BỘ CễNG AN BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀNBáo cáo Tổng kết Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở đánh giá kết quả điều trị hội chứng ruột kích thích thể tỳ vị khí h bằng bài thuốc hơng sa lục q
Trang 1BỘ CễNG AN BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
Báo cáo Tổng kết
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
đánh giá kết quả điều trị hội chứng ruột kích thích thể tỳ vị khí h bằng bài thuốc hơng sa lục quân tử thang
Trang 2Báo cáo Tổng kết
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
đánh giá kết quả điều trị hội chứng ruột kích thích thể tỳ vị khí h bằng bài thuốc hơng sa lục quân tử thang
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) là một rối loạn chức năng đườngtiêu hóa, không kèm theo rối loạn về cấu trúc và sinh hóa, bao gồm các triệuchứng như: đau bụng, chướng bụng, rối loạn tiêu hóa [2] [10] Các rối loạntiêu hóa thường xuyên, tái phát, không nguy hiểm đến tính mạng của ngườibệnh nhưng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, bệnh kéodài làm người bệnh luôn lo lắng, căng thẳng, mất ngủ, luôn luôn lo sợ cácbệnh hiểm nghèo khác của đường tiêu hóa [2] [10] [14]
HCRKT đã được mô tả lần đầu năm 1673, Guyon.L đã nói tới chứngđau bụng sình hơi (Colique Venteuse) Năm 1830 Howslip J đã viết về nhữngnhận xét thực tế để phân biệt và điều trị có kết quả chứng co thắt đại tràng.Sau đó tùy triệu chứng nổi bật mà người ta gọi hội chứng này bằng nhiều tênkhác nhau, như: Viêm đại tràng co thắt, Viêm đại tràng tiết nhầy, Chứng đilỏng xúc động, Chứng đại tràng không ổn định, Đại tràng kích thích (hoặc rốiloạn thần kinh đại tràng)… Năm 1962, Chaudray và Truelove đầu tiên đi sâuvào nghiên cứu lâm sàng của HCRKT, cùng nhiều nghiên cứu sau đó chothấy không phải chỉ có đại tràng bị kích thích mà cả ruột non cũng có vai tròquan trọng trong việc làm phát sinh các rối loạn, vì vậy gọi là hội chứng ruộtkích thích Như vậy bản chất của HCRKT chính là rối loạn thần kinh đại tràng
và ruột kích thích
Tần suất của HCRKT thay đổi tùy theo từng quốc gia, trung bình bệnhgặp ở 15 – 20% dân số Tuy nhiên số bệnh nhân thật sự còn lớn hơn nhiều vìchỉ có khoảng 30% trường hợp bệnh nhân đi khám Ở Việt nam, theo Hà VănNgạc thống kê tại bệnh viện 108, tỷ lệ bệnh nhân bị HCRKT là 24,1%, theo
Trang 4Lại Ngọc Thi tỷ lệ này là 17,3% [11] Tỷ lệ mắc HCRKT ở nữ nhiều hơn namgiới, độ tuổi trung bình là 40.
Hiện nay, YHHĐ đã có nhiều phương pháp điều trị HCRKT nhưng chủyếu là điều trị triệu chứng Tuy nhiên việc điều trị cũng còn gặp nhiều khókhăn và đòi hỏi chi phí khá lớn [23]
Theo YHCT, HCRKT thuộc phạm vi của chứng “Tiết tả”,”Cửu tiết”,
“Táo kết” đã được nhắc đến trong y văn cổ của Trung Quốc, Việt Nam Bệnhđược chia làm nhiều thể: tỳ vị khí hư, can tỳ bất hòa, tỳ thận dương hư, khí trệ[3], [4], [6], [7]
Cũng đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng các bài thuốc để điều trịHCRKT như: “Bình vị tán”, “Viên nang hế mọ”, “Tứ thần hoàn”, và “Thống
tả yếu phương”, song mỗi bài thuốc thường có hiệu quả tốt với một thể nhấtđịnh [12], [13], [9]…
Bài thuốc: “Hương sa lục quân” đã được sử dụng từ lâu ở Trung Quốc
và ở Việt Nam để chữa chứng “Tiết tả” thể tỳ vị khí hư, một chứng bệnh cócác chứng tương ứng với HCRKT[3] Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đisâu tìm hiểu tác dụng thực sự của bài Hương sa lục quân trong điều trị thể tỳ
vị khí hư, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng của bài thuốc trên các biểu hiện lâm sàng của bệnh.
2 Theo dõi các tác dụng không mong muốn của bài thuốc
“Hương sa lục quân”.
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những hiểu biết cơ bản về HCRKT theo YHHĐ.
1.1.1 Định nghĩa [2], [17].
HCRKT là để chỉ rối loạn chức năng của ruột có những đặc điểm sau:
- Đau bụng nhiều đợt trong năm (trên 6 đợt)
- Rối loạn đại tiện: đi phân lỏng nhiều lần trong ngày (trên 3 lần) hoặctáo bón (trên 4 ngày đại tiện 1 lần hoặc 1 tuần dưới 2 lần)
Trang 61.1.2 Dịch tễ học
Các rối loạn chức năng ruột hay gặp trong các bệnh đường tiêu hóa,chiếm 30-70% số bệnh nhân khám tiêu hóa (Thompson W.G.1986; NaveauS.1986) Các tác giả Anh (Thompson W.G 1980) Mỹ (Drossman D A 1982),Pháp (Bommelaer G 1986) Trung Quốc (Wen B.Z 1988) cho biết tỷ lệ rốiloạn chức năng ruột trong dân chúng vào khoảng 20%, trong đó có 14-18%mắc HCRKT Tuy nhiên chỉ có 62-67% số bệnh nhân bị HCRKT chịu đếnthầy thuốc vì các triệu chứng tăng lên hoặc là sợ bị ung thư
Ở Việt nam, theo Hà Văn Ngạc (2000) khám 730 bệnh nhân tiêu hóa tại viện
108 gặp 176 bệnh nhân bị HCRKT: tỉ lệ 24,1% [10] Theo Lại Ngọc Thi (1996)khám 1979 bệnh nhân tiêu hóa thì tỷ lệ này là 17,3% nữ bị bệnh nhiều hơn nam, tỉ
lệ nam/nữ la 1/1,6 Tuổi thường gặp là 30-60 (75,2%) Thời gian mắc bệnh từ 2 đếndưới 5 năm chiếm 40,3%; từ 5 năm đến dưới 10 năm gặp 47,8%
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán.
HCRKT thường được nhận biết bằng tam chứng: đau bụng, chướngbụng và rối loạn tính chất phân (táo bón hoặc ỉa lỏng) Dựa trên tính chất củaphân người ta chia HCRKT thành bốn hình thái lâm sàng khác nhau: 21% cótriệu chứng táo bón là chính, 31% tiêu chảy là chính, 27% xen kẽ giữa táo bón
và tiêu chảy, còn lại là không có rối loạn tính chất phân Ngoài ra, bệnh nhâncòn có thể có các triệu chứng không đặc hiệu kèm theo về tiết niệu, phụ khoa,thần kinh-cảm giác, tim mạch, hô hấp…
HCRKT là một rối loạn chức năng, nên khi chẩn đoán cần loại trừ cácnguyên nhân thực thể gây đau bụng, chướng bụng và rối loạn phân Tuy nhiênviệc chẩn đoán HCRKT không hẳn là một chẩn đoán loại trừ mà cần dựa vàobệnh sử và các thăm khám lâm sàng, cũng như các xét nghiệm như: công thức
Trang 7máu, tốc độ máu lắng, các dấu ấn ung thư, xét nghiệm phân, siêu âm bụng,chụp khung đại tràng, nội soi đại tràng-trực tràng….
Tiêu chuẩn Rome II [19]:
Ít nhất trong 12 tuần (không cần liên tục) trong 12 tháng vừa qua, cótriệu chứng đau bụng hoặc khó chịu vùng bụng, với 2 trong 3 đặc điểm:
- Giảm triệu chứng sau khi đi ngoài, và/hoặc
- Thay đổi số lần đi ngoài và/ hoặc
- Thay đổi tính chất phân (táo bón hoặc ỉa lỏng)
Có 2 triệu chứng sau đây, ít nhất xảy ra trong ¼ thời gian:
- Bất thường về số lần đi ngoài (>3 lần/ngày hoặc <3 lần/tuần)
- Bất thường về hình dạng phân (phân lổn nhổn cứng hay nhão, phânlỏng…)
- Bất thường khi đi ngoài (mót, rặn hay cảm giác không tống hết phân )
- Phân có chất nhày (nhưng không bao giờ có máu)
- Đầy hơi hay cảm giác tức bụng
*Về cận lâm sàng:
Không có một xét nghiệm nào đặc hiệu cho việc chẩn đoán HCRKT do
đó việc chẩn đoán thường kết hợp triệu chứng lâm sàng với các xét nghiệmcận lâm sàng để loại trừ các bệnh thực thể như: xét nghiệm phân, chụp khungđại tràng, nội soi đại tràng…
- Xét nghiệm máu: để loại trừ những bệnh có thiếu máu
- Xét nghiệm phân: để lại trừ những bệnh viêm đại tràng do vi khuẩn và
ký sinh trùng gây nên
- Nội soi đại tràng: để loại trừ những bệnh thực tổn như u, polyp, viêmloét đại trực tràng chảy máu,…
- X quang khung đại tràng với thuốc cản quang: có thể loại trừ nhữngbệnh thực tổn như: u, polyp, viêm, loét đại tràng,…
Trang 8- Sinh thiết niêm mạc để xét nghiệm mô bệnh học: để loại trừ viêm đạitràng collagen (viêm đại tràng vi thể, viêm đại tràng lympho).
- Thử nghiệm dung nạp lactose: để loại trừ những trường hợp khôngdung nạp lactose do thiếu có chọn lọc enzyme lactase
1.1.4 Sơ lược phương pháp điều trị hiện nay.
_ Chế độ ăn: Ăn kiêng những thức ăn không thích hợp như sữa, tôm, cua,
cá Bệnh nhân phải tự tìm những thức ăn thích hợp, tránh các thức ăn sau:những thức ăn sinh hơi nhiều và khó tiêu, những chất kích thích, thức ănnhiều sợi xơ, thức ăn nhiều đưòng, đồ uống có gas, thức ăn để lâu bảo quảnkhông tốt, các thức ăn sống
_Chế độ luyện tập rất cần thiết và phải rất kiên trì: mỗi ngày cố định vàomột giờ đi ngoài, xoa bụng trước khi đi ngoài Ngoài ra có thể luyện tập cácbiện pháp như khí công, đi bộ…
_ Tâm lý liệu pháp
_ Các thuốc điều trị triệu chứng:
+ Chống đau, giảm co thắt: Duspataline, Nospa, Spasfon…
+ Chống ỉa chảy: Smecta,
+ Chống táo bón: uống nhiều nước, ăn nhiều chất xơ, thuôc nhuận tràng:tegaserod, duphalac, forlax…
+ Chống sinh hơi: Meteospasmyl, pepsan, than hoạt…
1.2 Hội chứng ruột kích thích theo y học cổ truyền.
1.2.1 Khái niệm, cơ chế bệnh sinh [4], [6], [7].
Trong Y văn của YHCT không có bệnh danh “Hội chứng ruột kíchthích”, nhưng căn cứ trên các biểu hiện lâm sàng cụ thể, đại đa số các nhàĐông y đều cho rằng: đây là căn bệnh thuộc phạm vi chứng Tiết tả, Táo kết
Trang 9Tiết tả được phân làm “cửu tiết” và “bạo tiết”, “cửu tiết” tức đi ỉa nhiềulần, phân lỏng nát kéo dài lâu ngày, còn “bạo tiết” là đi ngoài phân nát lỏngcấp tính[] Tiết tả chủ yếu thuộc về tỳ vị và đại tiểu trường Nguyên nhân gâybệnh gồm: cảm thụ ngoại tà, do ăn uống quá độ, tỳ vị dương hư, mệnh mônhoả suy và tình chí thất thường Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh mà sinh racác chứng tiết tả cấp tính hay mạn tính Cảm thụ ngoại tà, ăn uống quá độ gây
ra các chứng tiết tả cấp tính tức thời Các nguyên nhân còn lại: tỳ vị khí hư,mệnh môn hoả suy và tình chí thất thường gây ra các chứng tiết tả mạn tínhtái diễn nhiều lần
Táo kết đã được nhắc đến trong sách Nội kinh Táo kết do nhiềunguyên nhân gây ra gồm: Âm hư, huyết nhiệt, huyết hư, khí hư và khí trệ
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu y học Việt Nam vàthế giới, đặc biệt Trung Quốc đã đi sâu nghiên cứu và tìm mối liên hệ giữacác triệu chứng lâm sàng của HCRKT và chứng “Tiết tả”, “Táo kết” thấy cónhiều nét tương đồng HCRKT tương ứng với thể tỳ vị khí hư của “Tiết tả” vàthể khí trệ của “Táo kết” Trong Đông y, khí thuộc dương, khí hư là giai đoạnđầu của dương hư, dương hư bắt đầu từ khí hư Chứng tỳ vị khí hư biểu hiện
ăn uống kém, không tiêu, bụng trướng đầy, đại tiện phân khi lỏng khi táo Tỳkhí hư dẫn đến khí huyết bất túc, khí huyết không đủ để nuôi dưỡng dẫn đếnchân tay mỏi mệt, gày còm, sắc mặt úa vàng, lưỡi nhợt, mạch nhược
Xuất phát từ những triệu chứng lâm sàng thường gặp của bệnh nhân mắc
“hội chứng ruột kích thích”, như: đau bụng âm ỉ, chướng bụng, đại tiện phânkhi lỏng khi táo…và dựa trên quá trình diễn biến của chứng “tỳ vị khí hư”, cóthể giải thích cơ chế bệnh sinh của “hội chứng ruột kích thích” theo lý luậncủa y học cổ truyền như sau:
Trang 10Do tỳ khí hư sinh chứng tiết tả:
Nguyên nhân do tỳ khí hư yếu, mất chức năng vận hoá thuỷ thấp Biểuhiện đi lỏng lâu ngày không khỏi, ăn vào không tiêu hoá, đại tiện lúc bìnhthường lúc táo, lúc lỏng Nếu ăn dầu mỡ thì sôi bụng, đau bụng, đại tiện lỏng,
đi nhiều lần trong ngày
Do tỳ khí hư xuất hiện phúc thống:
Nguyên nhân do thể chất vốn tỳ vị hư yếu, hoặc ốm lâu ngày làm tổnthương tỳ vị, do lao động quá mệt nhọc làm cho tỳ khí bị tổn thương, khôngvận hoá được mà sinh bệnh Biểu hiện đau liên miên ở vùng bụng, lúc nặnglúc nhẹ, gặp ấm thì đỡ, thích xoa bóp
1.2.2.Các thể lâm sàng của HCRKT theo YHCT [3], [7].
Căn cứ vào bệnh chứng và nguyên nhân HCRKT theo YHCT gồm có các thể:
tỳ vị khí hư, thận dương hư hay mệnh môn hoả suy, can tỳ bất hoà và khí trệ
1.2.2.1 Thể tỳ vị khí hư:
- Triệu chứng: bụng lạnh đau, nôn ra nước trong, ăn kém, đầy bụng, sôi
bụng, phân nát, sống phân, người mệt mỏi, chân tay lạnh, sắc mặt vàng nhợt,chóng mặt, môi nhợt, chất lưỡi non bệu, rêu lưỡi trắng hoặc trơn, mạch tế nhược
- Pháp điều trị: bổ tỳ vị (kiện tỳ, dưỡng vị, hoá thấp).
- Phương dược: Sâm linh bạch truật tán (theo Thái bình huệ dân hòa tễ
cục phương), Hương sa lục quân ( Nội khoa trích dụng)
1.2.2.2 Thể thận dương hư hay mệnh môn hoả suy:
- Triệu chứng: cơ thể lạnh, chân tay lạnh, thể trạng gầy, mệt mỏi, ăn
kém, bụng lạnh trướng đầy, bụng dưới lạnh đau, ỉa lỏng phân sống, ngũ canhtiết tả, lưng mỏi gối lạnh, tiểu tiện vặt, tiểu đêm, chất lưỡi nhạt bệu có vết hằnrăng, mạch trầm trì tế nhược
Thể này còn được gọi là tỳ thận dương hư
Trang 11Pháp điều trị: ôn bổ tỳ thận dương, cố sáp.
- Phương dược: Tứ thần hoàn (theo Nội khoa trích yếu).
1.2.2.3 Thể can tỳ bất hoà:
- Triệu chứng: ngực sườn trướng đầy đau, hay thở dài, tinh thần ức uất dễ
cáu giận, miệng đắng họng khô, ăn uống sút kém, bụng trướng, đại tiện lúctáo, lúc lỏng, sôi bụng, đôi khi phân lẫn nhầy, mỗi khi buồn bực căng thẳngthì phát sinh đau bụng ỉa chảy ngay Chất lưỡi đỏ nhợt, rêu lưỡi trắng nhớthoặc vàng, mạch huyền
Pháp điều trị: sơ can kiện tỳ (ức can kiện tỳ, điều lý khí cơ).
- Phương dược: Thống tả yếu phương (theo Cảnh Nhạc toàn thư).
1.2.2.4 Thể khí trệ:
- Triệu chứng: trướng đầy bĩ tức khó chịu và đau, riêng về trướng đầy và
đau lúc nhẹ lúc nặng, bộ vị thường cố định đau xiên đau nhói, bĩ trướng cũng
có lúc có lúc không, lúc tan lúc tụ Trướng đầy mà khó chịu có thể giảm nhẹkhi ợ hơi hoặc trung tiện, ăn ít, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền
- Pháp điều trị: thuận khí hành trệ.
- Phương dược: Lục ma thang (theo Chứng trị chuẩn thằng).
1.2.3 Sơ lược về một số nghiên cứu điều trị HCRKT theo YHCT.
Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu đánh giá tácdụng của các bài thuốc cổ phương, các bài thuốc gia truyền trong điều trịHCRKT
Trang 12Năm 1994 Nguyễn Văn Thang và cộng sự đã nghiên cứu hồi cứu 100bệnh án HCRKT điều trị tại Viện Y học cổ truyền Việt Nam đã đánh giá tácdụng tốt của thuốc YHCT dưới dạng thuốc thang theo từng thể bệnh [13].Năm 1999, Nguyễn Thị Nhuần nghiên cứu tác dụng điều trị của Bàithuốc “Bình vị tan” trên 60 bệnh nhân bị HCRKT thấy tỷ lệ đạt hiệu quả tốtchiếm 93,3% đặc biệt ở thể thực chứng theo YHCT [11].
Năm 2002, Cầm Thị Hương và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng của cao
“Cảng Kham” trên 108 bệnh nhân HCRKT, sau điều trị 30 ngày tỷ lệ đạt kếtquả tốt chiếm 82,4% [5]
Năm 2005, Bùi Thị Phương Thảo và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tácdụng của viên nang Hế mọ trên 39 bệnh nhân bị HCRKT, tỷ lệ đạt kết quả tốtsau 30 ngày điều trị là 62% [12]
Năm 2008, Nguyễn Thị Tuyết Nga nghiên cứu tác dụng của bài thuốc
“Tứ thần hoàn” trong điều trị HCRKT thể lỏng thấy tỷ lệ đạt hiệu quả tốtchiếm 61.2% [9]
Năm 2009, Trịnh Thị Lụa nghiên cứu tác dụng của Tràng vị khang trongđiều trị hội chứng ruột kích thích thể lỏng thấy đạt hiệu quả tốt 89,09% [8]
1.3 Bài thuốc “Hương sa lục quân”
1.3.1 Xuất xứ của bài thuốc.
“Hương sa lục quân tử thang” là bài thuốc cổ được ghi trong trongnhiều sách cổ như: Y phương tập giải, Thời ca phương quát, Nội khoa tríchdụng…Đây là bài thuốc chủ yếu dùng cho những người có các triệu chứngchân tay lạnh, vị tràng yếu, nước đọng lại trong dạ dày, nhất là vùng bụng trên
Trang 13đầy tức, người cảm thấy bức bối khó chịu, ǎn không tiêu, đầy bụng, đi ngoàiphân lúc lỏng lúc táo[3], [4].
Nguyên phương Bài thuốc gồm:
Đẳng sâm ở Trung Quốc có saponin và đường
Đẳng sâm ở Việt nam có đường, chất béo, chưa thấy có saponin
- Tác dụng dược lý:
Tăng đường huyết do thành phần hydratcacbon
Làm tăng hồng cầu, giảm bạch cầu, tăng hemoglobin
Làm giảm huyết áp do giãn mạch ngoại vi
Có tác dụng ức chế hiện tượng tăng huyết áp do adrenalin gây ra
- Tính vị qui kinh: ngọt, bình vào kinh tỳ phế
- Tác dụng: bổ dưỡng tỳ vị, an thần, ích khí, bổ phế, lợi niệu, sinh tân
Bạch truật:
Trang 14- Là rễ, củ của cây bạch truật (Atractylodis ovate) Rhizoma Ttractylodismacrocephalae, họ cúc (Compoitsae).
- Thành phần hóa học:
Bạch truật có tinh dầu, nhưng thành phần hoạt chất chưa rõ Có tác giảnói: trong bạch truật có atractylola C15H16O và atractylon C14H18O, vitamin A
- Tác dụng dược lý: tác dụng lợi tiểu, duy trì bài xuất điện giải
- Tính vị qui kinh: ngọt đắng ấm vào kinh tỳ vị
- Tác dụng: kiện tỳ táo thấp, cầm mồ hội, an thai, kiện vị tiêu thực, cốbiểu liễm hãn
- Tính vị qui kinh: ngọt bình vào can tỳ, thông 12 kinh
Trang 15- Tác dung: bổ trung ích khí, hòa hoãn cơn đau, giải độc tiêu khát, dưỡnghuyết nhuận phế chỉ ho, tả hỏa giải độc.
Phục linh:
- Còn có tên là Bạch phục linh, là nấm mọc kí sinh trên rễ cây thông(Poriacocos) thuộc họ nấm lỗ (Poliporaceae)
- Thành phần hóa học:
Đường pachymose, glucose, fructose và chất khoáng
Gần đây thấy thành phần của phục linh gồm 3 loại: các acid có thànhphần hợp chất tripecpen, đường lachyman, ngoài ra còn có estrogen, cholin,histidin và rất ít enzyme protease
- Tác dụng dược lý: lợi tiểu, hạ đường huyết, cường tim ếch cô lập,chống nôn, trấn tĩnh, kháng khuẩn
- Tính vị qui kinh: ngọt bình vào kinh tâm, tỳ, phê, thận
- Tác dụng: lợi thủy, trừ thấp, kiện tỳ, an thần
- Tác dụng dược lý: tác dụng diệt amip
- Tính vị qui kinh: cay, ấm vào kinh tỳ, vị, thận
- Tác dụng: lý khí hóa thấp, trừ phong thấp, giảm đau, an thai
Mộc hương:
- Là rễ phơi khô của cây mộc hương (Sausure Lappa) họ cúc(Compositeae)
Trang 16Thành phần hóa học: vân mộc hương hay quảng mộc hương có 1% 2,8% tinh dầu, có 6% chất nhựa sausurin (ancaloid) và chừng 18% inulin.
Tác dụng dược lý: hạ áp
- Tính vị qui kinh: cay, đắng ấm vào kinh phế, tỳ, can
- Tác dụng: hành khí, chỉ thống, kiện tỳ, bình can, giáng áp
1.3.3 Ý nghĩa của bài thuốc.
Trong bài thuốc :Đẳng sâm đại bổ nguyên khí, kiện tỳ dưỡng vị, làthuốc chủ yếu; Tỳ thích táo, ghét thấp, Tỳ hư kém vận hóa, thường dễ sinhthấp, do vậy lấy Bạch truật kiện tỳ ích khí, táo thấp Hoàng Cung Tú nói
"Phục linh nhập tứ quân, làm tá cho Sâm, Truật để thẩm thấp của Tỳ" Trương Bình Thành cũng nói : "Thẩm thấp trọc của Phế Tỳ lưu thông xuống,sau đó kết hợp tác dụng của Sâm, Truật càng làm tăng tác dụng Bán hạ, Trần
bì hóa vị lấy khí hóa thấp, Mộc hương, Sa nhân hành khí tỉnh Tỳ, cam thảođiều hòa các thuốc Các thuốc phối hợp với nhau có tác dụng kiện tỳ hóa đàm,đàm thấp đã được trừ, thì các chứng bệnh tự khỏi
Trang 17CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Chất liệu nghiên cứu
2.1.1 Chất liệu và đối tượng nghiên cứu: Bài thuốc “Hương sa lục quân
- Thuốc được sử dụng dưới dạng thang sắc uống
- Sắc bằng máy Extractor do hang Kyungseo của Hàn Quốc sản xuất năm
2003, đảm bảo chất lượng ISO 9001
- Thời gian sắc thuốc 3 giờ
- Nước thuốc sắc được đóng vào túi nilon bằng dây chuyền tự động Mỗithang đóng được 2 túi, mỗi túi 120ml, thời gian bảo quản 30 ngày
- Thuốc được bào chế tại Trung tâm dược, sắc tại khoa đông dược –Bệnh viện YHCT – Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật – Bộ công an
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 18Đối tượng nghiên cứu gồm 30 bệnh nhân được chẩn đoán xác định làmắc Hội chứng ruột kích thích, vào điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộcông an từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 08 năm 2012.
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.
Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu đạt các tiêu chuẩn sau:
- Bệnh nhân trên 18 tuổi, được chẩn đoán xác định là Hội chứng ruộtkích thích theo tiêu chuẩn Rome II và thuộc thể Tỳ vị khí hư theo YHCT
Thể tỳ vị khí hư theo YHCT:
Bụng lạnh, đauĐầy bụng, sôi bụngĐại tiện phân nát, sốngphân, đại tiện nhiều lầntrong ngày
Hoa mắt chóng mặt
Chân tay lạnh
Cơ nhục mềmnhẽo
Mạch tế nhược
Chẩn đoán thông qua tứ chẩn: vọng, văn, vấn, thiết có triệu chứngchính gồm: đau bụng, chướng bụng, rối loạn đại tiện, mạch và lưỡi Các triệuchứng còn lại là triệu chứng phụ
- Các xét nghiệm: Công thức máu, sinh hóa máu, X quang, Tổng phân tíchmáu nước tiểu, soi phân và soi đại trực tràng đều cho kết quả trong giới hạnbình thường
- Bệnh nhân và gia đình tình nguyện tham gia
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân.
- Các bệnh nhân không tuân thủ điều trị: bỏ thuốc 3 ngày liên tiếp
Trang 19- Các bệnh nhân không làm đầy đủ các xét nghiệm theo yêu cầu củanghiên cứu.
- Các bệnh nhân không hợp tác trong quá trình nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, sosánh trước – sau điều trị
2.2.2.Cỡ mẫu
n=30 bệnh nhân
2.2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu.
- Trước khi điều trị: khám lâm sàng, các xét nghiệm loại trừ để chẩnđoán xác định: xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu, Xquang, TPT nướctiểu, soi phân, nội soi đại trực tràng
- Tất cả 30 bệnh nhân trong nghiên cứu đều được uống mỗi ngày 1 thangthuốc “Hương sa lục quân tử thang”, dưới dạng sắc (tương đương 2 lần, 2 túi,mỗi túi 120ml) Tổng thời gian uống thuốc là 30 ngày liên tiếp
2.2.4.Tiêu chuẩn đánh giá.
2.2.4.1 Theo dõi sự thay đổi của các triệu chứng:
- Đau bụng
- Rối loạn tính chất phân
- Rối loạn số lần đại tiện
- Sự căng chướng bụng
- Cảm giác thoải mái sau khi đại tiện
- Sự xuất hiện chất nhầy trong phân
- Mức độ ảnh hưởng của bệnh đến chất lượng cuộc sống
2.2.4.2 Theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc sau khi dùng thuốc:
Trang 20- Bệnh nhân có tăng các triệu chứng đau bụng, rối loạn đại tiện, chướng bụng.
- Đại tiện phân táo
- Bệnh nhân có xuất hiện các triệu chứng:nổi mẩn, ngứa, hoa mắt chóngmặt, buồn nôn, mất ngủ…
2.2.4.3 Đánh giá kết quả bằng bảng điểm IBS [17], [20].
IBS là một hệ thống tính điểm để xác định mức độ nặng của HCRKT vàdựa vào đó để đánh giá hiệu quả điều trị do Francis C.Y, Morris J vàWhorwell P.J xây dựng năm 1997 IBS đã được rất nhiều nghiên cứu áp dụnghoặc tham khảo để đánh giá hiệu quả điều trị HCRKT IBS đề cập đến 5 triệuchứng hay gặp trong HCRKT:
- Mức độ đau bụng
- Số ngày đau bụng trong 10 ngày liên tục
- Mức độ căng chướng bụng
- Mức độ thoải mái khi đại tiện
- Mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
Mỗi triệu chứng được tính điểm theo mức độ rối loạn của HCRKT, thấpnhất là 0 điểm, cao nhất là 100 điểm
Trang 21Căng chướng rất nhiều 100
Mức độ thoải mái
khi đi đại tiện
Rất không thoải mái 100
Để thuận tiện cho việc đánh giá hiệu quả điều trị, phân thành 4 loại sau:
- Kết quả tốt: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị từ 75% - 100%
Trang 22- Kết quả khá: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị từ 50% - < 75%
- Kết quả trung bình: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị từ25% - < 50%
- Kết quả kém: tổng điểm sau điều trị giảm so với trước điều trị < 25%.Nghiên cứu các tác dụng không mong muốn của bài thuốc
2.2.5 Xử lý số liệu.
- Số liệu được thu thập và xử lý bằng phương pháp thống kê toánhọc theo chương trình SPSS 15.0 Số liệu được thể hiện dưới hai dạng:
+ Biến số: Trung bình ± độ lệch chuẩn
+ Biến logic: Phần trăm (%)
- Sử dụng phép so sánh χ2 để kiểm định sự khác biệt giữa hai tỷ lệ
- Sử dụng test t – student để so sánh giá trị trước và sau điều trị
- Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05, với p < 0.01 và p
< 0.001 được coi là khác biệt rất có ý nghĩa
Trang 23XN CTM, chức năng gan thận, Xquang và TPT nước tiểu
Chẩn đoán xác định HCRKT, thể tỳ vị khí hư theo YHCT.
Điều trị bằng bài Hương sa lục quân.
Khám lâm
sàng
Soi phân, cấy phân
Nội soi trực tràng, đại
Trang 24CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
[[[[[[[[[[[[[[[[[[
3.1 Đặc điểm của các bệnh nhân nghiên cứu.
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới
Giới
Nhóm tuổi
Nam N=22
Nữ N=8
59 tuổi (chiếm: 63,3%), trong đó số bệnh nhân nam mắc nhiều hơn số bệnhnhân nữ (nam lứa tuổi này chiếm 78,9% và nữ chỉ chiếm 21,1%)
Trang 25Biểu đồ 3.1, Phân bố bệnh nhân theo giới
Bệnh nhân nữ có tỷ lệ thấp hơn bệnh nhân nam (Nữ 26,7 %, Nam 73,3%) Tỷ lệ nữ/nam xấp xỉ là 1/3
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp.
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh
Trang 26Bảng 3.4 Điều trị của bệnh nhân bị HCRKT trước khi vào viện
Nhận xét: Bệnh nhân mắc HCRKT khi đến điều trị tại chỗ chúng tôi có43,3% bệnh nhân chưa từng được điều trị thuốc và 56,7% đã từng điều trịbằng thuốc YHHĐ hoặc/ và thuốc YHCT Trong đó, số bệnh nhân đã dùngthuốc YHHĐ chiếm tỷ lệ 46,7%%, và chỉ có 10% bệnh nhân chỉ dùng thuốcYHCT
Bảng 3.5 Mức độ bệnh của bệnh nhân theo thang điểm IBS trước điều trị
Trang 27Tổng 30 100,0
Nhận xét: Bệnh nhân mắc HCRKT gặp chủ yếu thuộc mức độ trungbình 50% và mức độ nhẹ 33,3%, bệnh nhân nào ở mức độ nặng chỉ gặp có16,7%
Bảng 3.6 Các triệu chứng chính trên lâm sàng
Thay đổi khi tống phân
Nhận xét: Ba triệu chứng hay gặp nhất là đau bụng (100% bệnh nhân),rối loạn tính chất phân (100% bệnh nhân), và ảnh hưởng đến chất lượng cuộcsống (100% bệnh nhân); tiếp theo là các triệu chứng số ngày đau trong 10ngày gần đây (96,7% bệnh nhân) và căng chướng bụng (83,3% bệnh nhân);triệu chứng thay đổi khi tống phân có 60% bệnh nhân có triệu chứng này
Trang 28Đau bụng
Rối loạn phân
Rối loạn
số lần đại tiện
Căng chướng bụng
Thay đổi khi tống phân
Phân có nhầy
Trước điều trị Sau điều trị 30
ngày