Để tăng hiệu quảtrong điều trị và dự phòng cho bệnh nhân BN nhồi máu não sau giai đoạncấp, đồng thời thuận tiện sử dụng cho bệnh nhân trong điều kiện tại ViệtNam, bài thuốc được gia thêm
Trang 1Trờng đại học y hà nội
NgÔ QUỳNH HOA
Trang 2TRONG ĐIềU TRị nhồi máu não sau giai đoạn cấp
Để hoàn thành luận án này, tôi xin chân thành cảm ơn:
- Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Y học
cổ truyền, Bộ môn Dợc lý trờng Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận án.
- Đảng uỷ, Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Khoa Y học cổ truyền, Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Nội I Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong học tập và nghiên cứu.
- Ban Giám đốc Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ơng và các khoa, phòng trong Bệnh viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
Trang 3Trờng Đại học Y Hà Nội là ngời thầy vô cùng tận tình, chu đáo, đã dạy
dỗ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Cô đã trang bị cho tôi kiến thức chuyên ngành, giúp đỡ tôi sửa chữa thiếu sót trong luận
án và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
- Phó Giáo s - Tiến sĩ Nguyễn Trần Thị Giáng Hơng – Nguyên Phó trởng Bộ môn Dợc lý Trờng Đại học Y Hà Nội, ngời thầy đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và hớng dẫn tôi hoàn chỉnh luận án này.
- Phó Giáo s - Tiến sĩ Nguyễn Nhợc Kim - Nguyên trởng khoa Y học
cổ truyền trờng Đại học Y Hà Nội, ngời thầy đã giảng dạy và đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án này.
- Phó Giáo s - Tiến sĩ Đặng Kim Thanh – Phó trởng Khoa Y học cổ truyền Trờng Đại học Y Hà Nội, cô đã tận tình chỉ bảo và dạy dỗ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
- Các Thầy - Cô Khoa Y học cổ truyền Trờng Đại học Y Hà Nội, những ngời đồng nghiệp thân yêu của tôi với những kinh nghiệm và lòng nhiệt tình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận án.
- Các Thầy - Cô trong Hội đồng chấm luận án đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thành luận án.
- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các bệnh nhân tình nguyện tham gia nghiên cứu.
- Tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Trần văn Thuấn – Trởng khoa Y học cổ truyền – Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cùng toàn thể các bác sĩ, y tá, nhân viên trong khoa đã tạo điều kiện và góp sức cùng tôi trong việc thực hiện các công đoạn của đề tài.
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bố mẹ – Những ngời đã sinhthành và nuôi dạy tôi trởng thành, những ngời thân trong gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi vợt qua những khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành luận án.
Trang 4Xin tr©n träng c¶m ¬n !
T¸c gi¶
Ng« Quúnh Hoa
Lêi cam ®oan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả Luận án
Ngô Quỳnh Hoa
Trang 5ALT Alanine aminotransferaseAST Aspartate aminotransferase
TMSLHGG Thông mạch dưỡng não ẩm
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 TÌNH HÌNH TAI BIẾN MẠCH NÃO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 3
1.1.1 Tình hình tai biến mạch não trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình tai biến mạch não ở Việt Nam 3
1.2 TAI BIẾN MẠCH NÃO THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 4
1.2.1 Định nghĩa và phân loại tai biến mạch não 4
1.2.2 Nhồi máu não 4
1.3 TAI BIẾN MẠCH NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN 18
1.3.1 Quan niệm, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của chứng trúng phong.19 1.3.2 Phân loại, điều trị trúng phong 22
1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP 27
1.4.1 Một số nghiên cứu ở Trung Quốc 27
1.4.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 28
1.5 TỔNG QUAN BÀI THUỐC NGHIÊN CỨU “THÔNG MẠCH SƠ LẠC HOÀN” 29
1.5.1 Xuất xứ của bài thuốc Thông mạch sơ lạc hoàn 29
1.5.2 Tác dụng của các vị thuốc có trong thành phần của “Thông mạch sơ lạc hoàn” 31
Chương 2 CHẤT LIỆU - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU 37
2.1.1 Thuốc nghiên cứu 37
2.1.2 Phương tiện và trang thiết bị nghiên cứu 38
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 39
Trang 72.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm 41
2.3.2 Thiết kế nghiên cứu lâm sàng 45
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 52
2.3.4 Phương pháp khống chế sai số 52
2.4 KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỀ TÀI 52
2.5 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 53
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRÊN THỰC NGHIỆM 56
3.1.1 Kết quả nghiên cứu độc tính cấp (LD50) 56
3.1.2 Kết quả nghiên cứu độc tính bán trường diễn 56
3.1.3 Kết quả nghiên cứu tác dụng dược lý trên tim mạch 69
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG TRÊN BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP: 76
3.2.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nhồi máu não 76
3.2.2 Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng 82
3.2.3 Kết quả nghiên cứu trên một số chỉ số huyết học và sinh hoá máu 93
Chương 4 BÀN LUẬN 97
4.1 TÍNH AN TOÀN CỦA THUỐC “THÔNG MẠCH SƠ LẠC HOÀN” 97
4.1.1 Tính an toàn của thuốc TMSLH trên thực nghiệm 97
4.1.2 Tính an toàn của TMSLH trên lâm sàng 102
4.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU 103
4.2.1 Tuổi: 103
4.2.2 Giới tính: 104
Trang 84.2.5 Một số đặc điểm tổn thương bệnh lý của đối tượng NC 107
4.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA THUỐC “THÔNG MẠCH SƠ LẠC HOÀN” 111
4.3.1 Kết quả điều trị theo Y học hiện đại 111
4.3.2 Kết quả điều trị theo thể bệnh Y học cổ truyền 129
KẾT LUẬN 133
KIẾN NGHỊ 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 1.1 Thành phần và tác dụng của các vị thuốc trong thuốc TMSLH 31
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của TMSLH đến thể trọng thỏ 57
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của TMSLH đến số lượng hồng cầu trong máu thỏ 58
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến hàm lượng huyết sắc tố trong máu thỏ .59
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến hematocrit trong máu thỏ 60
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến số lượng bạch cầu trong máu thỏ 60
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến công thức bạch cầu trong máu thỏ 61
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến số lượng tiểu cầu trong máu thỏ 62
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến hoạt độ AST trong máu thỏ 63
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến hàm lượng bilirubin toàn phần trong máu thỏ 64
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến hàm lượng protein trong máu thỏ 64
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến hàm lượng cholesterol trong máu thỏ .65
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của thuốc TMSLH đến hàm lượng creatinin trong máu thỏ 66 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của adrenalin trên huyết áp chó 71
Bảng 3.16 Độ giảm huyết áp trung bình tại các thời điểm sau khi uống thuốc thử 74
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của cao lỏng TMSLH ở các nồng độ 0,45%; 0,9%; 4,5%; 9%; 18% trên tai thỏ cô lập 75
Bảng 3.18 Phân bố về độ tuổi của các đối tượng nghiên cứu 76
Bảng 3.19 Thời gian từ khi mắc bệnh đến khi được điều trị ở giai đoạn cấp 77
Bảng 3.20 Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng trước điều trị 78
Bảng 3.21 Các yếu tố nguy cơ của các đối tượng nghiên cứu 79
Bảng 3.22 Vị trí, kích thước, số ổ NMN trên phim chụp CLVT và CHT 79
Bảng 3.23 Phân loại mức độ liệt theo thang điểm Rankin trước điều trị 80
Bảng 3.24 Phân loại mức độ về khả năng hoạt động độc lập của BN theo thang điểm Barthel trước điều trị 80
Trang 10Bảng 3.26 So sánh phân loại của thang điểm Rankin theo TG điều trị 82
Bảng 3.27 So sánh tiến triển độ liệt của chỉ số Barthel theo TG điều trị 83
Bảng 3.28 So sánh tiến triển độ liệt của thang điểm Orgogozo theo thời gian điều trị .85
Bảng 3.29 So sánh mức chênh điểm trung bình của thang điểm Barthel và Orgogozo theo thời gian điều trị 87
Bảng 3.30 Kết quả phục hồi liệt thần kinh VII trung ương và rối loạn ngôn ngữ sau điều trị 87
Bảng 3.31 So sánh kết quả biến đổi chỉ số HA trước và sau điều trị 88
Bảng 3.32 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Rankin theo thể bệnh TPTP và TPKL 89
Bảng 3.33 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Barthel theo thể TPTP và TPKL 90
Bảng 3.34 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Orgogozo theo thể TPTP và TPKL 90
Bảng 3.35 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Rankin theo phân loại hàn, nhiệt của YHCT 91
Bảng 3.36 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Barthel theo phân loại hàn, nhiệt 91
Bảng 3.37 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Orgogozo theo phân loại hàn, nhiệt 92
Bảng 3.38 Tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng 92
Bảng 3.39 So sánh giá trị TB của hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và tỷ lệ hemoglobin trước và sau điều trị 93
Bảng 3.40 So sánh giá trị TB một số chỉ số đông máu trước và sau điều trị 93
Bảng 3.41 So sánh giá trị TB của enzym gan trước và sau điều trị 94
Bảng 3.42 So sánh giá trị TB ure, creatinin và glucose máu trước và sau điều trị 94
Bảng 3.43 So sánh giá trị TB thành phần lipid máu trước và sau điều trị 95
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố về giới tính của các đối tượng nghiên cứu 76
Biểu đồ 3.2 Thời gian từ khi mắc bệnh đến khi tham gia nghiờn cứu 77
Biểu đồ 3.3 Thời gian khởi phát bệnh trong ngày 78
Biểu đồ 3.4 Phân bố thể bệnh theo chứng trúng phong và hàn - nhiệt 81
Biểu đồ 3.5 Phân bố thể bệnh theo hội chứng bệnh 82
Biểu đồ 3.6 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt theo thang điểm Rankin 83
Biểu đồ 3.8 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt theo thang điểm Barthel 84
Biểu đồ 3.9 So sánh điểm trung bình Orgogozo theo thời gian điều trị 86
Biểu đồ 3.10 So sánh KQ dịch chuyển độ liệt theo thang điểm Orgogozo 86
Trang 12Ảnh 3.1 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của adrenalin trên huyết áp chó (1) 69Ảnh 3.2 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của adrenalin trên huyết áp chó (2) 70Ảnh 3.3 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của adrenalin trên huyết áp chó (3) 70Ảnh 3.4 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của acetylcholin trên huyết áp chó (4) 72Ảnh 3.5 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của acetylcholin trên huyết áp chó (5) 72Ảnh 3.6 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của acetylcholin trên huyết áp chó (6) 73Bảng 3.15 Ảnh hưởng của TMSLH đến tác dụng của acetylcholin trên huyết áp chó 73
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch não (TBMN) chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnh của
hệ thần kinh trung ương và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tậtphổ biến ở mọi quốc gia trên thế giới 23, 79
Trong bệnh lý TBMN, nhồi máu não (NMN) chiếm đa số với tỷ lệ 75đến 80% 16, 22 Ở Việt Nam, theo điều tra của Lê Văn Thành (2003) tạiMiền Nam, cho thấy tỷ lệ TBMN khá cao, khoảng 6060/1.000.000 dân [55]
Những tiến bộ của y học trong thời gian (TG) gần đây đã góp phần làmgiảm tỷ lệ tử vong của TBMN, đồng nghĩa với tỷ lệ sống sót và tàn phế cũngtăng lên dẫn đến nhu cầu điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMNcũng tăng lên Bên cạnh đó, TBMN thường liên quan rất chặt chẽ với một sốyếu tố nguy cơ như: các bệnh tim mạch, các rối loạn chuyển hoá, rối loạnđông máu trong đó, phổ biến nhất vẫn là bệnh lý về tăng huyết áp (THA) và
xơ vữa động mạch 13, 14, 30 Do vậy, hiện nay việc phối hợp đồng thờigiữa điều trị phục hồi chức năng và điều trị các yếu tố nguy cơ thường được
áp dụng trong điều trị TBMN
Y học hiện đại (YHHĐ) đã đạt được những tiến bộ to lớn về điều trị dựphòng và phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMN Bên cạnh đó, Y học cổtruyền (YHCT) cũng có nhiều đóng góp trong việc điều trị phục hồi di chứngTBMN Có nhiều bài thuốc cổ phương quý được ghi chép trong các y vănkinh điển như bài Đại tần giao thang, Bổ dương hoàn ngũ thang, An cungngưu hoàng hoàn được các thầy thuốc sử dụng điều trị cho bệnh nhânTBMN và mang lại kết quả tốt [5], [6], [63] Bên cạnh đó, những bài thuốcnghiệm phương được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa y lý YHCT với nhữngkết quả nghiên cứu về tính năng, tác dụng của thuốc theo YHHĐ cũng được
Trang 14các thầy thuốc quan tâm Trung Quốc là nước đi đầu trong nghiên cứu cácdạng bài thuốc trên
Bài thuốc Thông mạch sơ lạc phương đã được Học viện Trung y ThiểmTây nghiên cứu áp dụng điều trị cho bệnh nhân TBMN từ năm 1987 cho đếnnay và mang lại kết quả tốt Năm 2008, bài thuốc cũng đã được áp dụng tạiKhoa YHCT - Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cho thấy kết quả khá khả quantrong phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân TBMN Để tăng hiệu quảtrong điều trị và dự phòng cho bệnh nhân (BN) nhồi máu não sau giai đoạncấp, đồng thời thuận tiện sử dụng cho bệnh nhân trong điều kiện tại ViệtNam, bài thuốc được gia thêm một số vị và chuyển sang dạng viên hoàn Chếphẩm mới được đặt tên là Thông mạch sơ lạc hoàn (TMSLH) Theo quy định,chế phẩm thuốc mới cần thiết được tiến hành nghiên cứu tổng thể trên cả thựcnghiệm và lâm sàng Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng dược lý trên tim mạch của thuốc “Thông mạch sơ lạc hoàn” trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp” với ba mục tiêu cụ thể sau:
1- Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng trên tim mạch của thuốc TMSLH trên động vật thực nghiệm.
2- Đánh giá tác dụng điều trị của thuốc TMSLH trên bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp
3- Theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc TMSLH trong điều trị bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp.
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH TAI BIẾN MẠCH NÃO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1.1 Tình hình tai biến mạch não trên thế giới
Theo Bethoux, tỷ lệ hiện mắc bệnh TBMN của các nước phương Tâyước tính 5 đến 10% dân số [78] Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới(TCYTTG), mỗi năm có hơn 4,5 triệu người tử vong do TBMN Riêng ởChâu Á hàng năm tử vong do TBMN là 2,1 triệu người [16], [22]
Tai biến mạch não đa số xảy ra ở lớp người cao tuổi và tỷ lệ tăng nhanhtheo tuổi [21] Trong từng độ tuổi, TBMN đều thấy nam nhiều hơn nữ [59].Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh đến TBMN ởngười trẻ Ở Nhật Bản người trẻ chiếm 2,7% trong 1350 bệnh nhân TBMN ỞPháp tỷ lệ mới mắc ở người trẻ là 10 - 30/100.000 dân, chiếm 5% toàn bộ cácloại TBMN [42], [77]
Trong nghiên cứu của Paul M và cộng sự (2000), bệnh tim mạch lànguyên nhân chính gây tử vong Theo dự báo đến năm 2020 các bệnh timmạch đặc biệt là tình trạng xơ vữa động mạch sẽ trở thành nguyên nhân hàngđầu gây bệnh tật trên toàn thế giới [75]
1.1.2 Tình hình tai biến mạch não ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, ở nước ta TBMN đang có chiều hướng giatăng, cướp đi sinh mạng của nhiều người hoặc để lại di chứng nặng nề gâythiệt hại lớn cho gia đình và xã hội [11], [35]
Lê Văn Thành (2003) điều tra TBMN ở thành phố Hồ Chí Minh năm
2003 thấy tỷ lệ hiện mắc là 6060/1.000.000 dân, tăng hơn năm 1993 với4160/1.000.000 dân [55]
Trang 16Đinh Văn Thắng (2003) theo dõi TBMN tại Bệnh viện Thanh Nhàn từ
1999 - 2003, cho thấy năm 2003 tăng 1,58 lần so với năm 1990, tỷ lệ nữ/ nam
là 1/1,75 [52]
1.2 TAI BIẾN MẠCH NÃO THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.2.1 Định nghĩa và phân loại tai biến mạch não
2.1.1.1 Định nghĩa
Theo TCYTTG: “Tai biến mạch não là sự xảy ra đột ngột các rối loạnchức năng khu trú của não, kéo dài trên 24 giờ và thường do nguyên nhânmạch máu” 16
1.2.1.2 Phân loại theo lâm sàng [22]
Tuỳ thuộc vào bản chất tổn thương, TBMN được chia thành 2 thể lớn:
*Chảy máu não: là máu chảy vào nhu mô não.
Bao gồm: chảy máu trong nhu mô não; chảy máu não – tràn máu não thất thứphát; chảy máu não thất nguyên phát; chảy máu dưới nhện; chảy máu saunhồi máu
*Nhồi máu não: xảy ra khi một mạch máu bị tắc một phần hoặc toàn
bộ, khu vực não không được nuôi dưỡng sẽ bị huỷ hoại, nhũn ra
Bao gồm: huyết khối động mạch não; tắc mạch não; nhồi máu não ổ khuyết
1.2.2 Nhồi máu não
1.2.2.1 Định nghĩa: Nhồi máu não là quá trình bệnh lý trong đó động
mạch não bị hẹp hoặc bị tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não do độngmạch não đó phân bố bị giảm trầm trọng, dẫn đến chức năng vùng não
đó bị rối loạn [16]
1.2.2.2 Nguyên nhân
Trang 17* Huyết khối động mạch não: là tổn thương thành mạch, làm rối loạn
chức năng hệ thống đông máu, gây đông máu và/hoặc tắc động mạch não vàxảy ra ngay tại vị trí động mạch bị tổn thương [22] Thường liên quan chặtchẽ với THA, xơ vữa động mạch, viêm động mạch và một số nguyên nhân
khác [16], [59]
* Nguyên nhân của tắc mạch
Căn cứ vào nguồn gốc người ta có thể chia ra:
- Cục tắc ngoài hệ tim - mạch tới mạch não: do khí, tắc mạch ối ở sảnphụ sau sinh, tắc do phần mềm trong những vết thương đụng dập lớn [71]
- Cục tắc từ hệ tim - mạch tới mạch não: cục tắc từ tim tới mạch: trongcác bệnh tim mắc phải như hẹp hai lá, rung nhĩ, loạn nhịp hoàn toàn, viêm nộitâm mạc nhiễm khuẩn, nhồi máu cơ tim… [71]
* Nguyên nhân của nhồi máu ổ khuyết: có thể do xơ vữa động mạch
hoặc những thay đổi thoái hóa thành mạch do THA gây ra hoặc là hậu quảcủa ổ chảy máu hoặc ổ phù não nhỏ [22]
* Các nguyên nhân khác: do co mạch não hoặc do các yếu tố nguy cơ
gây nhồi máu não như: thiếu máu não thoáng qua, đái tháo đường, béo phì,nghiện rượu, nghiện thuốc lá, tăng kết dính tiểu cầu, rối loạn lipid máu…[21]
1.2.2.3 Sinh lý bệnh nhồi máu não:
Mô não sau nơi mạch máu não bị tổn thương xuất hiện phụ thuộc vàolưu lượng máu Tại vùng tế bào thần kinh tiếp cận với mạch máu bị tổnthương sẽ bị hư biến nhiều hơn vùng ngoài lân cận với nó Vùng xung quanhgọi là vùng nửa tối, tại đây các tế bào thần kinh chưa hoại tử, còn khả năngcứu chữa được [11]
Trang 18Hình 1.1 Vùng nửa tối (vùng điều trị) trong nhồi máu não [93]
Nhồi máu não sẽ xảy ra khi lưu lượng dòng máu não giảm xuống dưới
18 - 20ml/100g não/phút, trung tâm của ổ NMN là vùng hoại tử có lưu lượngdòng máu từ 10 - 15 ml/100g não/phút, còn xung quanh vùng này có lưulượng dòng máu là 20 - 25 ml/100g não/phút Tuy các tế bào não vẫn cònsống nhưng không hoạt động, đây là vùng nửa tối Điều trị tai biến nhằm hồiphục tưới máu cho vùng này Do vậy đây còn gọi là vùng điều trị Lưu lượngmáu càng thấp thì thời gian đưa đến thiếu máu não cục bộ càng sớm, khảnăng hoại tử tế bào thần kinh càng nhiều [57]
1.2.2.4 Lâm sàng nhồi máu não: gồm có năm thể.
Nhồi máu não lớn: thường xảy ra khi ổ nhồi máu não trên 75%
diện tích của khu vực cấp máu của động mạch não giữa, động mạch não giữa
và động mạch não trước hoặc toàn bộ ba khu vực động mạch phối hợp với
nhau [57] Thường do huyết khối động mạch não và tắc mạch não có nguồn gốc từ tim và từ động mạch [16] Lâm sàng có rối loạn ý thức ở khoảng 30%
trường hợp liệt nửa người, rối loạn cảm giác nửa người, rối loạn thị giác,
Vùng hoại tử Vùng nửa tối
Trang 19quay mắt quay đầu nhìn về bên tổn thương, thất ngôn nếu tổn thương bán cầu
ưu thế [57]
Huyết khối động mạch não
*Đặc điểm lâm sàng chung: đa số BN có các triệu chứng (TC) báo
trước là các cơn thiếu máu não thoáng qua Giai đoạn này có ý nghĩa rất quantrọng trong chẩn đoán huyết khối động mạch não Ý thức thường tỉnh hoặcchỉ rối loạn ý thức nhẹ, có thể có rối loạn cơ tròn, rối loạn ngôn ngữ, liệt dâyVII trung ương và liệt nửa người trung ương đối diện với bên tổn thương ởbán cầu đại não [16], [57]
*Các hội chứng động mạch não: hội chứng tắc động mạch cảnh trong,
hội chứng động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch mạc trước, động mạch não sau, động mạch sống - nền [11]
Nhồi máu ổ khuyết: là những ổ nhồi máu nhỏ nằm sâu do bệnh
mạch máu nguyên phát ở nhánh xuyên của các động mạch lớn [21] Do tắcnhững nhánh xuyên nhỏ gây ra ổ nhồi máu nhỏ và khu trú, khi mô não hoại tửđược lấy đi thì còn lại một xoang nhỏ Có sự kết hợp giữa hội chứng ổ khuyết
và tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường [42], [93] Tùy vị trí tổnthương mà có những đặc điểm lâm sàng khác nhau: hội chứng liệt nửa ngườiđơn thuần, hội chứng rối loạn cảm giác nửa người đơn thuần, hội chứng rốiloạn cảm giác - vận động, hội chứng rối loạn vận động - bàn tay vụng về…[16], [21]
Nhồi máu vùng phân thùy: giảm lưu lượng máu tới não gây tổn
thương ở giữa vùng phân bố của động mạch [22] Lâm sàng: BN thường vã
mồ hôi, choáng váng, mờ mắt, nhợt nhạt Nhồi máu vùng ranh giới giữađộng mạch não giữa và não sau gây bán manh, rối loạn điều phối thị giác.Nếu tổn thương bên bán cầu trội có rối loạn ngôn ngữ, mất chú ý nửa bênthân người [22]
Trang 20 Lấp mạch não: do lấp mạch từ tim, từ động mạch đến động
mạch, lấp mạch do mảng xơ vữa ở cung động mạch chủ Lâm sàng thườngkhởi phát đột ngột, hay xảy ra vào ban ngày sau các yếu tố thuận lợi như: ởngười trẻ, sau gắng sức, tiền sử hẹp van hai lá, loạn nhịp hoàn toàn, rungnhĩ Tuỳ theo vị trí và đường kính cục tắc, có thể rối loạn ý thức nhẹ hoặchôn mê và các triệu chứng thần kinh khu trú [22], [71]
1.2.2.5 Các yếu tố nguy cơ của TBMN
Các yếu tố nguy cơ được chia thành hai nhóm: một nhóm gồm các yếu
tố không biến đổi được Một nhóm gồm các yếu tố biến đổi được và có thểbiến đổi được [13], [30], [42]
Nhóm yếu tố không biến đổi được [13], [14], [118]
*Tuổi: nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã kết luận TBMN
tăng dần theo lứa tuổi và tăng vọt từ lứa tuổi 50 trở lên
*Giới: nam giới mắc TBMN nhiều hơn nữ giới từ 1,5 đến 2 lần.
*Chủng tộc: người da đen tỷ lệ mắc TBMN cao nhất sau đó đến người
da vàng, cuối cùng là da trắng
*Địa lý: từ cao giảm dần: Châu Á, Đông Âu, sau là Tây Âu và Bắc Mỹ,
thành phố mắc nhiều hơn nông thôn
* Di truyền: kết quả nghiên cứu gen và di truyền thấy ở một số gia đình
có nguy cơ cao mắc TBMN hơn
Có thể coi tuổi, giới, chủng tộc, địa lý và di truyền là những yếu tố nhậndạng khá quan trọng giúp cho chúng ta kiểm soát tích cực hơn các yếu tốnguy cơ khác Trong đó yếu tố tuổi có vai trò quan trọng
Nhóm yếu tố biến đổi được và có thể biến đổi được [11], [13], [30]
*Tăng huyết áp: tăng huyết áp được coi là nguy cơ hàng đầu trong cơ
chế bệnh sinh của TBMN Khi huyết áp tâm thu từ 160mmHg trở lên và/hoặchuyết áp tâm trương từ 95 mmHg trở lên, tỷ lệ TBMN ở người tăng huyết áp
Trang 21so với những người có HA bình thường sẽ tăng từ 2,9 lần (đối với nữ) đến 3,1lần (đối với nam) [13], [30].
* Rối loạn chuyển hoá lipid: lipid trong huyết tương tồn tại dưới dạng
kết hợp với apoprotein và được chia làm ba loại: lipoprotein trọng lượng phân
tử thấp chiếm 40 - 50% các loại lipoprotein tham gia vào cơ chế gây dày lớp
áo trong của thành mạch; lipoprotein trọng lượng phân tử cao chiếm 17 - 23%các loại lipoprotein được cho rằng có tác dụng bảo vệ thành mạch; triglyceridchiếm 8 - 12% các lipoprotein và cũng tham gia vào cơ chế tạo mảng xơ vữamạch [27], [30], [112]
* Béo phì: là yếu tố nguy cơ không trực tiếp gây TBMN mà có lẽ
thông qua các bệnh tim mạch Tăng trọng lượng quá mức trên 30% làm giatăng nguy cơ TBMN Có sự liên quan rất rõ rệt giữa béo phì, tăng huyết áp và
sự đề kháng insulin [13], [30]
* Các bệnh lý tim: các bệnh lý tim như hẹp hai lá và/hoặc rung nhĩ do
thấp tim là yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra nhồi máu não ở các nước đangphát triển [42] Tần suất và tính phổ biến của rung nhĩ tăng theo tuổi, với mỗikhoảng mười năm liên tục của đời người sau tuổi 55, thì tỷ lệ rung nhĩ tănglên gấp đôi [71], [76]
* Đái tháo đường: là yếu tố nguy cơ gây ra tất cả các thể TBMN Nguy
cơ TBMN tương đối là 1,8 ở nam giới và 2,2 ở nữ giới ở nhóm đái tháođường [30], [92]
* Kháng insulin: tình trạng kháng insulin và cường insulin trong
TBMN với những cơ chế tác động trực tiếp hoặc gián tiếp qua các yếu tốnguy cơ khác và gặp nổi bật trong thể nhồi máu não [13]
* Tiền sử cơn thiếu máu não thoáng qua: cơn thiếu máu não thoáng
qua ở não hoặc mắt là một hội chứng lâm sàng có đặc điểm là mất cấp tínhchức năng não cục bộ hoặc chức năng một mắt kéo dài dưới 24 giờ Nguy cơ
Trang 22xảy ra TBMN sau cơn thiếu máu thoáng qua là 10% trong năm đầu tiên; sau
đó trong năm năm tiếp theo, mỗi năm có tỷ lệ 5% [14], [30]
* Nghiện thuốc lá: hút thuốc lá làm biến đổi nồng độ lipid mà quan
trọng là làm giảm yếu tố bảo vệ cholesterol - HDL, ngoài ra còn làmtăng fibrinogen, tăng tính đông máu, độ nhớt máu, tăng kết dính tiểu cầu[13], [30]
* Nghiện rượu: lạm dụng rượu sẽ làm tăng áp lực máu, tăng kết tập tiểu
cầu , tăng đông máu, tăng mức triglycerid, cơn rung nhĩ kịch phát, bệnh cơtim và liên quan đến sự gia tăng của nguy cơ TBMN (đặc biệt là thể chảy máunão) [14], [27]
* Tăng Homocystein trong máu: nồng độ homocystein tăng cao, là tác
nhân gây ra các rối loạn đông máu trầm trọng, dẫn đến TBMN hay huyết khốitĩnh mạch sâu Hàm lượng homocystein cao có nguy cơ gây mắc TBMN gấphai đến ba lần so với nhóm có hàm lượng homocystein thấp hơn [30]
* Thuốc ngừa thai: sử dụng thuốc ngừa thai thường gây nhồi máu não.
Nguy cơ TBMN tương đối là 2,99 ở nhóm HA bình thường, còn ở nhóm tănghuyết áp là 10,7 [13]
* Lạm dụng thuốc: sự lạm dụng thuốc và dùng thuốc gây nghiện có thể
gây TBMN ở nhiều người trẻ tuổi [14]
* Hoạt động thể lực: ít vận động thể lực làm tăng nguy cơ TBMN cho
cả hai giới và không phân biệt chủng tộc [30]
* Hẹp động mạch cảnh chưa có triệu chứng: hẹp tắc động mạch cảnh
khoảng 70% thì nguy cơ mắc bất kỳ loại TBMN nào là 3% mỗi năm và nguy
cơ mắc tai biến thiếu máu não cùng bên có thể do hẹp tắc động mạch cảnh2% Đối với mức hẹp rất nặng trên 90%, nguy cơ mắc TBMN còn cao hơnnữa [27]
Trang 23* Bệnh tế bào hình liềm: tỷ lệ mắc TBMN trên những BN này ở tuổi 20
là 11%, một số BN chỉ thấy tổn thương trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ(CHT) não [42]
* Tăng acid uric máu: tăng acid uric máu lên đến 7mg% thì nguy cơ
TBMN do vữa xơ động mạch tăng lên gấp đôi Acid uric làm ổn định sựngưng tập tiểu cầu và xu hướng làm tăng chứng huyết khối [30]
* Nhiễm khuẩn: Viêm nhiễm do Chlamydia pneumonia,
Helicobacter pylori gây TBMN thông qua vữa xơ động mạch [13]
* Các yếu tố đông máu: tăng fibrinogen làm tăng nguy cơ nhồi máu
não ở nam giới trên 54 tuổi Fibrinogen liên quan tới vấn đề hẹp động mạchcảnh, là một yếu tố nguy cơ của TBMN cục bộ Cơ chế của nó là do ảnhhưởng tới quá trình tăng kết dính tiểu cầu cũng như có vai trò trực tiếp trongquá trình tạo thrombin Tiểu cầu có vai trò rất to lớn trong cơ chế sinh bệnhhuyết khối Hiện nay liệu pháp kháng tiểu cầu đang ngày càng được quan tâmtrong dự phòng và điều trị huyết khối động mạch Ngoài tiểu cầu, các tế bàomáu khác như hồng cầu, bạch cầu cũng có vai trò trong huyết khối gây tắcnghẽn mạch Tăng số lượng hồng cầu đều có thể gây huyết khối Tănghematocrit cũng là yếu tố nguy cơ độc lập với TBMN [13], [30]
* Ngủ và TBMN: ngủ kết hợp với rối loạn nhịp thở như ngáy và ngừng
thở khi ngủ là những yếu tố nguy cơ của nhồi máu não Hội chứng ngừng thởkhi ngủ làm tăng nguy cơ xuất hiện TBMN [30]
* Yếu tố tâm lý: những người có tác phong tỉ mỉ, hay nghĩ ngợi tính
toán, dễ xúc cảm hoặc luôn trong tình trạng căng thẳng, hồi hộp lo âu, bi quanchán nản dễ mắc TBMN do xơ vữa động mạch [11]
* Yếu tố nguy cơ và thời tiết: TBMN xảy ra quanh năm nhưng thường
xảy ra nhiều vào mùa lạnh và những tháng chuyển mùa (tháng 2, 3, 10, 11) vànhững ngày thay đổi khí hậu đột ngột [42]
Trang 241.2.2.6 Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm thường quy [16], [22], [93]
* Xét nghiệm máu: tìm sự thay đổi độ nhớt của máu như tiểu cầu, độ
kết dính tiểu cầu, hồng cầu, hematocrit, fibrinogen, thời gian đông máu, tốc
độ lắng hồng cầu Xét nghiệm urê, creatinin, đường máu Định lượngcholesterol - LDL, cholesterol - HDL, cholesterol và triglycerid
* Xét nghiệm nước tiểu: có thể thấy noradrenalin tăng trong huyết khối
và giảm trong tắc mạch
* Chụp X quang: chụp X quang tim phổi để tìm các bệnh lý ở phổi, phế
quản di căn lên não
* Ghi điện tim và siêu âm tim mạch: để phát hiện bệnh lý van tim,
cơ tim
Các xét nghiệm chuyên biệt
* Xét nghiệm dịch não - tuỷ: giúp chẩn đoán phân biệt giữa nhồi máu
não và chảy máu trong sọ NMN có dịch não - tủy trong, các thành phần dịchnão - tủy không thay đổi [11]
* Ghi điện não: thường thấy hoạt động điện não giảm, nhưng những
thay đổi này không đặc hiệu [16]
* Chụp động mạch não: chụp động mạch số hoá xoá nền cho hình ảnh
động mạch não rõ nét, phát hiện được tắc, hẹp mạch máu, phình mạch, dịdạng mạch, co thắt mạch não [60]
* Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não [43], [57]
- Ở giai đoạn sớm, BN nhồi máu não có các biểu hiện rất kín đáo (mấtdải đảo, mờ nhân đậu, xoá các rãnh cuộn não, dấu hiệu động mạch tăng đậm
độ, giảm đậm độ vượt quá 2/3 vùng phân bố của động mạch não giữa )
- Sau giai đoạn cấp tính, BN nhồi máu não có các ổ giảm đậm độ, ổ nàythường thấy rõ từ ngày thứ hai trở đi Trường hợp điển hình: có ổ giảm đậm
Trang 25độ thuần nhất, hình thang, hình tam giác đáy quay ra ngoài, hình tròn nhỏ,hình bầu dục hoặc hình dấu phẩy phù hợp với vùng phân bố của động mạchnão Trường hợp hội chứng ổ khuyết: có các ổ giảm đậm độ hình tròn hoặc hìnhbầu dục trong chất trắng và các hạch nền não, đường kính nhỏ hơn 1,5 cm
- Hình ảnh nhồi máu - chảy máu: sự kết hợp một hình ảnh tăng tỷ trọng
tự nhiên ở trong một vùng giảm tỷ trọng
- Trên thực tế chụp CLVT sọ não kết quả âm tính xấp xỉ 1/3 của cácbệnh nhân TBMN đã được chẩn đoán lâm sàng
* Hình ảnh CHT và chụp mạch CHT: đây là phương pháp hiện đại
nhất, rõ ràng những vùng não tổn thương, có độ nhạy cao, không bị nhiễu ảnh
ở vùng hố sau Có thể dựng ảnh đa chiều, phương pháp chụp mạch cộnghưởng từ không phải tiêm thuốc cản quang và mạch não Nhưng phương phápnày có nhược điểm là: khó phân định, dễ gây nhầm lẫn với một số tổn thươngkhác không do thiếu máu não nhưng cũng có thay đổi tương tự như u não, cáctổn thương viêm nhiễm Hình ảnh: chủ yếu tăng tín hiệu trong thì T2 [34]
* Xạ hình tưới máu não bệnh lý trên máy chụp cắt lớp phát điện tử
dương (SPECT) và chụp cắt lớp phát photon đơn (PET): cung cấp những
hình ảnh động học về quá trình tưới máu não, các tổn thương mạch máu não.Giúp chẩn đoán sớm, chính xác các tổn thương mạch não, bổ sung thêm cácthông tin về hình ảnh giải phẫu và hình thái của chụp CLVT và CHT Ngoài
ra còn giúp theo dõi sự thay đổi của các tổn thương do TBMN theo thời gian
và có thể phát hiện tốt hơn chụp CLVT và CHT các thiếu máu cục bộ trongnhững giờ đầu sau khi mắc TBMN Các kích thước tổn thương trên chụp cắtlớp phát điện tử dương (SPECT) thông thường lớn hơn so với chụp CLVT vàCHT [32], [34]
* Siêu âm Doppler: để phát hiện dấu hiệu tắc, hẹp hệ động mạch cảnh
trong và ngoài sọ [16], [34]
Trang 261.2.2.7 Tiên lượng: phụ thuộc vào các yếu tố sau: tuổi cao, tình trạng chung
kém; huyết áp tăng cao, có những cơn THA ác tính; rối loạn ý thức nặng; bộinhiễm phổi, tiết niệu, loét các điểm tỳ; có các bệnh nội khoa mạn tính kết hợpnhư bệnh tim, phổi, thận, gan ; tiền sử TBMN cũ Có từ hai yếu tố nguy cơtrở lên [50]
1.2.2.8 Chẩn đoán
Chẩn đoán nhồi máu não [11], [16], [22]
* Lâm sàng
Triệu chứng chẩn đoán: bệnh đột ngột, có tổn thương chức năng não,
tồn tại quá 24 giờ (hoặc tử vong trước 24 giờ), không có yếu tố chấn thương.Tiền sử : THA, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, bệnh tim…Thường trên
50 tuổi Khởi phát đột ngột nhưng tiến triển tăng nặng dần dần hoặc tăngnặng từng nấc.Thường xảy ra vào ban đêm và gần sáng
Các triệu chứng hiếm gặp: nhức đầu, buồn nôn, nôn, các triệu chứng
xuất hiện nặng ngay từ đầu, rối loạn ý thức, rối loạn cơ tròn, huyết áp khi khởiphát tăng cao, dấu hiệu màng não âm tính…Các triệu chứng này ít thấy ởbệnh nhân nhồi máu não mà thường gặp ở BN chảy máu não
ổ khuyết: có các ổ giảm đậm độ hình tròn hoặc hình bầu dục trong chất trắng
và các hạch nền não, đường kính nhỏ hơn 1,5cm
- Điện tim có bằng chứng của bệnh tim hoặc tiền sử THA
Trang 27- Xét nghiệm máu: có biểu hiện tăng đông, tăng độ nhớt của máu, rốiloạn chuyển hóa lipid…
Chẩn đoán các thể nhồi máu não
* Tắc mạch máu não: có đầy đủ các tiêu chuẩn và các đặc điểm chung
của NMN cả về lâm sàng và cận lâm sàng Có thêm các yếu tố khẳng định tồntại một quá trình bệnh lý là nguồn gốc cục tắc: bệnh lý tim mạch (Bệnh Osler,hẹp van hai lá, rung nhĩ, loạn nhịp hoàn toàn ), phụ nữ trong hoặc ngay sausinh, phẫu thuật lớn vùng cổ, ngực; chấn thương dập nát lớn…Lâm sàng cáctriệu chứng xuất hiện đột ngột và nặng tối đa ngay từ đầu Cận lâm sàng: điệntim và siêu âm tim có hình ảnh dày nhĩ, vôi hoá van hai lá, loạn nhịp hoàntoàn, Osler Chụp CLVT sọ não thấy vùng giảm tỷ trọng phù hợp với độngmạch nuôi não bị tắc [11], [16], [57]
* Nhồi máu ổ khuyết: lâm sàng: điển hình theo lâm sàng của nhồi máu
ổ khuyết Cận lâm sàng: hình ảnh trên phim chụp CLVT thấy nhiều các ổkhuyết não nhỏ đường kính dưới 1,5 cm [57]
* Huyết khối động mạch não: đủ tiêu chuẩn và đặc điểm chẩn đoán
NMN Loại trừ chẩn đoán tắc mạch não và nhồi máu ổ khuyết Chẩn đoán xácđịnh bằng chụp CLVT sọ não, CHT sọ não [11]
1.2.2.9 Điều trị và phòng chống tai biến tái phát
Nguyên tắc cấp cứu và điều trị [18], [21]
Điều trị theo nguyên tắc điều trị và cấp cứu TBMN nói chung nhằmmục tiêu hồi phục chức năng thần kinh và giảm tỷ lệ tử vong Có năm vấn đềchính trong điều trị:
- Điều trị chung, cứu sống người bệnh trong giai đoạn cấp
- Điều trị đặc hiệu, mục tiêu điều trị chủ yếu là tái lập lại tuần hoàn,mặt khác dùng các thuốc bảo vệ thần kinh với mục đích dự phòng
Trang 28- Phòng và điều trị các biến chứng (chảy máu thứ phát, phù não ),viêm phổi, loét do tỳ đè, tắc mạch phổi…
- Phòng bệnh cấp hai nhằm giảm tỷ lệ tai biến tái phát, kiểm soát tốtTHA, sử dụng thuốc chống đông
- Phục hồi chức năng sớm
* Điều trị TBMN chung
Giữ ổn định các chức năng sống cho người bệnh, chăm sóc chức năng
hô hấp và tuần hoàn, cân bằng nước điện giải, vấn đề chuyển hoá glucose,kiểm soát huyết áp, tăng áp lực trong sọ, điều trị co giật, các biện pháp phòng
và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc mạch phổi, viêm phổi do hít vào,nhiễm khuẩn khác như nhiễm khuẩn tiết niệu, loét [16], [22]
Chức năng hô hấp và bảo vệ đường thở: yêu cầu cơ bản của điều trị
TBMN cấp là chức năng hô hấp bình thường và nồng độ oxy máu phải đủ đểduy trì trao đổi chất cho vùng nửa tối (2 - 4 lít O2/phút) Nên theo dõi độ bãohòa oxy máu động mạch và chức năng thông khí phổi [11]
Kiểm soát huyết áp: đối với bệnh nhân có tiền sử THA nên duy trì
huyết áp ở mức 180/100 - 105mmHg Bệnh nhân TBMN không có tiền sửTHA nên duy trì huyết áp ở mức 160 - 180/90 - 100mmHg [22]
Chức năng tuần hoàn: đảm bảo cung lượng tim tối ưu, duy trì áp lực
tĩnh mạch trung tâm ở mức xấp xỉ 8 - 10 cm nước Theo dõi điện tâm đồ:nhằm phát hiện các cơn loạn nhịp ác tính thứ phát, loạn nhịp có từ trước và
rung nhĩ [40], [71]
Chuyển hóa Glucose: duy trì đường máu dưới 170 mg/dl (dưới 9,5
mmol/l), dùng Insulin tiêm/truyền tĩnh mạch nếu cần Khi BN đã ổn định,uống thuốc viên hạ đường máu như diamicron, predian [57] Giảm glucosemáu cũng ảnh hưởng đến tiên lượng và/hoặc gây tình trạng giống nhưNMN [92]
Trang 29 Nhiệt độ cơ thể: sử dụng paracetamol và thuốc kháng sinh sớm trong
các trường hợp có nhiễm khuẩn như nhiễm khuẩn tiết niệu hoặc viêm phổi hítvào [11]
Điều chỉnh nước và cân bằng điện giải: nhằm tránh cô đặc máu vì có
thể làm ảnh hưởng tới tưới máu não và chức năng thận [18]
* Điều trị đặc hiệu
Điều trị làm tiêu huyết khối Altelase (rtPA): đây là thuốc tiêu sợi
huyết được Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhậnchỉ định dùng thuốc từ 1996 với liều 0,9mg/kg dùng ngay trong vòng 3 giờ
kể từ khi khởi phát (tiêm liều nạp tĩnh mạch 10%, sau đó truyền phần còn lạitrong vòng 1 giờ, liều tối đa 90 mg) là liều có hiệu quả đã được chứng minh(nghiên cứu NINDS), cho dù có một tỷ lệ nhất định chuyển dạng NMN thànhchảy máu não (3% chảy máu nặng) Nếu tăng liều rtPA cao hơn, thời giancửa sổ dùng thuốc dài hơn (trong 6 giờ kể từ khi khởi phát) thì không hề cólợi mà còn tăng nguy cơ chảy máu não nặng tới 20% (nghiên cứu ECASS)[16], [18], [79]
Các thuốc chống kết tập tiểu cầu: thuốc tiêu biểu là aspirin: nên cho
trong vòng 48 giờ sau tai biến làm giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ tái phát của taibiến 19%, xu hướng hiện nay dùng liều thấp Liều dùng: 50 - 325mg, mỗingày một lần Các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu khác như dipyridamol,ticlopidin, clopidogrel…cũng được sử dụng [21], [57], [114]
Thuốc bảo vệ tế bào thần kinh: sử dụng sớm các thuốc bảo vệ thần
kinh có thể kéo dài cửa sổ điều trị trong TBMN nói chung và NMN nói riêng.Các thuốc bảo vệ thần kinh thường dùng: citicolin, cerebrolysin [22], [43]
Thuốc phục hồi và tái tạo vùng não tổn thương: vinpocetin
(Cavinton), piracetam (Nootropyl), cao Ginkgo biloba (Cebrex, Tanakan)…
[59], [75]
Trang 30*Phòng và điều trị các biến chứng: viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu,
suy dinh dưỡng, tắc mạch phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu, loét do tỳ đè, cogiật, kích động [11], [18]
* Tăng áp lực trong sọ và phù não: điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật
giảm áp [16], [22]
*Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc hộ lý và phục hồi chức năng: phải đảm
bảo cho bệnh nhân ăn uống đủ dinh dưỡng, chống loét, chống bội nhiễm, điềutrị phục hồi chức năng [12], [21]
Phòng chống tai biến tái phát
* Điều trị các yếu tố nguy cơ [16], [22], [88]
Chiến lược tốt nhất để hạ tỷ lệ TBMN trong cộng đồng vẫn là phòngbệnh Theo khuyến cáo của TCYTTG, TBMN là bệnh có khả năng dự phòngtốt bằng thanh toán các yếu tố nguy cơ Chống các yếu tố nguy cơ trong cộngđồng có thể làm giảm 80% nguy cơ TBMN [11]
Phương pháp dự phòng gồm hai loại:
- Dự phòng cấp 1: khi chưa mắc TBMN, giữ không để xảy ra TBMN
- Dự phòng cấp 2: áp dụng khi dự phòng cấp 1 đã thất bại, dự phòngcấp 2 không cho TBMN tái phát
* Phẫu thuật động mạch cảnh (CEA): nhằm loại bỏ nguyên nhân gây
tắc và tái lập tuần hoàn mạch cảnh Các phương pháp điều trị phẫu thuậtthường dùng là bóc nội mạc động mạc, cắt bỏ đoạn hẹp, nối trực tiếp độngmạch cảnh trong vào động mạch cảnh gốc…[26]
1.3 TAI BIẾN MẠCH NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Trong YHCT không có bệnh danh TBMN nói chung và NMN nóiriêng Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và tính chất xuất hiện đột ngột nhưtrong giai đoạn cấp của YHHĐ thì YHCT xếp TBMN vào chứng trúng
Trang 31phong, giai đoạn sau cấp của YHHĐ với triệu chứng liệt nửa người nổi bật thìYHCT xếp vào chứng bán thân bất toại [24], [63].
1.3.1 Quan niệm, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của chứng trúng phong
1.3.1.1 Quan niệm và nguyên nhân
Trúng phong còn gọi là thốt trúng vì bệnh phát sinh cấp, đột ngột
và rất nặng, triệu chứng xuất hiện nhiều cách biến hóa, phù hợp với tính thiệnhành đa biến của phong Bệnh nhân đột nhiên ngã ra bất tỉnh hoặc vẫn còntỉnh, bán thân bất toại hoặc tứ chi không cử động được, miệng méo, mắt lệch,nói khó [6], [7] Trúng phong là chứng bệnh được đề cập tới từ hơn 2000 nămnay trong các y văn cổ như Nội kinh, Kim quỹ yếu lược và qua các thời kỳlịch sử được bổ sung và hoàn thiện dần
Ghi chép về bệnh, bắt đầu từ Nội kinh, tà khí xâm phạmvào nửa người làm dinh vệ bị hao tổn nên chân khí mất, chỉ còn tà khí lưu lạigây nên thiên khô [24], [63]
Sách Tố vấn viết: “Về dương khí, giận quá thì hình khí tuyệt, huyết dồnlên trên làm người ta bị trúng phong” [24]
Các thầy thuốc đời sau do điều kiện lâm sàng và kinh nghiệm khácnhau, nên về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, cách điều trị đối với bệnh này ýkiến không thống nhất Sự phát triển đó chia làm hai giai đoạn:
- Từ thời trước Đường, Tống lấy học thuyết ngoại phong là chính.Sách Kim Quỹ viết: “Kinh lạc trống rỗng, phong tà nhân chỗ hư xâmphạm vào trong Cách điều trị dùng thuốc sơ phong trừ tà, phù trợ chínhkhí” [9], [35]
- Đến thời Kim Nguyên thì nêu lập luận nội phong Đây là bướcchuyển biến lớn về nhận thức, nguyên nhân gây ra trúng phong Lưu Hà Gianđưa ra quan niệm mới là do các yếu tố bên trong làm cho tâm hỏa thịnh, thậnthủy suy không chế ước được tâm hỏa [10] Lý Đông Viên cho trúng phong là
Trang 32do chính khí hư, cảm phải ngoại tà gây nên Có người to lớn mà béo phì cũng
dễ mắc bệnh này là do hình thịnh mà thời khí suy [6] Chu Đan Khê cho trúngphong do huyết hư kết hợp với đàm thấp, người ở phương Đông, Nam do thấpsinh đàm, đàm sinh nhiệt, nhiệt cực sinh phong [63] Trương Cảnh Nhạc chorằng nguyên nhân gây trúng phong là do thất tình, tửu sắc quá độ làm tổnthương phần âm, làm âm dương mất cân bằng, tinh khí rối loạn [35] DiệpThiên Sỹ có lý luận là do can dương cang thịnh dẫn tới can phong nội độngnên gây chứng trúng phong [9]
Danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) đã nói: “Trúng phong là đầu mối cácbệnh, biến hoá lạ thường và phát bệnh khác biệt Triệu chứng là thình lình ngã
ra, hôn mê bất tỉnh, miệng méo mắt lệch, sùi bọt mép, bán thân bất toại, nóinăng ú ớ, chân tay cứng đờ không co duỗi được Các chứng trạng như thế đều
là trúng phong cả” [65]
Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII) mô tảchứng trúng phong như sau: “Trúng phong là bỗng nhiên ngã vật ra, ngườimắc bệnh này bảy đến tám phần do âm hư, còn do dương hư chỉ một haiphần, bệnh phần nhiều do hư yếu bên trong mà sinh ra phong, thỉnh thoảng cóngoại cảm mà sinh phong ” [66]
Bệnh danh trúng phong xuất hiện trong sách Nội kinh, ngoài ra còn cótên gọi khác: thiên phong, thiên khô, thiên thân bất dụng, phúc kích…Trong
“Kim quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh cũng nêu bệnh danh trúngphong và được dùng liên tục đến nay [6], [63]
- Ngày nay các nhà YHCT cho rằng nguyên nhân của trúng phong
là do:
+ Nội thương hao tổn: tố chất cơ thể âm huyết suy, dương thịnh hoảvượng, phong hoả dễ tích hoặc do cơ thể già yếu can thận âm suy, can
Trang 33dương thiên thịnh, khí huyết thượng nghịch, thượng bít thần khiếu độtnhiên mà phát bệnh [63].
+ Ẩm thực bất tiết: do ăn uống không điều độ, ảnh hưởng đến côngnăng tỳ vị, thấp nội sinh tích tụ sinh đàm, đàm thấp sinh nhiệt, nhiệt cực sinhphong, phong hoá đàm, thấp nhiệt nội thịnh phạm vào mạch lạc, thượng tắcthanh khiếu gây bệnh [6]
+ Tình chí thương tổn: uất nộ thương can, can khí bất hoà, khí uất hoáhoả, can dương bạo cang, dẫn động tâm hoả, khí huyết thượng xung lên não
mà gây bệnh [63]
+ Khí hư tà trúng vào: khí huyết không đủ, mạch lạc trống rỗng,phong tà nhân chỗ hư trúng vào kinh lạc, khí huyết tắc trở Hoặc người béokhí suy, đàm thấp thịnh, ngoại phong dẫn động đàm thấp bế tắc kinh lạcgây nên bệnh [142]
Như vậy, nguyên nhân và cơ chế gây trúng phong rất phức tạp nhưng quy
lại không ngoài sáu yếu tố là phong (nội phong, ngoại phong), hỏa (can hỏa, tâm hỏa), đàm (phong đàm, thấp đàm, nhiệt đàm), huyết (huyết hư, huyết ứ),
khí (khí hư, khí trệ, khí nghịch) và hư (tỳ hư, thận hư, âm hư) Trong những
yếu tố đó thì can thận âm hư là căn bản Huyết ứ thường xuyên xảy ra, tácđộng tương hỗ lẫn nhau làm cho phong động, khí huyết nghịch loạn, gâytrúng phong [6], [9], [63], [145], [147]
1.3.1.2 Cơ chế bệnh sinh:
Nguồn gốc lý luận của bệnh trúng phong bắt đầu từ sách Nội kinh, Kim quỹyếu lược từ thời Đông Hán thế kỷ II – III sau Công nguyên, phát triển vào thời KimNguyên, và khá phổ biến vào thời Minh - Thanh
Nội kinh, Kim quỹ coi nguyên nhân gây bệnh là “Nội hư trúng tà”.Trong Linh Khu nói: hư tà xâm nhập nửa người, khu trú ở dinh vệ, dinh vệyếu thì chân khí mất, còn mình tà khí ở lại trở thành khô cứng nửa người [24]
Trang 34Kim quĩ yếu lược nói: “Kinh mạch hư không phong tà thừa cơ xâm nhập gâychứng trúng phong, tuỳ theo bệnh nặng nhẹ mà biểu hiện chứng hậu ở kinhlạc hay tạng phủ” [6], [37], [63].
Nhìn chung từ đời Đường, Tống (618 - 1279) về trước tuy các tác giảghi nhận trúng phong có liên quan đến nội hư nhưng lại coi trọng phươngdiện ngoại nhân Từ đời Kim Nguyên (1280 - 1368) về sau đối với trúngphong các tác giả cho rằng chủ yếu là do nội phong như Lưu Hà Gian chủ vềhoả thịnh: “Người bị tê liệt do trúng phong tâm tính nóng nảy, thận thuỷ hưnhược, không kiềm chế được mà gây trúng phong” Lý Đông Viên chủ về khíhư: “Con người khi ở độ tứ tuần, khí huyết có phần suy nhược hoặc do ưuphiền, phẫn nộ làm tổn thương thần khí, nếu người béo quá mà có bệnh nàythì sinh ra khí nhược, vậy nguyên nhân trúng phong là chính khí tự hư” ChuĐan Khê chủ về đàm nhiệt: “Thổ hư sinh thấp, thấp lâu kết đàm, đàm uất sinhnhiệt, nhiệt cực sinh phong” Trương Cảnh Nhạc đời Minh (1369 - 1644) lạinhấn mạnh trúng phong không phải là tà của phong Diệp Thiên Sỹ đời Thanh(1667 - 1746) nhận thấy chủ yếu do can dương cang thịnh [35], [143]
1.3.2 Phân loại, điều trị trúng phong
1.3.2.1 Phân loại:
Theo sách Kim quỹ yếu lược, các thể lâm sàng ở giai đoạn cấp tuỳ theo
tà khí xâm phạm ở phần nông là trúng phong kinh lạc (TPKL), ở phần sâu cóhôn mê là trúng phong tạng phủ (TPTP) [5], [10]
- TPKL: mức độ nhẹ, liệt nửa người không có hôn mê, tê tay chân, đilại nặng nề, mắt miệng méo, tê liệt nửa người, rêu lưỡi trắng, mạch phù sác
- TPTP: bệnh xuất hiện đột ngột, liệt nửa người có hôn mê, cóhai chứng:
Chứng bế: bất tỉnh, răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai bàn tay nắmchặt, da mặt đỏ, chân tay ấm, không có rối loạn cơ tròn, mạch huyền hữu lực
Trang 35Chứng thoát: bất tỉnh, mắt nhắm, miệng há, tay duỗi, chân tay lạnh,
có rối loạn cơ tròn, mạch trầm huyền vô lực
Trúng phong được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn cấp tính, giai đoạnhồi phục, giai đoạn di chứng [10]
1.3.2.2 Điều trị:
* Giai đoạn cấp tính: trong giai đoạn này về cơ bản có ba trạng thái:
không có rối loạn ý thức, hôn mê nông và hôn mê sâu [6], [10]
- Điều trị ở giai đoạn không có rối loạn ý thức, chỉ có liệt nửa người
[5], [10]
+ Triệu chứng: thường xuất hiện ở trạng thái tĩnh (đang nghỉ, sau khilàm việc mệt hoặc sáng ngủ dậy) Do phong trúng kinh lạc làm khí huyếttrong kinh lạc bị trở ngại gây nên
+ Pháp điều trị: khu phong dưỡng huyết thông lạc
+ Phương dược: chủ yếu dùng bài Bổ dương hoàn ngũ thang (Xem phụlục 5)
*Điều trị ở giai đoạn hôn mê nông: thường do phong nhiệt nhiễu thanh
không, đàm thấp hoặc đàm nhiệt làm bế tắc tâm khiếu [6], [70], [151], [152]
+ Triệu chứng: thường lúc tỉnh lúc mê, mặt đỏ, người nóng, hàm răngcắn chặt, nằm không yên, thở thô, có nhiều đờm, đại tiểu tiện không thông,mạch huyền sác
+ Pháp điều trị: cấp cứu, khai bế tỉnh thần
+ Phương dược: chủ yếu dùng An cung ngưu hoàng hoàn (Phụ lục 5)+ Châm cứu: châm chích nặn máu Bách hội, Thập tuyên để thanhnhiệt, hạ áp Châm kích thích mạnh Nhân trung, Thập nhị tỉnh để khaikhiếu tỉnh thần
Trang 36* Điều trị ở giai đoạn hôn mê sâu: YHCT gọi là chứng thoát [5],
[6], [35]
+ Triệu chứng: hôn mê sâu, mắt mở, vã mồ hôi, chân tay lạnh, thở yếu,mạch vi muốn tuyệt
+ Pháp điều trị: hồi dương cố thoát
+ Phương dược: Sâm phụ thang gia vị (Xem phụ lục 5)
+ Châm cứu: cứu cách muối Thần khuyết, hoặc cứu Quan nguyên, Khí hải đến khi chân tay ấm, sờ thấy mạch đập [61], [63], [150]
* Phục hồi sau giai đoạn cấp
Đây là giai đoạn can thiệp điều trị tốt nhất để phục hồi các di chứng.Ngoài nguyên tắc tuân theo biện chứng luận trị còn cần phải kết hợp với cácphương pháp hoạt huyết hoá ứ, thông kinh lạc, ích khí Song song với việckhôi phục công năng tạng phủ còn cần phải đề phòng bệnh tái phát
- Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng thuốc YHCT
Liệt nửa người
+ Khí hư huyết ứ, kinh lạc trở trệ [6], [10], [142]
Triệu chứng: khí hư không vận hành được huyết, huyết không vinhdưỡng được, khí huyết ứ trệ, mạch lạc tắc trở làm cho các chi thể không vậnđộng được [6]
Pháp điều trị: ích khí hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc
Phương dược: chủ yếu dùng Bổ dương hoàn ngũ thang (Phụ lục 5)
+ Thận âm dương đều hư, thất ngôn [10], [33], [35], [142]
Triệu chứng: bán thân bất toại, thất ngôn, ù tai, lưng gối lạnh đau, chântay lạnh, chóng mặt, choáng váng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì
Pháp điều trị: tư thận âm, bổ thận dương, khai khiếu
Phương dược: chủ yếu dùng Địa hoàng ẩm tử (Phụ lục 5)
Trang 37+ Chính khí hư, phong tà trúng vào kinh lạc [9], [51], [149]
Triệu chứng: bán thân bất toại, miệng méo mắt xếch, lưỡi cứng nói khóhoặc không nói được, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoãn
Pháp điều trị: bổ chính trừ phong, điều hòa khí huyết
Phương dược: chủ yếu dùng Tiểu tục mệnh thang (Phụ lục 5) Hoặcdùng bài Đại tần giao thang (Phụ lục 5) để trừ phong thanh nhiệt, điều lý khíhuyết thì kinh lạc thông suốt, chân tay cử động được, lưỡi mềm nên nói được
+ Âm hư dương xung, mạch lạc ứ trở [5], [17], [148]
Triệu chứng: bán thân bất toại, chân tay co cứng, hoa mắt chóng mặt,mặt đỏ, phiền táo không yên, nói khó, tê tay chân, chất lưỡi đỏ, rêu vàng,mạch huyền hữu lực
Pháp điều trị: bình can tiềm dương, tức phong thông lạc
Phương dược: chủ yếu dùng Thiên ma câu đằng ẩm (Phụ lục 5)
Rối loạn ngôn ngữ:
+ Phong đàm trở trệ kinh lạc [63], [70], [146]
Triệu chứng: lưỡi to bè, nói ngọng, nói khó, rêu lưỡi trắng mỏng, dính.Mạch huyền tế
Pháp điều trị: tức phong thông lạc, trừ đàm tuyên khiếu
Phương dược: chủ yếu dùng Giải ngữ đan (Phụ lục 5)
+ Thận tinh hư tổn [10], [145]
Triệu chứng: không nói được, hồi hộp, đánh trống ngực, đoản khí.,lưng gối mỏi yếu, mạch trầm tế nhược
Pháp điều trị: bổ thận tinh, khai âm lợi khiếu
Phương dược: chủ yếu dùng Địa hoàng ẩm tử (Phụ lục 5)
Miệng méo mắt lệch [33], [35], [70]
+ Triệu chứng: miệng méo mắt lệch, kèm theo chi thể tê bì, hoặc nóikhó, nhức đầu chóng mặt
Trang 38+ Pháp điều trị: khu phong hóa đàm, tức phong thông lạc.
+ Phương dược: chủ yếu dùng bài Khiên chính tán (Phụ lục 5)
- Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng phương pháp không dùng thuốc
Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng châm cứu + Thể châm
Xây dựng phác đồ huyệt theo biện chứng luận trị [5], [6], [10]
Phong đàm huyết ứ: Khúc trì, Hợp cốc, Dương lăng tuyền, Túc tam lý.Phong đàm thượng nhiễu: Phong long, Hợp cốc, Túc tam lý, Thái xung Canthận âm hư: Thái xung, Thái khê, Tam âm giao, Dương lăng tuyền Khí hưhuyết ứ: Túc tam lý, Khí hải, Tam âm giao Can dương thượng nhiễu:Can du, Thận du, Phong trì, Hợp cốc Có liệt mặt thêm huyệt: Giáp xa,Địa thương
Chọn huyệt ở kinh dương là chính [61], [63]
Huyệt chính gồm Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý, Ngoại quan,Dương trì, Hợp cốc, Hoàn khiêu, Phong thị, Túc tam lý, Dương lăng tuyền,Giải khê Thủ pháp bổ, hoặc bình bổ bình tả
Huyệt phối hợp: nếu âm huyết hư tổn: Huyết hải, Tam âm giao, Tháikhê Đàm che lấp tâm khiếu: Bách hội, Nhân trung Liệt mặt: Hạ quan, Địathương, Giáp xa Đàm trọc trở trệ: Túc tam lý Nói khó: Á môn, Liêm tuyền,Thiên đột Thận hư, khí huyết bất túc: Can du, Thận du, Quan nguyên
Mỗi lần châm bốn đến năm huyệt chính, một đến hai huyệt phối hợp
+ Mãng châm
Là phương pháp dùng kim dài và to với kỹ thuật châm Thông kinh
-Liên kinh - Thấu kinh để điều hòa khí huyết nhanh và mạnh hơn [61], [62].
Trong điều trị thường tác động vào các huyệt ở các kinh thủ túc dương minh,
Trang 39kinh đởm, tỳ và bàng quang… để khu phong, trừ thấp, bình can, kiện tỳ,thông kinh hoạt lạc, khai khiếu, điều hòa khí huyết [61], [62].
Công thức huyệt: Trật biên - Hoàn khiêu, Túc tam lý - Phong long,Tam âm giao - Âm lăng tuyền, Huyết hải - Âm liêm, Thái xung - Giải khê,Tam âm giao - Trung đô, Kiên ngung - Tý nhu, Khúc trì - Kiên ngung, Hợpcốc - Lao cung, Ngoại quan - Tam dương lạc, Kiên trinh - Cực tuyền, Thừakhấp - Địa thương, Quyền liêu - Nghinh hương, Toản trúc - Tình minh…[62]
+ Ngoài ra có thể áp dụng một số phương pháp khác như thuỷ châm, đầu châm, nhĩ châm, cứu…[6], [10], [63], [144], [146]
Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng xoa bóp bấm huyệt Một số thủ thuật thường dùng: xát, xoa, day, ấn, miết, hợp, véo, bấm,
đấm, điểm, lăn, phát, vờn, rung, vê, vận động Xoa bóp vùng liệt Mục đích:
tăng cường dinh dưỡng, chống teo cơ, cứng khớp, giúp nhanh chóng phục hồichức năng vận động nửa người bên liệt [5], [35], [147]
Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng phương pháp luyện tập khí công và các phương pháp luyện tập phục hồi chức năng: áp
dụng cho những BN liệt đã hồi phục hoặc hồi phục một phần, đã tự đi lại
được [5] Luyện tập từ nhẹ rồi tăng dần theo tình trạng từng bệnh nhân và cần
kiên trì luyện tập thường xuyên, đều đặn [6]
1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP 1.4.1 Một số nghiên cứu ở Trung Quốc
Hà Duyệt Mai dùng bài Linh liên thang sắc uống Kết quả lâm sàng: đãtrị 48 trường hợp, khỏi 25 trường hợp, hồi phục tốt 19 trường hợp, không kếtquả 4 trường hợp [39]
Bệnh viện Quảng Châu nghiên cứu cho thấy Hoa Đà tái tạo hoàn có tácdụng điều trị phục hồi sau NMN tốt hơn Nhân sâm tái tạo hoàn [17]
Trang 40Khúc Nguyên Hải (1985) - Bệnh viện Trung Y Cát Lâm – Trung Quốc,dùng “Địa long đan sâm thang” (gồm Địa long 20g, Đan sâm 30g, Xíchthược 15g, Hồng hoa 15g, Một dược 10g sắc uống) điều trị cho 32 BN.Kết quả: tốt 4 trường hợp, khá 27 trường hợp, không kết quả 1 trường hợp,
tỷ lệ đạt 96% [39]
Tác dụng điều trị thiếu máu não cục bộ thoáng qua của Xuyên khung
và aspirin trên 158 trường hợp, xuyên khung 111 trường hợp, aspirin 47trường hợp, tỷ lệ hiệu quả lần lượt là 89,2 và 61,7%, sự khác biệt trước và sauđiều trị (p < 0,001) [80]
Thuốc cổ truyền chống huyết khối Xinmaining được bào chế từ Đansâm, Xuyên khung và một số dược liệu khác điều trị NMN Kết quả cho thấythuốc có tác dụng làm giảm độ nhớt của máu, độ nhớt huyết thanh, tỷ lệ thểtích huyết cầu, làm tăng tốc độ điện di hồng cầu và làm giảm tỷ lệ kết tập tiểucầu [69]
Hà Tiếu Tiên (1989) - Bệnh viện Tuyên Vũ Bắc Kinh đã điều trị cho 46
BN bằng “Đào hồng thông mạch phương” Kết quả như sau: 29 BN phục hồitốt (63,3%), 14 BN phục hồi khá (30,4%), 3 BN có tiến bộ (6,5%), sau điều trị
có 13 BN huyết áp trở về bình thường trong số 23 BN có tăng huyết áp [39]
1.4.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 2002, Nguyễn Đức Vượng dùng “Kiện não hoàn” điều trị nhồi máunão sau giai đoạn cấp Kết quả theo thang điểm Rankin: 50% BN phục hồi độ I;36,7% còn lại di chứng nhẹ; 10% di chứng vừa; 3,3% là độ liệt IV [74]
Theo Tôn Chi Nhân (2004), “Nghiên cứu điều trị phục hồi chức năngvận động cho bệnh nhân TBMN bằng điện châm kết hợp thuốc YHCTnghiệm phương" Kết quả: phục hồi hoàn toàn 68%; di chứng nhẹ 22%; và10% di chứng vừa [44]