duy dần mang tính khái quát Khi khái quát, HS tiểu họcthường dựa vào chức năng và công dụng của sự vật, hiện tượng, trên cơ sởnày chúng tiến hành phân loại, phân hạng Hoạt động phân tích tổng hợp còn
sơ đẳng nên việc học toán học sẽ giúp các em biết phân tích và tổng hợp.Dựa trên đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học, mục đích quan trọng làtạo ra động cơ học tập của mỗi cá nhân học sinh đó là sự hứng thú Để đạt
Trang 14được sự hứng thú cho mỗi HS có nhiều yếu tố trong đó đảm bảo tính vừasức là yếu tố quan trọng nhất Vận dụng dạy học phân hoá có nhiều ưu thế
để giáo viên tác động đến từng đối tượng học sinh
II Tính tích cực và tích cực học tập
1 Quan niệm về tính tích cực
“Tích cực” theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là hăng hái, nhiệt tình vớicông việc [39 tr 964] Tính tích cực là khẳng định, thúc đẩy sự phát triển.Khi nói đến tính tích cực là nói đến sự chủ động và những hoạt động tạo ra
sự biến đổi theo hướng tiến bộ
Theo tác giả I F Kharlamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của
HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong
2 Tích cực hoá hoạt động học tập
Thực chất của tích cực trong học tập là tích cực nhận thức, đặc trưng
ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếmlĩnh tri thức Cách tốt nhất để học một cái gì đấy là tự khám phá lấy NhàVật lý người Đức thế kỷ XVIII G Licxơtenbegơ đã nói: “Những gì mà tựbản thân anh buộc phải khám phá sẽ để lại trong tiềm thức của anh conđường nhỏ mà anh lại có thể sử dụng khi cần thiết” [10 tr 72]
Theo quan niệm của các tác giả trong và ngoài nước [1]; [5]; [23];[24]; [27]… thì tích cực học tập bao gồm:
Trang 15+ Tính tự giác học tập: Người học nhận thức được các nhiệm vụ học
tập từ đó có ý thức lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và biết vậndụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào quá trình học tập
+ Tính độc lập học tập: Người học tự giác định hướng, thực hiện và
hoàn thành nhiệm vụ bằng chính sức lực của mình không trông chờ, ỷ lạivào người khác Người học tự phát hiện vấn đề, tự tổ chức, điều khiển hoạtđộng nhận thức của bản thân và tự mình giải quyết vấn đề
+ Tích cực hoá hoạt động học tập: Là quá trình tác động có mục đích,
có hệ thống của người dạy đến người học biến người học thành con ngườihoạt động vì chính mục tiêu họ nhận thức được Giúp cho người học từ vaitrò bị động sang thế chủ động tự tổ chức, tự chỉ đạo hoạt động học tập củamình nhằm đạt được mục tiêu học tập đề ra
Tuy nhiên, khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học,quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loàingười chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích luỹđược Đôi khi, trong học tập HS cũng phải “khám phá” ra những hiểu biếtmới đối với bản thân Ngoài ra, khi đã đạt đến một trình độ nhất định, sựhọc tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm
ra những tri thức mới cho khoa học
Tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu cụ thể như: HS hăng háitrả lời các câu hỏi của giáo viên đưa ra, bổ sung các câu trả lời của bạn,thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề được đặt ra; hay nêu thắc mắc,đòi hỏi được giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụngnhững kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chó ývào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trướcnhững tình huống khó khăn
Tích cực học tập bao gồm các cấp độ sau:
- Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của thầy và của bạn
Trang 16- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giảiquyết khác nhau cho cùng một vấn đề.
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
3 Quan niệm về PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS
Đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH chúng ta cần đào tạo nguồn nhân lựccho đất nước, những con người tự chủ, năng động, sáng tạo phù hợp vớithời kì đổi mới thì nhất thiết phải đổi mới giáo dục cụ thể là đổi mới PPDH.Phải lựa chọn PPDH sao cho đạt được mục tiêu “Dạy người khác muốnhọc; dạy người khác biết học; dạy người khác kiên trì học tập và dạy ngườikhác học tập có kết quả”[17 tr 105] Thực hiện yêu cầu trên, ngành giáodục nước ta đã và đang tiến hành đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoáhoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập
Mét trong những quan niệm về PPDH nhằm phát huy tính tích cực họctập của HS đó là “PPDH là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc tổchức, chỉ đạo các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt đượcmục tiêu dạy học” [19 Tr 12] Như A.Distecvec đã viết: “người GV tồi làngười cung cấp cho HS chân lý, người GV giỏi là người dạy cho họ tìm rachân lý” [21] Thực chất của PPDH này là GV chỉ là người tổ chức chỉ đạocòn HS tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
Để có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinhthì người GV nên:
+ Đối với dạy bài mới:
- Tổ chức, hướng dẫn HS tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bàihọc bằng cách:
Hạn chế truyền đạt các kiến thức có sẵn
Hướng dẫn HS tự phát hiện vấn đề của bài học rồi tổ chức cho HShuy động những hiểu biết của bản thân (hoặc của một nhóm HS) lập mối
Trang 17liên hệ giữa vấn đề mới phát hiện với các kiến thức thích hợp đã biết, từ đótìm cách giải quyết vấn đề.
Trân trọng, khuyến khích mọi cách giải quyết của HS, giúp các emlựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất
- Tổ chức cho HS thực hành, vận dụng kiến thức mới học ngay trongtiết dạy học bài mới để HS “học qua làm”, góp phần giúp HS tự chiếm lĩnhkiến thức mới, bằng cách sử dụng các bài tập trong SGK để tổ chức cho HS
tự làm bài theo năng lực của mình
+ Đối với bài luyện tập, luyện tâp chung, thực hành, ôn tập:
- Giúp HS tự phát hiện ra mối liên hệ giữa bài tập và các kiến thức đãhọc, từ đó lựa chọn, sử dụng những kiến thức thích hợp để giải bài tập
- Giúp HS tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng em, khôngdạy học “đồng loạt”, “bình quân” Khi tổ chức cho HS làm bài, chữa bài
GV cần quan tâm đến từng đối tượng HS
- Khuyến khích sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đối tượng HS bằng cáchphối hợp giữa bài làm của từng cá nhân với trao đổi ý kiến trong nhóm vềcách giải của các bạn để rút kinh nghiệm và tự hoàn chỉnh cách giải củamình
- Tập cho các em có thói quen tự kiểm tra, tự đánh giá, tự rút kinhnghiệm khi làm bài và chữa bài
- Tập cho HS thãi quen tìm nhiều cách giải một bài toán (nếu có thể)
và lựa chọn cách giải hợp lý nhất, không thoả mãn với các kết quả đã đạtđược
Phát huy được tính tích cực của từng cá nhân học sinh nghĩa là phát huynăng lực học tập sẵn có trong từng cá nhân (nội lực của học sinh) Như vậynếu người giáo viên sử dụng thành công được PPDH phân hoá sẽ có ý nghĩa
và tác dụng trực tiếp đến sự phát triển năng lực học tập sẵn có của học sinh
III Tổng quan về đổi mới PPDH
1 Quan niệm đổi mới PPDH
Trang 18Trong thư của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân gửicán bộ và giáo viên tiểu học toàn quốc tham gia hội thảo “Đổi mới PPDHTiểu học” lần thứ 4 do Viện khoa học giáo dục tổ chức tại Hà Nội, tháng 4
năm 1995 có đoạn : “Trong những đổi mới về giáo dục và đào tạo thì đổi mới PPDH có vị trí đặc biệt quan trọng vì hoạt động dạy học đang là hoạt động chủ yếu của nhà trường và xét cho đến cùng thì khoa học giáo dục là khoa học về phương pháp, sáng tạo về khoa học giáo dục thực chất là sáng tạo về phương pháp giáo dục, trong đó có phương pháp dạy học”[20 tr 2].
Đổi mới PPDH là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục ViệtNam trong giai đoạn hiện nay Đổi mới PPDH sẽ làm thay đổi tận gốc nếpnghĩ, nếp làm của các thế hệ học trò - chủ nhân tương lai của đất nước Đổimới PPDH sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo Vậy đổi mới PPDH là đổi mới cái gì? Cái cũ là cái gì? Chúng ta đềubiết không phải cái gì cũ cũng tồi và cái gì mới cũng hoàn hảo Hiệu quảhay không của PPDH là do người sử dụng nó như thế nào Xét bản thânphương pháp thì không có phương pháp nào là phương pháp tồi, không cóphương pháp nào là phương pháp tích cực hay thụ động, mà phương pháp
Êy trở nên tồi, thụ động khi người ta không khai thác hết tiềm năng của nóhoặc sử dụng nó không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng
Đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng
một loạt các PPDH mới Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách
tiến hành các phương pháp, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp
cũ và vận dông linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tốt tính
tích cực, chủ động và sáng tạo của người học
Như vậy đổi mới PPDH không phải là sự thay thế các phương phápquen thuộc hiện có bằng những phương pháp mới lạ Thực chất chúng taphải hiểu lại cho đúng cách làm, cách tiến hành các PPDH, cách linh hoạt,sáng tạo trong sử dụng nó ở những hoàn cảnh và tình huống khác nhau để
Trang 19những PPDH có tác động tích cực đến người học Ngoài ra, cùng với sựphát triển của phương tiện dạy học và của chính khoa học về PPDH, một sốPPDH hiện đại cần được bổ sung vào hành trang PPDH của giáo viên [9].
2 Vì sao phải đổi mới PPDH:
Đổi mới PPDH xuất phát từ nhu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế - xãhội đang diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước Công cuộc đổi mớinày cần có những người có bản lĩnh , có năng lực, chủ động, sáng tạo, dámnghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn đời sống xã hội luôn luôn pháttriển Thực tiễn này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải đượcđiều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi một cách tất yếu của nộidung và PPDH
Đặc điểm của lối dạy học cũ là có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt độngdạy của GV và hoạt động học của HS GV lên lớp truyền thụ kiến thức chủyếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải theo các tài liệu có sẵn trongSGK; HS thụ động tiếp thu theo cách: thày giảng - trò nghe và ghi nhớ rồilàm bài theo mẫu GV là người duy nhất có quyền đánh giá kết quả học tậpcủa HS ; HS Ýt có khả năng tự đáng giá và đánh giá lẫn nhau Tiêu chuẩn
để đánh giá HS là kết quả ghi nhớ, tái hiện những điều GV giảng
Cách dạy này có hạn chế là :
- GV làm việc máy móc và Ýt quan tâm đến khả năng sáng tạo của HS
- HS học tập thụ động do đó Ýt có hứng thú học tập, nội dung cáchoạt động học tập thường nghèo nàn, đơn điệu Tri thức tiếp thu đượckhông vững Tính thụ động lâu dần thành thói quen sẽ hạn chế trình độ tưduy và nhận thức
- HS không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập và sáng tạo,khó thích ứng với yêu cầu học tập cao hơn ở các lớp trên, càng khó thíchứng với các hoạt động muôn màu muôn vẻ của cuộc sống xã hội sau này
- Năng lực cá nhân của HS không có điều kiện bộc lộ và phát triển đầyđủ
Trang 20Như chóng ta đã biết, những nét tính cách chính của con người đượchình thành từ trước và đầu tuổi học Vì vậy trường Tiểu học cần rèn luyệncho HS tính năng động và sáng tạo bằng cách sớm chuyển sang dạy học theohướng tích cực hoá người học, tập trung vào hoạt động của người học thì mớirèn luyện được cho trẻ em những năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu đổi mớicủa đất nước Điều đó cũng phù hợp với xu thế giáo dục của khu vực và thếgiới là dạy học phát huy năng lực, sở trường của người học làm cho ngườihọc linh hoạt và sáng tạo tiếp thu kiến thức, tạo tiền đề cho Việt Nam hoànhập vào cộng đồng Quốc tế.
3 Đổi mới PPDH như thế nào:
Đổi mới PPDH được hiểu là: Đưa các phương pháp mới vào nhàtrường trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyềnthống để nâng cao chất lượng dạy - học, nâng cao hiệu quả đào tạo củagiáo dục Đổi mới PPDH phải thiết thực góp phần thực hiện mục tiêugiáo dục tiểu học, tạo điều kiện để cá thể hoá dạy học và khuyến khíchdạy học phát hiện ra nội dung mới của bài học Làm được như vậy sẽphát triển được các năng lực, sở trường của từng HS; rèn luyện HS trởthành những người lao động chủ động, sáng tạo
Đổi mới PPDH ở Tiểu học phải thực hiện đồng bộ với đổi mới mụctiêu và nội dung giáo dục; đổi mới đào tạo và bồi dưỡng GV; đổi mới cơ sởvật chất và thiết bị; đổi mới chỉ đạo và đánh giá giáo dục tiểu học Đó làmột quá trình lâu dài, kiên trì, bền bỉ, tránh nôn nóng đốt cháy giai đoạn;phải kế thừa những thành tựu về PPDH của đội ngũ GV tiểu học ở nước tađồng thời khiêm tốn học tập những kinh nghiệm thành công của việc đổimới phương pháp dạy toán ở tiểu học của các nước; kế thừa và phát huy cácmặt tích cực của các PPDH truyền thống và vận dụng hợp lý các PPDHmới Mức độ thực hiện đổi mới PPDH ở Tiểu học phải tuỳ thuộc vào điềukiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, của GV từng trường, từnglớp
Trang 21Để đảm bảo sự thành công của đổi mới PPDH ở Tiểu học nên lựa chọnnhững giải pháp có tính khả thi cao Kinh nghiệm cho thấy rằng năm giải pháp sau phù hợp với các trường tiểu học:
Một là đổi mới nhận thức, trong đó cần trân trọng khả năng chủ động,sáng tạo của GV và HS tiểu học
Hai là đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, nên khuyến khích dạyhọc cá nhân, dạy học theo nhóm, dạy học ở hiện trường, tăng cường tròchơi học tập
Ba là đổi mới cách trang trí, sắp xếp phòng học để tạo ra môi trườnghọc tập thích hợp
Bốn là đổi mới phương tiện dạy học, khuyến khích dùng các loại phiếuhọc tập, đồ dùng học tập, phương tiện kỹ thuật
Năm là đổi mới cách đánh giá giáo viên và học sinh
* Những định hướng chính trong đổi mới PPDH
- Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ độngsáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức
- Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sángtạo các PPDH khác nhau (truyền thống và hiện đại) sao cho vừa đạt đượcmục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở
- Đổi mới PPDH theo hướng phát triển khả năng tự học của học sinh
- Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt độngnhóm và phát huy khả năng của cá nhân
- Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành
- Đổi mới PPDH theo hướng sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đạivào dạy học
-Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra và đánhgiá kết quả học tập của học sinh
- Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cách soạn giáo án, lập kế hoạchbài học và xây dựng mục tiêu bài học [12]
Trang 22Như vậy định hướng đổi mới PPDH toán ở tiểu học hiện nay là tích cựchoá hoạt động học tập của HS, khơi dậy và phát triển khả năng tực học,nhằm hình thành cho HS tư duy tích cực, độc lập, sáng, tạo rèn luyện kỹnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
IV Dạy học phân hóa như là một hướng đổi mới PPDH:
Dạy học phân hoá như là một hướng đổi mới PPDH nhằm phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS được hiểu là quá trình GV tổ chức
và hướng dẫn các hoạt động học tập Bao gồm:
- Huy động mọi khả năng của từng HS để tự HS tìm tòi, khám phá ranhững nội dung mới của bài học
- Phân hoá HS theo trình độ nhận thức, giao nhiệm vụ phù hợp vớitừng nhóm HS tạo điều kiện và phương tiện hoạt động để HS tự phát hiện racác tình huống có vấn đề; tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớplập kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề
- Tập trung mọi cố gắng để phát triển năng lực, sở trường của mỗi HS,tạo cho HS có niềm tin và niềm vui trong học tập
Dạy học như trên khuyến khích GV chủ động và sáng tạo trong nghềnghiệp đồng thời yêu cầu họ phải trân trọng mọi cố gắng, mọi sáng tạo dùcòn nhỏ bé của từng HS Kết quả của cách dạy học như thế không chỉ gópphần hình thành cho HS các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết, mà chủyếu là xây dùng cho HS nhiệt tình và phương pháp học tập để sáng tạo nhưmột nhà triết học cổ Hy Lạp đã nói: “Dạy học không phải là chất đầy vàomột cái thùng rỗng mà là làm bừng sáng lên những ngọn lửa”[20 tr 12]
1 Một số hình thức dạy học phân hoá:
Dạy học phân hóa ở cấp vĩ mô được thể hiện thông qua cách tổ chứccác loại trường, lớp khác nhau cho các đối tượng học sinh khác nhau Dạyhọc phân hóa ở cấp vi mô được thể hiện thông qua việc tìm hiểu và thựchiện các phương pháp, kỹ thuật dạy học khác nhau sao cho mỗi học sinhhoặc mỗi nhóm học sinh thu được các kết quả học tập tốt nhất
Trang 23Ở cấp vĩ mô tác giả Nguyễn Hữu Châu đưa ra các hình thức chủ yếusau:
- Phân ban: Ra đời từ thế kỷ XVIII ở trường trung học Pháp và được
áp dụng tại nhiều nước châu Âu và các nước thuộc các châu lục khác chịu
ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp Đặc điểm của hình thức này là mỗi trường tổ chức dạy học theo một số ban đã được quy định trên phạm vi toàn quốc và HS được phân chia vào học các ban khác nhau tuỳ theo năng lực, hứng thú và nhu cầu Chương trình học tập của mỗi ban gồm các môn học nhất định, với khối lượng nội dung và thời lượng dạy học được quy định thống nhất như nhau trong toàn quốc Chương trình học tập của các
ban khác nhau thì khác nhau cả về số môn học lẫn cấu trúc và trình độ nộidung môn học Phân hoá bằng hình thức phân ban có ưu điểm là thuận lợi
về mặt quản lý (quản lý nội dung dạy học, tổ chức lớp học, tuyển chọn HS,đánh giá thi cử ) Tuy nhiên phân ban cũng có nhược điểm là kém mềmdẻo, khó đáp ứng được sự phân hoá hết sức đa dạng về năng lực, hứng thú
và nhu cầu của các đối tượng HS khác nhau
- Dạy học tự chọn: Xuất hiện trước hình thức phân ban và bắt đầu
trở thành hình thức phân hoá chính thống của giáo dục trung học Mĩ từnhững năm đầu của thế kỷ XX Đặc điểm của hình thức phân hoá này là
các môn học và giáo trình được chia thành các môn học và giáo trình bắt buộc tạo thành chương trình cốt lõi cho mọi HS và nhóm các môn học và giáo trình tự chọn nhằm đáp ứng sự khác biệt về năng lực, hứng thú và nhu cầu học tập của các đối tượng HS khác nhau Nhóm các môn học và giáo trình tự chọn lại được chia thành các môn học và giáo trình
tự chọn bắt buộc và các môn học và giáo trình tự chọn tuỳ ý HS tuỳ theo năng lực, hứng thú và nhu cầu của mình mà chọn các môn học và giáo trình thích hợp theo một số quy định nhất định tuỳ theo mỗi nước.
Ưu điểm nổi bật của dạy học tự chọn là khả năng phân hoá cao, có thểđáp ứng được những khác biệt hết sức đa dạng của HS, tạo điều kiện
Trang 24cho mọi HS đều được học tập ở mức độ phù hợp nhất với năng lực,hứng thú và nhu cầu của mình Tuy nhiên, hình thức này cũng bộc lộmột số nhược điểm lớn như học vấn cơ bản của HS dễ bị hạ thấp vàthiếu hệ thống do tâm lý thích chọn những giáo trình dễ, bỏ qua các giáotrình khó của các môn học truyền thống quan trọng như Toán, Vật lý,Hoá học Đặc biệt hình thức phân hoá này đòi hỏi rất cao về năng lựcquản
lý cũng như trình độ của giáo viên và trang thiết bị của nhà trường
- Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn: Đặc điểm của hình thức
này là HS vừa được phân chia theo học các ban khác nhau, đồng thời
HS được chọn một số môn học và giáo trình tự chọn ngoài phần nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban Hình thức này cho phép tận
dụng được những ưu điểm và khắc phục được một phần những nhượcđiểm của hai hình thức phân hoá kể trên
Ở cấp vi mô tác giả Nguyễn Bá Kim cho rằng dạy học phân hoáxuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảmbảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả mọi HS, đồng thờikhuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của cá nhân đó
là phân hoá nội tại hay còn gọi là phân hoá trong, tức là dùng những
biện pháp phân hoá thích hợp trong một lớp học thống nhất với cùngmột kế hoạch học tập, cùng một chương trình và sách giáo khoa
Trong phạm vi hẹp của luận văn tác giả chỉ nghiên cứu một vấn đề
của dạy học phân hóa ở cấp vi mô đó là phân hóa nội tại (hay còn gọi
là phân hóa trong; phân hóa học sinh theo trình độ)[27]
2 Khái niệm dạy học phân hoá:
2.1 Khái niệm phân hóa nội tại
Dạy học phân hóa nội tại là một quan điểm dạy học dựa vào nhữngkhác biệt về năng lực, sở thích, các điều kiện học tập…nhằm phát triển tốtnhất cho từng người học
Trang 252.2 Tư tưởng chủ đạo của dạy học phân hoá:
Việc kết hợp giữa giáo dục diện “đại trà” với giáo dục diện “mũinhọn”, giữa “phổ cập” với “nâng cao” trong dạy học toán học ở trườngphổ thông cần được tiến hành theo các tư tưởng chủ đạo sau:
a) Lấy trình độ chung trong lớp làm nền tảng:
Trong việc dạy học toán phải biết lấy trình độ phát triển chung vàđiều kiện chung của HS trong lớp làm nền tảng, phải hướng vào nhữngyêu cầu thật cơ bản Người giáo viên phải biết lựa chọn nội dung vàphương pháp dạy học phù hợp với trình độ và điều kiện chung của lớp
b) Sử dụng những biện pháp phân hoá đưa diện HS yếu kém lên trình độ chung.
GV cần có những biện pháp làm sao đưa những HS yếu kém đạtđược những tiền đề cần thiết để có thể hoà nhập vào học tập đồng loạttheo trình độ chung của cả lớp
c) Cần có những nội dung bổ sung và biện pháp phân hoá giúp
HS khá, giỏi đạt được những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được ngững yêu cầu cơ bản.
Trong cùng một giờ dạy GV có thể bổ sung những kiến thức nângcao cho diện HS khá, giỏi sau khi đã hoàn thành xong những yêu cầu cơbản của giờ học
2.3 Quan điểm xuất phát của dạy học phân hoá nội tại:
- Yêu cầu xã hội đối với HS vừa có sự giống nhau về những đặc điểm
cơ bản của người lao động trong cùng một xã hội, vừa có sự khác nhau vềtrình độ nhận thức, khuynh hướng nghề nghiệp và tài năng của từng người
- HS trong cùng một lớp học vừa có sự giống nhau vừa có sự khácnhau về trình độ phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản.Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các học sinh có thể có tác động khác nhauđối với quá trình dạy học
Trang 26- Sự giống nhau và khác nhau về yêu cầu xã hội và về trình độ pháttriển nhân cách từng người đòi hỏi một quá trình dạy học thống nhấtcùng với những biện pháp phân hoá nội tại.
- Để đảm bảo giờ dạy học phân hoá đạt hiệu quả tối đa thì sự hiểubiết của người thầy về từng HS là hết sức quan trọng
- Dạy học phân hoá cần được xây dựng thành một kế hoạch lâu dài,
có hệ thống, có mục tiêu
2.4 Những hình thức và biện pháp dạy học phân hoá:
* Đối xử cá biệt ngay trong những pha dạy học đồng loạt.
Theo tư tưởng chủ đạo, dạy học cần lấy trình độ chung trong lớp làmnền tảng, do đó những pha cơ bản là những pha dạy học đồng loạt Nhưngtrên thực tế nhận thức của HS trong cùng một lớp là khác nhau; người GVcần có những biện pháp phát hiện, phân loại được nhóm đối tượng HS về khảnăng lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ phát triển thông qua quan sát,kiểm tra, từ đó có những biện pháp phân hoá nhẹ Do vậy khi thiết kế giáo
án giảng dạy người GV cần phải gia công về nội dung và nhiệm vụ cho từngđối tượng HS để làm sao thu hút được tất cả HS cùng tham gia tìm hiểu nộidung bài học bằng cách giao nhiệm vụ phù hợp với khả năng của từng em.Khuyến khích HS yếu kém khi các em tỏ thái độ muốn trả lời câu hỏi, tậndụng những tri thức kỹ năng riêng biệt của từng HS
Trong cùng một lớp học thường tồn tại các nhóm học sinh yếu kém,nhóm học sinh trung bình và nhóm học sinh khá giỏi
Phân hoá việc giúp đỡ, kiểm tra, đánh giá học sinh: Đối tượng HSyếu kém cần được quan tâm giúp đỡ nhiều hơn đối tượng HS khá giỏi,những câu hỏi vấn đáp đưa ra cần có sự gợi mở, chẻ nhỏ Nhưng không
có nghĩa là đối tượng HS khá giỏi không được quan tâm mà việc quantâm đến đối tượng HS khá giỏi chỉ hạn chế tạo điều kiện cho nhóm nàyphát huy tối đa tính tự giác, độc lập, sáng tạo của các em
* Tổ chức các pha phân hoá trên lớp
Trang 27Trong quỏ trỡnh dạy học tuỳ vào nội dung bài học, vào những thờiđiểm thớch hợp cú thể thực hiện những pha phõn hoỏ tạm thời, tổ chứccho HS hoạt động một cỏch phõn hoỏ Biện phỏp này được ỏp dụng khitrỡnh độ HS cú sự sai khỏc lớn, cú nguy cơ yờu cầu quỏ cao hoặc quỏthấp nếu cứ dạy học đồng loạt.
Trong những pha này, HS được giao những nhiệm vụ phõn hoỏthường thể hiện bởi bài tập phõn hoỏ tạo điều kiện giao lưu gõy tỏc độngqua lại cho người học Được thể hiện ở sơ đồ sau:
Ra bài tập phõn hoỏ là để tất cả cỏc đối tượng HS cú trỡnh độ nhận thứckhỏc nhau cú thể tiến hành những hoạt động khỏc nhau phự hợp với trỡnh độkhỏc nhau của họ Cú thể phõn hoỏ về yờu cầu bằng cỏch sử dụng những bàitập phõn bậc
Vớ dụ: Khi học khỏi niệm phõn số
Hoạt động thể hiện khỏi niệm này cú thể phõn bậc theo sự phức tạp củanội dung bằng cỏch làm những bài tập sau:
(a) Cho một vớ dụ về phõn số
(b) Cho một vớ dụ về phõn số cú đặc điểm là tử số và mẫu số là những
số lẻ liờn tiếp
Cú thể cho HS trung bỡnh và yếu làm tuần tự hai bài (a); (b) những HSkhỏ giỏi cú thể bỏ qua bài (a) và sử dụng thời gian đú để làm thờm một bàitập nõng cao khỏc
Ra bài tập phân hoá:
Phân bậc
Số l ợng phân hoá
Hoạt động của học sinh
Tác động qua lại giữa các học trò:
Thảo luận trong lớp Học theo cặp Học theo nhóm
Điều khiển phân hoá của thầy giáo Phân hoá mức độ độc lập hoạt
động Quan tâm cá biệt
Trang 28Hoặc ngay trong một bài tập, ta có thể tiến hành dạy học phân hoá nếubài tập đó đảm bảo yêu cầu hoạt động cho cả ba nhóm đối tượng HS: Bồidưỡng lấp lỗ hổng cho HS yếu kém, trang bị kiến thức chuẩn cho HS trungbình và nâng cao kiến thức cho HS khá giỏi Để làm được điều đó người
GV phải nắm chắc nội dung kiến thức của từng bài và có sự đầu tư nghiêncứu cho bài soạn
Cũng có thể phân hoá về mặt số lượng: để hình thành một kiến thức,rèn luyện một kỹ năng nào đó, số HS yếu kém cần nhiều bài tập cùng loạihơn số các HS khác Những HS giỏi, thừa thời gian sẽ nhận thêm những bàitập khác để đào sâu và nâng cao Vì vậy GV nên ra đủ liều lượng bài tậpcho từng loại đối tượng HS Hoặc GV đưa ra những yêu cầu khác nhau vềmức độ hoạt động độc lập của HS , hướng dẫn nhiều hơn cho HS này, Ýthoặc không gợi ý cho HS khác tùy theo khả năng và trình độ của họ Đồngthời thầy cần quan tâm cá biệt đến những HS có phần thiếu tự tin để độngviên họ, lưu ý những HS này hay tính toán nhầm, nhắc nhở HS kia đừnghấp tấp vội vàng, chủ quan, thiếu chín chắn
Để dạy học phân hoá được hiệu quả GV có thể áp dụng dạy học theocặp hoặc theo nhóm Với những hình thức này, có thể tận dụng chỗ mạnhcủa một số HS này để điều chỉnh nhận thức cho những HS khác Thôngqua hình thức này có sự tác động qua lại giữa các HS trong quá trình dạyhọc HS được rèn luyện cách thức làm việc để cùng hoạt động chung nhằmthực hiện một nhiệm vô chung Có sự giao lưu trong tập thể và phát triểnnhững mối quan hệ xã hội
* Phân hoá bài tập về nhà
Cũng như ở trên lớp, những bài tập về nhà cũng sử dụng những phaphân hoá Trong việc làm này người GV cần lưu ý:
+ Phân hoá về số lượng bài tập cùng loại: Tuỳ từng loại đối tượng mà
GV ra những bài tập thích hợp cho đối tượng đó Ví dụ học sinh yếu kém có
Trang 29thể ra nhiều bài tập cùng loại để các em thực hành, HS khá giỏi thêm nhữngbài nâng cao.
+ Phân hoá về nội dung bài tập: Để tránh đòi hỏi quá cao đối với HS
yếu kém hoặc quá thấp đối với HS khá giỏi Cần ra riêng những bài tậpnhằm đảm bảo trình độ xuất phát cho những HS yếu kém để chuẩn bị chobài học sau và ra riêng những bài tập nâng cao cho học sinh giỏi
+ Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập: Bài tập cho HS khá giỏi đòi
hỏi tư duy nhiều, tư duy sáng tạo Bài tập cho HS yếu kém chứa các yếu tốdẫn dắt, chủ yếu bài tập mang tính rèn luyện kỹ năng
2.5 Dạy học phân hóa dựa vào phân loại học sinh (theo trình độ).
2.5.1 Các tiêu chí phân loại học sinh.
Phân loại học sinh theo trình độ dựa vào sự phân loại của E.X.Rabunxki theo chúng tôi là phù hợp với dạy học phân hóa Cách phânloại này dựa vào 3 tiêu chí sau:
a) Kết quả học tập
Kết quả học tập của HS trong các môn học ở các giai đoạn học tậpđược gọi là thành tích học tập Thành tích học tập của HS thể hiện trình độnhận thức, tính sáng tạo, sự cố gắng vươn lên của các em
Dựa vào thang điểm của các môn học GV sẽ dễ dàng xác định đượctrình độ nhận thức và kỹ năng thực hành của HS
b) Tính tích cực độc lập nhận thức
Tính tích cực độc lập nhận thức theo nghĩa rộng là khả năng tự học baogồm năng lực, động cơ và thái độ học tập Tính độc lập của HS được hìnhthành trong quá trình học tập B.P.Exipôv cho rằng: “tính độc lập của họcsinh được thể hiện trong mọi khâu của quá trình học tập và nó phụ thuộcvào việc hướng dẫn của giáo viên và tự rèn luyện của học sinh khi phù hợpvới logic của quá trình học tập [2 tr 23]
Trang 30Tính độc lập của HS có thể quan sát được trong quá trình học tập vớinhững biểu hiện của tư duy sắc sảo có tính phê phán, không dựa vào bạn bè,không nói theo, làm theo mẫu, kiên trì vượt khó để học tập có kết quả.
2.5.2 Phân loại học sinh
Dựa vào các tiêu chí nêu trên ta có thể phân loại học sinh theo cácnhóm đặc trưng sau:
Nhóm 1: Nhóm các học sinh khá - giỏi
- Kết quả học tập tốt thường đạt điểm từ 7 trở lên (thang điểm 10)
- Biểu hiện của nhóm này là:
+ Tốc độ giải quyết các nhiệm vụ học tập nhanh, tính độc lập tương đốitốt (một vài trường hợp tính độc lập không ổn định)
+ Mức độ lĩnh hội tri thức nhanh, trí tuệ phát triển cao, đôi khi có xuhướng vượt khỏi chương trình học tập
HS lại thụt lùi xuống nhóm HS yếu - kém
Trang 31+ Nhóm 3: Nhóm học sinh yếu - kém:
- Kết quả học tập thường đạt điểm dưới 5 (thang điểm 10)
- Biểu hiện của nhóm này là:
+ Tư duy không có sự linh hoạt Thường gặp khó khăn khi thay đổi từthao tác tư duy này sang thao tác tư duy khác hoặc từ môn học này sangmôn học khác các em khó bắt kịp nhịp độ học tập của các bạn Trong mộtchừng mực nào đó các em cũng có thể giải được một bài toán bằng cách
“bắt chước” theo các mẫu có sẵn
+ Sự tập trung chó ý chưa cao
+ Không tự tin vào bản thân ngay cả khi giải đúng bài toán nhưng khiđược hỏi lại vẫn ngập ngừng không tin vào kết quả bài làm của mình
+ Thiếu sự cố gắng trong học tập, đôi khi có thái độ thờ ơ Khả nănglàm việc độc lập thấp, cần nhiều thời gian để hoàn thành một nhiệm vụ.+ Trong nhóm này có thể có cả những HS chậm tiến về trí tuệ, lệch lạc
3 Ý nghĩa của dạy học phân hoá
Dạy học phân hoá đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu dạy học, đồng thờikhuyến khích phát triển tối đa khả năng của từng cá nhân học sinh xuất phát
từ thực tiễn có sự khác nhau về trình độ nhận thức của các học sinh trongcùng một lớp học Dạy học phân hoá để tổ chức các hoạt động đa dạng vàphong phú giúp HS lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo bằngcách cho các em tham gia vào các hoạt động vừa sức của mình để tự tìm tòi,khám phá dưới sự hướng dẫn của GV
Trang 32Tự học là kỹ năng quan trọng nhất cần hình thành ở người học Nếu HSkhông có kỹ năng này thì việc học tập sẽ gặp rất nhiều khó khăn, HS còng Ýt
có khả năng sáng tạo sau này Tự học bằng cách đọc sách, cách lấy thông tin,cách phân tích và hiểu thông tin, cách quan sát các hiện tượng xung quanh Như I Kantơ đã nói: “ Mọi nhận thức của con người đều bắt đầu từ nhữngquan sát” [10.tr 68] Còn I.F Kharlamôv thì cho rằng: Quá trình nắm kiếnthức không thể tiến hành bằng cách học thuộc lòng các quy tắc, các kết luận
Nó phải được thực hiện bằng các hoạt động độc lập của HS trên cơ sở phântích sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho sự hình thành khái niệm khoahọc[41.tr161] Dạy học phân hoá là cách GV tổ chức cho HS hoạt độngnhằm phát triển khả năng tự học
Dạy học phân hoá góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học.Bởi vì, quá trình phân hóa trong dạy học giúp cho mọi HS đều phát huy đượchết khả năng của mình trong học tập Nâng cao hiệu quả dạy học, phát huytính tích cực học tập của HS
4 Mối quan hệ giữa dạy học phân hoá và các PPDH khác:
Theo quan niệm của các nhà giáo dục của Việt Nam từ trước đến nay coi dạy học phân hoá là một xu hướng dạy học không truyền thống Chúngtôi, qua nghiên cứu nhận thấy dạy học phân hoá là một phương pháp dạyhọc nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh [mục 2.1 khái niệmphân hóa nội tại]
Không có một PPDH nào là tồi, mỗi phương pháp đều có những giá trịriêng của nó Tính hiệu quả hay không hiệu quả của phương pháp phụ thuộcvào người sử dụng biết phát triển và thích nghi nó đến mức độ nào Nếu cácphương pháp được kết hợp và bổ sung cho nhau thì cách dạy học Êy sẽ phùhợp được với đối tượng học đa dạng, chống sự nhàm chán và tạo ra sự năngđộng trong cách nghĩ cách làm của HS
Trong dạy học phân hoá chúng ta có thể sử dụng kết hợp được vớirất nhiều phương pháp dạy học đang tồn tại trong nhà trường hiện nay
Trang 33Chúng tôi xin trình bày ba mối quan hệ giữa các PPDH khác với dạyhọc phân hoá Sự vận dụng linh hoạt, hợp lý sẽ đem lại thành công trongbài giảng của thầy và đạt được hiệu quả cao nhất trong học tập của trò.
4.1 Mối quan hệ giữa dạy học nêu vấn đề và dạy học phân hóa
Hầu như mọi hình thức dạy học đều cần phải có tính phân hóa Vì trongmỗi lớp học, ngoài những đặc điểm chung, mỗi HS là một đối tượng riêngbiệt với những mức độ tư duy khác nhau Xu hướng DH ngày nay cần tácđộng, kích thích để HS tù suy nghĩ, tìm tòi và phát huy cao độ khả năng họctập Đối với DHNVĐ tính phân hóa lại càng cần thiết để phát huy cao độnhững ưu thế của PPDH này Ví dụ như: Nếu vấn đề đưa ra không vừa sức
HS, quá khó với các em thì học sinh sẽ không được đặt vào tình huống cóvấn đề để các em chủ động, sáng tạo tìm kiếm, phát hiện kiến thức dẫn đến
HS chán nản coi học tập như một chướng ngại khó vượt qua Hoặc nếu vấn
đề đưa ra lại quá dễ sẽ gây cho HS sự nhàm chán, không kích thích tư duysáng tạo của các em Như vậy với DHNVĐ rất cần thiết phải có sự phân hóa Nếu biết áp dụng các yếu tố của DHNVĐ với DHPH thì vai trò củaDHPH sẽ phát huy hết được tính tích cực của nó Thật vậy, Vì nếu đặc tínhcủa nêu vấn đề trong dạy học là kích thích phát triển tư duy của HS thì việcphân hóa trong dạy học sẽ tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng DHNVĐ vàoviệc nghiên cứu tài liệu mới và cả những bài ôn tập Nếu như tính vấn đềcủa việc dạy học là hoạt động hoá nhận thức của HS, kích thích các trạngthái tâm lý như ham muốn hiểu biết, sự ngạc nhiên, tính hiếu kì và ham họchỏi thì việc phân hóa trong dạy học sẽ tạo điều kiện để sử dụng những cảmxúc tích cực này vào thực tiễn của quá trình dạy học
4.2 Mối quan hệ giữa dạy học theo nhóm và dạy học phân hoá
Cũng như DHNVĐ, dạy học theo nhóm (DHTN) cũng có sự phân hoácao độ DHTN chính là quá trình tổ chức các hoạt động tích cực của từng cánhân HS tạo nên những kết quả chung của cả nhóm Lợi thế của dạy tập thểcho mỗi cá nhân là:
Trang 34- Tạo ra sự đua tranh.
- Tạo ra nhiều cách nghĩ, nhiều phương án hành động
- HS hỗ trợ nhau đóng góp những ý kiến riêng vào ý kiến chung
- Cách thức này giúp HS chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhí sanghình thức thực sự hoạt động, cùng nhau tìm kiếm, hình thành kiến thứcbằng trí tuệ chung
- HS sẽ có kỹ năng hoạt động tập thể và khẳng định được mình thôngqua tập thể
Tuy nhiên, GV phải khai thác lợi thế của tập thể để phát triển từng cánhân Phải quan tâm đến hứng thú, khả năng của từng cá nhân tránh tìnhtrạng HS trở thành “người thừa” trong nhóm
Việc phân hoá HS thực chất cũng chính là chia HS thành các nhómphân hoá về trình độ học tập Nếu áp dụng tốt PPDHTN vào DHPH thì sẽphát huy được tối đa tính tích cực học tập của HS Bởi vì, mỗi HS đều cốgắng hoàn thành những nhiệm vụ được giao thì cũng chính là đã cố gắngtham gia xây dựng bài học và kết quả làm được của HS sẽ kích thích lòngsay mê của các em Cảm giác thành công tạo cho các em lòng yêu thích,tính ham hiểu biết, muốn góp phần vào thành tích học tập chung của cả lớp.Nhưng chóng ta cũng phải lưu ý GV khi phân công, giao nhiệm vụ chocác nhóm phân hoá thì kiến thức phải phù hợp với trình độ nhận thức củatừng nhóm (tính vừa sức) Tránh tình trạng quá sức sẽ gây cho các em tâmtrạng chán nản
4.3 Mối quan hệ giữa dạy học chương trình hoá và dạy học phân hoá
Dạy học chương trình hoá có nhiều ưu điểm góp phần phát huy tínhtích cực hoạt động nhận thức của HS
Trong dạy học chương trình hoá có sự phân hoá rõ rệt nhằm phát huytốt các hoạt động học tập trên từng đơn vị nhỏ của quá trình dạy học đồngthời phát huy tính độc lập của HS trong hoạt động học tập; Có sự phản hồithường xuyên và cá biệt hóa việc dạy học Có nghĩa là mục tiêu dạy học đã
Trang 35được cụ thể hoá thành những kết quả mong đợi, GV tác động đến HS hình
thành đường liên hệ thuận, kết quả được so sánh với kết quả mong đợi và phản hồi lại cho GV tạo thành đường liên hệ ngược để GV quyết định
phương án dạy ở bước tiếp theo của quá trình dạy học
Phối kết hợp được hai cách dạy học này thì sự thành công trong quátrình dạy học càng được củng cố vững chắc hơn HS học tập sẽ có sự phân
bậc mịn bởi các liều kiến thức Việc học tập mang tích chất cá nhân sẽ giúp
cho HS phải tự mình khám phá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Việc thực hiện các
liều tiếp theo sẽ có sự phân hoá, điều đó phụ thuộc vào câu trả lời của từng người đối với câu hỏi nêu ra ở liều trước Nếu HS trả lời đúng thì các liều
tiếp theo vẫn đi theo mạch kiến thức đó Nếu HS trả lời sai thì liều kiến thứctiếp theo sẽ rẽ sang nhánh khác với yêu cầu và nội dung của liều kiến thứcđược giảm nhẹ Như vậy, sẽ hình thành các nhóm phân hoá tuỳ theo trình độ,năng lực khác nhau của từng người; tạo điều kiện phát triển năng lực sáng tạocủa HS
V Thực trạng dạy học phân hoá ở Việt Nam và nước ngoài:
1 Ở Việt Nam:
Đổi mới PPDH là vấn đề đã và đang được hầu hết các quốc gia trên thếgiới quan tâm Câu hỏi đặt ra cho các quốc gia là làm sao để đào tạo ra đượcmột thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có năng lực trong công việc ?
Việt Nam cũng không phải là nước ngoại lệ Chúng ta đang trên đườngthực hiện nền CNH - HĐH đất nước, giáo dục cũng phải được đổi mới Đổimới giáo dục là đổi mới PPDH nhằm vào mục tiêu phát huy tính tích cực,độc lập, sáng tạo của HS
Ở Việt Nam cần phải thực hiện dạy học phân hóa vì những lý do chủyếu sau:
+ Dạy học phân hóa phù hợp với quy luật phát triển nhận thức và hìnhthành các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh
Trang 36+ Ngay từ nhỏ các em đã sớm bộc lộ rõ những thiên hướng, sở trường
và hứng thú đối với những lĩnh vực kiến thức, kỹ năng nhất định
+ Dạy học phân hóa là cần thiết và phù hợp với xu thế chung của thế giới.Tuy nhiên, việc vận dụng dạy học phân hoá ở trường tiểu học của nước
ta hầu như vẫn chưa được các nhà nghiên cứu giáo dục nhắc đến nhiều vàtrên thực tế cho thấy các giáo viên cũng chưa vận dụng dạy học phân hóavào tiết dạy học của mình Có chăng chỉ là một vài giáo viên tâm huyết vớithế hệ trẻ vận dụng riêng lẻ ở lớp họ dạy mà thôi
Qua điều tra thực tế các giáo viên đang trực tiếp đứng lớp của cáctrường tiểu học ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ (các GV được điều tra đều đạtchuẩn, họ đã tốt nghiệp THSP, CĐSP, ĐHSP các hệ chính qui, tại chức, từ
xa hoặc đang theo học các lớp bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ) cho thấy rằng việc vận dụng dạy học phân hóa trong giờ học làkhông có hoặc rất mờ nhạt
* Nội dung điều tra tập trung vào một số vấn đề sau:
+ Nhận thức của GV tiểu học về việc sử dụng các PPDH nhằm pháthuy tính tích cực học tập của HS
- Các quan niệm về vận dụng những PPDH phát huy tính tích cực nhậnthức của học sinh
- Nhận thức về việc vận dụng những PPDH đó như thế nào trong dạyhọc toán ở tiểu học
+ Thực tế vận dụng dạy học phân hóa trong dạy học toán ở tiểu họcnhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh
- Quan niệm về dạy học phân hóa
- Thực tế vận dụng dạy học phân hóa
+ Những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng dạy học phân hóa vàodạy học toán ở tiểu học
Các nội dung chi tiết xem phụ lục 1
* Kết quả điều tra như sau:
Trang 37+ Nhận thức của GV tiểu học về việc sử dụng các PPDH nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS.
Thực trạng nhận thức của GV về việc sử dụng các PPDH nhằm pháthuy tính tích cực học tập của HS ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng cácPPDH này trong quá trình giảng dạy của các giáo viên Qua điều tra một sốgiáo viên ở hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy:
- Các quan niệm về vận dụng những PPDH phát huy tính tích cực nhậnthức của học sinh trong quá trình dạy học của các GV đang trực tiếp đứnglớp còn nhiều hạn chế, GV chưa hiểu đúng vấn đề
- Việc vận dụng những PPDH tích cực trong quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được các GV quan tâm tuynhiên việc vận dụng đó chưa nhiều Họ đã hiểu được tác dụng to lớn củaviệc vận dụng dạy học phân hóa nhưng để áp dụng được cho các tiết dạy thìcòn nhiều vấn đề cần nghĩ tới Chính vì vậy mà rất Ýt GV vận dụng dạy họcphân hóa nếu có vận dụng dạy học phân hóa thì cũng chỉ là rất Ýt khi
+ Thực tế vận dụng dạy học phân hóa trong dạy học toán ở tiểu học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
Qua điều tra cho thấy hầu hết các GV đều có sự lựa chọn đúng về quanniệm dạy học phân hóa Tuy nhiên việc vận dụng dạy học phân hóa vào dạyhọc toán ở tiểu học còn rất hạn chế mặc dù các GV đều hiểu rất rõ tác dụng
to lớn của việc vận dụng dạy học phân hóa vào dạy học nói chung và dạyhọc toán nói riêng Cụ thể qua điều tra hầu như các giáo viên không vậndụng dạy học phân hóa vào tiết dạy học của mình, nếu có thì thường là rấtÝt
+ Những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng dạy học phân hóa vào dạy học toán ở tiểu học.
Trang 38- HS hứng thú học tập, tự tin, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- Bước đầu phát triển các năng lực tư duy như: phân tích, tổng hợp,trừu tượng hoá, khái quát hoá cho học sinh
- Phát triển ở HS các kỹ năng giao tiếp, trình bày, diễn đạt, kỹ nănglàm việc độc lập
- Năng lực tổ chức của giáo viên trong việc hướng dẫn HS hoạt độngđược nâng cao
+ Khó khăn:
Trong quá trình tìm hiểu thực tế chúng tôi thấy rằng các GV tiểu học
đã nêu ra một số khó khăn khi vận dụng dạy học phân hóa nhằm phát huytính tích cực học tập của học sinh, các khó khăn này chủ yếu tập trung ởphía giáo viên, cụ thể là:
- GV mất nhiều thời gian để chuẩn bị bài dạy;
- Thiếu thời gian dạy học trên lớp;
- GV không hoàn toàn chủ động trước mọi tình huống mà HS nêu ra;
- GV phải biết tổ chức lớp khoa học để kiểm soát được việc làm của cácnhóm và của từng thành viên;
- Lớp học quá đông nên khó tổ chức các hoạt động
Từ những kết quả tìm hiểu thực tế trên đây chúng tôi thấy rằng tỷ lệ GVnhận thức đúng về những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng dạy học phânhóa nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh mà đề tài đã lựa chọn làchưa cao Phần lớn họ mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức đúng nhưng chưađầy đủ, điều này chứng tỏ rằng trên thực tế GV đã có những hiểu biết nhấtđịnh về những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng dạy học phân hóa vào tiếtdạy học, tuy nhiên mỗi GV cần phải thường xuyên tự học để hoàn thiện nhữnghiểu biết đó Từ kết quả điều tra thực tế, kết hợp với cơ sở lý luận đã trình bày
ở phần trên, chúng tôi tin rằng việc vận dụng dạy học phân hóa nhằm phát huytính tích cực học tập của học sinh trong dạy học nói chung và trong dạy họctoán nói riêng là có tính khả thi, có thể áp dụng được trong quá trình dạy họcphần phân số ở lớp 4
Trang 39* Những ưu nhược điểm của dạy học phân hoá trong trường tiểu học:
- Ưu điểm:
Mỗi PPDH đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Trong các PPDHtoán thì dạy học phân hoá là một phương pháp rất tốt để thực hiện các mụctiêu giáo dục
Giờ học toán với những yêu cầu tối thiểu được tính toán trên cơ sở HStrung bình Vậy làm sao để trong cùng một tiết dạy HS trung bình đạt đượcyêu cầu đó một cách vững chắc và có thể vươn lên cao hơn; HS giỏi có thểđạt được kết quả cao hơn nữa và HS yếu kém được giúp đỡ để từng bướcvươn lên đạt yêu cầu? Vận dụng dạy học phân hoá với các nội dung kiếnthức vừa sức với từng đối tượng HS giúp GV khai thác được khả năng tiềmtàng của mỗi cá nhân HS
Dạy học phân hoá gây được hứng thú học tập cho mọi đối tượng HS.Thật vậy, trong giờ học người GV biết tổ chức tốt giờ học hay nói cáchkhác biết vận dụng DHPH để tất cả HS cùng tham gia xây dựng bài học thìcác em sẽ có cảm giác mình cũng có đóng góp vào giờ học Như vậy sẽ xoáđược mặc cảm, tự ti cho những HS có nhịp độ nhận thức chậm đồng thờikích thích, gây hứng thú học tập cho các đối tượng HS khá, giỏi phát huyhết khả năng trí tuệ của mình
Dạy học phân hoá phát huy tốt khả năng cá thể hoá hoạt động nhậnthức của HS Lúc này HS là chủ thể của quá trình nhận thức, tiếp thu kiếnthức một cách chủ động, sáng tạo, phù hợp với trình độ nhận thức của từngđối tượng HS Đồng thời người GV, người chỉ đạo, dẫn dắt quá trình lĩnhhội tri thức nắm được mức độ nhận thức của từng cá nhân người học và đề
ra được những biện pháp khắc phục khó khăn giúp HS lĩnh hội tri thức mộtcách đầy đủ và chính xác
Dạy học phân hoá với các pha phân hoá giúp HS độc lập trong học tập(làm việc độc lập với phiếu học tập) và phát huy được tính sáng tạo của HS
Trang 40Như vậy, vận dụng dạy học phân hoá giúp cho HS được học tập vừasức
mình; tạo được hứng thú cần thiết cho các em; giúp các em học tập tự giácvới các hoạt động độc lập từ đó có những sáng tạo của riêng mình trong quátrình học tập
+ GV mới hoặc giáo viên dạy thay sẽ khó khăn vì chưa thể nắm bắt đượctrình độ nhận thức của từng đối tượng HS trong líp Tuy nhiên nhược điểmnày cũng dễ dàng khắc phục bằng cách tạo cho lớp học có nề nếp tốt, cácnhóm đối tượng HS được phân hoá ổn định trong giờ học
Ở Hàn Quốc, từ năm 1996, bắt đầu xuất hiện hệ thống giáo dục mớiphù hợp với năng lực và niềm say mê của từng cá nhân Một phương ánrộng mở sẽ được đưa ra để giúp người học có thể lựa chọn hình thức họccho phù hợp với khả năng và sự say mê của bản thân HS nhằm phát triểnkhả năng sáng tạo, phù hợp với khả năng và năng lực của các em Để phát