ÐẶT VẤN ÐỀGiun đũa chó có tên khoa học là Toxocara canis, đó là một loại ký sinh trùng có hình dáng, kích thước giống giun đũa ở người, sống trong ruột chó, trứng theo phân chó ra ngoài.
Trang 11 ÐẶT VẤN ÐỀ
Giun đũa chó có tên khoa học là Toxocara canis, đó là một loại ký sinh
trùng có hình dáng, kích thước giống giun đũa ở người, sống trong ruột chó,
trứng theo phân chó ra ngoài Giun đũa mèo có tên khoa học là Toxocara cati.
Bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo là một bệnh do ấu trùng (AT) giun đũa chó/mèo gây ra Bệnh có thể xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thế giới, không phụthuộc vào nông thôn hay thành thị, ngay cả những nước tiên tiến vẫn có khảnăng nhiễm và thậm chí tỷ lệ nhiễm cao
Người bị nhiễm bệnh do tình cờ nuốt trứng có ấu trùng của
Toxocara spp nhiễm trong đất, nước, thức ăn do chất phóng uế bừa bãi của
những con chó bị nhiễm bệnh Các ấu trùng đi vào trong ruột, di chuyểnđến nội tạng, nơi đây chúng có thể sống nhiều năm ở dạng tự do hay hóakén nhưng không bao giờ phát triển thành giun trưởng thành Ngoài ra,người có thể nhiễm do ăn thịt thú vật không nấu chín
Các nghiên cứu cho thấy, những quần thể người có tỷ lệ huyết thanh
dương tính Toxocara spp cao thường ở những nơi có nhiều chó bị nhiễm Toxocara spp Môi trường bị ô nhiễm trứng nhiều, trẻ em có thói quen
nghịch đất Ở nước ta, chó/mèo được nuôi không kiểm soát, thả rong, phânchó gặp ở khắp nơi, số mẫu đất có nhiễm trứng giun đũa chó/mèo thay đổi
từ 5-26% tùy theo từng vùng sinh địa cảnh nên mọi người đều có nguy cơnuốt phải trứng của chúng
Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân ngày càng gia tăng
có thể là do mầm bệnh được phát tán ra ngoài ngoại cảnh đồng thời ngườidân đã có ý thức đến các cơ sở y tế để khám và xét nghiệm Đặc biệt ở khuvực miền Trung-Tây Nguyên, bệnh do ấu trùng giun đũa chó/mèo đang trở
Trang 2thành vấn đề lo lắng cho sức khỏe của người dân trong khu vực Do đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng nhiễm Toxocara spp tại một
số xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định và một số yếu tố ảnh
hưởng đến tình trạng nhiễm, 2011-2012” với 2 mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó trên người và ở môi trường bằng kỹ thuật ELISA tại 2 xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (2011-2012).
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở người.
Trang 3- Mẫu đất, phân chó được thu lượm tại các điểm nghiên cứu.
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: 2 xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Thời gian nghiên cứu: 2011-2012
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu
2.1.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.1.3.2 Cách chọn mẫu
- Chọn mẫu nghiên cứu theo cách chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Kỹ thuật lấy mẫu:
+ Khung mẫu: Danh sách hộ gia đình của 2 xã (200 hộ)
+ Đơn vị lấy mẫu: Hộ gia đình
+ Đơn vị quan sát: Các cá thể trong gia đình được chọn
+ Kỹ thuật lấy mẫu: Kỹ thuật ngẫu nhiên hệ thống
2.1.3.3 Cỡ mẫu
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo:
- Theo công thức tính cỡ mẫu cho một điều tra cắt ngang, số ngườicần khảo sát cho một điểm nghiên cứu theo công thức dịch tễ học mô tả:
n = Z 2 (1- /2) x pq = 1,962 x 0,2 x ( 1- 0,2 ) = 384
d2 0,042
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn: Z = 1,96; α = 0,05
Trang 4p = 0,2 (Theo kết quả điều tra của Viện sốt rét-Ký sinh Côn trùng Quy Nhơn năm 2009 tại Bình Định).
- Kỹ thuật xét nghiệm ELISA tìm kháng thể ấu trùng giun đũa
chó/mèo: Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ Kit Toxocara ELISA
của Mỹ sản xuất, với độ nhạy 93%, độ đặc hiệu 88% Một số hình ảnh của
bộ Kit do Mỹ sản xuất:
(Nguồn: www.rapidtest.com)
Hình 2.1 Hình ảnh bộ Kit Toxocara ELISA của Mỹ sản xuất
Trang 5* Cỡ mẫu điều tra kiến thức, thái độ, thực hành (KAP)của người dân
về phòng chống bệnh giun đũa chó/mèo:
Sau khi tiến hành lấy máu xét nghiệm, chúng tôi tiến hành phỏng vấntất các đối tượng có xét nghiệm ELISA từ 15 tuổi trở lên và người bảo hộcủa những đối tượng dưới 15 tuổi về kiến thức, thái độ và thực hành đối vớibệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo của người dân tại mỗi điểm nghiên cứu.Những trường hợp đối tượng dưới 15 tuổi và người bảo hộ trong cùng mộtgia đình thì chỉ phỏng vấn những người trên 15 tuổi
* Xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa chó trên chó tại cộng đồng qua xét nghiệm phân:
Điều tra xét nghiệm phân chó để tìm trứng giun đũa chó; mỗi điểmxét nghiệm 50 mẫu phân chó Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kỹthuật xét nghiệm phân chó tìm trứng theo phương pháp ly tâm lắng cặn vớiFormalin ether
* Xác định sự phát tán của trứng giun đũa chó ra ngoại cảnh:
Mỗi điểm xét nghiệm 100 mẫu đất để tìm trứng hoặc trứng có ấutrùng giun đũa chó trong đất; mỗi mẫu đất khoảng 100 gam Trong nghiêncứu này, chúng tôi xác định sự tồn tại của trứng giun đũa chó ở ngoại cảnhbằng xét nghiệm đất Romanenko
Mẫu đất được thu lượm từ các điểm nghiên cứu tại cộng đồng 2 xãthuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 6Xác định tỷ lệ bạch cầu ái toan (Eosinophil) bằng cách lấy máu giọtmỏng, nhuộm giêm sa, soi lam và tính theo công thức:
% Eosinophil =
Sau khi đếm tỷ lệ bạch cầu ái toan trên giọt máu mỏng được nhuộmGiêm sa, tiến hành quy đổi số lượng tuyệt đối dựa vào số lượng bạch cầu
Tỷ lệ bạch cầu ái toan bình thường: 1-4%
Số lượng bạch cầu ái toan bình thường: 40-350/µl máu
Các mức độ tăng bạch cầu ái toan (Theo Franklin và CS., 1998):
+ Tăng nhẹ: từ 350-1.500/µl máu hay 4-7%
+ Tăng trung bình: > 1.500-5.000/µl máu hay > 7-10%
+ Tăng cao: > 5.000/µl máu hay > 10%
2.1.3.4 Phương pháp thu thập số liệu
Kết quả xét nghiệm máu, phân, đất và phỏng vấn các đối tượngnghiên cứu đều nhập vào mẫu thu thập số liệu
Trang 7Tỷ lệ nhiễm (%)
- Kiến thức về đường lây bệnh giun đũa chó/mèo
- Kiến thức về tác hại của bệnh giun đũa chó/mèo
- Kiến thức về các biện pháp phòng chống bệnh giun đũa chó/mèo
- Thái độ của người dân về sự nguy hại của bệnh giun đũa chó/mèo
- Thực hành chung về khả năng phòng chống bệnh giun đũa chó/mèo
2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
2.2.1 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó trên người và ở môi trường bằng kỹ thuật ELISA tại 2 xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (2011-2012)
2.2.1.1 Đặc điểm chung về địa điểm nghiên cứu và các đối tượng nghiên cứu
* Về địa điểm nghiên cứu:
- Vị trí địa lý:
+ Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ củatỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc-Nam, có chiều ngang với độ hẹp trungbình là 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km) Phía Bắc giáptỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọađộ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông) Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đườngranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 10804'00Đông) Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới chung 130 km (điểmcực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông) Phía Đông giáp biển Đôngvới bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh)thuộc thành phố Quy Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông) Bình
Trang 8Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh TâyNguyên và vùng nam Lào.
+ An Nhơn là một huyện đồng bằng, phát triển theo hướng côngnghiệp và đô thị hóa Thị xã nằm dọc theo trục đường quốc lộ 1A, cáchtrung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km về hướng Tây Bắc Về địagiới hành chính: Phía Đông giáp huyện Tuy Phước, phía Tây giáp huyệnTây Sơn và huyện Vân Canh, phía Nam giáp huyện Tuy Phước và huyệnVân Canh, phía Bắc giáp huyện Phù Cát Trung tâm hành chính củahuyện đặt tại thị trấn Bình Định trước đây, là trung tâm giao lưu kinh tế-văn hóa xã hội trong khu vực miền Trung-Tây Nguyên theo định hướngphát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Định
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã An Nhơn
- Địa hình:
Trang 9Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông.Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kếtiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển Các dạng địa hình phổbiến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới
100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo,các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển Ngoàicùng là cồn vát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườnđông và tây Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là:
+ Vùng núi: Nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh Đại bộ phậnsườn dốc hơn 20° Có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện
An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), TâySơn và Hoài Ân (31.000 ha) Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sôngsuối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh Chiếm 70%diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình 500-1.000 m, trong đó có
11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện
An Lão) Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000m Các dãy núi chạy theo hướngBắc - Nam, có sườn dốc đứng Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thànhcác mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cáthẹp Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống cácdãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá
+ Vùng đồi: Tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phíađông, có diện tích khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độcao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15° Phân bố ở các huyệnHoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha)
+ Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châuthổ mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địahình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con
Trang 10sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồicát hay các dãy núi Độ cao trung bình của dạng địa hình đồng bằng lòngchảo này khoảng 25–50 m và chiếm diện tích khoảng 1.000 km² Đồngbằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Kôn, còn lại là cácđồng bằng nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo cácchân núi và ven biển.
+ Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãyhẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng
và quy mô biến đổi theo thời gian Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dãicát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dãi cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dãi cát
từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát từ Trung Lương đến Lý Hưng Ven biểncòn có nhiều đầm như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầmThị Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Quy Nhơn, vịnh VũngMới ; các cửa biển như Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề
Gi và cửa Quy Nhơn Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông vàbiển Hiện tại ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định,còn các cửa An Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động
- Sông ngòi, ao hồ:
+ Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườnphía đông dãy Trường Sơn Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn,hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện182,4 triệu kw Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốcrất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn Ở đoạn đồng bằnglòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa kiệt nguồn nước rấtnghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gâyngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nênthoát lũ kém Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La Tinh
Trang 11và Hà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan Ngoài cácsông đáng kể nói trên còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thườngchỉ có nước chảy về mùa lũ và mạng lưới các sông suối ở miền núi tạo điềukiện cho phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện Độ che phủ của rừng đến nay chỉcòn khoảng trên 40% nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa bồi, thuỷphá nghiêm trọng Ngược lại, mùa khô nước các sông cạn kiệt, thiếu nướctưới.
+ Toàn tỉnh Bình Định có nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục
vụ mục đích tưới tiêu trong mùa khô Trong đó có thể kể tên một số hồ lớntại các huyện trong tỉnh như: hồ Hưng Long (An Lão); hồ Vạn Hội, MỹĐức và Thạch Khê (Hoài Ân); hồ Mỹ Bình (Hoài Nhơn); hồ Hội Sơn và
Mỹ Thuận (Phù Cát); hồ Diêm Tiêu, Hóc Nhạn và Phú Hà (Phù Mỹ); hồĐịnh Bình, Thuận Ninh (Tây Sơn); hồ Núi Một (Vân Canh - An Nhơn); hồVĩnh Sơn, hồ Định Bình (Vĩnh Thạnh) Ngoài ra Bình Định còn có mộtđầm nước ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ là Đề
Gi (Phù Mỹ - Phù Cát) và Thị Nại (Tuy Phước - Quy Nhơn) Hệ thống hồđầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôitrồng thủy hải sản Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việcphát triển cảng biển tầm cở quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tếNhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Namhiện nay
- Hành chính:
Huyện An Nhơn có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 1 thị trấn
và 10 xã: Thị trấn Bình Định, xã Nhơn Hưng, xã Đập Đá, xã Nhơn Thành,
xã Nhơn Hòa, xã Nhơn An, xã Nhơn Phong, xã Nhơn Hạnh, xã Nhơn Hậu,
xã Nhơn Mỹ, xã Nhơn Khánh, xã Nhơn Phúc, xã Nhơn Lộc, xã Nhơn Tân,
xã Nhơn Thọ
Trang 12* Về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 2.1 Tuổi trung bình của nhóm các đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi Số lượng người Tỷ lệ (%) Tuổi trung bình của
đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Qua kết quả bảng trên cho thấy: Nhóm đối tượng nghiên
cứu từ 5 đến dưới 15 tuổi có 158 người (19,8%), nhóm 15-60 tuổi có 480
người (60,0%), nhóm trên 60 tuổi có 162 người (20,2%) Tuổi trung bình
của nhóm các đối tượng nghiên cứu là 37,63±1,37 tuổi Đối tượng nghiên
cứu có tuổi thấp nhất là 5 tuổi, cao nhất 70 tuổi
19.80%
60.00%
20.20%
Nhóm 5- (<15 tuổi) Nhóm 15-60 tuổi Nhóm > 60 tuổi
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các nhóm tuổi trong đối tượng nghiên cứu tại 2 xã
Nhận xét: Các đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm
15-60 tuổi (60,0%), nhóm từ 5 đến dưới 15 tuổi và nhóm trên 60 tuổi tương
đương nhau (19,8% & 20,2%)
Bảng 2.2 Tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu theo giới
(n 1 = n 2 = 400)
Trang 13Tỷ lệ(%)Nam 128/400 32,0 115/400 28,75 243/800 30,4
Nữ 272/400 68,0 285/400 71,25 557/800 69,6
Nhận xét: Do việc lựa chọn ngẫu nhiên các hộ trong gia đình, nam
giới chủ yếu đi lao động ở xa nên nữ giới chiếm đại đa số trong nhómnghiên cứu: Nam có 243/800 người (30,4%), nữ có 557/800 người (69,6%).Việc lựa chọn như vậy tương đương ở cả hai xã
30.40%
69.60%
Nam Nữ
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu theo giới chung tại 2 điểm
nghiên cứu Nhận xét: Tỷ lệ chung theo giới của các đối tượng nghiên cứu tại 2
địa điểm: Nam (30,4%), nữ (69,6%)
2.2.1.2 Đặc điểm của nhóm bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó tại
2 điểm nghiên cứu
Bảng 2.3 Tỷ lệ xét nghiệm ELISA (+) và tăng bạch cầu ái toan tại 2 xã
Trang 14Nhơn Phong 71/400 17,75 77/400 19,25
Nhận xét: * Về tỷ lệ xét nghiệm ELISA dương tính: xã Nhơn Hưng có
55/400 trường hợp xét nghiệm dương tính (13,75%), xã Nhơn Phong có 71/400trường hợp xét nghiệm ELISA dương tính (17,75%), tại 2 điểm nghiên cứu có126/800 trường hợp xét nghiệm ELISA dương tính, chiếm tỷ lệ 15,75%
* Về tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan: xã Nhơn Hưng có 65/400 trường
hợp được xét nghiệm (16,25%), xã Nhơn Phong có 77/400 trường hợp xétnghiệm (19,25%), tại 2 điểm nghiên cứu có 142/800 trường hợp có tăngbạch cầu ái toan, chiếm tỷ lệ 17,75%
Bảng 2.4 Mức độ huyết thanh dương tính đọc theo mật độ quang (OD)
Nhận xét: Mức độ huyết thanh dương tính chủ yếu ở mức thấp
(72,2%), mức OD/ngưỡng lớn hơn hoặc bằng 2 chỉ chiếm 6,4%
Bảng 2.5 Tỷ lệ người bị bệnh tại 2 điểm nghiên cứu
Nhận xét: Tiến hành xét nghiệm 800 người tại 2 điểm nghiên cứu
(mỗi điểm 400 người), có 126 người bị bệnh và 674 người không bị bệnh
Xã Nhơn Phong có 71/400 người bị bệnh, xã Nhơn Hưng có 55/400 người
Trang 15bị bệnh Kết quả tính toán cho thấy χ 2 = 5,5 > 3,84 nên tỷ lệ người bị bệnh
ở 2 xã khác nhau có giá trị thống kê ở mức ý nghĩa 0,05
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn so với
kết quả nghiên cứu của Hoàng Đình Đông tại Thành phố Hồ Chí Minh là
20% [4] Theo Paludo, tỷ lệ người bị bệnh là 28,8%, chủ yếu gặp trẻ em từ 7
tháng tới 5 tuổi (p=0,0016) [22] Theo Cristiane M colli, tỷ lệ nhiễm giun
đũa chó trên người là 51,6% [11] Tại Hàn Quốc, tỷ lệ huyết thanh dương
tính với kháng thể ấu trùng giun đũa chó ở người trưởng thành tại nông thôn
là 5% [14]
Theo Mario Lettieri Teixeira và cs (2008), nghiên cứu tại Brazil, cho
thấy trẻ em thường bị nhiễm bệnh giun đũa chó nhiều hơn người lớn, tỷ lệ
nhiễm chung là 28% [18]
Bảng 2.6 Tỷ lệ người bị bệnh tại 2 điểm nghiên cứu theo giới
Nhận xét: Hai điểm nghiên cứu 126 người bị bệnh, trong đó có 43
nam, 83 nữ Kết quả tính toán cho thấy χ 2 = 4,5 > 3,84 nên tỷ lệ người bị
bệnh ở 2 giới khác nhau có giá trị thống kê ở mức ý nghĩa 0,05
2.2.1.3 Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó theo các nhóm
Trang 16Nhận xét: Tỷ lệ bị bệnh/không bị bệnh theo các nhóm tuổi tại cộng
đồng: Tại xã Nhơn Phong, tỷ lệ nhóm bị bệnh (17,75%), không bị bệnh(82,25%), tỷ lệ bị bệnh/không bị bệnh (21,58%) Tại xã Nhơn Hưng, tỷ lệ bịbệnh (13,75%), tỷ lệ không bị bệnh (86,25%), tỷ lệ bị bệnh/không bị bệnh(15,94%)
Bảng 2.8 Tuổi trung bình của nhóm đối tượng bị bệnh
của bệnh nhân
X=39,46±3,47tuổi
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân từ 5 đến dưới 15 tuổi có 23 người
(18,25%), nhóm 15-60 tuổi có 71 người (56,34%), nhóm trên 60 tuổi có 32người (25,41%) Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 39,46±3,47 tuổi,tuổi thấp nhất là 5 tuổi, tuổi cao nhất là 70 tuổi
Trang 1756.34%
25.41%
Nhóm 5- (<15 tuổi) Nhóm 15-60 tuổi Nhóm > 60 tuổi
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ người bị bệnh theo các nhóm tuổi tại cộng đồng Nhận xét: Nhóm bệnh nhân bị bệnh chủ yếu gặp ở lứa tuổi 15-60
tuổi (56,34%), nhóm 5-15 tuổi (18,25%), nhóm trên 60 tuổi (25,41%)
Kết quả này cũng phù hợp với một số kết quả nghiên cứu khác,nhưng theo Nguyễn Văn Chương và cộng sự không thấy có sự khác biệt về
tỷ lệ nhiễm giữa trẻ em và người lớn Theo Lê Trần Anh và cộng sự nghiêncứu trên 47 bệnh nhân tại Bệnh viện 103, tuổi trung bình của nhóm nghiêncứu là 32,66±13,86 tuổi, gặp chủ yếu ở tuổi 20-50 (74,47%) Trẻ em dưới
10 tuổi chỉ có 2 bệnh nhân (4,3%) [1] Nhiều tác giả cho rằng, trẻ em cónguy cơ nhiễm cao hơn người lớn, nguyên nhân là là do trẻ em thường haynghịch đất cát, mút tay, chơi đùa hoặc bồng bế chó/mèo nhưng kết quảnghiên cứu của chúng tôi lại ngược lại, người lớn có tỷ lệ nhiễm cao hơn.Tuy nhiên, việc lý giải của một số tác giả về vấn đề trẻ em có tỷ lệ nhiễmcao hơn người lớn do thói quen bồng, bế chó/mèo có nhiều vấn đề chưathống nhất Theo chu kỳ sinh học của giun đũa chó/mèo, khoảng từ ngàytuổi thứ 11 đến ngày thứ 21, số giun trưởng thành tăng trong ruột non vàsau 3 tuần, trứng bắt đầu xuất hiện trong phân chó con Lúc này, chó mẹ cóthể nuốt phân chó con, nếu trứng chưa có phôi thì chính chó mẹ lại thải cơ
Trang 18học một lượng lớn trứng trong phân Khi tiếp xúc với không khí, với môitrường ngoài, trứng phát triển đến AT giai đoạn 1, kế đó là AT giai đoạn 2nằm trong vỏ trứng Thời gian này mất khoảng 12 ngày hoặc hơn tùy điềukiện môi sinh Như vậy, để trứng của giun đũa chó/mèo lây truyền sangngười phải ở giai đoạn ấu trùng giai đoạn 2, tức là mất khoảng 12 ngày saukhi phân chó/mèo được thải ra ngoài môi trường Như vậy, việc lý giải trẻ
em có tỷ lệ nhiễm cao hơn người lớn phải chăng do các yếu tố như đất, cát,phân chó…
Người được xem là vật chủ tình cờ của Toxocara canis và liên quan
đến chu kỳ của bệnh tiêu hóa phải trứng từ môi trường Các trứng bị nhiễmđào thải bởi chó đã được phân lập trong các sân vườn, công viên các nơi
vui chơi công cộng Trứng Toxocara spp có thể tồn tại trong đất vài tháng đến vài năm, lệ thuộc vào môi trường Một điều đáng chú ý, Toxocara canis nhiễm vào trong các vật chủ chó tại các vùng nhiệt đới và ôn đới trên
thế giới, ngoại trừ các vùng có vĩ độ bắc hơn 600 Một yếu tố nguy cơ quantrọng của bệnh giun đũa chó/mèo là thói quen ăn đất (geophagia) hay ănchất bẩn Các trẻ em thường bị nhiễm bệnh vì chó con có tỷ lệ nhiễm
Toxocara spp cao hơn [7].
Trang 192.2.1.4 Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó theo giới
Bảng 2.9 Tỷ lệ bệnh nhân theo giới tại cộng đồng
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
- Xã Nhơn Phong: Nam bị bệnh (6,5%), nữ bị bệnh (11,25%)
- Xã Nhơn Hưng: Nam bị bệnh (4,25%), nữ bị bệnh (10,38%)
34.13%
65.87%
Nam bị bệnh
Nữ bị bệnh
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ nhóm bệnh nhân bị bệnh theo giới
Nhận xét: Trong nhóm bệnh nhân bị bệnh tại cộng đồng: Nam giới
có 43/126 người bị bệnh (34,13%), nữ giới có 83/126 người bị bệnh(65,87%)
Trang 20Trong nghiên cứu này, có sự khác biệt về tỷ lệ huyết thanh dương
tính với Toxocara spp giữa nam và nữ, nữ có tỷ lệ huyết thanh dương tính
cao gấp hai lần so với nam giới Tuy nhiên, trong đối tượng nghiên cứu sốlượng nữ tham gia nghiên cứu cũng cao hơn gần gấp đôi so với nam giới(Nam: 243 người, nữ: 557 người), do vậy sự khác biệt này không có ýnghĩa thống kê Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của LêTrần Anh tại Bệnh viện 103 cho thấy tỷ lệ nam bị bệnh là 44,68%, nữ bịbệnh là 55,32%, tác giả đã lý giải về sự chênh lệch này là do mày đay mãntính chủ yếu ở nữ giới, theo một số tác giả khoảng 75% bệnh nhân mày đaymãn tính là nữ giới [1] Mặc dù cơ chế của sự khác biệt này là chưa rõ,nhưng những bệnh nhân có cơ chế tự miễn thường gặp hơn ở phụ nữ.Nghiên cứu của Humphreys, Hunter (1998) trên 390 bệnh nhân mày đaythấy có 61% là phụ nữ; kết quả nghiên cứu của Chia-Kwung Fan và cs(2010) có 90 trường hợp bị bệnh (33 nam, 57 nữ) [16] Kết quả nghiên cứucủa Sviben M và cộng sự (2009), không có sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm
Toxocara spp giữa nam và nữ (nam: 32,1%; nữ: 29,7%) [136]; Damian
MM và cộng sự (2007), tỷ lệ mắc bệnh của nam (47,0%), nữ (53,0%); Liao
CW và cộng sự (2010), tỷ lệ mắc bệnh của nam (46,9%), nữ (41,8%) [11].Theo Luca M và cộng sự, nhóm 3-7 tuổi (46,9%), nam giới (53,5%), khuvực nông thôn (54,3%), khu vực thành thị (45,6%) [17] M Demirci và cs(2010), trẻ em nam bị nhiễm bệnh cao hơn so với trẻ em nữ (41,97% so với20,94%) [19] Theo Mohammad Taghi Rahimi và cs (2013), nam bị bệnh(60,0%), nữ bị bệnh (40,0%) [20]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương và cộng sự về
tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo Toxocara spp tại một số điểm
của tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi (2011), tỷ lệ huyết thanh dương tính
với Toxocara spp tại 2 xã Điện An và Duy Trinh, tỉnh Quảng Nam và 2 xã