Đặc biệt ở tuổi vị thành niên, khi tâm sinh lý đang phát triển mạnh mẽ,trẻ em rất dễ bị tác động bởi môi trường, gia đình và xã hội, phát sinh các rốiloạn như: rối loạn hành vi, rối loạn
Trang 1PHẠM THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM TRÍ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI HUYỆN VŨ THƯ – TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN YTCC
KHÓA 2009 – 2013
HÀ NỘI - 2013
Trang 2PHẠM THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM TRÍ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI HUYỆN VŨ THƯ – TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2012
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN YTCC
KHÓA 2009 – 2013
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Hoàn
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chânthành tới: Đảng ủy, Ban Giám Hiệu, Phòng đào tạo trường Đại học Y Hà Nội
đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được học tập, rèn luyện và phấn đấu trongsuốt bốn năm qua
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa
và toàn thể các thầy cô giáo trong Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế côngcộng – Trường Đại học Y Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện cho em hoànthành luận văn này
Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Hoàngiảng viên bộ môn Sức khỏe môi trường – Trường Đại học Y Hà Nội, cô đãhết lòng dìu dắt, hướng dẫn và giúp đỡ em thực hiện luận văn này
Tự đáy lòng mình em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cha mẹ và nhữngngười thân trong gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất, luôn động viên, khuyếnkhích và là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của em trong suốt hơn 20 năm qua
Cuối cùng em xin cảm ơn tới các anh, các chị, các bạn luôn giúp đỡ,động viên, khuyến khích để em hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOANKính gửi:
Phòng Đào Tạo – Trường Đại học Y Hà Nội.
Viện Đào Tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn một cách khoahọc, chính xác, trung thực, các kết quả, số liệu trong luận văn này đều là sựthật và chưa được đăng tải trên tài liệu khoa học nào Nếu có bất kì sai sót nào
em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Hương
Trang 5CSSK : Chăm sóc sức khỏe
SKTT : Sức khỏe tâm trí
THPT : Trung học phổ thôngVTN : Vị thành niên
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các rối loạn sức khỏe tâm trí(SKTT) hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong gánh nặng bệnh tật hiện tại Theobáo cáo năm 2001 của Tổ chức Y tế Thế giới, những rối loạn này chiếmkhoảng 12% trên tổng số gánh nặng bệnh tật [8]
Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng chỉ ra tỷ lệ học sinh có vấn đề
về SKTT dao động từ 8- 21% [12], [16]
Đặc biệt ở tuổi vị thành niên, khi tâm sinh lý đang phát triển mạnh mẽ,trẻ em rất dễ bị tác động bởi môi trường, gia đình và xã hội, phát sinh các rốiloạn như: rối loạn hành vi, rối loạn cảm xúc quá mức với cấp độ khác nhaunhư sự chống đối, gây rối trong gia đình và ngoài xã hội, trốn học, bỏ học,
bỏ nhà, trộm cắp, ma túy, mại dâm, bạo lực [20]
Thực tế những năm gần đây, rất nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏetâm trí học sinh trường học đã và đang nổi lên cần có sự quan tâm thích đáng
và các giải pháp hành động của toàn xã hội, đó là do cuộc sống có nhiều biếnđộng sinh ra các stress, tâm trí con người dễ bị rối loạn, đặc biệt là ở lứa tuổihọc sinh trung học phổ thông (THPT), các em có nhiều thay đổi về sinh lýcũng như tâm lý, đó là giai đoạn có nhiều biến đổi nhất trong cuộc đời (các
em buộc phải chọn ngành nghề cho tương lai, các em có những tình cảm mớilớn), hơn nữa bên cạnh những tác động từ chính nội tâm của các em cộngthêm những tác động từ bên ngoài ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý của các
em, ví dụ như các mối quan hệ, những yêu cầu của gia đình, thầy cô, nhàtrường, xã hội Đó là những nguyên nhân gây ra nhiều thay đổi trong tâm tư,tình cảm của các em, nếu những sự thay đổi đó không kiểm soát được sẽ sinh
ra những rối loạn về mặt tâm lý cho các em
Trang 7Trong nhà trường cũng luôn luôn có một tỷ lệ học sinh có vấn đề vềsức khỏe tâm trí, có 19,46% học sinh có rối nhiễu về tâm lý trong tổng sốhọc sinh các cấp học, lam dụng chất gây nghiện đang tăng nhanh chóng,trong số các ca tự sát, 10% ở độ tuổi 10- 17 [8] Theo nghiên cứu của HoàngCẩm Tú và Đặng Hoàng Minh nghiên cứu trên học sinh ở hai trường THPTNguyễn Trãi (Hà Nội) và Vân Tảo (Hà Nội) cho thấy trẻ mắc các vấn đề vềsức khỏe tâm trí chiếm 22,55% [13].
Tình hình sức khỏe tâm trí ngày càng phổ biến và đáng báo động, đòihỏi Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và các cấp chính quyền có sự quan tâm chặt chẽ
Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc khu vực sông Hồng hiện naychưa có nghiên cứu nào về vấn đề SKTT học sinh Vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: " Thực trạng sức khỏe tâm trí học sinh trường THPT Nguyễn Trãi – Huyện Vũ Thư – Tỉnh Thái Bình năm 2012” với
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Sức khỏe
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “sức khỏe là một trạng thái hoàntoàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ bao gồmtrạng thái không có bệnh hoặc thương tật” [5]
1.1.2 Sức khỏe tâm trí
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩaTheo từ điển tâm lý học, sứckhỏe tâm trí “là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có cácbiểu hiện rối loạn về tâm trí, một trạng thái đảm bảo cho sự điều khiển hành
vi, hoạt động phù hợp với môi trường” [26]
Ở Việt Nam, khái niệm sức khỏe tâm trí, sức khỏe tinh thần và sứckhỏe tâm thần thường được dùng lẫn lộn với nhau nhưng với ý nghĩa nhưnhau Trong tiếng Việt từ tâm thần mang rất nhiều định kiến vì nó gắn liền vớinhững bệnh tâm thần nặng như tâm thần phân liệt, động kinh (điên, cuồng, lêncơn giật) nên những nhà tâm lý thường sử dụng từ sức khỏe tâm trí nhằm làmgiảm nhẹ những định kiến xã hội với sức khỏe tâm thần [11]
Quan niệm về SKTT trẻ em ngày nay được xem là một thể liên tục từphát triển tâm lý bình thường về các mặt đến bất thường bệnh lý, từ nhẹ đếnnặng, có tính chất nhất thời hoặc kéo dài, bao gồm các trạng thái:
SKTT tốt: đạt các mốc phát triển tâm lý trong giai đoạn của lứa tuổi
mình và không có biểu hiện lệch lạc
SKTT bị tổn thương: không chỉ bó hẹp ở một tỷ lệ nhỏ các rối loạn
tâm thần (10- 20%) như những bệnh tâm thần nặng, mạn tính hoặc các khuyết tật
về tâm thần, mà còn bao gồm các trạng thái không thoải mái về tâm lý do căng
Trang 9thẳng bởi các stress tâm lý từ phía môi trường sống gia đình, trường học, cộngđồng xã hội
Như vậy, SKTT của một người được đánh giá tốt bao gồm:
Có cảm giác sống thực sự thoải mái, tin vào giá trị bản thân và phẩmchất- giá trị của người khác
Có khả năng kiểm soát được cảm xúc tình cảm, nhận thức hành vi, ứng
xử để vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống
Có khả năng tạo dựng, phát triển và duy trì các mối quan hệ thích hợp
Có khả năng tự hàn gắn sau các choáng tâm lý hay stress
Hiện nay xã hội phát triển quá nhanh, tạo cho con người nhiều áp lựccần giải tỏa, nhiều điều xã hội đòi hỏi con người không thể đáp ứng [4]
1.1.3 Khái niệm rối loạn sức khỏe tâm trí
Tổ chức Y tế thế giới cho rằng các vấn đề sức khỏe tâm trí bao gồm rấtnhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng với nhiều triệu chứng phong phú.Tuy nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp củanhững suy nghĩ cảm xúc, hành vi lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệchlạc, ví dụ như trầm cảm, lo âu, stress đến chậm phát triển và những rối loạnliên quan đến lạm dụng chất gây nghiện [28] Rối loạn SKTT là một tình trạngsức khỏe do bị rối loạn các chức năng nhận thức, cảm xúc, xã hội Một ngườiđược coi là có vấn đề về SKTT khi được những người có chuyên môn y tếcông nhận như bác sĩ tâm thần, cán bộ tâm lý lâm sàng [11]
1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lý giai đoạn vị thành niên (10- 19 tuổi)
Lứa tuổi vị thành niên là một giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển từtuổi ấu thơ sang người lớn [18]
Đây là giai đoạn đặc biệt duy nhất của con người, nó được đánh dấubằng những thay đổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ giản đơn sang phức tạp baogồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ
xã hội nhằm đáp ứng các nhiệm vụ phát triển
Trang 10Nhưng đây cũng là giai đoạn nảy sinh nhiều rối nhiễu tâm lý nhất sovới các lứa tuổi khác Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vị thành niên nằmtrong độ tuổi từ 10- 19 tuổi [18]
Các nhà sinh lý, tâm lý chia lứa tuổi vị thành niên thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn vị thành niên sớm tương đương với tuổi thiếu niên:
và là thời kì phát triển diễn ra những thay đổi cơ bản về thể chất, cũng nhưtinh thần, nhân cách
Thời kì vị thành niên được đặc trưng bởi sự phát triển nhanh cả về trítuệ lẫn thể lực Giai đoạn phát triển thể lực này chỉ kém tốc độ phát triển củabào thai và những năm đầu của trẻ Thời kì vị thành niên cũng đánh dấu sựphát triển lớn về mặt xã hội các em có xu hướng thoát ly gia đình, ham muốntìm hiểu khám phá xã hội để hòa nhập vào [4]
Trang 11Bảng 1.1 Đặc điểm các giai đoạn của tuổi vị thành niên [18]
Đặc điểm Giai đoạn đầu
VTN (10- 13 tuổi)
Giai đoạn giữa VTN (14- 16 tuổi)
Giai đoạn cuối VTN (17- 19 tuổi) Phát triển sớm ˖ Tính sinh dục
thứ yếu phát sinh,phát triển
˖ Độ lớn tăng nhanh đến điểm cao nhất
˖ Hành kinh và sinh tinh
˖ Tính sinh dục thứ yếu phát triển
˖ Độ lớn giảm dần
vì đã đạt khoảng 95% mức người
˖ Hành kinh và sinh tinh
˖ Xuất hiện các rung động tình dục
˖Cơ thể đã trưởngthành
˖Nữ giới hầu hết đều có kinh
˖ Suy nghĩ trìu tượng hơn
˖ Cân nhắc việc lâu dài
˖ Quay lại tư duy trìu tượng khi bị sức ép
˖ Đã hình thành
tư duy trìu tượng
˖ Hướng tới tương lai
˖ Nhận thức định hướng lâu dài
˖ Chủ quan và chống đối
Tâm lý xã hội ˖ Vấn vương bận
bịu vì thân hình phát triển nhanh quá
˖ Quan tâm nhiều đến cơ thể
˖ Hình ảnh đẹp đẽcủa con người
˖ Mơ mộng và lý tưởng hóa
˖ Cảm giác toàn năng
˖ Xác định việc hình thành trí tuệ
và các chức năng
tư duy
Trang 12Gia đình ˖ Xác định ranh
giới của sự độc lập và phụ thuộc
˖ Xung khắc, xung đột và kiềm chế, nhẫn nhịn
˖ Tách dần ra khỏivòng tay cha mẹ
˖ Chuyển đổi quan
hệ cha mẹ, con cái
˖ Hình thành quan
hệ người lớn
Nhóm đồng đẳng ˖ So sánh mình
với các bạn cùng lứa
˖ Tìm kiếm tính
ổn định
˖ Xác định nhu cầu để khẳng định bản thân mình
˖ Nhóm cùng tuổi xác định cách cư xử
˖ Nhóm cùng tuổi thoát ly dần để nhường chỗ cho tình bạn
Tình dục ˖ Tự tiến tới và tự
đánh giá
˖ Tò mò muốn biết rõ
˖ Tự tìm hiểu
˖ Vấn vương những chuyện mơtưởng lãng mạn, khả năng hấp dẫnngười khác giới
˖ Hình thành quan
hệ bền vững giúp
đỡ lẫn nhau: quan
hệ hai chiều và kếhoạch cho tương lai
˖ Tránh áp đặt
˖ Hướng về lý tưởng sống
Đối với trẻ em lứa tuổi vị thành niên đang trong giai đoạn hình thànhnhân cách, cá tính, do đó tính sĩ diện, háo thắng của trẻ rất lớn nhưng cũng rất
dễ bị tổn thương Ở giai đoạn này các em phải đối diện với rất nhiều vấn đềmới mẻ, đặc biệt là ở lứa tuổi vị thành niên nhu cầu giao tiếp với bạn bè được
Trang 13thể hiện ở mức độ lớn nhất so với những giai đoạn khác trong cuộc đời conngười [25] Ở giai đoạn này các em bắt đầu có những hành động, những biểuhiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu như: nhu cầu hiểu biết về những thay đổitrong cơ thể bản thân, nhu cầu đánh giá người khác về mình, nhu cầu đượcthông cảm và chia sẻ, nhu cầu khẳng định chính mình Chính vì vậy, ở lứatuổi này các em hay có những suy nghĩ và hành động cực đoan, những vấpngã chết người, hoặc phát sinh rối nhiễu tâm lý, dưới con mắt của người lớn,đây là tuổi “khó bảo”, tuổi “chống đối”, hay “nổi loạn”, vì vậy các em thườngthử những hành vi nguy hại và những hoạt động ảnh hưởng đến sức khỏe [4].
Tuổi vị thành niên thường xảy ra những khủng hoảng về tâm lý Mức độthể hiện cũng như giải quyết khủng hoảng của mỗi thiếu niên phụ thuộc mộtphần tố chất của người đó và phần lớn vào các giá trị mà người đó có được từmôi trường xã hội, nhóm xã hội đầu tiên- gia đình, trực tiếp nhất là bố mẹ Bố
mẹ thường đóng vai trò như những nhân vật lý tưởng Trong giai đoạn này nếuthiếu niên phát hiện những giá trị mình có mâu thuẫn với giá trị chuẩn mực của
xã hội, đương nhiên sẽ kéo theo cuộc khủng hoảng trầm trọng [4]
Nhóm bạn bè không chính thức cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi vànhân cách của người chưa thành niên Giới trẻ chịu tác động của bạn bè cùngtrang lứa là mạnh nhất, thích dành sự nể trọng của nhóm hơn là của gia đình,
xã hội [4]
Vị thành niên rất cần sự cảm thông chia sẻ, sự hiểu biết đồng cảm củangười lớn, cha mẹ, bạn bè Đây là giai đoạn mà các em thường tò mò và haythử những hành vi tương đối nguy hại Do bản tính tò mò, ham hiểu biết, các
em tiếp nhận thông tin qua mạng, qua sách báo, phim ảnh một cách ồ ạt, thiếuchọn lọc, không phân biệt tốt xấu Thêm vào đó, việc thiếu khả năng điềuchỉnh thông tin dẫn đến việc các em hành xử tự phát, vô ý thức, không phùhợp với những quy tắc, chuẩn mực của xã hội và trái với phát luật Tuy hầu
Trang 14hết vị thành niên bước qua giai đoạn chuyển đổi mà không gặp trở ngại khókhăn gì nhưng cũng có một số vị thành niên tham dự vào những hành vi vàhoạt động gây tổn hại đến sức khỏe Chúng ta cần nỗ lực phòng ngừa nhữnghành vi nguy hiểm của các em bằng cách nỗ lực phòng ngừa các vấn đềSKTT cho vị thành niên [4].
1.2 Tình hình sức khỏe tâm trí trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sức khỏe tâm trí trên thế giới
Rối loạn SKTT là một trong những gánh nặng bệnh tật cho các xã hội Những năm gần đây các quốc gia trên thế giới đều lo ngại tỷ lệ này giatăng, đặc biệt là số lượng những trẻ em và vị thành niên trải nghiệm nhữngkhó khăn, có những biểu hiện có vấn đề SKTT trong quá trình phát triển,trong quá trình học tập và trong cuộc sống nói chung
Theo ước tính của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, trên 25% dân số thế giới bịrối loạn tâm trí và hành vi tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời [27]
Ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu thấy rằng áp lực từ kì thi chuyểncấp và gánh nặng học tập có liên quan đến tình trạng sức khỏe tâm trí kém ởcác học sinh Trung Quốc [22], không những thế áp lực học tập cao cũng cóthể dẫn đến bạo lực và các vấn đề phát triển [23]
Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại, luôn biến động và pháttriển không ngừng Những tiến bộ khoa học- kĩ thuật đem lại cho con ngườinhiều thành tựu trong sản xuất, lao động, nâng cao đời sống vật chất – tinhthần, đáp ứng nhu cầu của con người Con người không phải lao động cơ bắpvất vả, nặng nhọc, có nhiều thời gian để vui chơi giải trí, tuổi thọ của conngười cũng gia tăng Công việc lao động trí óc cũng được thay thế bằng máytính, công nghệ thông tin phát triển, có thể sử dụng các dịch vụ hết sức thuậntiện qua internet
Trang 15Hiện nay, tình trạng học sinh sử dụng máy tính cho mục đích chơigame ngày càng tăng Nghiện game online ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏetâm trí, kết quả học tập cũng như toàn bộ sinh hoạt trong cuộc sống của các
em [4]
Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại cũng đặt con người trước những tháchthức lớn Cuộc sống gấp gáp, công việc bận rộn, luôn phải cạnh tranh kiếm vịtrí trong xã hội làm cho tinh thần con người luôn trong trạng thái căng thẳng.Ngoài ra dân cư tập trung đông đúc trong các đô thị lớn – nơi được coi là dễsống hơn nông thôn – làm cho đô thị bị quá tải, công trình đô thị và các dịch
vụ xã hội không đáp ứng kịp, kèm theo môi trường ô nhiễm, điều này cũnggây ra những ảnh hưởng xấu đến SKTT của học sinh
Vì vậy, trên thế giới có tới 7- 10% trẻ em và thanh thiếu niên mắc phảicác rối loạn về SKTT cần điều trị Tỷ lệ này cao hơn ở các vùng đô thị đôngdân có nhiều yếu tố xã hội không thuận lợi, đặc biệt ở tuổi dậy thì Nhữngtrạng thái tâm lý bệnh học trẻ em thường gặp là: Hành vi gây rối và chống đối
xã hội (những rối loạn bên ngoài) có tỷ lệ mắc là 3- 5%, rối loạn cảm xúc(những rối loạn bên trong) có tỷ lệ gặp 2- 5%, những trở ngại tâm lý và rốiloạn dạng cơ thể chiếm 1- 3% Hiếm gặp hơn là các rối loạn tâm thần trẻ em vàrối loạn sự phát triển nói chung (bệnh tự kỉ) gặp 0,1% [24]
Những rối loạn về hành vi gây rối và chống đối xã hội thường gặp ở trẻtrai nhiều gấp 2 đến 3 lần trẻ gái Tỷ lệ giữa nam và nữ tương đồng hơn với cácrối loạn cảm xúc
Trang 161.2.2 Tình hình sức khỏe tâm trí ở Việt Nam
Ở các nước phát triển, mặc dù có hệ thống cơ sở hỗ trợ tâm lý và chămsóc sức khỏe thể chất và tinh thần lâu đời và phong phú, nhưng hầu hết các trẻ
em có nhu cầu hỗ trợ SKTT đều không được đáp ứng thỏa đáng [12]
Ở Việt Nam vấn đề sức khỏe tâm trí trẻ em mới bước đầu được dư luậnchú ý qua các nghiên cứu và các hội thảo từ năm 2004 trở về sau Một số cácnghiên cứu cũng đã bước đầu đánh giá tỉ lệ học sinh có vấn đề về SKTT vàthử nghiệm can thiệp (Ngô Thanh Hồi và cộng sự [9]; Hoàng Cẩm Tú vàcộng sự, 2004 [13]; Lê Thị Kim Dung, Lã Thị Bưởi 2007 [3]; Văn Thị KimCúc [1], Hoàng Cẩm Tú [19]) Tuy nhiên vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm trítrẻ em trong nhà trường vẫn chưa được quan tâm đúng mức Một số trườnghọc đã có trung tâm tư vấn, hỗ trợ tâm lý như: một số trường phổ thông nhưtrường dân lập Đinh Tiên Hoàng, trường THPT Trần Hưng Đạo, trườngTHPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội), Khánh Hội A (TP HCM) Tuy nhiên,trung tâm tư vấn hoạt động còn đơn lẻ, chưa có tính hệ thống và chưa đượcpháp luật và thể chế giáo dục, y tế, xã hội quy định [12] Nghiên cứu tại HàNội, trong 21.960 thanh niên đã phát hiện 3,7% các em có rối loạn hành vi[7]
Theo một khảo sát cắt ngang tại Việt Nam tỷ lệ học sinh có vấn đề vềSKTT ở trường học là 15,94%, khảo sát cắt dọc trong một năm học là 1,6%các em có rối nhiễu về tâm lý trong tổng số học sinh các cấp học [14] Khảosát sức khỏe tâm trí học sinh trường trung học thành phố Hà Nội bằng công
cụ SDQ của Tổ chức Y tế thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫunghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở trong độ tuổi 10-
16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm trí chung là 19,46% Tỷ lệnày đối với nam, nữ không có gì khác biệt, những khó khăn về ứng xử trongnghiên cứu chiếm 9,23% [8]
Trang 17Đặng Hoàng Minh, Hoàng cẩm tú, năm 2009 sử dụng công cụ YSRthực hiện khảo sát trên 1727 học sinh lứa tuổi 11- 15 tuổi ở hai trường trunghọc cơ sở ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần là10,94% [13].
Gần đây, bộ GD – ĐT đã có hướng dẫn các trường triển khai tư vấnviệc làm và các vấn đề tâm lý xã hội trong các trường Tuy vậy, vấn đề nhân
sự cho công tác này cũng chưa được quy định và công nhận hợp pháp, cáctrường cũng chưa có biên chế cho các chuyên gia tâm lý để thực hiện nhiệm
vụ này Như vậy, để xây dựng một mô hình chăm sóc SKTT trong nhà trườngmột cách đồng bộ, cần có sự đầu tư về thời gian, tài chính, công sức, bao gồmcác yếu tố như đội ngũ cán bộ và tập huấn cán bộ, nâng cao nhận thức vềSKTT, phối hợp liên ngành
Trong sự phát triển sức khỏe toàn diện của trẻ em, việc chăm sóc sứckhỏe (CSSK) thể chất tạo điều kiện cho trẻ em phát triển thể lực cường tráng,giảm khả năng mắc bệnh, tránh được nguy cơ tử vong do bệnh tật ViệcCSSK tâm trí đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển năng lực trí tuệ, tạo
ra sự cân bằng về cảm xúc tình cảm, tính tự lập, tự tin, niềm tin yêu cuộcsống, tin yêu con người của mỗi đứa trẻ Đó là nền tảng để mỗi đứa trẻ có thểphát huy được tiềm năng của chúng, xây dựng được một nhân cách lànhmạnh, làm việc có sáng tạo Đó cũng là động lực để tăng sức đề kháng với cácyếu tố xã hội bất lợi Công cuộc CSSK tâm trí cho trẻ em là một lĩnh vựckhoa học liên ngành, kết hợp y học, tâm lý học, giáo dục học, xã hội học [12]
Một dẫn chứng cụ thể của việc trẻ vị thành niên bị rối nhiễu tâm lý dẫnđến hành vi tự tử đó là trường hợp tự tử tập thể của năm nữ sinh còn đangtrong độ tuổi vị thành niên ở tỉnh Hải Dương vào ngày 24/5/2007 [17]
Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tốc độ nhanh chóng đã làmnảy sinh nhiều tác động lớn và làm tổn thương SKTT trẻ em, dẫn đến các rối
Trang 18loạn stress, trầm cảm, tự tử, hành vi chống đối Các hiện tượng trên ngày mộtgia tăng, thậm chí còn lên mức báo động và trở thành mối lo ngại chung chotừng gia đình, tổ chức, nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới Ở ViệtNam, với sự biến đổi của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa, mở rộnggiao lưu văn hóa liên quốc gia, mỗi người dân nói chung và trẻ em nói riêngđòi hỏi phải theo kịp sự phát triển của xã hội Nảy sinh mâu thuẫn quan điểmgiữa các thế hệ, mâu thuẫn giữa nhu cầu bản thân và sự đáp ứng của xã hội,gia đình; cấu trúc gia đình bị phá vỡ, chuẩn mực xã hội thay đổi Đây lànhững stress tâm lý xã hội tác động không nhỏ đến tâm lý và gây tổn thươngSKTT của trẻ em vị thành niên [4].
Hiện nay ở nước ta đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu về rốinhiễu tâm trí ở tuổi vị thành niên Kết quả cho thấy tình trạng đã ở mức đáng
lo ngại Các rối loạn tâm trí thường biểu hiện dưới dạng: trầm cảm, lo âu,hoảng loạn, rối loạn hành vi Vụ việc các nữ sinh tự tử ở tỉnh Hải Dương mộtphần là do rối loạn hành vi, thường xảy ra với lứa tuổi từ 12- 17 Trong mộtthời điểm nào đấy, các em không đánh giá được hậu quả thực sự hành vi củamình Những điều này không mới với các bậc cha mẹ và thầy cô giáo, có điềungười lớn chưa chú ý đến những biểu hiện nguy cơ ở mức độ cần thiết, khi taihọa xảy ra thì đã muộn dù có cố gắng đi tìm nguyên nhân, tìm người chịutrách nhiệm [4]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Viết Thêm cho thấy tỷ lệ người dânmắc rối loạn tầm thần loại này hay loại khác chiếm khoảng 15- 20% dân số[15] Nghiên cứu dịch tễ học bệnh tâm thần của Trần Văn Cường cho kết quả2,8% dân số có biểu hiện trầm cảm, 2,6% dân số có biểu hiện lo âu, và rốiloạn hành vi ở thanh niên chiếm 0,9% dân số [2]
Các vấn đề sức khỏe tâm thần ở tuổi trẻ nếu không được quan tâm phòngngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại nhiều hậu quả cho cá nhân, gia đình và xã
Trang 19hội Một trong những hậu quả nghiêm trọng của vấn đề là trẻ có thể có ý định
tự tử và thực hiện hành vi tự tử Vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có ảnh hưởnglớn tới mối quan hệ của cá nhân với cá thành viên trong gia đình, với bạn bè,ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập tại trường, năng suất lao động cũng như sựphát triển cá nhân Vì vậy, việc phòng ngừa, chăm sóc, điều trị sức khỏe tâmthần cho lứa tuổi học sinh có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn
1.3 Các phương pháp/công cụ đo lường/đánh giá sức khỏe tâm trí
Hiện nay có rất nhiều công cụ khác nhau được sử dụng trong nghiêncứu dịch tễ học tâm trí Có thể chia chúng ra làm hai loại:
Các bảng hỏi có cấu trúc dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD
10 hoặc DSM IV với hai bảng hỏi có cấu trúc nổi tiếng nhất là DIS và CIDI
Các bảng hỏi sàng lọc dựa trên thực chứng
Ba bộ công cụ được sử dụng nhiều nhất hiện nay là Bản tự thuật dànhcho trẻ tù 11- 18 tuổi (YSR), Bảng kiểm kê hành vi dành cho cha mẹ (CBCL)
và Bảng hỏi về những điểm mạnh và khó khăn (SDQ) Nếu chỉ tính đếnnhững bảng hỏi điều tra trực tiếp trên trẻ em thì hai bộ công cụ được sử dụngnhiều nhất là YSR và SDQ [11]
Tuy nhiên, để phù hợp với mục đích nghiên cứu thì chúng tôi sử dụng
bộ công cụ SDQ để đánh giá tình trạng SKTT học sinh
Đây là bộ công cụ sử dụng để đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần nóichung và vấn đề sức khỏe tâm thần về cảm xúc, hành vi, quá hiếu động, quan
hệ bạn bè, giao tiếp xã hội Bộ công cụ SDQ 25 được sử dụng trên 40 quốcgia trên thế giới cũng như một số nghiên cứu dịch tễ về SKTT ở lứa tuổi trẻ
em 4- 16 tuổi tại Việt Nam Bộ câu hỏi bao gồm các thước đo để đo lườngtình trạng sức khỏe tâm trí của trẻ về năm khía cạnh: biểu hiện cảm xúc, hành
vi, quá hiếu động, quan hệ bạn bè, quan hệ xã hội Cách cho điểm dựa vàotừng câu hỏi, điểm cao nhất trẻ đạt được là 40 điểm, thấp nhất là 0 điểm [6]
Trang 20Xác định vấn đề SKTT dựa trên tổng điểm chung của thang SDQ vàtổng điểm các mục như sau:
Bảng 1.1 Tính điểm bộ công cụ SDQ 25
Khôngđúng
Đúngmộtphần
Rấtđúng
16 Hồi hộp hoặc sợ sệt trong những
tình huống mới, dễ bị mất tự tin
7 Nhìn chung là ngoan ngoãn, luôn
làm điều người lớn sai bảo
12 Thường đánh nhau với những học
sinh khác hoặc la hét chúng
18 Hay nói dối, nói điêu 0 1 2
22 Lấy đồ của nhà, trường học hoặc nơi
khác
2 Bồn chồn, quá hiếu động, không ở
yên một chỗ được lâu
10 Liên tục bồn chồn hay lúc nào cũng 0 1 2
Trang 21bứt rứt
15 Dễ bị sao nhãng, thiếu tập trung 0 1 2
21 Đắn đo hoặc suy nghĩ trước khi
làm một việc gì
25 Làm những việc được giao từ đầu
đến cuối, thời gian chú ý cao
1 Quan tâm tới cảm xúc người khác 0 1 2
4 Sẵn sàng chia sẻ với những học sinh
20 Hay tự nguyện giúp đỡ những người
khác (bố, mẹ, thầy cô giáo, những
Trang 22Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá SKTT của học sinh do giáo viên điền trên
bộ câu hỏi SDQ:
Bình thường Nghi ngờ Có vấn đề SKTTSức khỏe tâm thần
chung
0- 11 điểm 12- 15 điểm 16- 40 điểm
Vấn đề cảm xúc 0- 4 điểm 5 điểm 6- 10 điểmVấn đề hành vi 0- 2 điểm 3 điểm 4- 10 điểmQuá hiếu động 0- 5 điểm 6 điểm 7- 10 điểmQuan hệ bạn bè 0- 3 điểm 4 điểm 5- 10 điểmQuan hệ xã hội 6- 10 điểm 5 điểm 0- 4 điểm
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường THPT Nguyễn Trãi– Huyện VũThư – Tỉnh Thái Bình
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2012 đến tháng 5/2013
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh trường THPT Nguyễn Trãi – Huyện Vũ Thư – Tỉnh TháiBình
Giáo viên chủ nhiệm các lớp được chọn vào nghiên cứu
Trang 232.3 Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ
Tiêu chuẩn lựa chọn học sinh:
Học sinh đang đi học tại trường
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ học sinh không tham gia vào nghiên cứu:
Những học sinh đã được xác định có mắc bệnh tâm thần hoặcthiểu năng trí tuệ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định lượng
2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.4.2.1 Cỡ mẫu:
Đây là một phần của đề tài nghiên cứu cấp bộ: “Nghiên cứu sức khỏetâm trí của học sinh trung học phổ thông và các yếu tố liên quan” với côngthức tính cỡ mẫu là:
p(1-p)n= Z2
(1-/2)
(p)2
Trong đó:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
p: là tỷ lệ học sinh có vấn đề về SKTT (p=0,15 lấy từ nghiên cứu của Nguyễn Viết Thêm)
: sai số tương đối
α: mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05 (tương ứng với độ tin cậy 95%)
Trang 24Z1-α/2: giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α được chọn như trên
Với độ tin cậy 95%: Z=1,96
Chọn p = 0,15; =0,25 ta có:
1,962x0,15x0,85
n= - = 349 học sinh (0,25x0,15)2
Như vậy theo công thức trên thì số học sinh tối thiểu của 1 trường cầnnghiên cứu là 349 học sinh Trên thực tế điều tra được 414 học sinh tại trườngTHPT Nguyễn Trãi
2.4.2.2 Cách chọn mẫu
Chọn khối: ba khối 10, 11, 12
Chọn lớp: mỗi khối chọn ngẫu nhiên ba lớp
Chọn học sinh: là chọn tất cả các học sinh của mỗi lớp được chọn
Chọn tất cả giáo viên chủ nhiệm các lớp tại trường vào nghiên cứu trảlời phiếu SDQ về tình hình sức khỏe tâm trí học sinh
2.4.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu
lịch
Giới Tỷ lệ nam/số học sinh
Tỷ lệ nữ/số học sinh
Trang 25Học lực Phân loại học lực học sinh của
nhà trường làm 3 loại: Giỏi, khá, trung bình và yếu theo quy định phân loại học lực học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hạnh kiểm Phân loại hạnh kiểm học sinh
của nhà trường làm 3 loại: Tốt, khá, trung bình và yếu theo phân loại hạnh kiểm học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Dân tộc Chia hai nhóm dân tộc kinh và
Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về quá hiếu động theo thang điểm bộ câu hỏi SDQ về sự hiếu động
Có vấn đề về quan hệ Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về
Trang 26bạn bè quan hệ bạn bè theo thang
điểm bộ câu hỏi SDQ về quan
hệ bạn bè
Có vấn đề về quan hệ
xã hội
Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về quan hệ xã hội theo thang điểm bộ câu hỏi SDQ về quan
hệ xã hội
Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến SKTT của học sinh
1 Yếu tố cá nhân Giới Tỷ lệ học sinh có vấn đề
SKTT theo giớiHọc thêm Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về
SKTT khi đi học thêm và không đi học thêm
Chơi thể thao Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về
SKTT khi chơi thể thao và không chơi thể thao
2 Yếu tố gia
đình
Nghề nghiệp của bố, mẹ
Tỷ lệ % học sinh có vấn đề SKTT khi bố, mẹ là công chức, nông dân, lao động tự do
Bố, mẹ sống cùng Tỷ lệ % học sinh có vấn đề
SKTT khi bố, mẹ sống cùng thường xuyên hay thường xuyên xa nhà
Bố, mẹ cãi nhau Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về
SKTT khi bố, mẹ có,không
Trang 27cãi nhau.
Bố, mẹ hoặc người lớn trong nhà đánh nhau
Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về SKTT khi bố, mẹ có, không đánh nhau
Thái độ của mọi người trong gia đình
Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về SKTT khi mọi người trong giađình rất yêu, bình thường và không yêu mến
Có người say rượu, bia đánh, mắng
Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về SKTT khi trong nhà có người say rượu, bia bị đánh hoặc không bị đánh
Thích giờ ra chơi Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về
SKTT khi thích giờ ra chơi và không thích giờ ra chơi
Bạn bè bắt nạt Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về
SKTT khi bị bạn bè bắt nạt vàkhông bị bạn bè bắt nạt
Nhà trường, thầy cô mắng, phạt
Tỷ lệ % học sinh có vấn đề về SKTT khi có bị và không bị nhà trường, thầy cô mắng, phạt
2.4.4 Kỹ thuật thu thập thông tin
Trang 28Nghiên cứu sẽ sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn theo bộ câu hỏi bán cấutrúc có sẵn và bộ câu hỏi SDQ đã được dịch ra tiếng Việt và đã được kiểm định.
Phỏng vấn học sinh theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn về các đặc điểm
cá nhân, môi trường gia đình và môi trường trường học
Sử dụng bộ câu hỏi tự điền SDQ phiên bản giáo viên để đánh giá vềcác vấn đề sức khỏe tâm trí của từng học sinh trong lớp do giáo viên phụtrách
2.4.5 Công cụ thu thập thông tin
Phỏng vấn học sinh theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn về các đặc điểm
cá nhân, điều kiện văn hóa kinh tế gia đình và môi trường học tập nhà trường(phụ lục 4)
Bộ câu hỏi SDQ phiên bản sử dụng cho đối tượng: giáo viên (phụ lục 3)
2.4.6 Các biện pháp khống chế sai số
Chọn đối tượng theo đúng tiêu chuẩn nghiên cứu
Bộ câu hỏi dễ hiểu, thu thập thử để chỉnh sửa cho rõ ràng, dễ sử dụng
Biểu diển số liệu bằng bảng và biểu đồ
2.6 Khía cạnh đạo đức của đề tài
Nghiên cứu được sự nhất trí tham gia của đối tượng, nghiên cứu cóphản hồi kết quả
Đối tượng nghiên cứu được tư vấn về vấn đề nghiên cứu, các thông tin
do đối tượng cung cấp sẽ được giữ bí mật
Trang 29Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cộng đồngkhông nhằm một mục đích nào khác.
Trang 30Sơ đồ nghiên cứu
Mỗi khối 10, 11, 12 chọn ra 3 lớp vào nghiên cứu
Chọn tất cả các học sinh của
mỗi lớp theo tiêu chuẩn được
lựa chọn vào nghiên cứu
Chọn giáo viên chủ nhiệm của các lớp vào nghiên cứu
Thu thập thông tin bằng bộ câu
hỏi có sẵn (phụ lục 4)
Thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi tự điền SDQ 25 (phụ lục 3)
Xử lý và phân tích số liệu
Mô tả thực trạng sức khỏe tâm trí học sinh và
mô tả một số yếu tố liên quan đến vấn đề sức
khỏe tâm trí của học sinh