1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên (tóm tắt + toàn văn)

27 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 326 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên” đặt ra l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HOÀNG PHÚ MỸ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG RỪNG VÀ KHOANH NUÔI XÚC TIẾN TÁI SINH RỪNG PHÒNG HỘ

VÙNG ĐỒI NÚI VEN BIỂN TỈNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành: Lâm sinh

Mã số: 62 62 02 05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Võ Đại Hải

2 TS Đinh Đức Thuận

Phản biện 1: PGS TS Phạm Xuân Hoàn

Phản biện 2: PGS.TS Vũ Nhâm

Phản biện 3: TS Lê Sỹ Việt

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:……… ….

……….……… Vào hồigiờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thư viện trường Đại học Lâm nghiệp.

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Phú Yên là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, toàn bộranh giới phía Đông giáp biển Đông Diện tích đồi núi chiếm 70% diện tích toàn tỉnh, địa hình dốc từ Tây sangĐông và bị chia cắt mạnh Phú Yên có bờ biển dài gần 200 km chia làm 2 dạng địa hình là địa hình vùng cátven biển và vùng đồi núi ven biển Dải đồi núi chạy dọc ven có vai trò hết sức quan trọng trong việc hạn chếtác hại của gió bão biển, bảo vệ đất và điều tiết nguồn nước, bảo vệ vùng nuôi trồng thuỷ sản ở các đầm vịnhphía trong,… Do vậy, việc thiết lập hệ thống rừng phòng hộ ở đây có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việcphát triển kinh tế, xã hội của người dân địa phương Trong những năm qua, mặc dù đã có một số chương trình,dự án phục hồi rừng được triển khai ở đây nhưng hiệu quả đạt được vẫn còn rất hạn chế Hiện nay, phần lớndiện tích khu vực này đều là đất trống đồi núi trọc, diện tích rừng tự nhiên còn lại rất ít và phần lớn đều đã bịsuy thoái nghiêm trọng do tác động chặt phá của con người nên khả năng phòng hộ rất kém Nhu cầu cấp báchtrước mắt cần phải có các nghiên cứu về kỹ thuật trồng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phù hợp, lựachọn loài cây trồng có khả năng thích nghi cao với điều kiện khắc nghiệt của khu vực ven biển, từ đó thiết lậpmột hệ thống đai rừng phòng hộ bền vững, có hiệu quả phòng hộ tốt

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh

nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên” đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa

khoa học và thực tiễn cao

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa khoa học: Cung cấp cơ sở khoa học cho việc trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có

trồng bổ sung rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên bền vững và khả năng phòng hộ cao

2.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đề xuất được các giải pháp kỹ thuật có tính khả thi

trong việc trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển của tỉnh Phú Yên

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.1 Về lý luận: Xác định được các loài cây và biện pháp kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh

có trồng bổ sung phù hợp cho vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

3.2 Về thực tiễn: Đề xuất được các giải pháp kỹ thuật có tính khả thi trong trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến

tái sinh có trồng bổ sung rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên có khả năng phòng hộ tốt và bềnvững

4 Những đóng góp mới của luận án

- Là công trình nghiên cứu được thực hiện tương đối đầy đủ và có hệ thống về các biện pháp kỹ thuậtphục hồi rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển ở Phú Yên

- Đã xác định được loài cây và biện pháp kỹ thuật trồng rừng phù hợp với điều kiện vùng đồi núi tỉnhPhú yên

- Đã đánh giá được khả năng phục hồi của rừng tự nhiên và hiệu quả phục hồi rừng bằng các biệnpháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung cho vùng đồi núi ven biển của tỉnh Phú Yên

Trang 4

Vấn đề khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên cũng rất được quan tâm Các tác giả David Lam(2003), Mibbread (1930), Richards (1933, 1939, 1965), Catinot R (1978),… tập trung vào việc nghiên cứu đềxuất các xử lý lâm sinh tác động vào rừng tự nhiên như chặt gieo giống, xử lý tầng lâm hạ, chặt nuôi dưỡng,trồng bổ sung,… mục đích nhằm tăng số lượng và chất lượng cây tái sinh mục đích dưới tán rừng Việc đánhgiá hiệu quả của phương thức xử lý lâm sinh cũng được nhiều tác giả thực hiện Các đánh giá tập trung vào sốlượng cây tái sinh, chất lượng cây, sự giống nhau hay khác nhau giữa tầng cây tái sinh với tầng cây cao, phânbố của cây tái sinh dưới tán rừng, ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên (ánh sáng, độ ẩm,…) tới sự tái sinh dướitán rừng

1.3 Ở Việt Nam

Các nghiên cứu về chọn loài cây phòng hộ cũng rất được quan tâm, trong đó đặc biệt chú trọng sửdụng các loài cây bản địa Các tiêu chí lựa chọn cây bản địa trồng rừng phòng hộ cũng được xác định, 34 loàicây bản địa đã được đề xuất trong trồng rừng phòng hộ ở nước ta (Cẩm nang ngành lâm nghiệp - Chương chọnloài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng ở Việt Nam) Bên cạnh đó, các nghiên cứu về kỹ thuật chọngiống, nhân giống, gây trồng, kỹ thuật trồng rừng phòng hộ bằng cây bản địa cũng được thực hiện thông quacác đề tài, dự án, kết quả được ứng dụng vào thực tiễn Tuy nhiên, vấn đề trồng rừng hỗn giao của nước ta vẫnchưa mang lại thành công nhiều, số loài bản địa trồng hỗn giao còn ít, chủ yếu 2-3 loài Do hiểu biết ít về mốiquan hệ sinh học giữa các loài nên các kỹ thuật tác động còn ít mang lại hiệu quả Một số tác giả tiêu biểu như:Lâm Công Định (1991), Nguyễn Xuân Quát (1996), Võ Đại Hải (2006),… Vấn đề phân chia dạng lập địatrồng rừng gắn với loài cây trồng cũng được chú trọng, đặc biệt là các dự án có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 5

Chương 2:

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

- Tổng kết, đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ đã có ở vùng đồi núiven biển tỉnh Phú Yên

- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh cótrồng bổ sung rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

- Bước đầu đánh giá tác dụng phòng hộ của các mô hình rừng phòng hộ thí nghiệm đã xây dựng

- Đề xuất các loài cây và biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng có triển vọng cho phát triển rừng phòng hộvùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu

Đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu về tình hình thực hiện và kết quả các dự án trồng rừng ở khu vựcvùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên; các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan tới đặc điểm sinh học, kỹthuật trồng các loài cây mà đề tài sử dụng để trồng,…

2.2.2 Phương pháp tổng kết, đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ đã

có ở vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Đề tài tiến hành làm việc với Sở NN&PTNT tỉnh Phú Yên, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Yên, Banquản lý rừng phòng hộ tỉnh Phú Yên, Ban quản lý rừng phòng hộ các huyện Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân đểtiến hành điều tra về: các chương trình, dự án trồng rừng đã triển khai tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên;loài cây, biện pháp kỹ thuật, mô hình trồng rừng đã sử dụng; hiệu quả từ các dự án, Số lượng người đãphỏng vấn là: 21 người trong các cơ quan quản lý và 30 hộ dân

Ngoài ra, đề tài đã khảo sát thực địa, lựa chọn 8 mô hình rừng trồng phòng hộ đã được xây dựng trongcác chương trình, dự án trước đó để đánh giá về tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng, chất lượng rừng

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

2.2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

a Thí nghiệm chọn loài cây trồng

* Thí nghiệm được xây dựng tại khu vực Đá Giăng, xã Xuân Lâm, Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên vàonăm 2007 Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ 3 lần lặp, mỗi loài bố trí thành 1 công thức thínghiệm trồng thuần loài, cụ thể: Công thức 1 (CT1): Trồng thuần loài Sao đen; CT2: Trồng thuần loài Limxanh; CT3: Trồng thuần loài Dầu rái; CT4: Trồng thuần loài Muồng đen; CT5: Trồng thuần loài Thanh Thất

Các công thức được bố trí theo băng, băng chặt rộng 2m, băng chừa rộng 2m Mỗi lần lặp bố trí trồng

100 cây Làm đất theo phương thức cục bộ, kích thước hố 40 x 40 x 40 cm Bón lót 200g phân NPK 5:10:3.Mật độ trồng áp dụng chung cho cả 5 loài là 1.250 cây/ha (hàng cách hàng 4m, cây cách cây 2m) Chăm sócliên tục trong 4 năm sau khi trồng Diện tích mỗi công thức thí nghiệm là 2.400m2 Tổng diện tích thí nghiệmlà 1,2 ha

b Thí nghiệm biện pháp xử lý thực bì

* Thí nghiệm được xây dựng tại khu vực Đá Giăng, xã Xuân Lâm, Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên vàonăm 2007 với 2 công thức thí nghiệm: CT1: Xử lý thực bì theo băng; CT2: Xử lý thực bì toàn diện

Trang 6

Thí nghiệm được bố trí 3 lần lặp cho 2 loài Dầu rái và Lim xanh Diện tích thí nghiệm cho một loài là2.400m2 (300 cây/loài) Tổng diện tích thiết kế thí nghiệm cho cả 2 loài cây là 4.800m2 Phương thức trồngthuần loài Các kỹ thuật cuốc hố, bón phân, kích thước hố, mật độ trồng, chăm sóc áp dụng tương tự thínghiệm chọn loài cây trồng ở nói ở trên.

c Thí nghiệm phương pháp hỗn giao

* Thí nghiệm được xây dựng tại khu vực Đèo Cù Mông, xã Xuân Lộc, Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yênvào năm 2007 Đề tài bố trí 2 công thức thí nghiệm: CT1: Trồng hỗn giao các cây trong hàng; CT2: Trồng hỗngiao các cây theo hàng

Loài cây bố trí thí nghiệm: Dầu rái, Sao đen, Thanh Thất Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí 3 lầnlặp Diện tích mỗi công thức thí nghiệm là 2.400m2 Tổng diện tích thiết kế thí nghiệm là 4.800m2

Biện pháp kỹ thuật áp dụng:

- Xử lý thực bì: Xử lý thực bì theo băng, kỹ thuật tương tự thí nghiệm chọn loài cây trồng

d Thí nghiệm ảnh hưởng của dạng lập địa đến sinh trưởng cây trồng

* Thí nghiệm được xây dựng tại khu vực đèo Cù Mông, xã Xuân Lộc, Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yênvào năm 2007 Đề tài áp dụng phương pháp phân chia dạng lập địa theo phân loại của Đức, các yếu tố chủ đạođược sử dụng bao gồm: Đá mẹ và loại đất, độ dày tầng đất và tỷ lệ đá lẫn, nhóm cây tái sinh mục đích và thựcvật chỉ thị Sau đó sử dụng phương pháp chồng ghép các yếu tố chủ đạo để xác định các dạng lập địa ở khuvực nghiên cứu

Bố trí thí nghiệm trồng cây Sao đen trên 3 dạng lập địa B, C, D2, cụ thể: CT1: Trồng Sao đen thuầnloài trên dạng lập địa B; CT2: Trồng Sao đen thuần loài trên dạng lập địa C; CT3: Trồng Sao đen thuần loàitrên dạng lập địa D2 Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần với diện tích là 2.400m2 Tổng diệntích thiết kế thí nghiệm là 9.200 m2 Biện pháp kỹ thuật xử lý thực bì, cuốc hố, bón phân, mật độ trồng, chămsóc, áp dụng tương tự thí nghiệm chọn loài

2.2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thí nghiệm được đo đếm định kỳ vào tháng 12 hàng năm Mỗi loài cây thí nghiệm, đề tài đođếm các chỉ tiêu sinh trưởng của 150 cây (tương đương 3 lần lặp) Các chỉ tiêu đo đếm bao gồm: Hvn, D1,3, chấtlượng cây trồng (tốt, trung bình, xấu)

2.2.4 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có

trồng bổ sung rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

2.2.4.1 Kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên

a Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành đối với trạng thái rừng IIA trên địa bàn các xã Xuân Thọ, Thị xã SôngCầu; xã An Hiệp, huyện Tuy An; xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, với 2 công thức thínghiệm là:

- Thí nghiệm 1: Khoanh nuôi có tác động Kỹ thuật tác động chủ yếu là phát luỗng dây leo bụi rậm,chặt bớt một số cây ở tầng cây cao phi mục đích nhưng chèn ép sự phát triển của cây tái sinh,…

Trang 7

- Thí nghiệm 2: Khoanh nuôi không tác động (đối chứng) Chỉ thực hiện các biện pháp bảo vệ khỏi sựphá hoại từ bên ngoài, không tác động kỹ thuật.

Thời gian khoanh nuôi 3 năm, 4 năm và 7 năm Sử dụng phương pháp lấy không gian thay thế thờigian để so sánh đánh giá giữa các năm khoanh nuôi

Thí nghiệm được bố trí và theo dõi trên 12 ô tiêu chuẩn (OTC) định vị (3 địa điểm), trong đó 9 OTC là

có áp dụng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên (mỗi địa điểm bố trí 3 OTC) và 3 OTC làm đốichứng (mỗi địa điểm 1 OTC) Diện tích mỗi OTC định vị là 2.500 m2 Các OTC định vị được đóng cọc sơn vàđánh dấu toạ độ bằng GPS Ngoài ra, mỗi OTC định vị đề tài sẽ bố trí một diện tích vùng đệm có bề rộng sovới các cạnh của OTC định vị là 30m để bảo vệ tránh sự tác động của con người và gia súc

Đề tài tiến hành đánh dấu định vị một số loài cây ưu thế trong các OTC định vị tại huyện Tuy An đểtheo dõi sinh trưởng đường kính, chiều cao hàng năm, cụ thể:

+ Tầng cây cao: Đánh dấu và đo đếm sinh trưởng của 120 cây định vị, thuộc 8 loài cây ưu thế trong 4OTC định vị, bao gồm: Cầy, Trâm, Cốc, Bằng lăng, Thị, Ké, Lòng mang, Săng đá

+ Tầng cây tái sinh: Đánh dấu và đo đếm sinh trưởng 160 cây định vị, thuộc 4 loài cây tái sinh ưu thếtrong OTC định vị gồm: Cầy, Trâm, Cốc, Bằng lăng

b Phương pháp thu thập số liệu

Thí nghiệm được đo đếm trong các OTC định vị mỗi năm 1 lần Phương pháp đo đếm các chỉ tiêu sinhtrưởng, chất lượng được thực hiện theo phương pháp điều tra rừng thông dụng bằng các dụng cụ chuyên dụngnhư thước đo cao, thước dây,…

2.2.4.2 Kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung

a Phương pháp bố trí thí nghiệm

* Thí nghiệm được bố trí tại xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân từ năm 2010

* Loài cây trồng bổ sung: Dầu rái, Sao đen, Lim xanh

* Bố trí 2 công thức thí nghiệm: CT1 - Trồng bổ sung theo đám; CT2 - Trồng bổ sung theo rạch.Đám trống được xử lý toàn diện trước khi thiết kế thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí 3 lần lặp, mỗilần lặp là 50 cây Khoảng cách giữa các cây trong hàng là 5m, khoảng cách giữa 2 hàng cây trồng bổ sung là10m Mỗi loài được bố trí thành 1 hàng Tổng diện tích bố trí thí nghiệm theo đám là 4.500 m2

Chiều rộng rạch phát để trồng bổ sung là 2m, băng chừa là 10m Trong băng chặt, tiến hành phát toànbộ cây bụi, thảm tươi, dây leo, chỉ giữ lại các cây tái sinh mục đích Thí nghiệm được bố trí 3 lần lặp, mỗi lầnlặp 50 cây, mỗi rạch bố trí trồng 1 hàng cây, mỗi loài bố trí trong 1 rạch, khoảng cách giữa các cây trong hànglà 5m, khoảng cách giữa các rạch là 10m Tổng diện tích thiết kế thí nghiệm theo rạch là 4.500m2

Như vậy, tổng diện tích thiết kế thí nghiệm trồng bổ sung theo đám và theo rạch là 9.000m2 Kỹ thuậttrồng bổ sung các loài áp dụng theo hướng dẫn kỹ thuật hiện hành, trong đó kích thước hố là 40x40x40 cm,bón lót 100g phân vi sinh, chăm sóc 3 năm đầu và mỗi năm bón thúc 100g phân NPK (5:10:3)

b Phương pháp thu thập số liệu

Các thí nghiệm được theo dõi, đo đếm mỗi năm một lần Thời điểm đo đếm vào tháng 12 Các chỉ tiêu

đo đếm bao gồm: tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (D00), chiều cao vút ngọn (Hvn), chất lượng (tốt, trungbình, xấu) Sử dụng các loại thước đo thông dụng trong lâm nghiệp để đo các chỉ tiêu sinh trưởng

2.2.5 Phương pháp đánh giá tác dụng phòng hộ của các mô hình rừng phòng hộ đã xây dựng

2.2.5.1 Hoàn trả vật rơi rụng cho đất

Mô hình được lựa chọn đánh giá hoàn trả vật rơi rụng cho đất là mô hình trồng 5 loài cây (Sao đen,Thanh thất, Lim xanh, Muồng đen, Dầu rái - thí nghiệm chọn loài)

Trang 8

Tại khu vực trồng mỗi loài cây, đề tài bố trí ngẫu nhiên 5 ô dạng bản (ODB) có diện tích 4m2 và sửdụng lưới để hứng vật rơi rụng Bốn góc của lưới được cố định bằng cọc để đảm bảo lưới không bị xê dịch vàtạo độ căng cho bề mặt lưới Tổng số ODB đã lập cho 5 loài cây là 25 ODB.

Thí nghiệm được bố trí khi cây ở tuổi 6, thời gian bố trí từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012.Định kỳ 3 tháng 1 lần tiến hành thu toàn bộ vật rơi rụng trong từng lưới và cân xác định sinh khối tươi ngay tạihiện trường Gộp và trộn đều vật rơi rụng của 5 ODB của mỗi loài thành một mẫu chung, sau đó lấy 0,5 kgmẫu vật rơi rụng tươi về sấy ở nhiệt độ 1050C đến khi khối lượng không đổi để xác định sinh khối khô vật rơirụng trong phòng thí nghiệm

2.2.5.2 Cải thiện tính chất vật lý, hoá học đất

Lựa chọn mô hình trồng 5 loài cây (Sao đen, Thanh thất, Lim xanh, Muồng đen, Dầu rái - thí nghiệmchọn loài) để đào phẫu diện xác định khả năng cải thiện tính chất vật lý, hoá học của đất

Tại khu vực trồng mỗi loài trên, tiến hành đào 2 phẫu diện để điều tra đặc điểm tính chất vật lý, hoáhọc của đất Tổng số phẫu diện đào cho 5 loài cây là 10 phẫu diện Ngoài ra, để có cơ sở so sánh, đề tài đào 3phẫu diện đối với các trạng thái đất trống IA, IB tại khu vực để làm đối chứng Do đặc điểm đất đai của khuvực bị thoái hoá mạnh trong quá trình canh tác không bền vững, độ dày tầng đất phổ biến là nhỏ hơn 50cm nênđề tài chỉ tiến hành đánh giá sự thay đổi tính chất vật lý, hoá học của đất ở 2 mức độ sâu: Độ sâu 0 - 20cm vàđộ sâu 20 - 40cm Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: Tính chất vật lý của đất (độ ẩm, độ xốp, thành phần cơ giới);tính chất hoá học của đất (độ chua của đất (pHKcl); hàm lượng mùn trong đất (CHC%); hàm lượng đạm tổng số(NTs%); hàm lượng phốt pho dễ tiêu (mg/100g đất); hàm lượng Kali dễ tiêu (mg/100g đất); dung tích hấp phụCEC (meq/100g đất); các cation trao đổi (Ca2+, Mg2+)

2.2.6.3 Khả năng phòng hộ chắn gió

Lựa chọn mô hình rừng trồng hỗn giao trong hàng 3 loài cây Sao đen, Thanh thất, Dầu rái để đánh giákhả năng phòng hộ chắn gió của rừng Đai rừng dùng để bố trí thí nghiệm có chiều rộng 20m và chiều dài là120m; chiều cao trung bình của đai rừng là 5,7m Thời gian đo gió cụ thể như sau:

+ Gió Tây Nam: Đo trong tháng 6

+ Gió mùa Đông Bắc: Đo trong tháng 10

- Sử dụng máy đo gió bố trí đo cùng một lúc ở độ cao 1,5m ở các vị trí: Trước đai 5H (5 lần chiều caocủa đai rừng) - đối chứng Sau đai: 0H, 5H, 10H và 15H Tại mỗi vị trí đo, tiến hành đo 4 lần vào các thờiđiểm khác nhau trong ngày, tính giá trị trung bình 4 lần đo

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được phân tích và xử lý bằng toán thống kê trong sinh học với sự trợ giúp của cácphần mềm Excel, SPSS Sử dụng phân tích phương sai một nhân tố ANOVA, so sánh các cặp thí nghiệm bằngtiêu chuẩn U của mann-whitney

Chương 3:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tổng kết, đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ đã có ở vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

3.1.1 Khái quát tình hình xây dựng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên qua các giai đoạn phát triển

Việc xây dựng và phát triển hệ thống rừng phòng hộ trên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên được

Trang 9

thực hiện từ năm 1992 đến nay Trong giai đoạn 1992 - 1998 rừng được xây dựng theo chương trình 327, kếtquả đã trồng và khoanh nuôi được 6.572,01 ha rừng, tuy nhiên chỉ có 43,64% thành rừng Giai đoạn từ năm

1998 đến nay, dự án 661 đã trồng mới được 44.695 ha, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 11.460 ha, khoanh nuôixúc tiến tái sinh trồng bổ sung 12.810 ha, giao khoán bảo vệ rừng 67.666 ha; dự án JBIC đã thực hiện trồngrừng phòng hộ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung, quản lý bảo vệ rừng với tổng diện tích 4.243,60

ha Các chương trình, dự án này đã góp phần đáng kể trong việc tăng độ che phủ và nâng cao khả năng phònghộ của rừng trong khu vực Tuy nhiên, nhiều tồn tại về việc lựa chọn loài cây trồng phù hợp với lập địa cũngnhư kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vẫn còn cần phải quan tâm giải quyết, điều này ảnh hưởng không nhỏ tớidiện tích và chất lượng rừng phòng hộ

3.1.2 Tổng kết, đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật đã áp dụng trong xây dựng rừng phòng hộ

vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

a) Tổng kết các mô hình

Trong giai đoạn 1993 đến nay, tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên đã xây dựng được tổng cộng 9

mô hình rừng trồng phòng hộ chủ yếu với các loài cây gồm: Keo lá tràm, Bạch đàn, Xà cừ lá nhỏ, Sao đen, Gõđỏ, Dầu rái, Muồng đen, Giáng hương Tuy nhiên, khả năng sinh trưởng, chất lượng mô hình và khả năngphòng hộ của các mô hình này thì còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, đặc biệt là vấn đề kỹ thuật Ngoài ra,số lượng loài cây bản địa đưa vào trồng thử nghiệm cũng còn ít, phần lớn chưa qua nghiên cứu thử nghiệm,các mô hình rừng trồng hỗn giao giữa cây bản địa với cây phù trợ chưa thành công do cây phù trợ lấn át câytrồng chính; nhìn chung tính bền vững và hiệu quả phòng hộ của rừng chưa cao

b) Tổng kết và đánh giá các biện pháp kỹ thuật xây dựng mô hình

- Trong chương trình 327 công tác điều tra lập địa còn chưa được chú trọng nhưng sang Dự án 661nhiệm vụ này đã được quan tâm hơn Tuy nhiên, do không có sự thống nhất giữa trên bản đồ thiết kế với ngoàithực địa nên tỷ lệ sống và chất lượng sinh trưởng của các loài cây trồng là không đồng đều Sang tới Dự ánJBIC, công tác điều tra lập địa được thực sự quan tâm gắn với loài cây trồng cụ thể Việc kiểm tra, giám sátđược làm chặt chẽ

- Nguồn giống cũng được cải thiện hơn qua thời gian Tiêu chuẩn cây con ngày càng được nâng cao đểphù hợp với điều kiện khắc nghiệt của điều kiện lập địa nơi trồng rừng, cụ thể: Trong chương trình 327 câybản địa đem trồng chỉ có tuổi từ 8 - 10 tháng tuổi thì đã tăng lên 12 - 14 tháng tuổi trong dự án 661 và tiếp tục

16 - 18 tháng tuổi trong dự án JBIC

- Trồng rừng ngày càng được đầu tư theo hướng thâm canh Trong chương trình 327 chỉ có bón lót100g NPK/hố và không bón thúc, Dự án 661 bón lót 150 - 200g phân NPK/hố và không bón thúc thì sang Dựán JBIC số lượng phân bón lót là 200 g/hố và có bón thúc 200g phân NPK/hố trong 4 năm chăm sóc

- Các chương trình trồng rừng chủ yếu thực hiện trồng thuần loài hoặc hỗn loài theo tỷ lệ 1 cây trồngchính bản địa + 1 cây phù trợ, điều này gây khó khăn cho việc xây dựng đai rừng có kết cấu nhiều tầng đểphòng hộ Số lượng loài cây bản địa đưa vào trồng rừng ở khu vực nói chung còn ít

Nhìn chung, các kỹ thuật của dự án JBIC được coi là hoàn thiện hơn so với các chương trình, dự ántrồng rừng phòng hộ trước đó đã được triển khai ở khu vực Tuy nhiên, dự án mới chỉ tập trung vào xây dựng

1 mô hình hỗn giao giữa 1 cây trồng chính bản địa với 1 cây phù trợ, chưa có sự thử nghiệm để xây dựng môhình hỗn giao nhiều loài

c) Đánh giá các mô hình

Kết quả đánh giá tỷ lệ sống, sinh trưởng của các loài cây trồng rừng phòng hộ tại khu vực được tổnghợp tại bảng 4.3 Kết quả tại bảng 4.3 cho thấy:

Trang 10

- Trong chương trình 327: Keo lá tràm sau 12 - 13 năm trồng, tỷ lệ sống chỉ đạt 69,1 - 71,6%, lượngtăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính đạt 1,0 - 1,2 cm/năm, chiều cao 0,8 - 0,9 m/năm; Dầu rái vàSao đen đạt tỷ lệ sống thấp từ 55,7 - 57,3%, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 0,4 cm/năm về đườngkính và 0,5 - 0,6 m/năm về chiều cao Nhìn chung, các loài cây trồng đều đạt tỷ lệ sống thấp và sinh trưởngkém Nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này ngoài ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật thì suất đầu tư quá thấp cũnglà nguyên nhân quan trọng dẫn tới kết quả này.

- Trong dự án 661: Keo lá tràm sau 6 - 8 năm trồng đạt tỷ lệ sống 80,5 - 83,1%, lượng tăng trưởngbình quân hàng năm đạt 1,3 cm/năm về đường kính, 1,0 m/năm về chiều cao; các loài Dầu rái, Sao đen,Muồng đen sinh trưởng khá tốt, đạt tỷ lệ sống 67,3 - 70,0%, lượng tăng trưởng bình quân đạt 0,6 - 0,8 cm/nămvề đường kính và 0,5 - 0,7 m/năm về chiều cao sau 6 - 8 năm trồng Các loài Gõ đỏ, Giáng hương sinh trưởngkhá chậm, tỷ lệ sống đạt thấp hơn 50%, trong đó loài Giáng hương bị chết toàn bộ sau khi đem đi trồng Nhìnchung, cây trồng trong dự án 661 đã có sự phát triển tốt hơn so với chương trình 327 Nguyên nhân chủ yếu là

do yếu tố kỹ thuật đã được cải thiện một phần, suất đầu tư cũng được tăng lên

Bảng 4.3 Sinh trưởng các loài cây trồng trong các mô hình rừng trồng phòng hộ đã xây dựng trong các

chương trình, dự án tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

TT Mô hình Tuổi Loài cây

Mật độ trồng (cây/ha)

Tỷ lệ sống (%)

D 1,3m (cm) Hvn (m)

Error!

Objectscannotbecreatedfromeditingfieldcodes

∆D

Error!

Objectscannotbecreatedfromeditingfieldcodes

Trang 11

3.2 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

3.2.1 Chọn loài cây trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

3.2.1.1 Cơ sở của việc lựa chọn loài cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm

Dựa trên kết quả tổng kết, đánh giá các mô hình rừng trồng đã xây dựng ở trên, kết hợp với xem xétcác tài liệu về đặc điểm phân bố tự nhiên và yêu cầu sinh thái của các loài cây, đề tài đã lựa chọn được 5 loàicây dự tuyển đưa vào nghiên cứu gồm: Dầu rái, Sao đen, Lim xanh, Thanh thất, Muồng đen

3.2.1.2 Đánh giá tỷ lệ sống của các loài cây

Sau 1 năm trồng, tỷ lệ sống của các loài cây đạt khá cao, dao động từ 93,6 - 97,8% Tuy nhiên, ởnhững năm tiếp theo, tỷ lệ sống của các loài có sự giảm đi rõ rệt do ở khu vực nghiên cứu đất nghèo dinhdưỡng, độ dốc khá lớn, tầng đất mỏng, gió biển, mùa khô kéo dài trong năm, đã ảnh hưởng tới tỷ lệ sống củacây trồng Đến tuổi 6, tỷ lệ sống của các loài chỉ còn dao động 73,0 - 86,1%, trong đó đạt cao nhất ở công thứcthí nghiệm 5 (trồng thuần loài Thanh thất) là 86,1% và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 4 (trồng thuần loàiMuồng đen) chỉ đạt 73,0% Tuy nhiên, nếu so sánh với tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trồng trong cácchương trình, dự án trước đây tỷ lệ sống chỉ dao động từ 55,7 - 74,8% (bảng 4.3), thì các thí nghiệm của đề tàicho thấy tỷ lệ sống đã được cải thiện rõ rệt

4.2.1.3 Đánh giá sinh trưởng đường kính D 1.3 và chiều cao vút ngọn H vn

- Tại tuổi 6, đường kính ngang ngực D1.3 của các loài cây dao động từ 6,8 - 8,5cm, trung bình là 7,3

cm, trong đó Muồng đen có sinh trưởng D1.3 là nhanh nhất với 8,5cm và thấp nhất đối với loài Dầu rái chỉ đạt6,3cm Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về D1.3 của các loài dao động từ 1,1 - 1,4 cm/năm, trung bìnhlà 1,2 cm/năm, trong đó đạt giá trị lớn nhất ở loài Muồng đen là 1,4 cm/năm và thấp nhất đối với loài Sao đenvà Dầu rái đạt 1,1 cm/năm Hệ số biến động về sinh trưởng đường kính giữa các loài trong các công thức thínghiệm dao động từ 9,9 - 17,2%, cho thấy các cây trong từng công thức thí nghiệm và giữa các công thức thínghiệm sinh trưởng có sự chênh lệch không quá lớn Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kínhcủa các loài cây trong thí nghiệm của đề tài lớn hơn hẳn so với các chương trình, dự án trồng rừng trước đó(bảng 4.3), nơi mà lượng tăng trưởng bình quân về đường kính của các loài cây bản địa chỉ dao động 0,4 - 0,8

Trang 12

- Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài dao động từ 4,8 - 7,0m, trung bình là 5,7m, đạt sinhtrưởng cao nhất là loài Muồng đen là 7,0m, tiếp theo là loài Thanh thất đạt 6,3m và thấp nhất là loài Dầu ráichỉ đạt 4,8 m Các loài cây trong các công thức thí nghiệm sinh trưởng khá đồng đều, hệ số biến động về sinhtrưởng chiều cao 10,0 - 15,0% Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các loài dao động từ0,8 - 1,2 m/năm, trong đó đạt cao nhất đối với loài Muồng đen và loài Thanh thất là 1,1 - 1,2 m/năm, thấp nhấtlà loài Dầu rái đạt 0,8 m/năm So sánh với lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các loàiSao đen, Muồng đen, Dầu rái trong các chương trình, dự án trước đó (bảng 4.3) chỉ đạt 0,5 - 0,8 m/năm thì cácloài cây trong thí nghiệm của đề tài thể hiện sự sinh trưởng tốt hơn

Kết quả phân tích phương sai một nhân tố ANOVA và sử dụng tiêu chuẩn Ducan để so sánh cho thấyloài Muồng đen cho sinh trưởng đường kính, chiều cao là tốt nhất, tiếp đến là loài Thanh thất, Sao đen, Limxanh và thấp nhất đối với loài Dầu rái

4.2.1.3 Đánh giá chất lượng sinh trưởng của các loài cây

Sau 6 năm trồng các loài cây trong thí nghiệm chọn loài đều sinh trưởng rất tốt, trong đó tỷ lệ câyphẩm chất tốt dao động 36,7 - 46,0% (trung bình là 40,5%); tỷ lệ cây phẩm chất trung bình dao động 40,5 -55,7% (trung bình là 48,1%); cây phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ khá thấp, dao động 7,6 - 18,5% (trung bình là11,4%) Trong 5 loài cây đem trồng thì chỉ có Dầu rái và Muồng đen có tỷ lệ cây phẩm chất xấu trên 10%,trong đó Muồng đen có tỷ lệ cây phẩm chất xấu là lớn nhất lên tới 18,5%, cho thấy khả năng sinh trưởng củaloài cây này tại khu vực nghiên cứu là không đồng nhất

3.2.2 Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì đến sinh trưởng của các loài cây trồng rừng phòng hộ

3.2.2.1 Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới tỷ lệ sống của cây trồng

- Tại tuổi 6, tỷ lệ sống của Lim xanh trong công thức xử lý thực bì theo băng (CT1) đạt 85,3% là caohơn hẳn Lim xanh trong công thức xử lý thực bì toàn diện (CT2) chỉ đạt 77,3%; Dầu rái xử lý thực bì theobăng (CT1) đạt tỷ lệ sống 79,2% là cao hơn so với Dầu rái trong công thức xử lý thực bì toàn diện (CT2) chỉđạt 74,0%

- Tỷ lệ sống của các loài Lim xanh, Dầu rái trong cả 2 biện pháp xử lý thực bì theo băng và toàn diệnđều có sự biến động theo thời gian Sau 1 năm trồng, tỷ lệ sống 2 loài đạt rất cao 94,1 - 95,7% Từ năm thứ 2trở đi, do chỉ tiến hành chăm sóc và bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết khắc nghiệt vùng ven biển nên tỷ lệsống của cả 2 loài Dầu rái và Lim xanh đều giảm đi rõ rệt Ở tuổi 6, tỷ lệ sống của Lim xanh ở công thức xử lýthực bì theo băng đạt 85,3%, cao hơn so với xử lý thực bì toàn diện chỉ đạt 77,3%; Dầu rái ở công thức xử lýthực bì theo băng đạt tỷ lệ sống là 79,2% là tốt hơn so với xử lý thực bì toàn diện chỉ đạt 74,0% Trong 2 loàicây thí nghiệm thì Lim xanh đạt tỷ lệ sống cao hơn Dầu rái ở cả biện pháp xử lý thực bì theo băng và toàndiện

Nguyên nhân cả 2 loài Lim xanh và Dầu rái trồng ở công thức xử lý thực bì theo băng đều đạt tỷ lệsống cao hơn so với xử lý thực bì toàn diện là do: Cả 2 loài cây trên đều là cây bản địa, giai đoạn mới trồngcần có thực bì che chắn bớt một phần ánh sáng trực xạ để phát triển; khu vực bố trí thí nghiệm đất đai nghèodinh dưỡng, tầng đất mỏng, giáp biển nên gió biển làm đất bị khô, độ ẩm thấp, mùa khô kéo dài hơn 6 tháng,nên việc để lại một lớp thực bì sẽ có tác dụng làm giảm lượng thoát hơi nước, giữ ẩm cho đất, tạo điều kiện đểcây sống tốt hơn

3.2.2.2 Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới sinh trưởng D 1,3 và H vn của cây trồng

- Đường kính ngang ngực tại tuổi 6 của Lim xanh và Dầu rái trong công thức xử lý thực bì theo băng(CT1) đạt lần lượt là 7,5 cm và 7,0 cm là cao hơn hẳn so với công thức xử lý thực bì toàn diện (CT2) chỉ đạt

Trang 13

6,2 cm đối với Lim xanh và 6,0 cm đối với Dầu rái Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm của Lim xanhtrong công thức xử lý thực bì theo băng đạt 1,3 cm/năm, Dầu rái đạt 1,2 cm/năm, trong khi nó chỉ đạt tươngứng ở công thức xử lý thực bì toàn diện là 1,0 cm/năm và 1,0 cm/năm Hệ số biến động sinh trưởng đườngkính của Lim xanh và Dầu rái trong công thức xử lý thực bì theo băng là 10,6 - 11,8% là thấp hơn hẳn so vớicông thức xử lý thực bì toàn diện là 15,8 - 17,5%, điều này cho thấy các loài Lim xanh và Dầu rái trong côngthức xử lý thực bì theo băng cho sinh trưởng đồng đều hơn xử lý thực bì toàn diện.

- Chiều cao vút ngọn của Lim xanh và Dầu rái tại tuổi 6 trong công thức xử lý thực bì theo băng (CT1)đạt lần lượt là 4,8 m và 4,6 m là cao hơn hẳn so với công thức xử lý thực bì toàn diện (CT2) chỉ đạt 4,2 m đốivới Lim xanh và 4,0 m đối với Dầu rái Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm của Lim xanh trong công thứcxử lý thực bì theo băng đạt 0,8 m/năm, Dầu rái đạt 0,8 m/năm là cao hơn hẳn so với Lim xanh và Dầu rái trongcông thức xử lý thực bì toàn diện chỉ đạt tương ứng là 0,7 m/năm và 0,7 m/năm Hệ số biến động sinh trưởngchiều cao vút ngọn của Lim xanh và Dầu rái trong công thức xử lý thực bì theo băng 13,4 - 13,6% là thấp hơnhẳn so với công thức xử lý thực bì toàn diện là 16,5 - 18,5%, điều này cho thấy các loài Lim xanh và Dầu ráitrong công thức xử lý thực bì theo băng cho sinh trưởng đồng đều hơn xử lý thực bì toàn diện

Sử dụng tiêu chuẩn U của Man-Whitney để so sánh cặp sinh trưởng đường kính, chiều cao vút ngọncủa 2 loài Lim xanh và Dầu rái trong 2 công thức xử lý thực bì theo băng và toàn diện cho thấy, giá trị xác suấtSig <0,05, có thể kết luận biện pháp xử lý thực bì có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng đường kính, chiều caocủa 2 loài cây tại khu vực nghiên cứu Dựa vào việc xếp hạng trung bình để tìm công thức tốt nhất cho thấy,công thức xử lý thực bì theo băng cho sinh trưởng đường kính và chiều cao là tốt hơn hẳn so với xử lý thực bìtoàn diện

4.2.2.3 Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới chất lượng cây trồng

Tại tuổi 6, trong công thức xử lý thực bì theo băng tỷ lệ cây phẩm chất tốt của 2 loài Lim xanh và Dầurái dao động từ 41,0 - 43,8%, cây phẩm chất trung bình 46,6 - 50,8%, cây phẩm chất xấu chỉ chiếm tỷ lệ rấtthấp từ 7,1 - 8,2% trong khi đó ở công thức xử lý thực bì toàn diện, tỷ lệ cây phẩm chất tốt chỉ chiếm 30,9 -33,9%, cây phẩm chất trung bình 49,6 - 51,7%, tỷ lệ cây phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ rất cao, dao động 16,5 -17,4% Như vậy, biện pháp xử lý thực bì theo băng cho chất lượng sinh trưởng của 2 loài Lim xanh và Dầurái là tốt hơn so với biện pháp xử lý thực bì toàn diện

3.2.3 Ảnh hưởng của phương pháp hỗn giao tới sinh trưởng của các loài cây trồng rừng phòng hộ

3.2.3.1 Ảnh hưởng của phương pháp hỗn giao tới tỷ lệ sống của các loài

- Sau 1 năm trồng, tỷ lệ sống của 3 loài Dầu rái, Sao đen, Thanh thất trong 2 phương pháp hỗn giaotrong hàng (CT1) và theo hàng (CT2) đều đạt khá cao, dao động 91,2 - 95,7% Tuy nhiên, ở các năm sau đó, tỷlệ sống của các loài đều có xu hướng giảm do điều kiện khắc nghiệt của khu vực trồng và chỉ tiến hành chămsóc Đến tuổi 6, nhìn chung tỷ lệ sống của các loài vẫn đạt khá cao, dao động 78,1 - 84,0%

- Phương pháp hỗn giao trong hàng cho tỷ lệ sống các loài cây bản địa cao hơn so với phương pháphỗn giao theo hàng Tại tuổi 6, tỷ lệ sống của 3 loài cây bản địa trong phương pháp hỗn giao trong hàng daođộng 82,2 - 84,0% trong khi phương pháp hỗn giao theo hàng chỉ đạt 78,1 - 82,4% Nguyên nhân dẫn tới hiệntượng này là do khi trồng hỗn giao trong hàng các loài cây có khả năng tận dụng được tối đa không gian dinhdưỡng và giảm được sự cạnh tranh về không gian sống nhưng khi trồng hỗn giao theo hàng, sự cạnh tranh nàylà lớn hơn

- Tại tuổi 6, tỷ lệ sống của loài Sao đen đạt lớn nhất ở cả 2 phương pháp hỗn giao, trong đó đạt 84,0%

ở phương pháp hỗn giao trong hàng, 82,4% ở phương pháp hỗn giao theo hàng; tiếp đó là loài Thanh thất đạt82,6% ở phương pháp hỗn giao trong hàng, 80,1% ở phương pháp hỗn giao theo hàng; loài Dầu dái cho tỷ lệ

Ngày đăng: 03/09/2014, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w