1. Tính cấp thiết của đề tài Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người vì chúng không chỉ cung cấp các loại dinh dưỡng thiết yếu như vitamin, lipit, protein mà còn cung cấp nhiều chất khoáng quan trọng như canxi, phốt pho, sắt, v.v. rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người. Ngoài ra, rau còn cung cấp cho con người một lượng lớn các chất xơ, có khả năng làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hoá, là thành phần hỗ trợ sự di chuyển thức ăn qua đường tiêu hoá bằng cách giúp cho hoạt động co bóp của đường ruột được dễ dàng. Rau còn là nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến, đồng thời là mặt hàng xuất khẩu có giá trị góp phần làm tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân. Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản nhất là rau xanh đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Việc ô nhiễm vi sinh vật, hóa chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người vì chúng không chỉ cung cấp các loại dinh dưỡng thiết yếu như vitamin, lipit, protein mà còn cung cấp nhiều chất khoáng quan trọng như canxi, phốt pho, sắt, v.v rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người Ngoài ra, rau còn cung cấp cho con người một lượng lớn các chất
xơ, có khả năng làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hoá, là thành phần hỗ trợ sự
di chuyển thức ăn qua đường tiêu hoá bằng cách giúp cho hoạt động co bóp của đường ruột được dễ dàng Rau còn là nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến, đồng thời là mặt hàng xuất khẩu có giá trị góp phần làm tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân
Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản nhất là rau xanh đang được xã hội đặc biệt quan tâm Việc ô nhiễm vi sinh vật, hóa chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên rau, đặc biệt là rau ăn lá
đã gây ảnh hưởng không nhỏ trước mắt cũng như lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng Trước vai trò của rau xanh và những thực trạng trong sản xuất rau khi đời sống phát triển, nhu cầu về rau an toàn đạt chất lượng cao ngày càng gia tăng cho thấy việc sản xuất ra nhiều loại rau với số lượng lớn, đảm bảo chất lượng là một nhiệm vụ quan trọng Bên cạnh đó, việc sử dụng các chiết suất từ các loài thực vật sử dụng để phòng trừ sâu hại trong sản xuất rau cũng là một vấn đề đáng quan tâm
Tình trạng rau xanh nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật xảy ra phần lớn
do người nông dân dùng thuốc không theo đúng kỹ thuật:
Trang 2- Phun thuốc quá nhiều lần/vụ, phun theo định kỳ để phòng ngừa trước
- Sử dụng thuốc quá nồng độ và liều lượng khuyến cáo
- Tự ý pha trộn các loại thuốc khi dùng
- Sử dụng thuốc cấm, thuốc hạn chế sử dụng cho rau, thuốc ngoài danh mục
- Dùng thuốc quá gần ngày thu hoạch
- Không trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết, dụng cụ phun thuốc không đảm bảo, phun thuốc không đúng cách
Hiện nay tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng theo hướng dẫn, không đảm bảo thời gian cách lý, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật vẫn còn ở nhiều nơi Theo điều tra có tới gần 70% nông dân phun 8 – 12 lần thuốc bảo vệ thực vật cho một vụ rau
Trước thực tế đó, nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam đòi hỏi công tác bảo vệ thực vật phải đảm bảo và ổn định lâu dài về hiệu quả phòng trừ sâu bệnh hại cũng như ngăn ngừa được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản, đồng thời bảo vệ môi trường sống đòi hỏi công tác bảo vệ thực vật phải nhanh chóng từng bước chuyển dần sang một chiến lược mới, đó là hệ thống chiến lược bao gồm nhiều biện pháp phòng trừ tổng hợp, trong đó lấy biện pháp sinh học và sinh thái học làm trọng tâm, kết hợp hài hòa sử dụng thuốc hóa học với liều lượng thấp một cách hợp lý mà vẫn đạt hiệu quả phòng trừ cao, nhằm khắc phục dần những hiện tượng tiêu cực do thuốc hóa học gây ra Để góp phần tạo dựng và thiết lập nên một nền nông nghiệp sạch, an toàn, ổn định và bền vững đồng thời góp phần nâng cao ý thức của mọi người về vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn chế sử dụng thuốc hóa học bảo
vệ thực vật, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sống,… đáp ứng nhu cầu rau sạch cho người tiêu dùng
Trang 3Xuất phát từ thực tiễn trên, nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sử dụng một số loại thực vật thuộc họ hành tỏi (Alliumaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ đông xuân chính vụ năm 2010 tại Thái Nguyên”
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích
- Xác định thành phần, diễn biến sâu hại trên rau bắp cải
- Xác định tác dụng xua đuổi, gây ngán và tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi
- Xác định ảnh hưởng của việc sử dụng dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi đến năng suất rau bắp cải
2.2 Yêu cầu
- Điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất rau ở Thái Nguyên
- Điều tra, xác định thành phần sâu hại từ đó xác định những loài sâu chính hại rau bắp cải
- Đánh giá hiệu lực của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải
- Đánh giá ảnh hưởng của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm
củ tỏi đến năng suất rau bắp cải tại Thái Nguyên
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học
- Xác định được khả năng xua đuổi, gây ngán và tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu sản xuất ra chế phẩm thảo mộc trừ sâu hại góp phần giảm thiểu việc
sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường để hướng tới phát triển một nền nông nghiệp sạch, an toàn và bền vững
Trang 43.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Nghiên cứu dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi có khả năng trừ sâu hại rau bắp cải là cơ sở cho nghiên cứu tìm hiểu hoạt chất và cơ chế tác động của hoạt chất đó lên sâu hại
- Góp phần khai thác tiềm năng sử dụng nguồn tài nguyên thực vật có sẵn ở Việt Nam trong công tác phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản đồng thời bảo vệ môi trường, bảo vệ những loài có ích, tạo ra các sản phẩm sạch và an toàn
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở thực tiễn và lý luận của đề tài
1.1.1 Cơ sở thực tiễn
Tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, người nông dân không còn mặn mà với các loại cây trồng, vật nuôi truyền thống vì giá trị kinh tế thấp Do vậy Thái Nguyên đang có những đầu tư tổng thể cho nông nghiệp, nông thôn, hướng tới một nền nông nghiệp đô thị phát triển, nâng cao đời sống của bà con nông dân vùng ven, trước tình hình diện tích đất nông nghiệp của tỉnh liên tục sụt giảm
do tốc độ đô thị hoá, người nông dân đã chuyển dần một phần diện tích đất cấy lúa sang trồng các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn
Thành phố Thái Nguyên hiện có 750 ha rau các loại với sản lượng 14.500 tấn/năm Thành phố đã hình thành một số vùng sản xuất rau mang tính chuyên canh như: Túc Duyên, Cam Giá, Gia Sàng, Quang Vinh, Đồng Bẩm, tuy nhiên, rau chủ yếu được sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, chưa có sự đầu tư lớn, đồng bộ cho sản xuất rau an toàn chất lượng cao Bên cạnh đó rất nhiều hộ nông dân trồng rau vẫn sử dụng phân hóa học bón cho rau, phun thuốc bảo vệ thực vật quá nồng độ, liều lượng cho phép và không đảm bảo thời gian cách ly để thuốc phân hủy trong nông sản dẫn đến vệ sinh
an toàn thực phẩm không được bảo đảm
Hiện nay Thái Nguyên chưa có vùng sản xuất rau an toàn tập trung nên phải nhập lượng lớn rau từ các tỉnh lân cận
Để đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng thu nhập cho các hộ nông dân, thành phố Thái Nguyên đã triển khai Đề án phát triển sản xuất, tiêu thụ rau an toàn với các mô hình trồng rau an toàn tại một số phường ven sông Cầu: Túc
Trang 61.1.2 Cơ sở lý luận
Ở Việt Nam với khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp, cây rau được trồng phổ
biến và có khả năng sinh trưởng phát triển tốt Rau là thực phẩm cung cấp các vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể con người Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản nhất là rau xanh đang được xã hội đặc biệt quan tâm Việc đẩy mạnh sản xuất rau an toàn cung cấp cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu hiện nay cũng như thời gian tới là hết sức cần thiết đòi hỏi các cấp, các ngành cần đặc biệt quan tâm Nhận thức sâu sắc về vấn đề này đã có nhiều nghiên cứu và các chương trình phát triển sản xuất rau an toàn tại nhiều địa phương trên cả nước
Các nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào trồng rau như
sử dụng phân bón lá và dinh dưỡng hợp lý kết hợp kỹ thuật trồng chăm sóc hợp lý, sử dụng các loại chế phẩm có nguồn gốc thảo mộc để phòng trừ sâu bệnh hại đã và đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các Trung tâm nghiên cứu…
1.1.2.1 Các nghiên cứu về cây tỏi trong phòng trừ sâu bệnh hại
1.1.2.1.1 Đặc điểm hình thái của cây tỏi
Tỏi là cây nhỏ mọc từ củ lên Cây cao chừng 20 - 40cm, thân giả mang nhiều
lá dài và hẹp, giữa củ mọc lên một cuống mang một số hoa ở đỉnh, bọc trong một
mô mỏng, hoa tỏi có màu trắng hay phớt hồng Nước ta trồng tỏi vào tháng 10 - 12 dương lịch trên nền đất tơi xốp nhiều mùn Tỏi củ sẽ được thu hoạch vào tháng 1 năm sau, phơi khô, treo mái hiên hay gác lên nóc nhà dùng dần
1.1.2.1.2 Công dụng của cây tỏi
Trong các loại củ, quả như: ớt, tỏi, hành, gừng, có chứa hàm lượng axit có tác động đến cơ thể của những loài sâu bọ hại cây trồng như mắt, da, làm chúng chết Nếu chiết xuất thảo mộc này được chế biến với nồng độ phù hợp sẽ xua đuổi, tiêu diệt được các loài sâu bọ - TS Lê Đình Hường
Trang 7Theo Amy Cohen (2009) tỏi được đánh giá cao như là một gia vị và tính chất y học của nó Giá trị của nó như là thuốc trừ sâu cũng được đánh giá cao, đặc biệt là trong nông nghiệp hữu cơ, trồng trong vườn rau
Theo Sally Odum (2008) tỏi là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên tuyệt vời Nó
có đăc tính diệt nấm và kiểm soát sâu bệnh rất tốt, đẩy lùi và loại trừ các loài côn trùng và sâu bệnh như: rệp, kiến, mối, bọ cánh cứng, sâu đục thân,…
1.1.2.2 Các nghiên cứu về cây hành trong phòng trừ sâu bệnh hại 1.1.2.2.1 Đặc điểm hình thái của cây hành
Là cây thân thảo, sống lâu năm, có mùi đặc biệt Lá hình trụ rỗng, dài
30 – 50cm, đường kính 4 – 8mm, phía giữa phình lên, đầu thuôn nhọn, mỗi cây có 5 – 6 lá Hoa tự, mọc trên một cán mang hình trụ, rỗng Bao hoa gồm 2 vòng, mỗi vòng gồm 3 cánh, 3 lá đài màu trắng, 6 nhị, bao phấn hình chữ T Quả nang, hình tròn, đường kính 6mm Hạt hình 3 cạnh, màu đen Hành trồng
khắp nơi ở nước ta và chủ yếu dùng làm gia vị, đồng thời dùng làm thuốc
1.1.2.2.2 Công dụng của cây hành
Hành là một phần không thể thiếu trong bếp ăn của mọi gia đình, nó được xem như một loại rau và cũng là đồ gia vị Hành lá được trồng quanh năm để phục vụ nhu cầu nội trợ
Hành là một chất kích thích và chống lại các kích thích nhẹ Nghiền nát hành sống đắp lên trên trán có thể làm giảm đau đầu
Các củ hành nhỏ màu đỏ có thể được sử dụng như một thuốc long đờm Nếu đem nghiền nát các củ hành này trộn với đường phèn, để một lúc cho nước chảy ra Nước ép này có tác dụng giúp làm loãng đờm và ngăn chặn sự tái phát Dùng khoảng 3 - 4 thìa cà phê của nước ép sẽ làm dịu đi chứng ho và đau họng
Trang 8Việc ăn hành sống giúp giảm cholesterol vì chúng làm tăng cao mật độ lipoproptein ('''vật" trung chuyển cholesterol) Do vậy rất nên ăn hành sống trong các món sa lát hàng ngày nếu bị mắc các bệnh liên quan đến tim mạch
Điều trị bệnh liên quan đến đường tiết niệu Để trị chứng nóng rát khi
đi tiểu, đun 100gr hành với 600ml nước Đun cho đến khi chỉ còn khoảng một nửa thì có thể uống Pha với đường sẽ giúp giảm chứng bí tiểu
Hợp chất lưu huỳnh có trong hành sẽ giúp cho việc ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư
Hành cũng có tác dụng trong việc điều trị bệnh thiếu máu, sự chảy máu
do bệnh trĩ, chảy máu răng
Nước ép từ thân hành rất tốt cho việc điều trị bệnh thiếu máu
Các chất có trong hành: trong hành có các men inventrin, pepsin, pancreatin góp phần vào quá trình chuyển hóa các chất đạm, mỡ và đường
Hành chứa hợp chất ngăn chặn lipoxygenaea và cyclooxygenaea (các anzym này gây ra chứng viêm) nhờ vậy mà làm giảm đáng kể chứng viêm Trong hành có chứa rất nhiều fructo-oligosac-charides, gây ức chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại tiềm ẩn trong ruột kết Ngoài ra fructo-oligosac-charides còn có thể làm giảm sự phát triển khối u của các tế bào ung thư ruột kết
Ngày 08/02/2010 các nhà khoa học thuộc trường Đại học Quốc gia Mêxico (UNAM) thông báo đã chế thành công một loại thuốc trừ sâu sinh học
từ ớt, tỏi, hành và nhiều loại gia vị sẵn có ở Quốc gia Trung Mỹ này
1.2 Giá trị dinh dƣỡng và vai trò sản xuất rau trong nền kinh tế quốc dân
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau
Cây rau là một bộ phận cây trồng hàng năm dùng làm thực phẩm, rất cần thiết trong đời sống hàng ngày và không thể thay thế đối với sức khoẻ con người Rau cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có thể
Trang 9thay thế được Do rau là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng dưới dạng đặc biệt như: vitamin, các chất khoáng và chất xơ cho người
Trong khẩu phần ăn của người Việt Nam hiện nay, rau cung cấp khoảng 95 - 99% nguồn vitamin A, 60 - 70% nguồn vitamin B2, và gần 100% nguồn vitamin C Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh ta thường thấy xuất hiện các triệu chứng như da khô, mắt mờ, quáng gà, do thiếu vitamin A; chảy máu chân răng, tay chân mỏi mệt, suy nhược.… do thiếu vitamin C; lở loét miệng lưỡi, viêm ngứa chủ yếu do thiếu vitamin B2; tê phù do thiếu vitamin B1 Thiếu vitamin sẽ giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc sút kém, bệnh tật dễ phát sinh, khi mắc bệnh chữa cũng lâu lành Trong lao động, học tập, công tác, sinh hoạt hàng ngày mỗi người đều cần một lượng vitamin nhất định (Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân, 2000)
Ngoài việc cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoáng đáng kể như Ca, P, Fe,… Trong các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người thì canxi và sắt được chú ý hơn cả, canxi rất cần cho việc đảm bảo chức năng xương và răng, còn sắt ngăn ngừa bệnh thiếu máu Các loại muối khoáng cần thiết cho cấu tạo tế bào, các loại enzime, muối khoáng còn là tác nhân gây xúc tác và điều hoà các quá trình sinh tổng hợp trong cơ thể con người, chúng có tác dụng trung hoà độ chua do dạ dày tiết ra, khi tiêu hoá thức ăn như thịt, ngũ cốc, đồng thời làm tăng khả năng đồng hoá protit (Tạ Thu Cúc và CS, 2000)
Lượng gluxit và protein trong rau bổ sung cho ta được một phần năng lượng tuy không nhiều nhưng điều đáng chú ý là protein của rau nói chung chứa nhiều lizin (khoảng 5 - 7%) và mỗi loại rau lại có những tỷ lệ axit amin khác nhau nên khi ăn rau, nhất là ăn một lúc nhiều loại rau sẽ có tác dụng lớn trong việc nâng cao giá trị sử dụng protein của rau
Trang 10Chất xơ trong rau giúp cho sự tiêu hoá được điều hoà, chống táo bón, giữ được cảm giác no
Ngoài giá trị về dinh dưỡng, một số loại rau còn có ý nghĩa về mặt y học bởi chúng là những vị thuốc rất có giá trị đối với sức khoẻ con người, ví dụ như hành, tỏi, nghệ, tía tô, mướp đắng,… đây là những loại gia vị vừa làm ngon miệng, vừa làm tăng sức đề kháng trong cơ thể
Rau xanh rất phong phú về chủng loại, vì vậy thức ăn được chế biến từ rau rất đa dạng với nhiều màu sắc đẹp mắt, hương vị thơm mát, góp phần tạo nên những bữa ăn ngon miệng và hấp dẫn Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học, thì mỗi người cần 250 - 300g rau xanh/ngày, để đáp ứng cho nhu cầu hoạt động bình thường của con người (Tạ Thu Cúc và CS, 2000)
1.2.2 Vai trò của sản xuất rau trong nền kinh tế quốc dân
Rau là nguyên liệu và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Vào những năm
1986 - 1990 kim ngạch xuất khẩu đã đạt trên 80 triệu rúp/năm Chúng ta đang phải xây dựng cho mình một thị trường mới Hiên nay, Việt Nam ngoài tiêu thụ rau trong nước, rau đã được xuất khẩu ra nước ngoài Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả trong tháng 4 năm
2009 đạt gần 32,5 triệu USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2008 Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả của Việt Nam đạt 127,8 triệu USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2008 Trong bối cảnh xuất khẩu khó khăn, xuất khẩu rau hoa quả giữ được đà tăng trưởng là một trong những điểm đáng chú ý hiện nay (Rauhoaquavietnam.vn)
Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Thời gian sinh trưởng của rau ngắn và có thể trồng được nhiều vụ trong năm, do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam Mặt khác, rau có đặc điểm là có nhiều chủng loại với những yêu cầu về điều
Trang 11kiện ánh sáng khác nhau, kích thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen canh gối vụ với những cây trồng khác, như vậy trồng rau sẽ nâng cao hiệu quả
sử dụng đất (Tạ Thu Cúc và CS, 2000) Trồng rau có hiệu quả hơn so với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn
vị thời gian vì chúng có đặc điểm sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn
Rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao Giá trị sản xuất của 1 ha rau thường gấp 2 - 3 lần 1 ha lúa (Trần Khắc Thi, 2003) Đây là cây trồng có
tỷ suất hàng hoá lớn hơn nhiều cây trồng khác Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế của sản xuất rau còn tuỳ thuộc vào tính thời vụ của việc trồng rau
Theo điều tra của Nguyễn Tiến Mạnh (1999), ở 4 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Nam Định và Thái Bình thì tổng thu nhập trên 1ha lúa là 3.830.000 đồng, ngô là 3.333.000 đồng, khoai tây là 15.641.000 đồng, cải bắp là 11.743.000 đồng và dưa chuột là 23.532.000 đồng So sánh hiệu quả kinh tế giữa công thức luân canh ở đồng bằng Sông Hồng, tác giả cho biết tổng thu nhập trên đất chuyên canh cao hơn 2 lần so với trên đất 1 lúa – 2 màu và cao hơn 3 lần so với trên đất
2 lúa – 1 màu
Theo Tạ Thu Cúc và cộng sự (2000), rau có giá trị hàng hoá lớn hơn một số cây trồng khác, giá trị sản xuất 1ha chuyên canh rau vào năm 1996 -
1997 ở một số HTX thuộc ngoại thành Hà Nội là 50 - 60 triệu đồng
Rau và các sản phẩm phụ của rau còn là nguồn thức ăn xanh quan trọng cho chăn nuôi Sản xuất rau còn là hình thức đa dạng hoá trồng trọt để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và luân canh cải tạo đất
Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, tăng hiệu quả kinh tế, ngành sản xuất rau còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp khác:
Trang 12- Công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây, )
- Công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt, )
- Làm hương liệu (hạt mùi, ớt, )
1.2.3 Ý nghĩa về mặt xã hội
Sản xuất rau phát triển sẽ góp phần sắp xếp lao động hợp lý, tăng thu nhập cho người lao động, mở rộng thêm ngành nghề, giải quyết tốt việc làm cho nông dân lúc nông nhàn Ngoài ra, còn hỗ trợ các ngành khác trong nông nghiệp phát triển như làm thức ăn cho chăn nuôi,
Nghề trồng rau phát triển, người nông dân có cơ hội được tiếp thu các kỹ thuật tiến bộ mới trong sản xuất, từ đó góp phần nâng cao dân trí, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu từ bao đời nay của nông dân Việt Nam (Trần Khắc Thi, 2003)
Như vậy, rau không chỉ là cây trồng xóa đói giảm nghèo mà còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có lợi ích nhiều mặt cho người dân,
từ cây rau người nông dân có thể làm giàu chính đáng trên mảnh đất của mình
1.3 Sơ lƣợc tình hình sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Rau là cây trồng ngắn ngày, dễ trồng nên được loài người trồng và sử dụng từ lâu Người Hy Lạp, Ai Cập cổ đại đã biết trồng và sử dụng rau như nguồn lương thực Hiện nay khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về rau trong bữa ăn cũng tăng theo
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích trồng rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) Từ năm 2004 trở lại đây, diện tích sản lượng rau trên thế giới không ngừng tăng
Trang 13Bảng 1.1 : Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
so với năm 2005 Năng suất nhìn chung trong những năm gần đây năng suất giảm dần nhưng không đáng kể, từ 143.0 tạ/ha (năm 2005) giảm xuống 139.1 tạ/ha (năm 2009) Sản lượng rau từ năm 2005 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng nhưng do diện tích tăng qua các năm nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 3.450.000 tấn/năm Điều đó chứng tỏ nghề trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, vì rau xanh trở thành nhu cầu thiết yếu với đời sống của con người
Cây rau phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới, qua tìm hiểu chúng tôi thu thập được kết quả sau:
Trang 14Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2009
Khu vực Diện tích
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
- Về năng suất: Châu Úc là châu lục có năng suất rau cao nhất thế giới đạt 174.5 tạ/ha, đứng thức 2 là châu Âu có năng suất bình quân lớn hơn thế giới là 2,91 tấn/ha (168.2 tạ/ha), tiếp theo là châu Á và châu Mỹ (121.7 tạ/ha
và 150.1 tạ/ha) và thấp nhất là châu Phi có năng suất là 65.9 tạ/ha, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới 2,12 lần
- Về sản lượng: Châu Úc có sản lượng rau thấp nhất đạt 540.000 tấn và cao nhất là châu Á với sản lượng đạt 215.220.000 tấn chiếm 85,47% sản lượng rau thế giới Trong đó Trung Quốc có sản lượng rau đạt 147.212.000 tấn, cao hơn rất nhiều so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác Sau Trung Quốc là Ấn Độ có sản lượng rau đạt 29.117.000 tấn, Philippin đạt 4.500.000 tấn Bên cạnh sự ra tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời
Trang 15và việc kiểm soát dư lượng hóa chất tồn đọng trong rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn (Faostat, 2011)
1.3.1.2 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Về nhu cầu tiêu thụ rau trên thế giới, theo FAO từ năm 2007 - 2010, mỗi năm tăng bình quân 3,6%, trong khi đó tốc độ tăng trưởng về sản lượng chỉ khoảng 2,8% Như vậy thị trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ Trong những năm qua, nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8% mỗi năm
Tình hình thị trường rau quả thế giới năm qua do hướng biến động thị trường rau quả thế giới sẽ giảm dần từ năm 2008 bởi nguồn cung dần bắt kịp nhu cầu và người dân cũng bắt đầu thay đổi thói quen ăn uống của mình, nhất là người dân ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là sử dụng nhiều rau quả hơn trước đây
Tại Nhật Bản, Bộ Nông – Lâm – Ngư nghiệp Nhật Bản cho biết sẽ thực hiện một chiến dịch khẩn cấp nhằm thúc đẩy mức tiêu thụ rau quả vốn giảm mạnh trong thời gian gần đây Hiện nay, sản lượng rau của Nhật Bản vẫn duy trì ở mức trung bình như những năm trước Tuy nhiên, giới trẻ Nhật Bản và một bộ phận người dân Nhật Bản đang có xu hướng giảm ăn rau dẫn đến mức tiêu thụ giảm sút, khiến giá rau của Nhật Bản thấp hơn từ 20 - 30% so với những năm trước đây và khiến nhà sản xuất gặp nhiều khó khăn
Tại Trung Quốc, nhiệt độ thấp và lượng mưa kéo dài đã gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp của tỉnh đảo Hải Nam, Trung Quốc ước tính khoảng
993 triệu nhân dân tệ (gần 138 triệu USD) Đây là đợt rét khắc nghiệt nhất trong vòng 39 năm qua tại tỉnh này Tổng diện tích lúa và rau hoa quả bị thiệt hại khoảng 107 nghìn ha, gây tổn thất về kinh tế 620 triệu nhân dân tệ Cùng với đó là các loại cây trồng nhiệt đới như cao su, hạt tiêu và dừa gây thiệt hại
Trang 16tăng trong thời gian sắp tới do sản lượng tại hầu hết các địa phương của Trung Quốc đều bị sụt giảm vì thời tiết xấu
Tại Liên minh châu Âu (EU), để đối mặt với sự khan hiếm rau quả và giá lương thực tăng cao trên thị trường thế giới, EU đã kêu gọi các nước thành viên nới lỏng quy định về hình dạng, mẫu mã các sản phẩm nông nghiệp, để mọi người dân đều có thể hưởng thụ các sản phẩm này Các mặt hàng được đề nghị nới lỏng bao gồm một số nông sản thiết yếu như: đậu nành, bí xanh, dưa chuột, hành tây, tỏi tây, dưa quả,
Xuất khẩu rau quả tươi của các nước EU chủ yếu là trong nội bộ khối
EU Thị trường xuất khẩu ngoài EU chỉ chiếm dưới 20% giá trị xuất khẩu mặt hàng này của khối Một số thị trường nhập khẩu tiêu biểu rau quả từ EU là Thụy Sỹ, Mỹ, Nga và Na Uy Điều kiện khí hậu khá khắc nghiệt ở Châu Âu
đã gây cản trở rất nhiều đến việc trồng trọt của họ Do đó, các nước EU nhập khẩu khá nhiều các loại rau quả Những nước nhập khẩu hàng đầu EU là Đức, Anh, Pháp và Hà Lan chiếm hơn 70% giá trị nhập khẩu rau quả toàn EU
Có thể nói, rau tươi là một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị, hơn nữa nhu cầu rau trên thế giới ngày một tăng bởi vậy rau
có vị trí lớn trên thị trường thế giới
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Rau là loại thực phẩm đã có từ lâu đời ở nước ta, từ thời vua Hùng người ta đã phát hiện thấy bầu, bí trong vườn của gia đình Theo sổ sách ghi chép thì rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ X
Năm 1783 - 1792, Lê Quý Đôn đã tiến hành tổng kết các vùng phân bổ rau Năm 1929 ở nước ta đã trồng rau cải trắng và khoai tây Có thể nói nghề trồng rau ở nước ta bắt đầu từ rất sớm, những năm trước đây do nền kinh tế tự cung, tự cấp kéo dài, nghề trồng rau ở nước ta rất manh mún, chưa được phát
Trang 17triển Các chủng loại rau còn nghèo, diện tích và sản lượng rau quá thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu cùng với đức tính cần cù của nông dân Việt Nam, theo thống kê lúc bấy giờ sản lượng rau chỉ đạt tới 3.225 – 3.250 nghìn tấn Vùng sản xuất rau lớn tập trung ở đồng bằng sông Hồng với 27 - 28% diện tích và chiếm 32 - 33% tổng sản lượng rau của cả nước Đây cũng là vùng rau gieo trồng được nhiều loại rau ôn đới như : cải bắp, súp lơ, su hào,
Theo số liệu thống kê từ năm 2004 đến nay (Abbott, 1925) sản xuất rau không ngừng tăng nhanh không chỉ đáp ứng cho nhu cầu rau trong nước, cho công nghiệp chế biến mà còn để xuất khẩu, điều này được thể hiện qua giai đoạn từ năm 2001 - 2005
Bảng 1.3 : Diện tích, năng suất và sản lượng rau quả Việt Nam
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
Theo tác giả Phạm Thị Thuỳ (2005) thì năng suất rau xanh ở nước ta còn thấp và bấp bênh, năm 1998 năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng
Trang 18năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân cả nước trong 10 năm cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt năng suất bình quân ở mức
160 tạ/ha Năng suất trung bình thấp nhất là ở tỉnh miền Trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước
Cây rau có thể sinh trưởng ở mọi vùng sinh thái, nhưng do yêu cầu tiêu dùng của xã hội nên được sản xuất tập trung ở một số vùng, có sản lượng lớn
và diện tích tập trung
Diện tích trồng rau nằm chủ yếu ở hai khu vực: đất trồng rau trong luân canh với hai vụ lúa và các cây trồng khác và đất chuyên canh rau tập trung
Khu vực đất trồng rau trong luân canh với hai vụ lúa và các cây trồng khác có diện tích khoảng 241.000ha, sản lượng 3,05 triệu tấn, chiếm 65,3% diện tích và 63% tổng sản lượng rau cả nước
Vùng đất chuyên canh rau tập trung tại: Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh và quanh các thành phố lớn khác diện tích 130.000 ha, sản lượng 1,78 triệu tấn Diện tích gieo trồng chiếm 34,7% và sản lượng chiếm 37% tổng sản lượng cả nước
Ngoài ra ở Việt Nam còn hình thành một số vùng tập trung sản xuất một số loại rau:
- Vùng trồng cải bắp, gồm các địa phương: Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng
- Vùng trồng khoai tây: Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên
- Vùng trồng cà chua: Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng
- Vùng trồng hành tây, gồm các địa phương: Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Phan Rang
Trang 19- Vùng trồng tỏi ta: Bắc Giang, Hải Dương, huyện đảo Lý Sơn
- Vùng trồng ớt: Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang (Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân, 2000)
1.3.2.2 Những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất rau ở Việt Nam
* Thuận lợi:
Việt Nam nằm trong miền nhiệt đới có gió mùa, vị trí địa lý độc đáo, một phía gắn liền với lục địa, một phía thông với biển Đông, có địa hình chạy dài suốt 15 vĩ độ, có khí hậu đa dạng và có 4 mùa phân biệt nên các giống cây nhiệt đới và ôn đới đều có thế sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao
Nghề trồng rau ở Việt Nam đã có từ lâu đời, nhân dân ta đã có nhiều kinh nghiệm, người Việt Nam cần cù, do đó đáp ứng được yêu cầu cơ bản của nghề trồng rau là cần đầu tư nhiều công lao động cho chăm sóc rau
Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách mới, được tiếp tục hoàn thiện trong thực tiễn, tạo hành lang pháp lý ngày càng thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh rau phát triển
Những năm qua trong cơ chế mới, quan hệ giữa Việt Nam và nhiều nước trên thế giới được thiết lập tạo điều kiện cho việc nhập và sản xuất các chủng loại rau mới Công nghệ chế biến được củng cố và phát triển, tạo điều kiện cho nghề trồng rau vừa tăng về số lượng vừa tăng về chất lượng và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người sản xuất
Hàng loạt những tiến bộ khoa học công nghệ mới trong nước và thế giới đã được áp dụng vào sản xuất rau ở nước ta trong đó công nghiệp chế biến sẽ là tác nhân mạnh tạo ra bước ngoặt mới để tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm
Kinh tế đối ngoại có nhiều cơ hội phát triển, thị trường rau và các sản phẩm chế biến từ rau ngày càng được mở rộng
Trang 20Có lực lượng các bộ khoa học nghiên cứu về rau có trình độ, năng lực, nhiệt tình sẽ chọn tạo được nhiều giống rau tốt cho sản xuất đặc biệt các loại rau có chất lượng cao và các loại rau trồng trái vụ Hiện nay những khó khăn
về rau giáp vụ hầu như không còn nữa, các vùng ngoại thành các thành phố đã cung cấp đủ rau cho người tiêu dùng quanh năm, đó là một bước tiến cần đánh giá cao trong lịch sử nghề trồng rau ở Việt Nam
* Khó khăn:
Cấu trúc địa hình phức tạp, ngoài hai đồng bằng chính là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, còn đại bộ phận diện tích (chiếm 2/3) là đồi núi
Tuy nghề trồng rau những năm qua đã có những bước tiến đáng kể, nhưng chưa đồng bộ, chỉ mới tập trung ở một số khu vực chuyên canh rau và các vùng ven đô thị Chưa có bộ giống cho từng vùng
Nước ta có khí hậu nóng và ẩm là điều kiện cho sâu bệnh phát triển, hơn nữa vì chạy theo lợi nhuận nên một số loại rau trong quá trình sản xuất người sản xuất sử dụng bừa bãi các loại thuốc bảo vệ thực vật gây hiện tượng quen thuốc, do đó sâu bệnh ngày càng phát triển mạnh hơn Sản xuất rau của nước ta còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thường gây ra bão lụt, thiên tai, gây nhiều rủi ro cho người sản xuất
Chưa có một nền sản xuất lớn, sản xuất còn mang tính chất manh mún, chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rau, do vậy năng suất rau chưa cao, giá thành rau tăng, chưa coi trọng việc quản lý, cải tiến
kỹ thuật canh tác, chủ yếu tăng về năng suất chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm nên rau tươi Việt Nam hiện nay chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng, điều đó hạn chế rất lớn tới việc sản xuất rau xuất khẩu
Trang 211.3.2.3 Tình hình tiêu thụ rau ở Việt Nam
Ở Việt Nam, rau được tiêu thụ hầu hết ở các hộ gia đình Theo số liệu điều tra có 100% hộ gia đình tiêu thụ rau Bình quân tiêu thụ rau của người Việt Nam là 54 kg/người/năm Giá trị tiêu thụ rau hàng năm (bao gồm giá trị
tự trồng) là 126.000 đồng/người hoặc 529.000 đồng/hộ (chiếm khoảng 4% tổng chi phí tiêu dùng) Trong một khảo sát khoa học gần đây của viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam về sản xuất và thương mại hàng hoá rau cho thấy: tổng lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người tăng hơn 2 lần so với
10 năm qua
Việt Nam ngoài tiêu thụ rau trong nước còn xuất khẩu ra nước ngoài Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả trong tháng 4 năm 2009 đạt gần 32,5 triệu USD, giảm 6,2%
so với tháng trước nhưng lại tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2008 Tính chung
4 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả của Việt Nam đạt 127,8 triệu USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2008 Trong bối cảnh xuất khẩu khó khăn, xuất khẩu rau hoa quả giữ được đà tăng trưởng là một trong những điểm đáng chú ý hiện nay (Rauhoaquavietnam.vn)
Thị trường xuất khẩu:
Tháng 4 năm 2009, cơ cấu thị trường xuất khẩu đã có sự thay đổi khi thị trường Liên Bang Nga vượt qua Trung Quốc để vươn lên vị trí thứ nhất trong số những nước nhập khẩu rau hoa quả của Việt Nam Trong tháng 4 năm 2009, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả của Việt Nam sang thị trường này đạt hơn 3,5 triệu USD, tăng 56% so với tháng trước, tuy nhiên, so với cùng kỳ lại giảm nhẹ xuống mức 3,76% Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu sang Nga đạt 12,5 triệu USD, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm 2008
Trang 22Tiếp đến là Trung Quốc với tổng kim ngạch đạt hơn 3 triệu USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2008 4 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả vào thị trường này đạt 12,9 triệu USD, tăng 22,4% so với cùng
kỳ năm 2008
Kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả sang Nhật Bản và Đài Loan trong 4 tháng đầu năm giảm nhẹ, chỉ đạt lần lượt 9,8 triệu USD và 5 triệu USD, giảm 0,85% và 45,9% so với cùng kỳ năm 2008
Trong 4 tháng đầu năm nay, có một số thị trường rau hoa quả Việt Nam chưa được xuất khẩu tới, cho dù đã được khai thác cùng kỳ năm 2008, đó là: Ấn
Độ, Ban Lan, Bỉ, UAE, Estonia, Séc, Thụy Điển và Thụy Sĩ (Rauhoaquavietnam.vn)
1.4 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng thực hiện nghiên cứu đề tài
1.4.1 Tình hình sản xuất rau ở Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
Thái Nguyên có điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng các loại rau nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau trong và ngoài tỉnh Trong những năm gần đây, diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Thái Nguyên cũng tăng lên đáng kể
Trang 23Bảng 1.4: Diện tích và sản lượng rau ở các huyện trong tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010
Toàn tỉnh 7176 7982 8047 7724 8920 8523 99879 116745 117798 139635 TPTN 801 782 709 776 815 14774 14567 12492 13745 15382 Sông Công 276 300 349 381 421 2779 3147 4603 5455 6133 Định Hoá 664 684 725 651 778 5913 6059 8140 8983 10497
Võ Nhai 324 348 333 426 324 2667 3145 4175 5436 4448 Phú Lương 536 592 521 392 290 5952 5460 6520 4656 3718 Đồng Hỷ 1013 1211 1270 1055 1071 14758 18160 21908 18359 19469 Đại Từ 1002 1460 1572 1699 2417 10318 17470 22548 25158 36182 Phú Bình 1185 1220 1231 1178 1381 10931 13585 17010 17477 21326 Phổ Yên 1375 1448 1337 1166 1423 17140 18286 19349 18460 22480
( Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Thái Nguyên tháng 3 năm 2011)
Trang 24Qua bảng 1.4 cho ta thấy từ năm 2006 đến năm 2010, sản xuất rau ở Thái Nguyên tăng dần theo từng năm, điều đó chứng tỏ tình hình sản xuất rau
có xu hướng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Cả diện tích và năng suất đều tăng Trong giai đoạn 2006 - 2010, diện tích đã tăng 1.744 ha ( tăng 1,24 lần) Về sản lượng tăng 39.756 tấn, tăng 1,36 lần Tuy nhiên, diện tích và sản lượng ở các huyện có sự chênh lệch khá rõ Tính đến năm 2010, Đại Từ vẫn là huyện có diện tích trồng rau lớn nhất đạt 2.417 ha, gấp 8,33 lần so với huyện trồng ít rau nhất là huyện Phổ Yên đạt 290 ha Về sản lượng, Đại Từ dẫn đầu về sản lượng so với các huyện và Thành phố Thái Nguyên, đạt 36.182 tấn Chứng tỏ huyện Đại Từ có đủ những điều kiện thuận lợi để sản xuất rau theo hướng hàng hoá nhằm cung cấp sản phẩm cho huyện, cho thành phố và cho các tỉnh khác
Thành phố Thái Nguyên những năm gần đây có sự tăng giảm về cả diện tích và sản lượng Tính đến năm 2010 thành phố đều có năng suất và sản lượng tăng so với các năm trước Năm 2010, diện tích rau của thành phố đạt 8.920 ha và sản lượng đạt 15.382 tấn Điều đó chứng tỏ, vai trò của rau xanh đối với sức khoẻ con người là vô cùng cần thiết Không những vậy, phát triển rau xanh còn tạo công ăn việc làm cho người dân thành phố và là con đường làm giàu chính đáng của người dân hiện nay
Chủng loại rau được trồng ở Thái Nguyên cũng rất đa dạng, gồm
có nhiều loại rau phù hợp theo từng mùa Tính trong vụ đông xuân
2009 - 2010 ở tỉnh Thái Nguyên có những loại rau như su hào, bắp cải, rau muống,… Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại rau chính của Tỉnh Thái Nguyên được thể hiện trong bảng 1.5
Trang 25Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại rau chính của
Tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2006 - 2010
Chỉ tiêu
Năm Tên rau
Diện tích
(ha)
Rau muống 2.231 2.482 2.502 2.394 2.790 Bắp cải 1.040 1.157 1.172 1.125 1.290
Su hào 958,0 1.066 1.054 1.012 1.194
Năng suất
(tạ/ha)
Rau muống 124,3 131,6 152,62 160,3 164,4 Bắp cải 133,9 141,8 164,38 172,7 177,1
Su hào 43,22 151,7 175,86 184,8 189,5
Sản lượng
( tấn)
Rau muống 27.73 33.666 38.182 38.386 45.873 Bắp cải 13.92 16.401 19.266 19.428 22.845
Su hào 13.72 16.163 8.536 18.692 22.622
(Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Thái Nguyên tháng 3 năm 2011)
Qua bảng 1.5 ta thấy: Diện tích trồng các loại rau chính chiếm diện tích cũng khá lớn, so với diện tích của toàn tỉnh năm 2010 thì các loại rau này cũng chiếm một nửa diện tích Tính đến năm 2010, diện tích các loại rau chính đều tăng, tăng cao hơn là rau muống, tiếp đến là rau bắp cải, cuối cùng là là su hào
Sở dĩ có điều đó là vì thời gian làm rau của rau muống kéo dài hơn hai loại rau còn lại nên rau muống được dùng làm rau chính khi các loại rau còn lại mất mùa hay sâu bệnh
Năng suất và sản lượng các loại rau cũng tăng lên Năng suất trung bình của rau muống đạt 146,6 tạ/ha; rau bắp cải đạt 157,8 tạ/ha và rau su hào đạt 149,1 tạ/ha Như vậy, năng suất trung bình của bắp cải cao hơn 11,2 tạ/ha; so
Trang 26trong rau vụ đông Sản lượng các loại rau cũng tăng nhanh trong những năm gần đây nhờ áp dụng những thành tựu của khoa học như làm giàn che, tưới phun mưa,… sản lượng rau muống, bắp cải và su hào đều tăng gần gấp đôi; đạt cao nhất trong năm 2010 với 45.873 tấn rau muống; 22.845 tấn rau bắp cải
đó chỉ là những nhận xét trực quan chứ không phải những thí nghiệm so sánh (Rice, 1984)
Vào đầu thế kỷ XX, nhà phân loại học thực vật nổi tiếng De Candole
đã gây được sự chú ý khi ông quan sát thấy các chất tiết ra từ rễ của một loại cây gây ra được hiện tượng “ ốm đất ” và hiện tượng này có thể khắc phục được nếu có chế độ luân canh thích hợp (De Candole, 1832) Mặc dù vậy, sự quan sát của ông mới chỉ dựa trên các thí nghiệm đơn sơ Vì thế, giả thiết của ông đã bị nhiều nhà khoa học bác bỏ Không lâu sau đó, vấn
đề này lại được quan tâm và xới xáo lên bởi nghiên cứu của Schreiner & các cộng sự ở Mỹ (Schreiner & Reed, 1907, 1908) và Pickering cùng các cộng sự ở Anh (Willis, 1997)
Từ năm 1960 đến nay, những nghiên cứu về những loại thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng đã thực sự thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp và những thí nghiệm này được tiến hành trong phòng thí nghiệm, trong nhà kính và ngoài đồng ruộng của người dân Từ đó, người ta bắt đầu khai thác các hợp chất độc thiên nhiên
Trang 27để diệt trừ sâu hại, bảo vệ mùa màng Trong đó, ba hợp chất nicotine, rotenone và pyrethrin là ba loại thuốc trừ sâu điển hình phổ biến nhất thế giới
từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XX Hàng năm có hàng ngàn đến hàng chục ngàn tấn được khai thác Đồng thời, với 3 loại chủ yếu trên, nhiều loài cây độc khác cũng được chú ý và nghiên cứu đặc biệt, khi thuốc bảo vệ thực vật
có nguồn gốc hoá học bộc lộ những mặt tiêu cực của nó, người ta đã chuyển sang nghiên cứu thuốc trừ sâu thảo mộc và các loại thuốc trừ sâu sinh học khác Nhiều nước đã liên tiếp công bố các loài cây có tính độc có khả năng phòng trừ sâu độc ở nước mình Điển hình là công trình đồ sộ của Grainge (1984) và Jacobson ( 1990) Hai nhà khoa học này đã giới thiệu hàng ngàn cây thực vật có tính độc có khả năng phòng trừ sâu bệnh và nêu lên cơ chế tác động của nó Từ năm 1970 trở lại đây, thế giới chú ý đến cây Xoan neem – một loại xoan Ấn Độ, có khả năng trừ sâu lý tưởng và đã có nhiều hội nghị quốc tế tổng kết, trao đổi, giới thiệu và xu hướng sử dụng cây Xoan neem làm thuốc trừ sâu thảo mộc
Các nước khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Thái Lan, việc dùng thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc được sử dụng rộng rãi trong các loại rau sống ăn trực tiếp vào cơ thể như: dưa leo, xà lách, cà rốt, hành ngò, rau gia vị,… Vì tính an toàn gần như tuyệt đối của nó Các nhà khoa học trên thế giới
đã đầu tư để chiết xuất ra các hoạt chất tạo thành một dòng các sản phẩm có nguồn gốc sinh học chủ yếu trừ sâu, nấm bệnh và kích thích sinh trưởng như:
Vi khuẩn Bacillus Thuringensis, nấm Trichoderma, hoạt chất Azadirachtin từ cây Xoan neem, Karanjin chiết xuất từ cây hoa đào Ấn Độ, Matrine chiết
xuất từ cây khổ sâm,…
Nghiên cứu mới đây nhất về các loại thực vật có nguồn gốc thảo mộc được nhóm các nhà khoa học do tiến sĩ Muray Isman thuộc đại học British Columbia ở Vancouver, Canada phụ trách Họ đã mất 10 năm nghiên cứu khả
Trang 28năng trừ sâu của cây hương thảo, hung tây và bạc hà Kết quả cho thấy, dung dịch pha loãng chất chiết xuất từ các loại thảo mộc trên có thể diệt trừ hoặc xua đuổi sâu bọ Thuốc trừ sâu tự nhiên này được nông dân sử dụng và diệt trừ hiệu quả sâu bọ ở dâu tây và cà chua (Cuộc họp của Hội hoá học Mỹ, 15 tháng 10 năm 2009, Washinhton)
Ở Việt Nam, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong danh mục các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, từ năm 2000 chỉ có
2 sản phẩm trừ sâu sinh học được công nhận đăng ký Đến năm 2005 đã có 57 sản phẩm các loại; đến 6 tháng đầu năm 2007 có 193 sản phẩm được cấp giấy phép đăng ký, nâng tổng số có 479 sản phẩm sinh học được phép lưu hành trong đó có 300 loại thuốc trừ sâu và 98 loại trừ bệnh Các sản phẩm này góp phần không nhỏ vào công tác phòng trừ dịch hại, góp phần thay thế và hạn chế dần nguy cơ độc hại do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hoá học gây ra làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và gây ô nhiễm môi trường Thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc đã được người dân sử dụng rất lâu đời nhưng chủ yếu mang tính kinh nghiệm Lá sầu đâu (xoan đào), cây thuốc cá, mủ đu đủ, mủ xương rồng, mủ vú sữa được dùng để trừ sâu bọ, cua
ốc cắn phá cây trồng
Từ đầu năm 1960, Lê Trường và các cộng sự đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu và đề cập đến hiệu lực của một số cây độc chính ở dạng đơn giản nhưng ngay sau đó thuốc hoá học tràn vào làm cho thuốc thảo mộc bị lãng quên vì thuốc hóa học có hiệu quả diệt trừ nhanh, mạnh, tiêu diệt được tất cả các loài sâu hại trên đồng ruộng, cho nên trong thời gian đó biện pháp hóa học giữ vị trí khá quan trọng, gần như là độc tôn trong phòng trừ dịch hại để bảo
vệ cây trồng Cuối những năm của thập kỷ 70 sau một thời gian sử dụng hoạt chất bảo vệ thực vật, bên cạnh những ưu điểm các nhà khoa học đã nhận thấy nhiều nhược điểm của nó, thậm trí còn gây những hậu quả nghiêm trọng như: Tiêu diệt những loài có ích, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường Trước thực tế đó, để khắc phục dần những hiện tượng tiêu cực do
Trang 29thuốc hóa học gây ra, đồng thời tạo dựng và thiết lập một nền nông nghiệp sạch, an toàn và bền vững đòi hỏi các nhà quản lý, các nhà khoa học và người nông dân đã bắt đầu quan tâm đến các biện pháp sinh học, các biện pháp canh tác, Đến năm 1980, thuốc thảo mộc lại được đề cập đến Trong các loại thực vật được nghiên cứu thì cây ruốc cá được nghiên cứu đầy đủ nhất Lúc đó, cây ruốc cá được dùng nhiều trong phòng trừ cá dữ ở những vùng nuôi tôm cá (Nguyễn Duy Trang, 1996)
Sau đó nhiều tác giả đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của thuốc thảo mộc như: Thí nghiệm thăm dò tính độc của cây cối đối với sâu hại của Bùi Văn Ngạc (1979); Đinh Xuân Hưởng và cộng sự (1987); Trần Minh Tông (1992); Trương Thị Ngọc Chi (1992); Vũ Quang Côn và cộng sự (1993 - 1994); Giới thiệu kinh nghiệm dân gian của Dương Minh Tú ( 1985); Nguyễn Xuân Dũng (1993)
Từ năm 2001 trở đi, cả nước có thêm nhiều luận án tiến sỹ làm về vấn
đề này nhưng chủ yếu làm ở nước ngoài (Trần Đăng Xuân, Nguyễn Hữu Hồng, Đỗ Ngọc Oanh của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Nguyễn Văn Chín - Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Thị Me, Nguyễn Trường Thành, Nguyễn Hồng Vân của Viện bảo vệ thực vật,…) Những kết quả trên đều thống nhất đánh giá về sự cần thiết trong nghiên cứu và ứng dụng những loại thực vật có khả năng phòng trừ nói chung và trong lĩnh vực bảo vệ thực vật nói riêng
Trong hai năm 2004 - 2006, Tiến sỹ Phan Phước Hiền – Đại học Nông
Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã chủ trì thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu chiết xuất và sử dụng các hoạt chất thứ cấp từ một số cây của Việt Nam phục vụ sản xuất nông nghiệp, thực phẩm và y học” đề tài đã khảo sát, thu thập và
nghiên cứu đặc điểm sinh hoá của cây Derris trifoliata, Hibercus sabda, đồng thời ngâm chiết, trưng cất, cô đặc và tinh sạch một số hợp chất hữu cơ phục
vụ cho sản xuất các chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp, y học và thực
Trang 30phẩm Tương tự như vậy, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Hồng - Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên cũng đã nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu khả năng sử dụng một
số loài thực vật vào việc phòng trừ cỏ dại cho lúa nước ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam” Kết quả đã thu thập đánh giá được vai trò và khả năng phòng
trừ cho lúa nước của bảy loài thực vật (Cây cứt lợn, cây đơn kim, cây guột, cây cỏ lào, cây đậu ma, cây keo dậu, cây xoan)
Nghiên cứu mới đây nhất về các loại cây thảo mộc phòng trừ sâu là của Shugo Hama – Chuyên gia nông nghiệp hữu cơ của Đại học Nông – Công nghệ Tokyo Shugo Hama đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu những kinh nghiệm sản xuất truyền thống của người nông dân Nhật Bản sau đó đúc kết lại và mang phổ biến cho nông dân Việt Nam thông qua các dự án hợp tác nông nghiệp của Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) Dự án với các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn, giới thiệu cho người dân cách sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn như: Chế biến phân bón hữu cơ, chế biến dấm than và thuốc trừ sâu từ hạt neem
để phòng trừ bệnh,… Tiến sỹ Lê Đình Hường – Khoa nông học Đại học Nông Lâm Huế cùng với dự án JICA đưa đến kiến thức cho người dân ở thôn Khe Su, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế những kỹ thuật của dự án JICA và kỹ thuật làm thuốc trừ sâu từ ớt, tỏi, hành, gừng,… ( Báo thanh niên, 19/9/2010)
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Rau bắp cải
- Sâu hại:
Rệp hại cải (Brevicoryne brasicae, Myzus persicae)
Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus)
Sâu tơ (Plutella xylostella Curtiss)
Sâu khoang (Spodoptera litura)
Bọ nhảy ( Phyllotreta vitata Fabr)
- Dung dịch ngâm củ hành
- Dung dịch ngâm củ tỏi
2.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện thực hiện đề tài
2.2.1 Thời gian và địa điểm
* Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011
* Địa điểm: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tập trung và liên tục tại:
- Phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh thái môi trường - Viện Khoa học sự sống
- Phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ thực vật - Khoa Nông học - Trường
ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
- Các thí nghiệm đồng ruộng: Được tiến hành nghiên cứu tại Tiểu đoàn
4 - Lữ đoàn 575 - Quân khu I (Xã Đồng Bẩm, Thành phố Thái Nguyên)
2.2.2 Điều kiện thực hiện đề tài
Phân bón: Thí nghiệm được sử dụng các loại phân chuồng hoai mục, các loại phân khoáng đạm, lân và kali
Trang 32Quy trình sản xuất rau an toàn được thực hiện và áp dụng theo quy định
số 67-1229 4/1998 do Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn ban hành
2.2.3 Quy trình kỹ thuật trồng rau bắp cải
Lần 1: Sau trồng 15 ngày, bón 1/4 lượng đạm
Lần 2: Sau trồng khoảng 35 - 40 ngày (bón vào thời kỳ bắt đầu trải lá): Bón 1/4 lượng đạm
Lần 3: Bón khi cây bắt đầu cuốn, bón 1/4 đạm + 1/3 phân kali
Lần 4: Sau lần 3 khoảng 15 ngày, bón 1/4 đạm + 1/3 phân kali
- Nước tưới: Ngày tưới 1 - 2 lần tủy thuộc vào điều kiện thời tiết và ẩm độ
- Chăm sóc:
Thời kỳ trồng - hồi xanh: xới váng, dặm cây chết
Thời kỳ hồi xanh - trải lá: tưới rãnh, vun gốc, bón thúc lần 1, phòng trừ dịch hại
Thời kỳ trải lá - cuốn: tưới rãnh, bón thúc 2 lần, tỉa lá già, phòng trừ dịch hại Thời kỳ cuốn – thu hoạch: tưới nước, bón thúc lần cuối, tỉa lá già, phòng trừ dịch hại Khi bắp cuốn chặt trước thu hoạch khoảng 20 ngày ngừng tưới nước, bón thúc và phun thuốc trừ dịch hại
Trang 332.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại điểm thực tập
2.3.2 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải tại Thái Nguyên vụ đông xuân chính vụ năm 2010
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất rau tại Thái Nguyên
- Số liệu về hiện trạng sản xuất rau được thu thập tại Cục thống
kê và Phòng Kinh tế thành phố Thái Nguyên
- Số liệu sơ cấp thu thập theo phương pháp điều tra sử dụng bộ câu hỏi
có tiêu chí thiết kế trước và câu hỏi mở (semi - structural questionaire) và thảo luận nhóm là công cụ chính của điều tra
2.4.2 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại Thái Nguyên
Phương pháp điều tra được tiến hành theo phương pháp chung của Viện Bảo vệ thực vật
- Định kỳ điều tra 5 ngày một lần trên cây rau bắp cải tại vùng chuyên canh rau của Thái Nguyên
- Xác định thành phần sâu hại theo phương pháp:
Điều tra ruộng cố định
Điều tra ruộng bổ sung
Trang 34+ Điều tra ruộng cố định:
Phương pháp: Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải được điều tra theo 5 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm 1m2, mỗi lần điều tra không lặp lại số cây lần trước đã điều tra
Xác định thành phần mật độ sâu hại trên đồng ruộng
Mật độ sâu (con/m2
) = Tổng số sâu điều tra (con)
Diện tích điều tra (m2)
+ Điều tra bổ sung: Trên một số địa điểm khác trồng bắp cải, phương
pháp tiến hành giống như điều tra cố định
2.4.3 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của cây hành và cây tỏi
3.4.3.1 Thí nghiệm trong phòng
Thu củ của cây hành và cây tỏi có khả năng trừ sâu ngoài tự nhiên đem về rửa sạch, băm hoặc giã nhỏ, ngâm vào trong nước 24h, lọc lấy dung dịch ngâm phun lên cây có sâu hoặc nhúng cây chưa có sâu vào dung dịch trước khi thả sâu Phương pháp nuôi rệp, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng và sâu khoang hại rau được tiến hành theo phương pháp chuẩn của Viện Bảo vệ thực vật và của
Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
+ Đối với rệp: Thu thập rệp trưởng thành ngoài ruộng về, thả rệp vào cây
bắp cải trong lồng nuôi sâu để gây rệp giống sử dụng trong thí nghiệm Trước khi tiến hành thí nghiệm, bắt một số rệp trưởng thành cho vào cây bắp cải sạch rệp nuôi riêng, ngày hôm sau (1 ngày) thu rệp non mới nở thả vào các lồng nuôi sâu chuẩn bị cho thí nghiệm
+ Đối với sâu tơ, sâu xanh và sâu khoang: Thu thập nhộng và sâu
trưởng thành từ ngoài ruộng về Cho đến khi nhộng chuẩn bị vũ hóa, cho nhộng vào đĩa Petri (khoảng 50 - 100 nhộng) rồi đặt đĩa Petri có nhộng vào trong lồng nuôi sâu có trồng cải sạch sâu trong đó, đến khi nhộng vũ hóa thành trưởng thành, bướm sẽ đẻ trứng lên cây cải Lấy bông tẩm nước đường cho vào lồng nuôi sâu để làm thức ăn cho bướm Theo dõi đến khi bướm nở
Trang 35rộ thì bắt đầu thu trứng Thu toàn bộ trứng đẻ tập trung trong 3 ngày liên tục, cho vào các bô can nhỏ và theo dõi trứng nở ra sâu non đồng đều Hàng ngày thay thức ăn cho sâu Khi sâu sang tuổi 2 thì lấy ra làm thí nghiệm
* Phương pháp xác định tác dụng xua đuổi, gây ngán, tiêu diệt sâu của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi
- Thí nghiệm 1: Phương pháp xác định tác dụng xua đuổi sâu của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi:
+ Phương pháp xác định tác dụng xua đuổi sâu của dung dịch ngâm củ hành: Lấy 20 cây cải cùng độ tuổi trồng vào các cốc, cứ một cốc một cây, các cốc có kích thước bằng nhau Lấy 10 cây nhúng vào dung dịch ngâm củ hành (công thức thí nghiệm) và 10 cây còn lại nhúng vào nước lã (công thức đối chứng) Sau đó để cho ráo nước rồi cho vào lồng nuôi sâu Khi cho vào lồng nuôi sâu, các cốc rau được xếp thành 2 hàng, mỗi hàng 10 cốc, cứ lần lượt một cốc nhúng dung dịch ngâm củ hành và một cốc nhúng nước lã Sau đó thả
20 con sâu vào mỗi cây rau trong cốc và quan sát hướng di chuyển, hành vi của các cá thể sâu trên cây rau trong 11 - 12h sau thí nghiệm
+ Phương pháp xác định tác dụng xua đuổi sâu của dung dịch ngâm củ tỏi cách làm tương tự như trên
Chỉ tiêu theo dõi hàng ngày: Số sâu sống, chết ở mỗi công thức và hiệu quả xua đuổi sâu được tính theo công thức:
E: Hiệu lực xua đuổi (%)
Ca: Số sâu còn sống ở công thức đối chứng sau thí nghiệm
Trang 36- Thí nghiệm 2: Phương pháp xác định tác dụng gây ngán đối với sâu của dung dịch ngâm củ hành và dung dịch ngâm củ tỏi
Xác định hiệu lực gây ngán của dung dịch ngâm củ hành và củ tỏi đối với sâu được tính theo phương pháp cải tiến từ phương pháp: “Leaf dics no – choice” của Kubo & Nakanishi, 1977
+ Phương pháp xác định hiệu lực gây ngán của dung dịch ngâm củ hành: Lấy 20 cây cải nguyên vẹn (không có triệu chứng bị hại do sâu, bệnh) cùng
độ tuổi được trồng vào các cốc, mỗi cây một cốc, các cốc có kích thước bằng nhau Lấy 10 cây nhúng vào dung dịch ngâm củ hành (công thức thí nghiệm)
và 10 cây còn lại nhúng vào nước lã (công thức đối chứng), sau đó để cho chúng ráo nước rồi cho vào 2 lồng nuôi sâu (01 lồng có các cốc rau nhúng vào nước lã làm đối chứng, 01 lồng có các cốc rau nhúng vào dung dịch ngâm củ hành), sau đó thả 20 con sâu vào mỗi cây rau trong cốc và quan sát hiệu lực gây ngán của sâu trên cây rau trong 24 – 36h sau thí nghiệm
+ Phương pháp xác định hiệu lực gây ngán của dung dịch ngâm củ tỏi cách làm tương tự như trên
Nếu các công thức thí nghiệm có ít hoặc không thấy có vết gây hại của sâu nhưng sau một thời gian thấy sâu chết thì chứng tỏ dung dịch ngâm có tác dụng gây ngán đối với sâu Khi đó, ta tính hiệu lực gây ngán như sau: