1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng tài liệu giảng dạy hòa âm ứng dụng

24 655 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu hết các hoạt động biểu diễn âm nhạc ở nước ta hiện nay đều gắn liền với thể loại ca khúc. Các nhạc sỹ khi viết thể loại ca khúc nghệ thuật bao giờ cũng viết cả giai điệu và phần đệm. Giai điệu và phần đệm trong những tác phẩm thuộc thể loại này là một thể thống nhất, hầu như không thể thay đổi, người dàn dựng, biểu diễn chỉ cần thực hiện theo đúng tổng phổ của nhà soạn nhạc.

Trang 1

Để đệm đàn cho các ca khúc phổ thông này, người nhạc công có thể chơi phần đệm (ở dạng đơn giản) theo kiểu ứng tấu hoặc soạn phần đệm trên văn bản ký âm để tập dợt trước Muốn đạt được điều này, người học cần phải có kiến thức hòa âm và kỹ năng nhạc

Trang 2

trung cấp Mỹ thuật – Văn hóa Bình Dương1 đã giao trách nhiệm chochúng tôi biên soạn tài liệu giảng dạy môn Hòa âm ứng dụng cho haichuyên ngành thanh nhạc và sư phạm âm nhạc

Nhận thức được tầm quan trọng của môn học này và được sự

hướng dẫn của TS Văn Thị Minh Hương, chúng tôi đã chọn: Xây dựng tài liệu giảng dạy hòa âm ứng dụng để làm đề tài nghiên cứu

cho chuyên ngành âm nhạc học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Từ sự hướng dẫn của TS Văn Thị Minh Hương và những ýkiến đóng góp của quý thầy cô, đồng nghiệp, kết quả của luận vănnày sẽ là cơ sở để chúng tôi biên soạn tài liệu giảng dạy môn hòa âmứng dụng được tốt hơn Trong tương lai gần, chúng tôi hy vọng đề tài

sẽ được mở rộng nghiên cứu để có thể sử dụng cho nhiều chuyênngành và các bậc học khác nhau

3 Lịch sử đề tài

Trong số tư liệu mà chúng tôi có được, đã có những tài liệu

đề cập đến cách đệm đàn và phối hòa âm cho ca khúc, nhưng để hệthống hoặc biên soạn thành tài liệu giảng dạy phù hợp với cácchuyên ngành, bậc học khác nhau thì chưa có tài liệu nào đề cập tới

Dạo đầu, giãn tấu, kết và âm hình đệm… là những thànhphần không thể thiếu trong cấu trúc của một phần đệm, bên cạnh đó,mối tương quan giữa hòa âm với giai điệu và hình thức là nội dungquan trọng để người học hiểu rõ tính logic trong nối tiếp hợp âm

1 Nơi người viết luận văn đang giảng dạy

Trang 3

Tuy nhiên, phần lớn các tài liệu hòa âm lại không hoặc ít khi đề cậpđến những vấn đề này.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là cách vận dụng lýthuyết hòa âm cổ điển (hòa âm chức năng) để đệm đàn và phối hòa

âm cho ca khúc phù hợp với bậc học trung cấp ngành thanh nhạc và

sư phạm âm nhạc

Ngoài hòa âm cổ điển, chúng tôi cũng đề cập đến phongcách hòa âm nhạc nhẹ và hòa âm trong điệu thức 5 âm Tuy nhiên,đây là hai khía cạnh có phạm vi nghiên cứu rộng, cho nên chúng tôichỉ đề cập những vấn đề cơ bản nhất với tính chất mở rộng, so sánhchứ không chuyên sâu

Dạo đầu, giãn tấu, nối câu … là những thành phần không thểthiếu trong cấu trúc của phần đệm Để phù hợp với đề tài, chúng tôikhông đi sâu về kỹ thuật sáng tác và kỹ năng biểu diễn nhạc cụ màchủ yếu tập trung vào khía cạnh hòa âm hoặc mối tương quan giữachúng với hòa âm

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Qua tổng hợp những vấn đề thuộc phương diện lý thuyết vàchứng minh chúng bằng các tác phẩm âm nhạc cụ thể, chúng tôimuốn đề cập đến tính quy luật của hòa âm, mối quan hệ chặt chẽgiữa hòa âm với hình thức và giai điệu Lấy thực tế tác phẩm đểchứng minh lý thuyết, chúng tôi hy vọng học sinh bậc học trung cấp

sẽ hiểu và vận dụng tốt những kiến thức này để học đệm đàn và phốihòa âm cho một tác phẩm âm nhạc cụ thể

Trang 4

Chúng tôi đặt giả thiết rằng: Nếu có sự am hiểu về tác phẩm

và có kiến thức về hòa âm ứng dụng thì một học sinh cho dù kỹ năngchơi nhạc cụ (theo kiểu ứng tấu) chưa tốt thì vẫn có thể thể tự mìnhviết sơ đồ hòa âm trên văn bản ký âm để từ đó tập đệm đàn hoặcsoạn phần đệm cho tác phẩm này trên các phần mềm âm nhạc.Chúng tôi cũng hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là mộttài liệu tham khảo hữu ích đối với các thầy cô đang dạy đệm đàn

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu lý thuyết nhìn từ góc độ âm nhạc học và sử dụng phươngpháp lịch sử để nghiên cứu tư liệu Khi nghiên cứu ứng dụng hòa âm

để đệm đàn và phối hòa âm cho ca khúc, chúng tôi cũng không táchrời hòa âm như một đối tượng nghiên cứu độc lập mà đặt nó trongmối tương quan với hình thức và các phương tiện diễn tả âm nhạckhác

Nguồn tư liệu tham khảo của chúng tôi là các tài liệu đã xuấtbản có trong tủ sách cá nhân, thư viện Nhạc viện tp HCM, thư việnQuốc gia và các ebook, các bài báo lưu hành trên internet

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành bachương:

Chương I: Tổng quan về chương trình hòa âm ứng dụngChương II: Hòa âm cổ điển và sự kế thừa, cách tân

Chương III: Sơ đồ hòa âm, phối bè và phần đệm

Trang 5

Chương I

TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

HÒA ÂM ỨNG DỤNG

Biên soạn, xây dựng tài liệu giảng dạy là một quá trình thiết

kế, điều chỉnh, sửa đổi dựa trên việc đánh giá, kiểm định có định kỳ.Quá trình này sẽ lựa chọn, điều chỉnh hoặc thay thế những thànhphần trong chương trình đào tạo đã có nhằm phù hợp với sự pháttriển của khoa học, công nghệ và sự phát triển của xã hội, mang lại

sự tiến bộ hơn, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của người học

Tính cấp thiết của việc xây dựng tài liệu hòa âm ứng dụng

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm hòa âm ứng

dụng với ý nghĩa là vận dụng lý thuyết hòa âm để đệm đàn, phối bè cho ca khúc, viết sơ đồ hòa âm và phần đệm cho một giai điệu diễn tấu bởi giọng hát hoặc nhạc cụ.

Hầu hết các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp ở nước tahiện nay đều trang bị cho người học kiến thức về hòa âm và kỹ năng

về nhạc cụ, nhưng sau khi ra trường, khi công việc thực tế đòi hỏiphải đệm đàn hoặc viết sơ đồ hòa âm cho ca khúc (ở mức độ đơngiản) thì nhiều em vẫn chưa thực hiện được Một số em có kỹ năngnhạc cụ tốt thì lại không có kỹ năng đệm đàn ứng tấu

Nguyên nhân của thực trạng này thì có nhiều, nhưng chủ yếu

là do các em còn thụ động trong quá trình học tập và cũng có mộtphần không nhỏ là do chương trình đào tạo còn nặng về các môn đạicương và các môn chuyên ngành chưa được quan tâm đúng mức.Thời gian học các môn chuyên ngành không đảm bảo, tính ứng dụng

Trang 6

của các môn hòa âm và nhạc cụ ở một số trường hiện nay chưa thực

sự gắn bó với công việc mà thực tế xã hội đòi hỏi Đa số các giáo

trình hòa âm hiện nay vẫn chỉ dạy hòa âm cổ điển theo phong cáchhợp xướng 4 bè Vấn đề phối hòa âm theo phong cách nhạc nhẹ vàphối hòa âm cho các ca khúc mang âm hưởng dân ca ít được đề cậphoặc nếu có thì cũng chỉ mang tính khái quát, chưa chuyên sâu

Mục đích của môn học hòa âm ứng dụng

Người học hòa âm ứng dụng (bao hàm cả hòa âm) sẽ có balợi ích cơ bản là: Hiểu về tư duy âm nhạc nhiều bè theo lối chủ điệu,học các môn học khác tốt hơn và có kiến thức để vận dụng vào lĩnhvực dàn dựng, biểu diễn và phối hòa âm cho tác phẩm âm nhạc

Đối tượng, mục tiêu và nội dung hòa âm ứng dụng

Ngoài ngành sáng tác và biểu diễn nhạc cụ (chuyên về đệm)thì thanh nhạc và sư phạm âm nhạc là hai chuyên ngành thường sửdụng các kỹ năng đệm đàn và phối hòa âm cho ca khúc nhiều hơn cả.Nhưng trên thực tế, hầu như tất cả các chuyên ngành đều cần đến các

kỹ năng đệm đàn và phối hòa âm Bởi vì, âm nhạc không chỉ dànhriêng cho môi trường chuyên nghiệp và những người hoạt động tronglĩnh vực âm nhạc hiện nay vẫn phải kiêm nhiệm những công việc mà

họ không được đào tạo chính quy

Mục tiêu đối với đối tượng không chuyên là người học biếtvận dụng kiến thức hòa âm để đệm đàn và phối hòa âm cho những cakhúc phổ thông một cách mạch lạc, chặt chẽ, phù hợp với logic pháttriển hòa âm trong mối tương quan với giai điệu và hình thức

Trang 7

Để đệm đàn và phối hòa âm cho ca khúc thì chỉ có kiến thức

về hòa âm cổ điển là chưa đủ, bởi vì nhiều tác phẩm ca khúc phổbiến hiện nay không viết theo thang âm trưởng thứ diatonic 7 âm củaChâu âu mà viết theo thang âm ngũ cung hay những thang âm cónguồn gốc từ dân gian khác Việc sử dụng một cách “máy móc” cácquy tắc, luật lệ của hòa âm cổ điển để phối hòa âm cho những cakhúc này trong một số trường hợp sẽ không phù hợp hoặc không tạođược sự thống nhất về mặt phong cách nghệ thuật Mặt khác, sơ đồhòa âm cho ca khúc hay các tác phẩm viết cho nhạc cụ solo ngày naythường được ký hiệu theo ngôn ngữ nhạc nhẹ, không hiểu ngôn ngữ

âm nhạc này thì người đệm đàn hoặc viết phần đệm sẽ không thểthực hiện được Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu xã hội, ngoài hòa

âm cổ điển, hòa âm ứng dụng cần phải đề cập đên hòa âm nhạc nhẹ

và hòa âm trong điệu thức 5 âm

Phương pháp dạy và học hòa âm ứng dụng

Có thể dạy riêng hoặc lồng ghép hòa âm ứng dụng trong mônhọc hòa âm nhưng để có sự linh hoạt, người dạy học cũng có thể kếthợp cả hai phương pháp này đối với một nội dung cụ thể nào đó

Đối với phương pháp dạy theo kiểu lồng ghép, sau mỗi phần

lý thuyết sẽ có phần ứng dụng minh họa, phương pháp này có ưuđiểm là tiết học sẽ sinh động và người học sẽ tiếp thu bài tốt hơn.Tuy nhiên, nếu không trang bị nội dung mối tương quan giữa hòa âmvới hòa âm với giai điệu và hình thức thì phương pháp này có nhượcđiểm là người học sẽ không thấy được tổng thể về hòa âm trong mốitương quan với cấu trúc hình thức tác phẩm

Đối với phương pháp dạy riêng biệt hòa âm ứng dụng,

Trang 8

phương pháp này có ưu điểm là dễ phân bố thời gian giảng dạy, cókhả năng giúp người học khái quát tổng thể về hòa âm Nhược điểmcủa phương án này là phải học riêng lẻ, học xong lý thuyết hòa âm(hòa âm cổ điển) rồi mới học ứng dụng, như vậy, các tiết học lýthuyết sẽ khô khan, ít sinh động hơn

Việc dạy và học hòa âm ứng dụng tốt nhất là kết hợp giữa lýthuyết và thực hành Trước tiên là trên văn bản ký âm sau đó là trênnhạc cụ đàn phím hoặc đàn guitar Trường hợp kỹ năng nhạc cụ chưatốt thì phương án sử dụng các phần mềm âm nhạc cũng mang lại hiệuquả cao Ngoài ra, người học cũng nên dành thời gian nghe nhạc đểhọc hỏi về hòa âm và đệm đàn, đây cũng là phương pháp rèn luyệntai nghe để có thể đệm theo kiểu ứng tấu một cách hiệu quả nhất

Kế hoạch giảng dạy

Để học tốt hòa âm ứng dụng thì người học cần phải họctrước đó môn lý thuyết âm nhạc cơ bản và hình thức âm nhạc Đồngthời, người học cũng phải có những kỹ năng nhất định về nhạc cụhoặc các phần mềm âm nhạc

Để phù hợp với khả năng tiếp thu của bậc học trung cấp,

chúng tôi dự kiến số tiết tối thiểu của môn Hòa âm ứng dụng là 60 và

phù hợp nhất là 90 tiết, chia thành hai học kỳ và được phân bố vàonăm học cuối (học kỳ 5 và 6 đối với hệ 3 năm hoặc học kỳ 7, 8 đốivới hệ 4 năm) với lịch học là 2 hoặc tối đa là 4 tiết / tuần

Tiểu kết chương I

Hòa âm ứng dụng là môn học có giá trị thực tiễn cao, đápứng được nhu cầu xã hội, đặc biệt là đối với những người hoạt động

Trang 9

phong trào, văn nghệ quần chúng ở cấp cơ sở

Nhìn chung, vấn đề dạy và học hòa âm ứng dụng ở các địaphương còn gặp rất nhiều khó khăn Có rất nhiều nguyên nhân nhưngkhó khăn nhất đó là thời gian đào tạo môn hòa âm ứng dụng (baogồm cả hòa âm) và nhạc cụ ở các trường trung cấp và cao đẳng quángắn so với yêu cầu của môn học

Để phần nào khắc phục những khó khăn này thì cả người dạy

và người học cần có nhiều nỗ lực, đặc biệt là cần khai thác thế mạnhcủa khoa học công nghệ thông tin trong lĩnh vực đổi mới phươngpháp dạy và học

Chương II

NGÔN NGỮ HÒA ÂM CỔ ĐIỂN VÀ SỰ KẾ THỪA, CÁCH TÂN

Về mặt lý thuyết, ngôn ngữ hòa âm cổ điển (hòa âm chứcnăng) được hoàn thiện từ thế kỷ XVII, XVIII Sự ra đời của ngônngữ hòa âm này là kết quả của sự tổng kết lý thuyết và thực hành củacác thời kỳ trước Mặt khác, nó gắn bó chặt chẽ với sự ra đời của

luật bình quân và quá trình hình thành điệu thức trưởng, thứ diatonic

7 âm từ thế kỷ XVII

Cơ sở hình thành điệu thức và tên gọi chức năng T, S, Dtrong hòa âm cổ điển được xuất phát từ sức hút âm học Để nối tiếphợp âm và điệu tính, ngôn ngữ hòa âm cổ điển sử dụng các kiểu tiếnhành chính cách, biến cách và các thủ pháp hòa âm ly điệu, chuyểnđiệu, mô tiến, âm nền v.v…Quá trình này có nhiều quy tắc, luật lệ

Trang 10

như: quy luật nối tiếp chức năng, quy luật tiến hành bè, quy luật giảiquyết nốt nghịch, quy luật tăng đôi âm, điều kiện về nhịp phách

Kể từ khi hình thành đến nay, hòa âm cổ điển đã có nhiều

mở rộng, cách tân cả trong lý thuyết và thực hành âm nhạc

Những cách tân trong âm nhạc kinh viện

Thế kỉ XIX, các nhà soạn nhạc quan niệm rằng hòa âmkhông phải là phần đệm cho giai điệu mà nó mang hình tượng âmnhạc rõ ràng Nét đặc trưng của thời kì này là quan điểm coi hòa âmnhư là phương tiện truyền cảm mạnh mẽ nhất trong sự kết hợp vớicác phương tiện diễn tả âm nhạc khác Khuynh hướng chung là sự kếthừa tính khoa học, logic trong hệ thống công năng từ thời kì cổ điểnnhưng tăng cường khả năng biểu hiện của màu sắc, vai trò màu sắccủa hòa âm được đặt lên vị trí hàng đầu

Đến cuối thế kỉ XIX, quan điểm thuận nghịch đã có nhiềuthay đổi, ngôn ngữ hòa âm có khuynh hướng nhấn mạnh vai trò chứcnăng không ổn định Các thủ pháp âm ngoài hợp âm, ly điệu, ellipsis,hợp âm biến âm thường nhằm mục đích làm mờ nhạt vai trò của hợp

âm chủ, tạo nên những trung tâm ổn định tạm thời hoặc ẩn dấu.Ngôn ngữ hòa âm chromatic được sử dụng rộng rãi

Đến thế kỉ XX, ngôn ngữ hòa âm chủ yếu sử dụng các hợp

âm nghịch Nét điển hình là sử dụng các hợp âm nghịch không chuẩn

bị và không giải quyết, các hợp âm bảy, chín, mười một có thể xuấthiện trên tất cả các bậc, hợp âm nghịch có thể sử dụng dưới dạngthêm hoặc bớt âm (kể cả bớt âm 3) Việc sử dụng chồng hợp âm 5, 6,

7 âm đã dẫn đến tính chất đa chức năng của hợp âm và làm mờ dần

Trang 11

tính công năng Ngôn ngữ hòa âm thời kì này còn thể hiện dưới cáchình thức khác nhau như hòa âm đa tầng, hòa âm đa điệu thức và hòa

âm chromatic Đôi khi các nhà soạn nhạc sử dụng nhiều hình thứckhác nhau hoặc kết hợp chúng trong một tác phẩm Thời kỳ này cũngxuất hiện các kỹ thuật hòa âm mang đặc điểm riêng của nhà soạnnhạc, ví dụ hòa âm của Béla Bartók, Prokofiev và Paul Hindemith …

2.3.2 Những cách tân trong ngôn ngữ nhạc nhẹ

Về mặt điệu thức, ngôn ngữ nhạc nhẹ sử dụng hầu hết cácdạng điệu thức khác nhau, kể cả trưởng thứ diatonic 7 âm và các điệuthức có nguồn gốc từ âm nhạc dân gian v.v Hệ thống điệu thứcdiatonic 7 âm sử dụng trong nhạc nhẹ được gọi là modes bao gồmtrung tâm điệu thức xây dựng ở bậc I và các modal được xây dựng ởcác bậc còn lại Bảy âm thuộc mỗi modal được chia thành những nốtthuộc hợp âm, nốt căng (tension note) và nốt tránh (avoid note)

Trong đa số trường hợp, các âm 9, 11, 13 ở các modal đượcgọi là những nốt “căng” (tension note), có thể coi chúng là những âm

“nghịch không hoàn toàn” hoặc là những âm ngoài hợp âm đượcthêm vào cấu trúc hợp âm cơ bản (hợp âm 3 hoặc hợp âm 7) để tạomàu sắc Khi ở giai điệu, những nốt “căng” (melodic tension) nàykhông cần phải ghi vào cấu trúc hợp âm Khi thuộc hợp âm ở phầnđệm (không tính ở bè giai điệu chính), các âm “căng” này (harmonictension) được coi như âm thuộc hợp âm (9, 11, 13)

Nốt “tránh” (avoid note) được coi là những nốt nghịch tronghợp âm Trong đa số trường hợp, nốt “tránh” là nốt cao hơn nốt hợp

âm (1, 3, 5 và 7) kế nó nửa cung hoặc nó tạo thành với âm thuộc hợp

âm quãng 9 thứ (tuy nhiên quãng 9 thứ trong cấu trúc tự nhiên của

Trang 12

thang âm lại được phép sử dụng, ví dụ thang âm phrygian)

Trong nhạc nhẹ, hợp âm bảy được gọi là cấu trúc hợp âm cơ

bản Yếu tố chức năng hợp âm trong nhạc nhẹ chỉ được thể hiện rõ

nét nhất ở bè trầm Trung tâm điệu thức trong nhạc nhẹ sử dụng cảhợp âm 7, hợp âm có âm phụ và các hợp âm có cấu trúc mở rộngkhác (hợp âm 9,11,13)

Trong nhạc nhẹ, theo “Nguyên lý tương hợp giữa hợp âm và thang âm” thì các âm của một hợp âm có thể ở các thang âm khác

nhau Đây là cơ sở cho việc thay thế hợp âm, nhạc nhẹ thường sửhợp âm IIb để thay thế cho hợp âm V7, bởi vì IIb

7 cũng có quãng 3cung giống như V7

Mỗi hợp âm trong nhạc nhẹ hàm chứa một thang âm (hoặcmodal) tương ứng, cho nên, trong một số trường hợp, giai điệukhông cần nằm trong cấu trúc hợp âm chính (là hợp âm ba và hợp âmbảy) mà chỉ cần nằm trong thang âm tương ứng của hợp âm

Về tiến trình hòa âm, nhạc nhẹ không hạn chế theo quy tắc T– S – D – T, những những cách nối tiếp hợp âm ngược công năngvẫn được phép sử dụng Trên cơ sở các hợp âm diatonic ở dạngnguyên vị sẽ có 4 dạng chuyển động cơ bản là: 1 Chuyển động theosức hút âm học D – T ; 2 Chuyển động ngược sức hút âm học T – D;

3 Kết hợp các dạng chuyển động theo kiểu bậc thang (quãng 2)trong phạm vi quãng 4 hoặc quãng 5; và 4 Kết hợp các dạng chuyểnđộng quãng 3 đi lên và xuống Tiến trình hòa âm nhạc nhẹ còn sửdụng các hợp âm đa chức năng (Compound, Hybrids, Polychords)hoặc các hợp âm mà chức năng của nó không thể hiện rõ ràng, khôngxác định được cấu trúc, trưởng, thứ (Ambiguous Chord Types) và cả

Ngày đăng: 03/09/2014, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w