Sau những cuộc tranh luận và các nghiên cứu gần đây, các nhà khoahọc đã chỉ ra rằng nguyên nhân của biến đổi khí hậu chính là các hoạt độngcủa con người tác động lên hệ thống khí hậu làm
Trang 1Người hướng dẫn:
Th.s Lê Thị Kim Thoa
Trang 2BĐKH Biến đổi khí hậu.
IPCC Nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu.WHO Tổ chức y tế thế giới
UNFCCC Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậuUNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Định nghĩa về khí hậu (climate): 3
1.2 Khái niệm biến đổi khí hậu (climate change): 3
1.3 Nguyên nhân dẫn đến BĐKH: 4
1.4 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu: 5
1.5 Tác động của BĐKH : 6
1.5.1 Tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực: 6
1.5.2 Đối với tài nguyên nước, tài nguyên biển: 6
1.5.3 Thời tiết cực đoan gia tăng: 7
1.5.4 Các hệ sinh thái tan vỡ 7
1.5.5 Bệnh tật gia tăng: 8
1.6 Tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện nay : 9
1.7 Tình hình biến đổi khí hậu tại toàn cầu: 13
1.8 Một số giải pháp cự thể nhằm thích ứng vơi biến đổi khí hậu ở Việt Nam: 14 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu: 19
2.1.1 Địa điểm: 19
2.1.2 Đối tượng: 19
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu: 19
2.3.1 Cỡ mẫu 19
2.3.2 Kĩ thuật chọn mẫu: 19
Trang 42.5 Cách khống chế sai số: 22
2.6 Đạo đức nghiên cứu: 22
CHƯƠNG 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ 23
CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 34
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 35
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, biến đổi khí hậu là vấn đề được toàn nhân loại quan tâm.Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội vàmôi trường toàn cầu.Trong những năm gần đây nhiều nơi trên thế giới đãphải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt,hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người vàvật chất Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các thiên tai nóitrên với biến đổi khí hậu Trước tình hình về việc xuất hiện ngày càng nhiềucác thiên tai đặc biệt nguy hiểm với tần suất, quy mô và cường độ ngày càngkhó lường, thì những nghiên cứu về biến đổi khí hậu ngày càng khó lường, thìnhững nghiên cứu về biến đổi khí hậu càng cần được đẩy mạnh
Sau những cuộc tranh luận và các nghiên cứu gần đây, các nhà khoahọc đã chỉ ra rằng nguyên nhân của biến đổi khí hậu chính là các hoạt độngcủa con người tác động lên hệ thống khí hậu làm cho khí hậu biến đổi Vì vậycon người cần phải có những hành động thiết thực để ngăn chặn những biến
đó bằng chính những hoạt động phù hợp của con người Do đó, các cuộc thảoluận đang hướng vào 2 cách, một là giảm tác động của con người và tìm cáchthích nghi với sự biến đổi đã từng xảy ra trong quá khứ và được dự kiến xảy
ra trong tương lai
Là quốc gia có bờ biển trải dài 3260km với hơn 3000 đảo và 2 quần
đảo, nằm ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương – 1 trong 5 ổ bão lớn trên thếgiới.Chính vì đặc điểm như vậy mà Việt Nam được đánh giá là một trongnhững nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu
Tại Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tăng khoảng0,7˚C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Theo tính toán của các chuyêngia nghiên cứu biến đối khí hậu, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở ViệtNam có thể tăng lên 3 độ C và mực nước biển có thể dâng 1m Theo đó,khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập Theo dự đoán
Trang 6của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tác động trên sẽgây thiệt hại khoảng 17 tỉ đồng mỗi năm và khiến khoảng 17 triệu ngườikhông có nhà[8] Còn Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môitrường (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) dự báo: mực nước biển ở ViệtNam sẽ dâng cao từ 3- 15 cm vào năm 2010, dâng từ 15 - 90 cm vào năm
2070 Các vùng ảnh hưởng là Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, ThanhHóa, Nam Định, Thái Bình
Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007-2008 của UNDP[8], nếunhiệt độ trên Trái Đất tăng thêm 2 độ C, thì 22 triệu người ở Việt Nam sẽ mấtnhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long,vựa lúa lớn nhất của Việt Nam sẽ ngập chìm trong nước biển
Trước tình hình đó chính phủ Việt Nam đã xây dựng và triển khai thựchiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Các Bộ,ngành và địa phương đã và đang xây dựng kế hoạch hành động để ứng phóvới những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềm tàng lâu dàicủa biến đổi khí hậu Tuy nhiên, vẫn chưa có những đánh giá cụ thể về kiếnthức- thái độ- thực hành của người dân về biến đổi khí hậu.Đây là 1 vấn đềkhá quan trọng,nếu có kiên thức chính xác về BĐKH thì người dân sẽ có thái
độ và hành vi phù hợp nhằm giảm tác động của con người tới môi trường, khíhậu và giúp người dân có những biện pháp thích hợp để ứng phó với biến đổikhí hậu khi nó xảy ra.Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
Mô tả kiến thức và thái độ của người dân 4 tỉnh Hưng Yên, ThanhHóa, VĩnhPhúc, Phú Thọ về biến đổi khí hậu năm 2011.
Với mục tiêu:
-Mô tả kiến thức và thái độ của người dân 4 tỉnh Hưng Yên,Thanh
Hóa, Vĩnh Phúc, Phú Thọ về biến đổi khí hậu năm 2011.
-Mô tả 1 số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ của người dân 4 tỉnh Hưng Yên,Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Phú Thọ về biến đổi khí hậu năm 2011.
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa về khí hậu (climate):
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khíquyển, gió, các hiện tượng xảy ra trongkhí quyển và nhiều yếu tố khítượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định Điều nàytrái ngược với khái niệm thời tiết về mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đếncác diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần Khí hậu của một khu vực ảnh hưởngbởi tọa độ địa lí, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũngnhư các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận Khí hậu phân ra các kiểukhác nhau dựa trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa
1.2 Khái niệm biến đổi khí hậu (climate change):
Theo GS TSKH Lê Huy Bá: "BĐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài cácthành phần khí hậu, "khung" thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay củamột vùng cụ thể, sang một trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh tháikhí hậu mới một cách khác hẳn, để rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới".[1]
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: “BĐKH là sự thay đổicủa hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyểnhiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo”.[2]
Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH đã định nghĩa: “Biến đổi
khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng
kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự
Trang 8nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.[9]
BĐKH là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầuhay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm Những biến đổinày được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và có sựtác động từ các hoạt động của con người
1.3 Nguyên nhân dẫn đến BĐKH:
BĐKH toàn cầu là điều không thể tránh khỏi, dù chúng ta kiểm soátmức phát thải khí nhà kính tốt đến đâu Nguyên nhân là mức khí thải hiện cótrong khí quyển sẽ tiếp tục làm nhiệt độ và mực nước biển gia tăng trong thế
kỷ tới
BĐKH mà tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đang diễn ra Nhiệt độtrên thế giới đã tăng thêm khoảng 0,70C kể từ thời kỳ tiền công nghiệp vàhiện đang tăng với tốc độ ngày càng cao Ngoài các nguyên nhân tự nhiên vàtính chất biến đổi phức tạp của các hệ thống khí hậu trên thế giới, hầu hếtcác nhà khoa học về môi trường hàng đầu trên thế giới đều khẳng định: cácloại khí nhà kính phát thải vào khí quyển do các hoạt động của con người đãlàm cho khí hậu toàn cầu nóng lên
BĐKH là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khíquyển ở mức độ cao, làm cho Trái Đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái Đấtnóng lên Nhiệt độ trái đất nóng lên tạo ra các biến đổi đối với các vấn đềthời tiết hiện nay Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc, nguyên nhâncủa hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên.[9]
Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc phát xả khí nhà kính (chủyếu là CO2 và Metan CH2) là nguyên nhân hàng đầu của BĐKH.Đó là sựtăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà
Trang 9kính Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cacbon (CO2) được tạo thành do sửdụng năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí tựnhiên ), phá rừng và chuyển đổi sử dụng chất thải vào khí quyển.[9] Theobáo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy Ban Liên Chính Phủ (IPCC, 2007)[7],hàm lượng khí CO2 trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiênkhoảng 650.000 năm qua Lượng phát khí thải CO2 từ sử dụng nhiên liệuhóa thạch đã tăng trung bình 6,4 tỉ tấn cacbon mỗi năm (trong những năm1990) đến 7,2 tỉ tấn cacbon mỗi năm (trong thời kỳ 2000 – 2005).[8]
Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế
và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs,PFCs và SF6
+ CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và lànguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũngsinh ra tử các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép
+ CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhailại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than
+ N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
+ HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và
HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản uất HCFC-22
+ PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
+ SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuấtmagiê
1.4 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môitrường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
Trang 10- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở cácvùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên cácvùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinhvật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển,chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng vàthành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
1.5 Tác động của BĐKH :
Ông Christophe Bahuet Phó đại diện UNDP [8] tại Việt Nam
-nhận định: BĐKH có thể dẫn đến 5 nguy cơ lớn: Giảm năng suất nông
nghiệp; gia tăng tình trạng thiếu nước; thời tiết cực đoan gia tăng; các hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng.
1.5.1 Tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực:
BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụgieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng BĐKH ảnhhưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinhbệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm
BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tínhcực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm Tố, lốc, bão và các thiêntai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập únghay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng suất và sảnlượng của cây trồng và vật nuôi.[11]
1.5.2 Đối với tài nguyên nước, tài nguyên biển:
Hiện tượng nhiễm mặn và ô nhiễm nước ngầm gia tăng Dẫn đến tìnhtrạng thiếu nước trầm trọng trên phạm vi toàn cầu.Tài nguyên nước đang chịu
Trang 11thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa Khókhăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thànhthị và sản xuất điện.Đặc biệt, thiếu nước sạch sẽ là nguy cơ rất lớn gây racác bệnh lây tryền qua nước như các bệnh về da, các bệnh đường tiêu hóa,bệnh đường hô hấp… Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọngvào mùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước vàtăng mâu thuẫn trong sử dụng nước Trên các sông lớn như sông Hồng vàsông Cửu Long, xu hướng giảm nhiều hơn đối với dòng chảy năm và dòngchảy kiệt; xu thế tăng nhiều hơn đối với dòng chảy lũ [17].Hiện tượng nướcbiển dâng và ngập mặn gia tăng dẫn đến các hậu quả sau: Nước mặn lấnsâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sảnnước ngọt Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng đến nơi cư trú củamột số loài thuỷ sản.
1.5.3 Thời tiết cực đoan gia tăng:
Khí hậu biến đổi do Trái Đất bị hâm nóng vì hiệu ứng nhà kính tăngquá mức quân bình tự nhiên khiến các sông băng trên các núi cao và nhất làvùng quanh năm băng giá ở Bắc và Nam Cực tan dần, làm mặt biển dâng caohơn, tới lúc nào đó sẽ ngập chìm và xoá khỏi bản đồ những hòn đảo vànhững vùng đất thấp của một số nước Ngoài ra, thời tiết cũng bị biếnloạn, thiên tai xảy ra thường xuyên hơn và với cường độ cao hơn, lụt lội
và hạn hán kéo dài hơnđất đai còn bị huỷ hoại vì sa mạc hoá, mặn hoá, xóimòn, ngập chìm
1.5.4 Các hệ sinh thái tan vỡ
BĐKH với sự tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và nước biển dângảnh hưởng đến thảm thực vật rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiềuhướng khác nhau Phân bố ranh giới các kiểu rừng nguyên sinh cũng nhưrừng thứ sinh có thể dịch chuyển Sinh thái bị nhiễu loạn dẫn đến nguồn lợi
Trang 12đa dạng sinh học bị cắt giảm, điều này sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếnđời sống của một số đông dân chúng dựa chủ yếu vào nông nghiệp và nguồnlợi tự nhiên, nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phíaBắc và lên các vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loàichim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinhsản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san
hô bị chết trắng ngày càng nhiều Như vậy, các loài sinh vật muốn phát triểnmột cách bình thường cần phải có một môi trường sống phù hợp, tương đối
ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nước vàcộng đồng các loài sinh vật trong nơi sống đó Chỉ một trong những nhân tốcủa môi trường sống bị biến đổi, sự phát triển của một loài sinh vật nào đó
sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào mức độ biến đổinhiều hay ít
1.5.5 Bệnh tật gia tăng:
Nguồn nước bị ô nhiễm, nhiệt độ tăng, nước biển dâng cao, lượng mưathay đổi, tạo điều kiện cho vi trùng, vi khuẩn phát triển, muỗi gia tăng khiếncho bệnh sốt xuất huyết, sốt rét cũng tăng cao Việc ô nhiễm nguồn nướckhiến cho dịch bệnh đường tiêu hóa bùng phát Ô nhiễm khí hậu, khói bụikhiến cho các bệnh về phổi như lao, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hen…không ngừng gia tăng.sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm dẫn đến thay đổi nơisinhtrưởng và đời sống của côn trùng dẫn đến sự phân bố của chúng trên địacầu Nhiệt độ tối ưu còn ảnh hưởng đến thời gian ủ bệnh của mầm bệnh trongcôn trùng và nguy cơ bột hát thành dịch tại các vùng khác nhau (McMichel,Campell-Lendrum et al., 2003).[10][16]
Nhiệt độ tăng tác động trực tiếp đến những người lao động ngoài trời,các loại bệnh được các nhà khoa học liệt kê như: Mất ngủ, ăn uống kém, dakhô, nóng, khó thở, chóng mặt, nhức đầu… ngày một nhiều hơn
Trang 13Theo Y tế Thế giới (WHO, 1997)[12] cho rằng từ 1975 đến 1996 đã có ítnhất 30 loại bệnh mới nổi lên hay xuất hiện lại nhiều hơn Nhiều nghiên cứucho rằng thay đổi khí hậu tác động đến dịch bệnh do côn trùng truyền(Woodruff, Guest et al 2002)[13] Sự xuất hiện của bệnh tật phụ thuộc vàomối quan hệ 3 chiều giữa vật chủ, tác nhân gây bệnh và trung gian truyềnbệnh (Sutherst 2004)[14] Một số bệnh như xuất huyêt não và biến chứng timmạch được coi là do ảnh hưởng trực tiếp của những đợt nóng kéo dài (Kovats
và Hainé 2005)[15] Một số bệnh đường hô hấp cũng được coi là có nguyênnhân từ thay đổi khí hậu (Gross 2002).[10]
1.6 Tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện nay :
Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH.BĐKH là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khuvực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm [7]
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam cónhững điểm đáng lưu ý sau :
Nhiệt độ: trong khoảng 50 năm qua (1951 – 2000), nhiệt độ trung bìnhnăm ở Việt Nam đã tăng lên 0,7oC Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷgần đây (1961 – 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931– 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, ĐàNẵng, TP.Hồ Chí Minh đều cao hơn nhiệt độ trung bình của thập kỷ 1931 –
1940 lần lượt là 0,8 ; 0,4 ; và 0,6oC [2]
Một số phác thảo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công bố tại Hộithảo BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam tại Hà Nôi tháng2/2008, được trình bày tóm tắt dưới đây
Trang 14Thông báo Quốc gia về BĐKH ở Việt Nam (so với năm 1990)
Năm Nhiệt độ tăng thêm ( 0C) Mực nước biển tăng thêm (cm)
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [3]
Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam (nhiệt độ tăng thêm o C so với
năm 1990)
Năm Tây Bắc Đông Bắc Đồng bằng
Bắc Bộ
Bắc Trung Bộ
Nam Trung Bộ
Tây nguyên Nam Bộ
Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008.[3]
Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ởcác trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lênkhoảng 20cm phù hợp với xu thế chung của toàn cầu [2].Xói lở bờ biển vànguy cơ ngập chìm vùng đất thấp ven bờ là một đe dọa nguy hiểm Theokịch bản dâng cao mực nước biển Việt Nam [3], đến 2050 nước biển sẽ dângcao thêm 33 cm, theo quy luật động lực sóng, chiều rộng bãi biển cát bị xói
lở sẽ là 330 m- 3300 m, nơi tập trung cơ sở hạ tầng du lịch và nghề nuôitrồng và chế biến thủy sản, nơi cư trú của hàng vạn hộ gia đình sẽ bị sóngphá hủy Tình trạng còn có thể nguy hiểm hơn nếu mực nước biển dâng caothêm 1,0 m theo dự báo của các nhà khoa học Anh
Trang 15- Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệttrong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Năm 1994 vànăm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56 % trung bình nhiềunăm, trong đó có 6/7 trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi thángmùa đông (XI-III) thấp dị thường (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997
và 11/1997) Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnhBĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngàytrong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nôngnghiệp
- BĐKH kéo theo hiện tượng El Nino, làm giảm đến 20-25% lượngmưa ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên, gây ra hạn hán không chỉ phổbiến và kéo dài mà thậm chí còn gây khô hạn thời đoạn ngay trong thời gian ElNino Tác động này ở Nam Trung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ, Bắc Tây Nguyênlớn hơn Nam Tây Nguyên.[3]
Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH(IPCC, 2007) và những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa học ViệtNam, tác động tiềm tàng của BĐKH đối với nước ta là nghiêm trọng và cầnđược nghiên cứu sâu thêm Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan
và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe doạ thườngxuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộngđồng[7] Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tố lốc là thiên tai xảy rahàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất và đờisống.Những khu vực được dự tính chịu tác động lớn nhất của các hiện tượngkhí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi phía Bắc và BắcTrung Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
Tại cuộc họp về BĐKH do Liên hiệp quốc UNDP gần đây, ôngNguyễn Khắc Hiếu, Phó ban chỉ đạo thực hiện công ước khí hậu và nghị
Trang 16định thư Kyoto của Việt Nam cũng cho rằng: "Sinh kế của hàng chục triệu
người Việt Nam đang bị đe dọa với những ảnh hưởng của BĐKH Vấn đề này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng biển, vùng đồng bằng bị
đe dọa" [3]
Trong khi đó cơ sở hạ tầng (hệ thống đê, đập, giao thông, thủy lợi,thông tin, điện, nước, nhà ở v.v ) nhất là ở các vùng nông thôn còn thấpkém, đời sống dân cư, trình độ dân trí ở nhiều vùng, nhất là nông thôn, miềnnúi, nơi có nguy cơ tổn hại cao - còn thấp Khả năng tự đối phó với thiêntai và những hậu quả khác của BĐKH, trong đó có mực nước biển dâng làrất hạn chế.[13.doc]
Cơ sở hạ tầng (hệ thống đê, đập, giao thông, thủy lợi, thông tin, điện,nước, nhà ở v.v ) nhất là ở các vùng nông thôn còn thấp kém, đời sống dân
cư, trình độ dân trí ở nhiều vùng, nhất là nông thôn, miền núi, nơi có nguy
cơ tổn hại cao - còn thấp Khả năng tự đối phó với thiên tai và những hậuquả khác của BĐKH, trong đó có mực nước biển dâng là rất hạn chế.và đôthị với sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài và giữacác doanh nghiệp, các địa phương trong nước, trong bối cảnh toàn cầu hoá
và hội nhập kinh tế quốc tế; vấn đề bảo vệ môi trường thường bị coi nhẹ dẫnđến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, áp lực kinh tế lên các hệ sinh tháingày càng tăng và tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm Tất cả những điều trênđây làm cho cho hậu quả tác động của BĐKH và mực nước biển dâng đốivới Việt Nam thêm nghiêm trọng, làm nảy sinh những thách thức mới và làmcho những thách thức sẵn có nói trên trở nên lớn hơn, là nguy cơ hiện hữuđối với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo và nguy cơ tiềm tàng đối với việc thựchiện các mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững Vì vậy, cần phải có
Trang 17một chiến lược và các giải pháp ứng phó phù hợp, nếu không, mọi việc sẽ trởnên quá muộn.[13.doc]
1.7 Tình hình biến đổi khí hậu tại toàn cầu:
Sự nóng lên toàn cầu của hệ thống khí hậu hiện nay là chưa từng có và
rất rõ ràng từ những quan trắc nhiệt độ và đại dương trung bình toàn cầu, sự
tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mựcnước biển trung bình toàncầu:
-Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là0,74oC; Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13oC/1 thập kỷ, gấp
2 lần xu thế tăng của 100 năm qua
-Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực đã tăng với tỷ lệ 1,5oC/100 năm, gấp 2 lần
tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực trong 50 năm cuốithế kỷ 20 cao hơn bất kỳ nhiệt độ trung bình của 50 năm nào khác trong 500năm gần đây và có thể là cao nhất, ít nhất là trong 1300 năm qua
-Nhiệt độ trung bình ở đỉnh lớp băng vĩnh cửu ở Bắc bán cầu đã tăng3oC kể từ năm 1980
-11 trong số 12 năm gần đây (1995 - 2006) nằm trong số 12 năm nóngnhất trong chuỗi quan trắc bằng máy kể từ năm 1850
Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), nhiệt độ trung bình năm 2007cao hơn trung bình thời kỳ 1961 - 1990 0,41oC
Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình1,8mm/năm trong thời kỳ 1961 - 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ3,1mm/năm trong thời kỳ 1993 - 2003 Tổng cộng, mực nước biển trung bìnhtoàn cầu đã tăng lên 0,31m trong 100 năm gần đây
Trang 18Chính sự tan băng ở Greenland, Bắc cực và Nam cực đã làm chomực nước biển tăng nhanh hơn trong thời kỳ 1993 - 2003 Ngoài ra, nhiệt độtrung bình của đại dương toàn cầu tăng lên (ít nhất là tới độ sâu 3000m) cũnggóp phần vào sự tăng lên của mực nước biển Lũ lụt ven biển có thể đe dọa
đe dọa 1,6 triệu người mỗi năm tại liên minh châu Âu
Ô nhiễm không khí gây ra BĐKH và ngày càng trở nên tồi tệ hơn.Giaothông vận tải liên quan đến phát thải khí nhà kính do con người tạo ra dựkiến tăng 50% trong liên minh châu Âu Quá trình đốt nhiên liệu trong cáclĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, sản xuất hộ gia đình … Theo thống
kê mới nhất, nó chiếm ( trực tiếp hoặc gián tiếp) một phần đáng kể của sựnóng lên toàn cầu, và phần lớn các thiệt hại trực tiếp đến sức khỏe conngười.[17]
Với sự BĐKH, năng suất lương thực được dự báo giảm trong khu vựcĐịa Trung Hải, đông nam châu Âu và Trung Á, nơi mà an ninh lương thực
có nguy cơ.Sản lượng cây trồng có thể giảm đến 30% ở Trung Á giữa thế kỷ
21 do đó đe dọa an ninh lương thực Điều này có thể dẫn đến tình trạng suydinh dưỡng, đặc biệt là những người nghèo ở nông thôn.[17]
1.8 Một số giải pháp cự thể nhằm thích ứng vơi biến đổi khí hậu ở Việt Nam:
Khí hậu nóng lên trên phạm vi toàn cầu là quá trình không thể đảongược và lâu dài Theo tính toán của Solomon [4] và cộng sự (2010) thì nếu
có giải pháp nào kiểm soát ngay quá trình phát thải thì cũng phải sau hàng thế
kỷ mới có thể lặp lại thế quân bình nền nhiệt độ tự nhiên và nồng độ CO2 nhưtrước thời kỳ cách mạng công nghiệp Mặc dù có các nỗ lực tìm kiếm giảipháp nhưng cho tới nay thì tính khả thi vẫn còn là câu hỏi lớn Hiện tại người
Hà Lan và người Đan Mạch đang đi đầu về những giải pháp liên quan tớichiến lược thích ứng với BĐKH
Trước hết, Việt Nam cần tham gia một cách chủ động và tích cực vào
Trang 19các chương trình do Liên hiệp quốc chủ trì về biến đổi khí hậu toàn cầu. Cácnhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và quy hoạch, chiến lược pháttriển cần được tổ chức và huy động tham gia một chương trình nghiên cứucấp quốc gia. Nhà nước cần đầu tư thích đáng cho chương trình này. Chươngtrình cần được kết nối với các chương trình quốc tế và khu vực để có thể tiếpnhận thành quả nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu có uy tín trên thế giới,tiếp nhận sự viện trợ, giúp đỡ quốc tế. Mặt khác, thông qua việc nghiên cứuthực tế và thực tiễn, Việt Nam có thể đóng góp vào vấn đề đang được các tổchức quốc tế bàn luận. Các vị lãnh đạo cao cấp nước ta cần dành thời gian,chủ động tham gia các hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc chủ trì về vấn đềnày.[5]
Chiến lược ứng phó với BĐKH bao gồm chiến lược giảm nhẹ BĐKH vàchiến lược thích ứng với BĐKH Chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí hậu cónội dung chủ yếu là chiến lược giảm khí nhà kính, nghĩa là giảm nguồn phátthải khí nhà kính đồng thời với tăng bể hấp thụ khí nhà kính trên phạm vitoàn cầu Trong khi đó, Chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu có mụctiêu là ngăn chặn các tác động của biến đổi khí hậu, kể cả biến đổi tự nhiên
và biến đổi nhân tạo, đối với các hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội trêntrái đất
Do tính chất bất khả kháng của xu thế nóng lên toàn cầu và mựcnước biển dâng, ít nhất là trong thế kỷ 21, nên vấn đề quan trọng hàng đầutrong việc ứng phó với BĐKH đối với Việt Nam là phải thích ứng với
BĐKH, nói cách khác là vấn đề thích ứng phải được đặt là trọng tâm, chứ
không phải là giảm nhẹ BĐKH
Hơn nữa, Việt Nam là nước đang phát triển, chưa có nghĩa vụ phải giảmphát thải các chất khí gây hiệu ứng nhà kính theo Công ước Khung của LiênHiệp Quốc về BĐKH, tổng lượng phát thải và lượng phát thải tính theo đầu
Trang 20người còn rất nhỏ bé so với các nước đang phát triển khác, yêu cầu pháttriển để xoá bỏ đói nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, đưa nước ta ra khỏitình trạng kém phát triển là mục tiêu hàng đầu.
Các hoạt động thích ứng với BĐKH phải được triển khai ngay từ bâygiờ Việc triển khai sớm các hoạt động thích ứng sẽ có nhiều triển vọng đạthiệu quả cao trong việc giảm tổn thất cả trước mắt và lâu dài, trong khiBĐKH vẫn đang tiếp tục diễn ra với mức độ ngày càng tăng, khi mà tiềmlực về con người và khả năng tài chính hiện nay của chúng ta có thể chịuđựng, sẽ ít tốn kém hơn nhiều so với chi phí khắc phục hậu quả và với chiphí để giảm nhẹ hậu quả do BĐKH trong tương lai, nhiều khi vượt quá khảnăng của chúng ta
Việc thích ứng với BĐKH cần phải được thực hiện đối với tất cả cácngành,
lĩnh vực và các địa phương[6], song trọng tâm là các đối tượng sau đây:
-Giải ven biển (bao gồm cả các vùng đồng bằng châu thổ)
-Nông nghiệp, thủy sản
-Cơ sở hạ tầng (công nghiệp, giao thông vận tải, thủy lợi, năng lượng,thông tin, du lịch v.v )
- Nơi cư trú và sức khoẻ cộng đồng, nhất là cộng đồng dân cư venbiển, ven sông, nông thôn, miền núi, các khu nhà tạm trong đô thị
Hiện nay, nước ta đã thực hiện 1 số chính sách, chương trình nhằmthích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH như:
Chương trình trồng rừng là một trong những chương trình được ưu tiên
trong “chiến lược quốc gia của Việt Nam về phòng chống và giảm nhẹ thiên
tai đến năm 2020” được chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 172/20070
QĐ – TTg ngày 16/11/2007 Nôi dung của chương trình: Nâng cao năng lực
dự báo , cảnh báo thiên tai; đảm bảo quy hoạch phát triển, quy chuẩn xây
Trang 21dựng kết cấu hạ tầng phù hợp với tiêu chuẩn phòng chống và giảm nhẹ thiêntai; đảm bảo 100% cán bộ làm công tác giảm nhẹ thiên tai được tập huấnnâng cao năng lực; 70% số dân các xã phường vùng thường xuyên bị thiêntai được phổ biến kiến thức về phòng chống thiên tai; hoàn thành việc di dời,sắp xếp và ổn định đời sống nhân dân vùng thường xuyên xảy ra thiên taitheo quy hoạch được duyệt; phối hợp chặt chẽ với lực lượng tìm kiếm cứunạn để chủ động đối phó; đảm bảo an toàn hệ thống đê điều từ Hà Tĩnh trởra; nâng cao khả năng, mức chống lũ của đê miền trung, Tây Nguyên vàNam Bộ, củng cố nâng cấp đê biển; đảm bảo an toàn các hồ chứa; hoànthành 100% việc xây dựng khu neo đậu tàu thuyền, hoàn thành hệ thốngthông tin liên lạc.
Ngày 2/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định158/2008/QĐ – TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH.Theo đó, các nguyên tắc cơ bản của Việt Nam trong ứng phó với BĐKH là:Ứng phó trên nguyên tắc phát triển bền vững, đảm bảo hệ thống, tổnghợp, ngành, vùng, bình đẳng về giới, xóa đói, giảm nghèo
Các hoạt động ứng phó với BĐKH được tiến hành có trọng tâm, trọngđiểm, ưng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác độngtiềm tàng lâu dài Đầu tư cho ứng phó với BĐKH là yếu tố quan trọng đảmbảo phát triển bền vững, ứng phó hôm nay sẽ giảm được thiệt hại ngày mai
Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn
xã hội
Các nhiệm vụ ứng phó với BĐKH phải được thể hiện trong chiếnlược, chương trình, quy hoạch , kế hoạch phát triển của các ngành, các địaphương, được thể chế hóa trong các văn bản pháp quy pháp luật và đượcquán triệt trong tổ chức thực hiện
Trang 22Triển khai ứng phó với BĐKH theo nguyen tắc “trách nhiệm chugnhưng có phân biệt” được xác định trong Công ước Khung của Liên hợpquốc về BĐKH.
Hội chữ thập đỏ Việt Nam với sự hỗ trợ của hội chữ thập đỏ Hà Lan(NRC) đã thực hiện dự án BĐKH ở 5 tỉnh ven biển từ năm 2003 đến 2005
Dự án này đã xây dựng các tư liệu về các tác động và thích ứng với BĐKH,giúp đánh giá các khả năng dễ bị tổn thương và năng lực của 30 trong tổng
số các xã dễ bị tổn thương nhất và đồng thời nâng cao nhận thức, xây dựngnăng lực của người dân địa phương Dự án còn đào tạo các nhân viên củahội chữ thập đỏ Việt Nam và các tình nguyện viên ở các cấp khác nhau vànâng cao nhận thức cho các nhà ra quyết định.Hội chữ thập đỏ Việt Nam và
Hà Lan còn hỗ trợ đưa vào thực hiện dự án tái trồng rừng và thích ứng vớiBĐKH ở tỉnh Quảng Bình để ổn định các đùn cát ven biển bẳng trồng câyphi lao và hỗ trợ sinh kế cho người nghèo Tổ chức phát triển của Hà Lan(SNV) cùng hội chữ thập đỏ Việt Nam đang khảo sát thêm công trình khác ởQuảng Bình với nguồn tài trợ thông qua cơ chế phát triển sạch
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu:
2.1.1 Địa điểm:
Nghiên cứu được tiến hành trên 8 xã thuộc 4 tỉnh Hưng Yên, ThanhHóa, Vĩnh Phúc và Phú Thọ.Mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiêu 2 xã, mỗi xã chọnngẫu nhiên 2 thôn
2.1.2 Đối tượng:
Người dân có hộ khẩu thường trú tại 8 xã thuộc 4 tỉnh Hưng Yên,Thanh Hóa, Vĩnh Phúc và Phú Thọ
2.1.3 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ 7/2011 đến 10/2011
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tảcắt ngang
2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu:
2.3.1 Cỡ mẫu
2.3.2 Kĩ thuật chọn mẫu:
Cách chọn mẫu: ngẫu nhiên đa tầng
Từ 4 tỉnh ban đầu, mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 2 xã, mỗi xã chọn ngẫunhiên 2 thôn.Dựa vào danh sách người dân có hộ khẩu thường trú tại các thônnghiên cứu để làm khung chọn mẫu, rồi chọn ngẫu nhiên từ danh sách đó