Nguyen Thi Lan Hương Nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật thuộc họ xoan (Meliaece) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ đông xuân chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ Thái Nguyên CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........................................................................................................29 2.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 29 2.2. Thời gian, địa điểm và điều kiện thực hiện đề tài................................ 29 2.2.1. Thời gian và địa điểm ................................................................... 29 2.2.2. Điều kiện thực hiện đề tài. ............................................................ 29 2.2.3. Quy trình kỹ thuật trồng rau bắp cải ............................................. 30 2. 3. Nội dung nghiên cứu........................................................................... 31 2.3.1. Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại điểm thực tập........................................................................................... 31 2.3.2. Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm quả cây cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ trong phòng trừ sâu hại bắp cải tại Thái Nguyên trong năm 2010. ................................................................ 31 2.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 31 2.4.1. Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại Thành phố Thái Nguyên.......................................................................... 31
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn chỉnh luận văn này đều đã được tác giả cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc./
Tác giả
Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Hiện nay ,việc sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học đã làm ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh học và chứa đựng nguy cơ bùng phát dịch hại cây trồng Vì vậy việc dùng các loại cây cỏ có chứa chất độc dùng làm thuốc trừ sâu vừa có tác dụng tiêu diệt sâu hại cây trồng vừa khắc phục hiện tượng của thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học Đây cũng chính là cơ sở tạo ra sản phẩm nông nghiệp an toàn cho người tiêu dùng góp phần làm tăng giá trị nông sản trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật thuộc họ xoan (Meliaece) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ đông xuân chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên”
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành trồng trọt, tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo đã tận tình chỉ bảo trong suốt thời gian học tập và tiến hành làm đề tài tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thầy: GS.TS Trần Ngọc Ngoạn và cô giáo: Th.S Bùi Lan Anh là các thầy cô giáo trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Trong quá trình tiến hành làm đề tài, không tránh khỏi những sai sót, tôi mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô giáo để tôi có thể hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp của mình Tôi xin chân thành cảm ơn./
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 3Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm 4Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2007 5Bảng 1.3 Diện tích, sản lượng rau ở một số địa phương trong tỉnh 15Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng của một số loại rau chính của
tỉnh Thái Nguyên qua các năm 17Bảng 3.1: Tình hình thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2010 đến
tháng 02/2011 37Bảng 3.2: Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ 2010 tại
huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên 38Bảng 3.3: Diễn biến của sâu hại bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010 39Bảng 3.4 Hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan và dung
dịch ngâm lá xà cừ 43Bảng 3.5 Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem và
dung dịch ngâm lá xà cừ 46Bảng 3.6 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem và
dung dịch ngâm lá xà cừ 50Bảng 3.7 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm quả xoan
Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ (Thí nghiệm ngoài ruộng) 53Bảng 3.8: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 58
Trang 4Hình 3.1: Biểu đồ diễn biến sâu hại qua các thời kỳ điều tra 41
Hình 3.2 Hiệu lực xua đuổi sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm quả xoan Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ 42
Hình 3.3 Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem & dung dịch ngâm lá xà cừ 45
Hình 3.4 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ 49
Hình 3.5 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm quả xoan Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ (Thí nghiệm ngoài ruộng) 52
Hình 4.6 Khối lượng trung bình bắp 57
Hình 4.7 Năng suất lý thuyết 57
Hình 4.8 Năng suất thực thu 58
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích của đề tài 2
2.2 Yêu cầu của đề tài 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới 4
1.2 Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây rau 9
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau 9
1.2.2 Giá trị kinh tế của cây rau 11
1.3 Thực trạng sản xuất rau tại Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng 13
1.3.1 Thực trạng sản xuất rau tại Việt Nam 13
1.3.2 Thực trạng sản xuất rau tại Thái Nguyên giai đoạn từ 2006 - 2010 15
14 Tình hình nghiên cứu về các loại thực vật nói chung và cây xoan Neem, cây xà cừ nói riêng trong phòng trừ sâu hại trên thế giới và Việt Nam 18
1.4.1 Tình hình nghiên cứu về các loại thực vật trong phòng trừ sâu hại 18
1.4.2 Tình hình nghiên cứu về cây xoan Neem trong phòng trừ sâu bệnh hại 22
Trang 6NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện thực hiện đề tài 29
2.2.1 Thời gian và địa điểm 29
2.2.2 Điều kiện thực hiện đề tài 29
2.2.3 Quy trình kỹ thuật trồng rau bắp cải 30
2 3 Nội dung nghiên cứu 31
2.3.1 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại điểm thực tập 31
2.3.2 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm quả cây cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ trong phòng trừ sâu hại bắp cải tại Thái Nguyên trong năm 2010 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại Thành phố Thái Nguyên 31
2.4.2 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm quả cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ 31
2.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của dung dịch ngâm quả cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ đến năng suất rau bắp cải tại Thái Nguyên 36
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 36
Trang 702/2011 37
3.2 Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên 38
3.3 Kết quả nghiên cứu diễn biến các loài sâu hại rau bắp cải qua các kỳ điều tra 38
3.4 Kết quả nghiên cứu hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan, lá xà cừ 42
3.6 Kết quả nghiên cứu hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan, lá xà cừ (Thí nghiệm trong phòng) 48
3.7 Kết quả nghiên cứu hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan, lá xà cừ (Thí nghiệm ngoài ruộng) 52
3.8 Kết quả nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người, vì rau cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu như: vitamin, lipit, protein và các chất khoáng quan trọng như: canxi, phốt pho, sắt,… cần thiết cho sự phát triển của cơ thể Ngoài ra rau còn cung cấp một lượng lớn các chất xơ có khả năng làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, là thành phần hỗ trợ sự di chuyển thức ăn qua đường tiêu hóa giúp cho hoạt động co bóp của đường ruột được dễ dàng
Rau là nguyên liệu quan trọng trong ngành chế biến, đồng thời là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, góp phần làm tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân Khi đời sống phát triển thì nhu cầu về rau ngày càng cao, vì nó không những chỉ cung cấp những chất dinh dưỡng và khoáng chất cần thiết cho sự phát triển cơ thể, mà rau còn là nguồn thức ăn giúp ngon miệng, dễ hấp thụ Trong mâm cơm, rau quả tươi góp phần quan trọng để tăng sức hấp dẫn của các món ăn
Thái Nguyên là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, phần lớn nông dân vùng chuyên canh rau, trồng rau trên diện tích nhỏ lẻ, manh mún, không tập trung (khoảng 200 – 600 m2/nông hộ) Bên cạnh đó, trình độ học vấn của nông dân trồng rau ở Thái Nguyên còn thấp (chủ yếu có trình độ cấp 1, 2 và chỉ có khoảng 5 – 6% số người có trình độ cấp 3), cho nên họ canh tác chủ yếu theo kinh nghiệm, sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật một cách bừa bãi, chỉ vì mục đích kinh tế mà họ sẵn sàng phun bất cứ một loại thuốc BVTV
Trang 9nào để diệt trừ sâu bệnh hại Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay đa số nông dân vùng sản xuất rau chuyên canh một số vùng chuyên canh rau thuộc tỉnh Thái Nguyên đã và đang sử dụng hơn 37 loại thuốc trừ sâu và 29 loại thuốc trừ bệnh hại cho trên 32 loại rau cải với số lần phun dao động từ 6 – 9 lần/vụ Ngoài ra, họ còn sử dụng một số loại thuốc trừ sâu có độ độc cao nhóm I, hoặc một vài loại thuốc nằm trong danh mục cấm sử dụng trên rau Với phương thức canh tác như trên là nguyên nhân gây nên những hậu quả nghiêm trọng ngoài khả năng kiểm soát của con
Trước thực tế đó, để góp phần tạo dựng và thiết lập nên một nền nông nghiệp sạch, an toàn, ổn định và bền vững; đồng thời góp phần nâng cao ý thức mọi người về vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn chế sử dụng thuốc hóa học BVTV, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sống, và đáp ứng nhu cầu rau sạch phục vụ nhu cầu cuộc sống người dân Thái Nguyên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật thuộc
họ xoan (Meliaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên ”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
Trang 102.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, mô tả thành phần sâu hại rau bắp cải
- Đánh giá hiệu quả sử dụng dung dịch ngâm quả cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải
- Đánh giá ảnh hưởng của dung dịch ngâm quả cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đến năng suất rau bắp cải tại Thái Nguyên
3 Ý nghĩa của đề tài
.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu dung dịch ngâm quả cây xoan Neem và dung dịch ngâm
lá cây xà cừ có khả năng trừ sâu hại rau bắp cải là cơ sở cho nghiên cứu tìm hiểu hoạt chất và cơ chế tác động của hoạt chất đó lên sâu hại
- Góp phần khai thác tiềm năng sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong việc dập tắt các nạn dịch gây ra trong sản xuất nông, lâm nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản phẩm, đồng thời bảo vệ được môi trường, giữ cân bằng sinh học và bảo vệ những loài thiên địch
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [1] Năm 1961 - 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau
đã lên đến 565.523 tấn Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng Trên thế giới, những nước
có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm
1996 sản lượng tăng đạt 13.555 nghìn tấn Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202 kg/người/năm Ở Canada, mức tiêu thu rau bình quân là 70 kg/người/năm (Tạ T Thu Cúc và CS, 2000) [5]
Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng sau
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)
Trang 12Qua bảng 1.1 ta thấy: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm 2004 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lượng
- Về diện tích: Từ năm 2004 - 2007 diện tích trồng rau trên thế giới dã tăng lên nhanh chóng Năm 2004 diện tích trồng rau trên thế giới chỉ có 15.937.621 ha nhưng đến năm 2007 đã lên tới 17.022.433 ha Như vậy chỉ sau
3 năm diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng 1.084.812 ha (trung bình tăng 634.330,6 ha/năm) Qua đó ta thấy được cây rau chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới
- Về năng suất: Nhìn chung trong những năm gần đây tương đối ổn định dao động nhẹ từ 14,3413 - 14,4379 tấn/ha
- Về sản lượng: Từ năm 2004 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng nhưng do diện tích tăng qua các năm nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng
rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 6.307.889,4 tấn/năm Điều đó chứng tỏ nghề trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh trở thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người Cây rau phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới, qua tìm hiểu chúng tôi thu được kết quả sau thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2007
Khu vực Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (tấn)
Trang 13Qua bảng số liệu trên ta thấy: Trong các châu, châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất chiếm tới 80,54% (13.719.615 ha) diện tích rau của thế giới trong khi đó châu Úc chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bằng 5,88% (36.745 ha) diện tích rau của thế giới
- Về năng suất: châu Âu là châu lục có năng suất rau cao nhất thế giới
và cao hơn năng suất bình quân của thế giới đạt 167,677 tạ/ha Đứng thứ hai
là châu Á có năng suất bình quân lớn hơn thế giới là 10,621 tạ/ha (155,018 tạ/ha), tiếp theo là châu Úc và Châu Mĩ, thấp nhất là châu Phi có năng suất là 66,732 tạ/ha, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới 2,16 lần
- Về sản lượng: Châu Úc có sản lượng rau thấp nhất đạt 534,730 và cao nhất là châu Á với sản lượng 212.678.906 tấn rau chiếm tới 85,47% sản lượng rau thế giới Trong đó, riêng Trung Quốc có sản lượng rau đạt 147.212.000 tấn, cao hơn rất nhiều so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác Sau Trung Quốc là Ấn Độ có sản lượng rau đạt 29.117.400 tấn; Philippin đạt 4.500.000 tấn Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hóa chất tồn đọng trong rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn (Faostat, 2009).[11]
1.1.2 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời Ngay từ đời vua Hùng, người
ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình Theo sổ sách ghi chép thì cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thử X Thế kỷ thử XVIII, Lê Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước Vào giữa thế kỷ IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư Cuối thế kỷ IXX,
Trang 14nhân dân đã biết trồng rất nhiều loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như: cải bắp, su hào, súp lơ, cà rốt, hành tây,… Thế kỷ XX, ở nước ta đã hình thành và phát triển các vùng chuyên canh Mặc dù, nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam.(Tạ T Thu Cúc và CS, 2000) [5]
Theo Bùi Hoàn Hảo, Đào Thanh Vân, (2000) [7] cho đến nay chúng ta
có khoảng 70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài là rau chủ lực Trong số này có hơn 80% là rau ăn lá
Theo Trần Khắc Thi (2003) [14], năm 1995, cả nước có diện tích trồng rau là 368,5 ha, sản lượng là 4.145,56 triệu tấn Nếu so với năm 1985 thì diện tích rau tăng 46,4%, bình quân mỗi năm tăng 10.000 ha Diện tích trồng rau trong cả nước tính đến năm 2000 là 445.000 ha, tăng 261.090 ha, tăng khoảng 70% so với năm 1990 Bình quân hàng năm tăng 18,4% nghìn ha (mức trung bình 7%/năm) Trong đó, các tỉnh phía Bắc là 249.200 ha, chiếm 56%, còn các tỉnh phía Nam là 196.000 ha, chiếm 44% diện tích canh tác
Theo số liệu thống kê của FAO (2006), những năm gần đây, diện tích rau của ta ngày càng được mở rộng từ 494.500 ha năm 2001 lên 525.000 ha năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 7.625 ha (mức tăng 1,5%/năm)
Theo Phạm Thị Thùy (2006) [15], năng suất rau xanh ở nước ta còn thấp và bấp bênh Năm 1998, năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung bình của toàn thế giới (xấp xỉ 80 tạ/ha) Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân trong cả nước trong 10 năm
Trang 15cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh,
Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt năng suất bình quân ở mức 160 tạ/ha Năng suất trung bình thấp nhất là ở các tỉnh miền trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước Theo số liệu thống kê, những năm gần đây năng suất tương đối ổn định, năm 2005 đạt 125,714 tạ/ha (Faostat, 2006).[10]
Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng, năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình hằng năm đạt từ
1990 - 2000 là xấp xỉ 260.000 tấn (Trần Khắc Thi, 2003) [14] Do diện tích tăng nhanh làm cho sản lượng rau ở nước ta tăng đáng kể, từ 5.632.100 tấn năm 2000 tăng lên 6.600.000 tấn năm 2005 Như vậy, chỉ trong 4 năm sản lượng rau tăng 967.900 tấn, chủ yếu từ hai vùng chuyên rau chuyên canh ven thành phố và vùng rau luân canh với cây lương thực (FAO, 2006).[10]
Đánh giá về thực trạng sản xuất rau ở nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả cho rằng: hiện nay sản lượng và năng suất rau ở nước ta còn thấp, qui mô còn phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp Mức tiêu thụ nội địa còn thấp, chỉ số bình quân đầu người đạt 60 - 65 kg/năm Sở dĩ có những hạn chế
đó là do, việc quản lý, thiếu cải tiến kỹ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất, chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm cho nên rau tươi Việt Nam chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng Mặt khác, xuất khẩu rau còn quá ít, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế kém Rau quả của nước ta tuy đa dạng và phong phú, nhưng sản xuất chưa gắn với thị trường, chất lượng thấp, bao bì mẫu mã chưa thích hợp, thị trường rau còn đơn điệu và nghèo nàn
Trang 16Hiện nay, Việt Nam có 40 nước là thị trường xuất khẩu rau nhưng chúng ta lại không đủ điều kiện, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 1 - 2% sản lượng Rau nước ta không thể cạnh tranh được với thị trường quốc tế mà ngay cả trong nước vì rau tươi của chúng ta đang bị các sản phẩm nhập khẩu lấn át (Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000; Đường Hồng Dật, 1971; Đường Hồng Dật, 2002; Nguyễn Văn Miện, Nguyễn Trọng Hùng, Ngô Văn Công, 2001) [4]
Thời gian qua, một số địa phương đã triển khai sản xuất rau an toàn, bước đầu đạt được một số thành tựu, điển hình là các thành phố như: Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh và Đà Lạt Tính đến năm 1999, diện tích trồng rau an toàn của cả nước đạt 1.082,5 ha, với sản lượng đạt khoảng 14.000 tấn/năm (Phạm Thị Thùy, 2006)[15] Rau trồng chủng loại đa dạng và phong phú, đến nay đã
có hơn 30 loại với 15 loại rau chủ lực Trong số đó có hơn 80% là rau ăn lá (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996; Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000) [1]
1.2 Giá trị dinh dƣỡng và giá trị kinh tế của cây rau
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau
Rau là thực phẩm không thể thay thế được trong bữa ăn hàng ngày của con người, trong thức ăn hàng ngày cơ thể hấp thu nhiều nguồn dinh dưỡng từ các nguồn thức ăn như: thức ăn từ động vật (thịt, tôm, cá,…) cung cấp chủ yếu protein và lipit, thức ăn từ thực vật (lúa, ngô, khoai, sắn,rau,…) cung cấp chủ yếu các loại vitamin A, B, C, D, E các loại muối khoáng, chất xơ là những chất dinh dưỡng không thể thiếu được đối với các hoạt động sinh lý của cơ thể
Trang 17Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học, để đáp ứng cho sự bình thường mỗi người cần từ 250 – 300g rau xanh/ngày trong khi đó thống kê của Việt Nam mới cung cấp được 60 g/người/ngày (Trần Khắc Thi - 2003)[14], như vậy mới đáp ứng được 20 – 30% nhu cầu về rau
Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh cung cấp khoảng 90 – 99% nguồn vitamin A, 60 – 70% vitamin B2 và gần 100% vitamin C Vitamin đã giúp cho các hoạt động sinh lý trong cơ thể diễn ra một cách bình thường, mỗi loại vitamin có một chức năng khác nhau, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con người, ví dụ: nếu thiếu vitamin A sẽ bị bệnh quáng gà, hoặc mắt không có khả năng thích nghi với ánh sáng mờ, nếu bị nặng sẽ phát triển thành bệnh Xeropthlmia làm hỏng thị lực Thiếu vitamin B sẽ gây mệt mỏi, kém ăn, cơ thể tê phù Thiếu vitamin C gây chảy máu chân răng, chân tay mệt mỏi, cơ thể suy nhược Thiếu vitamin D làm cho trẻ chậm lớn, còi xương,… Như vậy, nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suất làm việc,
dễ phát sinh bệnh tật Do đó, trong lao động, học tập và sinh hoạt hàng ngày, mỗi người phải cần một lượng vitamin nhất định (Bùi Bảo Hoàn & Đào Thanh Vân, 2000) [7 ]
Ngoài việc cung cấp vitamin rau còn cung cấp cho con người một lượng chất khoáng đáng kể như Ca, P, Na, K, Fe,…các chất này có nhiều tác dụng trong việc bồi bổ sức khoẻ, chống thiếu máu, tăng sự dẻo dai và sức chống đỡ bệnh tật Các loại muối khoáng còn có tác dụng trung hoà độ chua
do dạ dày tiết ra khi tiêu hoá thức ăn, làm tăng khả năng đồng hoá protein
Trang 18Chất xơ trong rau giúp sự tiêu hoá được điều hoà, chống táo bón, giữ được cảm giác no Ngoài ra chất xơ ảnh hưởng có lợi đến hàm lượng cholesterol trong máu, do vậy ảnh hưởng tốt đến huyết áp và tim, ngăn ngừa được sỏi mật và ung thư ruột Số lượng chất xơ lớn có trong rau và với giá trị năng lượng thấp của nó sẽ có tác dụng ngăn ngừa bệnh béo phì (Trần Văn Lài, Lê Thị Hà, 2002) [9]
1.2.2 Giá trị kinh tế của cây rau
Ngoài giá trị dinh dưỡng rất cao rau xanh còn là một loại cây trồng mang lai hiệu quả kinh tế khá lớn cho người nông dân Theo số liệu chính thức của tổng cục hải quan kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tháng 6/2009 đạt 46,02 triệu USD tăng 30% so với tháng trước và tăng đến 73,8%
so với tháng 6/2008 Tính chung 6 tháng đầu năm tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang các thị trường đạt 209.61 nghìn USD tăng 13,69% so với cùng kì năm 2008 (Tổng cục hải quan, 2009).[ 13]
Rau là nguyên liệu của các ngành công nghiệp thực phẩm như:
- Công nghiệp đồ hộp (dưa chuột, cà chua, ngô rau,…)
- Công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây,…)
- Công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt, )
- Công ngiệp chế biến thuốc, dược liệu (tỏi, hành, rau gia vị,…)
- Làm hương liệu (hạt mùi, ớt,…)
Rau góp phần phát triển các ngành kinh tế khác như ngành chăn nuôi (rau là nguồn thức ăn cho ngành chăn nuôi)
Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau với lợi thế là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể
Trang 19trồng được nhiều vụ trong năm, do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xóa đói giảm nghèo cho nông dân Việt nam Mặt khác, rau có đặc điểm là kích thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen hay gối vụ với những cây trồng khác, như vậy trồng rau sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất (Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân, 2000) [7] Trồng rau có hiệu quả hơn so với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời gian, vì chúng có đặc điểm là sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn Theo cẩm nang trồng rau, cứ 1 ha khoai tây có thể cung cấp lượng calo nhiều hơn 1 - 1,5 lần
so với 1 ha lúa hoặc lúa mì, năng suất đậu có thể lên tới 20 30 tấn/ha trong đó
5 - 6 tháng, chỉ trong 20 - 30 ngày năng suất rau dền và rau muống đạt tới 10 tấn/ha (Trần Văn Lài, Lê Thị Hà, 2002) [9]
Theo Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005)[6], tại vùng ven đô
Hà Nội, thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần Điều này dẫn tới lãi thuần của cây rau cao hơn
14 lần so với cây lương thực
Cây rau đã góp phần cải thiện được đời sồng của người nông dân trong những năm gần đây, góp phần xoá đói giảm nghèo, điển hình:
Ở Hưng Yên diện tích rau màu của huyện Yên Mỹ chỉ được trồng với diện tích nhỏ nhưng hiện nay cây rau đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao cho thu nhập 5 - 7 triệu đồng/sào [16]
Xã Xuân Bắc (huyện Xuân Lộc) tỉnh Đồng Nai là một vùng thuần nông trước đây người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên đời sống hết sức khó khăn Vài năm gần đây nhiều nông dân đã chuyển diện tích trồng lúa
Trang 20sang trồng rau, đậu các loại, năng suất 3,5 tấn/sào mang lại thu nhập cao hơn trồng lúa 6 - 7 lần [2]
Người dân xóm 7, xã Yên Khánh (Ninh Bình) đã thành công trong phát triển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ trong xã đều đạt thu nhập từ 20 - 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ [3]
Như vậy so với các cây trồng khác cây rau là cây có giá tri kinh tế cao, cho thu nhập vượt trội hơn so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này
đã được thực tiễn chứng minh và công nhận
1.3 Thực trạng sản xuất rau tại Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng
1.3.1 Thực trạng sản xuất rau tại Việt Nam
Ở nước ta do cấu trúc địa hình phức tạp nằm trong vùng nhiệt đới có gió mùa, ngoài hai đồng bằng chính là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long, còn lại đại bộ phận chiếm 2/3 là đồi núi gây nên nhiều vùng khí hậu khác nhau từ đó gây ra không ít khó khăn cho việc sản xuất rau ở nước ta Khí hậu nóng ẩm mưa nhiều điều kiện tốt cho sâu bệnh phát triển và diễn biến hết sức phức tạp Mặt khác, người dân thì chạy theo lợi nhuận nên một số loại rau trong quá trình sản xuất để loại trừ sâu bệnh hại, người sản xuất đã sử dụng bừa bãi các loại thuốc BVTV gây hiện tượng nhờn thuốc, dẫn đến việc bệnh phát triển ngày càng mạnh hơn… Sản xuất rau ở nước ta còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thường xuyên xảy ra bão lụt thiên tai, gây nhiều rủi ro cho người sản xuất Môi trường sống bị ô nhiễm, hệ sinh thái mất cân bằng đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt của con người bị nhiễm độc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và các thế hệ trong tương lai
Trang 21Mặc dù nghề trồng rau trong những năm vừa qua có những bước tiến đáng kể, nhưng mới tập trung ở khu vực chuyên canh ven thành phố, lượng hạt giống mới nhập về còn hạn chế, chưa có một nền sản xuất lớn tập trung chưa đáp ứng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Do đó, năng suất rau còn thấp, giá thành lại cao, chưa coi trọng quản lý, kỹ thuật canh tác chủ yếu tập chung vào năng suất, chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm Do đó, rau tươi ở Việt Nam chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng dẫn đến hạn chế rất nhiều cho xuất khẩu
* Phương hướng khắc phục
Để đảm bảo có rau sạch cung cấp cho thị trường, an toàn cho người sử dụng, môi trường sống và vật nuôi không bị ảnh hưởng thì đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm ra các biện pháp kỹ thuật mới có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất rau sạch Vì thế hiện nay vấn đề về rau sạch được những người nghiên cứu người sản xuất, và đông đảo người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn Như trồng rau trong nhà lưới, phương pháp luân canh, thủy canh, chọn và tạo giống rau chế biến rau trái vụ bước đầu các công nghệ sản xuất rau sạch (có hàm lượng nitrat dư lượng thuốc hóa học, kim loại nặng và sinh vật dưới ngưỡng cho phép), tập trung phát triển các giống tốt cho sản xuất Do đó để hạn chế và khắc phục những nhược điểm khi dùng thuốc hóa học, xu hướng chung hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta nhiều tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các loại ký sinh thiên địch, các loại thuốc có nguồn gốc thảo mộc, đặc biệt chú trọng đến các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ vi sinh vật, côn trùng như các chế phẩm Bt, vius và nấm ký sinh các loại côn trùng gây hại, bởi các chế phẩm trên không độc hại đối với người và gia súc giảm bớt hoặc
Trang 22giảm hoàn toàn thuốc hóa học giữ được quần thể sâu hại phát triển, sau hại ở mức thấp nhất tránh bộc phát thành dịch, bảo vệ các côn trùng có ích và các vi sinh vật có ích… Bảo vệ được sức khỏe con người góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, lấy lại sự cân bằng trong hệ sinh thái
1.3.2 Thực trạng sản xuất rau tại Thái Nguyên giai đoạn từ 2006 - 2010
Theo thống kê của cục thống kê Thái Nguyên từ năm 2006 - 2010, diện tích gieo trồng và sản lượng rau được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.3 Diện tích, sản lượng rau ở một số địa phương trong tỉnh
Địa điểm
2006 2007 2008 2009 2010 2006 2007 2008 2009 2010 Toàn tỉnh 7176 7982 8047 7724 8920 8523 99879 116745 117798 139635
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên tháng 3/2011)[12]
Qua bảng 1.3 cho thấy từ năm 2006 đến nay (năm 2010) tình hình sản xuất rau ở Thái Nguyên đã tăng theo hướng sản xuất hàng hóa Nhìn chung toàn tỉnh về cả diện tích và sản lượng rau đều tăng lên, cụ thể vào năm 2006
Trang 23diện tích rau toàn tỉnh là 7.176 ha cho đến năm 2010 diện tích đạt 8.920 ha tăng 1,24 lần so với năm 2006 Về sản lượng năm 2006 đạt 8.523 tấn nhưng đến năm 2010 sản lượng đã đạt tới 139.635 tấn tăng 1,36 lần so với năm
2006 Tuy nhiên, diện tích trồng rau ở các huyện còn có sự chênh lệch khá rõ ràng như: ở huyện Đại Từ vào năm 2010 là vùng có diện tích trồng rau lớn nhất là 2.417 ha gấp 8,33 lấn so với huyện trồng rau ít nhất là huyện Phú Lương chỉ đạt 290 ha (2010)
Riêng về huyện Đồng Hỷ đây cũng là một vùng trồng rau lớn của tỉnh Diện tích trồng rau của huyện đứng thứ 4 trong tỉnh (2010) chiếm 12% so với diện tích trồng rau toàn tỉnh Tuy nhiên diện tích trồng rau của huyện qua các năm lại có xu hướng giảm xuống cụ thể năm 2008 diện tích trồng rau của huyện là 1270 ha nhưng đến năm 2010 diện tích chỉ còn 1.071 ha
Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu, những biến động bất thường của tự nhiên như nhiệt độ xuống quá thấp vào mùa đông, khô hạn kéo dài… làm ảnh hưởng sấu tới sản xuất rau Thêm vào đó là sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng của địa phương, sử dụng đất nông nghiệp vào các mục đích khác làm cho diện tích trồng rau giảm Tuy diện tích rau có giảm nhưng tổng sản lượng rau của huyện vẫn tương đối ổn định Có được điều đó là do sự đầu tư của người dân trong quá trình chăm sóc, sử dụng những giống rau có năng suất cao… Về sản lượng rau của huyện năm 2010 đạt 19.469 tấn đứng thứ 4 trong toàn tỉnh và chiếm 14 % so với tổng sản lượng rau của toàn tỉnh
Từ đó có thể khẳng định rằng Đồng Hỷ là một huyện có đủ điều kiện sản xuất rau, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của huyện và một phần tỉnh
Trang 24Thái Nguyên Điều đó cho thấy sản xuất rau chiếm một vị trí hết sức quan
trọng trong sản xuất nông nghiệp của huyện nhằm phục vụ nhu cầu thiết
yếu của nhân dân
Về năng suất và sản lượng của một số loại rau chính ở Thái Nguyên
được thể hiện qua bảng 1.4:
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng của một số loại rau chính
của tỉnh Thái Nguyên qua các năm
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên tháng 3/2011) [12]
Qua bảng 1.4 cho thấy diện tích trồng rau của tỉnh tuy không nhỏ
nhưng do chưa tập trung, chưa có sự đầu tư lớn, các chủng loại rau chưa có sự
đa dạng mới chỉ sản xuất ở một số loại rau phổ biến như: rau muống, bắp cải,
su hào Vì vậy, hiệu quả kinh tế còn chưa cao
Trang 25Tùy vào mùa vụ mà diện tích của các loại rau thay đổi, các loại rau chủ yếu trong vụ đông xuân là su hào, bắp cải, trong đó diện tích trồng bắp cải là lớn nhất và tăng dần qua các năm cụ thể: ở năm 2006 diện tích bắp cải là 1.040 ha gấp 1,1 lần so với su hào 958 ha, đến năm 2010 diện tích rau bắp cải tăng lên 1.290 ha gấp 1,2 lần so với năm 2006 Về sản lượng rau bắp cải vẫn
là loại rau có sản lượng lớn nhất trong vụ này cụ thể là năm 2010 sản lượng rau bắp cải là 22.845 tấn còn su hào đạt 22.622 tấn
Qua các năm cùng với sự tăng lên về diện tích và nhận thấy sự quan trọng của cây bắp cải trong vụ Đông Xuân, cùng với kinh nghiệm và kiến thức trồng rau của người dân ngày càng cao nên sản lượng rau bắp cải và một
số loại rau khác đều được nâng cao Từ đó cho thấy rau bắp cải là loại rau chủ lực và được trồng chủ yếu trong vụ này
14 Tình hình nghiên cứu về các loại thực vật nói chung và cây xoan Neem, cây xà cừ nói riêng trong phòng trừ sâu hại trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình nghiên cứu về các loại thực vật trong phòng trừ sâu hại
Từ xa xưa, trong quá trình phát triển con người đã biết khai thác, sử dụng những cây hoang dại có tính độc để săn bắn, bắt cá Dần dần, con người còn biết dùng những cây dại để trừ chấy rận, rệp, bọ hại người và gia súc
Từ 300 năm trước công nguyên, khi học giả Theopharastus nhận thấy, cây đậu Chikpea gây ức chế cây trồng thông qua việc tiết vào đất vào một chất nào đó Nhiều năm sau Pliny II và các nhà khoa học Culpeper, Young và De Candol (thế
kỷ I sau công nguyên) cũng đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên đó chỉ là những nhận xét trực quan chứ không phải là những thí nghiệm so sánh (Rice, 1984)
Trang 26Vào đầu thế kỷ XIX, nhà phân loại thực vật nổi tiếng De Candole đã gây được sự chú ý, khi ông quan sát thấy các chất tiết ra từ rễ của một loại cây
đã gây ra được hiện tượng “đất ốm ” và điều này có thể khắc phục được nếu
có chế độ luân canh thích hợp (De Candone, 1832) Sự quan sát của ông mới chỉ dựa trên các thí nghiệm đơn giản Vì thế, giả thiết của ông đã bị nhiều học giả bác bỏ
Vào đầu thế kỷ XX, vấn đề này lại được quan tâm và xới xáo lên bởi các nghiên cứu của Schreiner & các cộng sự ở Mỹ (Schreiner & Reed, 1907, 1908) và Pickering cùng các cộng sự ở Anh (Willis, 1997)
Từ năm 1960 đến nay, những nghiên cứu về những loại thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng đã thực sự thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp và những nghiên cứu này
đã được tiến hành trong phòng thí nghiệm, nhà kính, đồng ruộng và từ đó người ta đã bắt đầu khai thác các hợp chất độc thiên nhiên để diệt trừ sâu hại, bảo vệ mùa màng Trong đó, ba hợp chất nicotine, rotenone và pyrethrin là ba loại thuốc trừ sâu điển hình phổ biến nhất thế giới từ cuối thế kỷ XVII đến thế
kỷ XX Hàng năm, có hàng ngàn, thậm trí hàng chục ngàn tấn được khai thác Đồng thời với 3 loại thuốc chủ yếu trên, nhiều loài cây độc khác cũng được chú ý nghiên cứu và khai thác Đặc biệt, từ khi thuốc hóa học đã bộc lộ những mặt tiêu cực của nó, người ta đã chú ý tới thuốc thảo mộc và các loại thuốc sinh học khác Nhiều nước đã liên tiếp công bố các loài cây độc có khả năng trừ sâu hại ở nước mình Điển hình là công trình đồ sộ của Grainge et.al (1984) và Jacobson (1990) đã giới thiệu hàng ngàn cây độc có khả năng trừ sâu, bệnh hại cây trồng và cơ chế tác động của nó Từ năm 1970 trở lại đây,
Trang 27thế giới chú ý tới cây Neem - một loại xoan Ấn Độ có khả năng trừ sâu lý tưởng và đã có nhiều hội nghị quốc tế tổng kết, trao đổi, giới thiệu và xu hướng sử dụng cây Neem làm thuốc trừ sâu thảo mộc
Những hiểu biết về những loài thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng được tích lũy nhiều hơn và có chế tác động của những loài thực vật
đó đã dần dần được làm sáng tỏ Rất nhiều nghiên cứu được tập trung vào việc sử dụng những loài thực vật đó để trừ cỏ, trừ sâu và bệnh hại cây trồng
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kỹ thuật phân tích như: Nguyên
tử đánh dấu sắc khí, quang phổ… thì việc nghiên cứu xác định, chọn lựa những loài cây trồng có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng ngày càng được quan tâm một cách có hiệu quả Những nghiên cứu này đã và đang tạo tiền đề cho việc phân lập, chiết xuất và sản xuất các thuốc thảo mộc để phòng trừ dịch hại cấy trồng nhằm góp phần vào việc ứng dụng bảo về cây trồng theo hướng bền vững để đáp ứng nông sản thực phẩm an toàn cho cuộc sống chung của con người
Ở Việt Nam, ngay từ năm 1960 Lê Trường và cộng sự đã đề cập đến hiệu lực trừ sâu của một số cây độc chính ở dạng đơn giản, nhưng ngay sau
đó thuốc trừ sâu hóa học tràn vào, thuốc thảo mộc bị quyên dần Cho đến năm
1980, thuốc thảo mộc lại được đề cập đến trong các loài thực vật được nghiên cứu, cây ruốc cá được nghiên cứu đầy đủ nhất Lúc đó, cây ruốc cá được dùng nhiều để trừ cá dữ ở những vùng nuôi tôm cá Tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn trong việc chế biến bảo quản sản phẩm vì sản phẩm rotenone mất hiệu lực nhanh (Trần Quang Hùng và CS, 1985; Lê Trường, 1987; Nguyễn Quốc Tuấn & Nguyễn Xuân Dũng, 1994) [8]
Trang 28Nhiều tác giả đề cập đến những khía cạnh khác nhau của thuốc thảo mộc như: Thí nghiệm thăm dò tính độc của cây đối với sâu hại của: Bùi Văn Ngạc (1979), Đinh Xuân Hưởng và các cs (1987), Trần Minh Tâm (1992), Trương Thị Ngọc Chi (1992), Vũ Quang Côn và cs (1993 - 1994); Giới thiệu kinh nghiệm dân gian (Dương Minh Tú, 1985; Nguyễn Xuân Dũng, 1993)
Từ năm 2001 đến nay cả nước mới có thêm nhiều luận án tiến sĩ về vấn
đề này nhưng chủ yếu là nghiên cứu ở nước ngoài (Trần Đăng Xuân, Trần Hữu Hồng, Đỗ Ngọc Oanh - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Nguyễn Văn Chín của Viện lúa đồng bằng Sông Cửu Long, Nguyễn Thị Me, Nguyễn Trường Thành, Nguyễn Hồng Vân - Viện bảo vệ thực vật…) Những kết quả nghiên cứu trên đều thống nhất đánh giá về sự cần thiết trong nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu về những loài thực vật có khả năng phòng trừ địch hại nói chung và trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, y dược và bảo quản… nói riêng
Từ năm 2004 - 2006 TS Phan Phước Hiền - Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã chủ trì thực hiện đề tài “ Nghiên cứu chiết xuất và
sử dụng các hoạt chất thứ cấp từ một số cây của Việt Nam phục vụ sản xuất nông nghiệp, thực phẩm và y dược” Đề tài đã khảo sát, thu thập, nghiên cứu
đặc điểm sinh hóa của cây Dewis trifoliata, Hibercus sabda đồng thời ngâm
chiết, chưng cất, cô đặc, tinh sạch một số hợp chất hữu cơ phục vụ cho sản xuất các chế phẩm sinh học trong y dược
Cũng tương tự như vậy, TS Nguyễn Hữu Hồng, Trường Đại học Nông Lâm thuộc Đại học Thái Nguyên đã nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu khả năng
sử dụng một số loài thực vật vào việc phòng trừ cỏ dại cho lúa nước ở vùng miền núi phía Bắc Việ Nam” Kết quả đề tài đã thu thập đánh giá được vai trò
Trang 29và khả năng trừ cỏ dại cho lúa nước mạnh của 7 loài cây (cây cứt lợn, cây đơn kim, cây guột, cây cỏ lào, cây đậu ma, cây keo dậu và cây xoan)
Trung tâm nghiên cứu ứng dụng KH&CN Hải Phòng đã nghiên cứu thành công thuốc trừ sâu từ một số cây cỏ chứa các hoạt chất ức chế hệ thống hormon của sâu gây hại
Tuy có một số ít đề tài đã và đang nghiên cứu lựa chọn một số loài thực vật để phòng trừ dịch hại cây trồng nhưng số loài được nghiên cứu là rất khiêm tốn so với tiềm năng và số lượng loài có thể nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam Hơn nữa, chưa có đề tài nào nghiên cứu phòng trừ sâu hại và cỏ dại hại rau bắp cải bằng những loài thực vật bản địa
1.4.2 Tình hình nghiên cứu về cây xoan Neem trong phòng trừ sâu bệnh hại
1.4.2.1 Đặc điểm chung cây xoan Neem (sau đây gọi tắt là Neem)
Sau khi trồng khoảng 3 - 5 năm cây Neem bắt đầu ra quả, những bông hoa nhỏ, lưỡng tính, màu trắng nở thành từng chùm ở những nách lá Chúng
có hương vị giống như mật và lôi cuốn được nhiều loài ong Trái Neem hình
Trang 30bầu dục, dài gần 2 cm và có một lớp cơm mềm bao quanh hạt Khi chín có màu vàng hoặc vàng lục và có vị ngọt, cho quả nhiều nhất khi cây đạt tuổi 10
và sản lượng quả mỗi năm từ 20 - 50 kg trái trên cây Hạt Neem có vỏ cứng
và nhân (thường có hai hoặc ba nhân), mỗi nhân nặng bằng khoảng nửa hạt Nhân của hạt chính là phần được sử dụng làm thuốc trừ sâu thông thường, hạt
có nhiều dầu khó bảo quản Hạt để lấy làm giống nên chọn cây mẹ từ tuổi 6 trở lên Neem là loại cây có gỗ cứng, có thể cao đến 30m, vòng thân cây tới 2,5 m, tán lá có thể trải rộng đến 10m
2/ Đặc điểm sinh thái:
Neem có thể sinh trưởng tại bất cứ nơi nào; ở đồng bằng, các vùng nhiệt đới đất không màu mỡ, đất pha cát… Có lượng mưa hàng năm từ 400mm – 1200mm thích hợp với thời tiết nóng, nhiệt độ có thể lên đến 500C
Không chịu mưa nhiều và ngập nước, khí hậu quá lạnh kéo dài, tuy nhiên cây có thể mọc tốt ở độ cao từ mặt biển lên đến khoảng 1000m ở vùng gần xích đạo
3/ Công dụng:
Từ năm 1980, cây Neem đã nổi tiếng trên thế giới do từ cành, lá, hạt
Neem các nhà hóa học đã ly trích được các hoạt chất nhóm Limonoid để điều
chế một số thuốc có tác dụng tốt trị bệnh cho người, gia súc, gia cầm và thuốc bảo vệ thực vật rất có hiệu quả (Gang, 1981; Jacobson, 1990; Schmuttere, 1999)
Năm 1975, Bộ nông nghiệp Mỹ đã xây dựng kế hoạch trồng cây Neem trên khắp nước Mỹ Từ năm 1985, Bộ nông nghiệp Nhật Bản và Bộ nông nghiệp Trung Quốc cũng đã đưa cây Neem về trồng; đến nay họ cũng đã sản
Trang 31xuất được nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trị bệnh rất có hiệu quả (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)
Ngoài ra từ Neem người ta còn sản xuất ra các chế phẩm phòng trừ sâu hại như: Neem - Power, Neem - Vital, Neem - Oeil, của Đức; Bonide - Neem, Bon-Neem, K+Neem, của Ấn Độ (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)
Neem là nguồn cung cấp chất diệt trừ vật gây hại bằng phương pháp sinh học có sẳn trong thiên nhiên Chất chính có chứa nhiều trong hạt là
Azadirachtin được dùng làm thuốc bảo vệ thực vật Hoạt chất này tương đối
an toàn trong sản xuất, người sử dụng và môi trường
Hạt, lá và nhựa từ thân cây được dùng vào nông nghiệp và y học:
*ViNeem 1500 EC là tên thương phẩm của một loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc của Công ty CP Thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO)
với hoạt chất là Azadirachtin 0,15 %
ViNeem 1500 EC là sản phẩm tự nhiên được chiết xuất từ nhân hạt Neem có hiệu lực phòng trừ được nhiều loại sâu bệnh hại trên cây trồng như: lúa, rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và cây cảnh
Theo các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước ViNeem 1500 EC có cách thức tác động như sau:
+ Gây sự ngán ăn
+ Tạo sự xua đuổi
+ Điều hòa sinh trưởng côn trùng
+ Ngăn cản sự đẻ trứng
+ Làm giảm khả năng sinh sản
Trang 32Đặc điểm nổi bậc của ViNeem là không tạo nên tính kháng của dịch hại, không ảnh hưởng đến ký sinh và thiên địch, không để lại dư lượng thuốc trên cây trồng, không độc hại cho người phun xịt, gia súc, cá, ong mật và giun đất
ViNeem 1500 EC xứng đáng là một loại thuốc thân thiện với môi trường, thích hợp với chương trình quản lý địch hại tổng hợp là một giải pháp cho nông sản sạch
Có rất nhiều thành phần hoạt chất trong cây Neem, tuy nhiên chỉ có vài
hoạt chất là có tác dụng trừ sâu như: Azadirachtin từ A – L, Salannin, Nimbin, Nimbidin, Meliantriol…
Trung tâm Nghiên cứu Nông dược (Vipesco) đã thành công quy trình
trích chiết Azadirachtin từ hạt Neem giống Senegal trồng tại Ninh Thuận và cũng đã thử nghiệm trích chiết Azadirachtin từ hạt cây cóc kèn mọc ở đó
Mặc dù đã thành công và gia công sản xuất sản phẩm ViNeem 1500EC nhưng số lượng và giá cả hạt Neem trồng tại Ninh Thuận chưa đáp ứng được
nhu cầu về số lượng và giá cả nên hoạt chất Azadirachtin phải nhập từ Ấn Độ
để sản xuất Đó là một triển vọng mới đã mở ra cho việc sản xuất hoạt chất Azadirachtin nếu số lượng có nhiều và giá cả phù hợp
1.4.2.2 Các kết quả nghiên cứu và ứng dụng cây xoan Neem trong phòng trừ sâu bệnh hại
Từ năm 2002, Hiệp hội rau quả Đà Lạt đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu hóa sinh ứng dụng Tp Hồ Chí Minh nghiên cứu thành công các hoạt chất limonoid trong hạt, là cành cây Neem và điều chế ra được 3 loại thuốc BVTV là Neemcide 3000 EC, Neemcide 3000 SP, Neemcide 3000 ES
để xua đuổi gây ngán ăn và diệt côn trùng phá hoại cây trồng và kho lương
Trang 33thực phẩm Việc sản xuất thuốc trừ sâu sinh học cũng đã được nhiều công ty sản xuất thuốc BVTV quan tâm nghiên cứu và đã sử dụng hạt cây Neem trồng
ở Ninh Thuận để sản xuất thuốc trừ sâu 1500 EC và 5000 EC có tác dụng diệt trừ các loại sâu xanh, sâu cuốn là nhỏ, nấm và vi khuẩn gây bệnh cho lúa và các loại cây trồng khác Trung tâm nghiên cứu hóa sinh ứng dụng Tp Hồ Chí Minh, nông trường trồng Neem Ninh Thuận và Trung tâm nông học dược Tp
Hồ Chí Minh đã hợp tác nghiên cứu sản xuất thuốc trừ sâu Limo 3000 BR có khả năng diệt 80 – 90% mọt hại sau 21 ngày xử lý
Nhóm nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu hóa sinh ứng dụng TP
Hồ Chí Minh do GS.TS Trần Kim Quy chủ trì vừa công bố việc điều chế thành công 3 nhóm thuốc bảo vệ thực vật mới được trích ly từ hạt và lá cây Neem (xoan chịu hạn)
Cả 3 nhóm thuốc, bao gồm Limo 3000 BR, Limo 3000 ND và Limo
3000 DD (dạng bột) đều đã được thử nghiệm vào việc bảo vệ cây trồng và quản ngũ cốc sau thu hoạch Kết quả thật bất ngờ: Limo 3000 BR có khả năng diệt từ 80 – 90% mọt sau 21 ngày, Limo 3000 ND ức chế 100% sự nảy mầm của hạch nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh lở cổ ở cây sau 4 ngày
và Nhóm Limo 3000 DD diệt trừ được 50 - 60% sâu tơ (Plutella xylostella) phá hoại cây trồng
Sau khi trích ly hoạt chất limonoid, bã thải của cây Neem được sử dụng làm phân bón hữu cơ khá tốt, với giá thành chỉ 220.000 đồng/tấn Ngoài
ra, loại phân bón này còn có tác dụng diệt kiến, mối, tuyến trùng trong đất và góp phần làm giảm đáng kể sự thất thoát đạm trong đất do quá trình nitrat hóa của vi sinh vật
Trang 34Ngay sau khi kết quả nghiên cứu này được công bố, một thỏa thuận hợp tác giữa nhóm nghiên cứu, nông trường trồng cây Neem ở Ninh Thuận và Trung tâm nghiên cứu nông dược TP Hồ Chí Minh (nhà sản xuất) đã được ký kết, dự kiến đầu năm 2007 sẽ tiến hành dự án sản xuất qui mô 50 tấn/năm
1.4.3 Tình hình nghiên cứu cây xà cừ trong phòng trừ sâu hại
1.4.3.1 Đặc điểm của cây xà cừ
Cây xà cừ hay cây sọ khỉ có tên khoa học là Khaya senegalensis, là một cây thuộc họ xoan (Meliaceae), có nguồn gốc tại vùng nhiệt đới Châu Phi
và Madagasca
Tại Việt Nam, cây xà cừ được du nhập từ Trung Phi thời Pháp, được gây trồng rộng rãi làm cây cảnh quan, cây che bóng vỉa hè, trong công viên, trường học… Hiện nay, xà cừ được trồng rất nhiều ở các đô thị lớn của Việt Nam như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Buôn Mê Thuột…
* Đặc điểm hình thái của cây xà cừ:
- Là cây gỗ lớn, cao 25 - 30m, phân cành sớm, cành nhánh to và tán rộng Vỏ cây màu xám nâu
- Lá kép lông chim 1 lần chẵn, mọc cách
- Hoa màu vàng xếp thành chùm ở nách lá phía đầu cành Cụm hoa chùm tán, hoa nhỏ màu trắng, có 4 cánh nhỏ màu trắng dính vào nhau, hoa nở vào tháng 4 - 5
- Quả nang hình cầu, vỏ hoá gỗ, khi chín nứt thành 4 mảnh Quả chín vào tháng 10
* Đặc điểm sinh thái của cây xà cừ:
- Cây ưa sáng, mọc nhanh, dễ trồng, hạt nảy mầm khoẻ, cây tái sinh chồi mạnh Có thể trồng ở những nơi cớ lượng mưa từ 750 mm/năm trở lên,
Trang 35nhiệt độ trung bình tháng lạnh là 150C, tháng nóng nhất 26 – 290C, chịu được khô hạn, kém chịu rét, thích hợp với nhiều loại đất, tốt nhất là đất phù sa Đặc biệt, cây có khả năng đề kháng với sâu bệnh rất cao
* Công dụng của cây xà cừ:
- Làm thức ăn gia súc: Lá nhỏ có chứa một lượng khá lớn protein thô dùng làm thức ăn cho gia súc như lạc đà…Tại Tây Phi, những người chăn thả gia súc Fulani xén bớt lá của cây xà cừ trong mùa khô để nuôi gia súc (Schmuttere H, 1985) [ 20]
- Làm nhiên liệu đốt:
- Làm bột giấy: Ở Tây Phi sợi gỗ xà cừ dùng làm bột giấy
- Gỗ xà cừ được ưa chuộng làm đồ nội thất, trang trí, mộc cao cấp và dùng để làm thuyền Ngoài ra gỗ xà cừ còn làm ván sàn, làm các vật liệu cho các xưởng tiện.( Garg H.S and Bhakuni D.S, 1981) [18 ], [19]
- Ngoài ra, vỏ của cây xà cừ cũng được thu hoạch từ các cây xà cừ trồng hay các cây xà cừ mọc tự nhiên để làm thuốc điều trị một số bệnh như; chữa: Sốt, vàng da, bọ cạp cắn, dị ứng, thuốc nhuận tràng…
Trong cây xà cừ có chất nhựa dầu trong các mạch gỗ nên tạo cho gỗ có độ bền cao và có sức đề kháng chống lại sự tấn công của côn trùng và nấm Hàm lượng dầu có thể chiếm đến 67% (Bokkestijn A, Francis JK., 1986 [ 17]
Trang 36Rệp hại cải (Brevicoryne brasicae, Myzus persicae)
Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus)
Sâu tơ (Plutella xylostella Curtiss)
Sâu khoang (Spodoptera litura)
Bọ nhảy ( Phyllotreta vitata Fabr)
- Dung dịch ngâm quả cây xoan Neem
- Dung dịch ngâm lá cây xà cừ
2.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện thực hiện đề tài
2.2.1 Thời gian và địa điểm
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tập trung và liên tục tại:
- Phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh thái môi trường - Viện Khoa học sự sống
- Phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ thực vật - Khoa Nông học - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
- Các thí nghiệm đồng ruộng: Được tiến hành nghiên cứu tại Tiểu đoàn
4 - Lữ đoàn 575 - Quân khu I (Xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, Thành phố Thái Nguyên)
2.2.2 Điều kiện thực hiện đề tài
Quy trình sản xuất rau an toàn được thực hiện và áp dụng theo quy định
số 67-1229 4/1998 do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông Thôn ban hành
Trang 372.2.3 Quy trình kỹ thuật trồng rau bắp cải
Lần 1: Sau trồng 15 ngày, bón ¼ lượng đạm
Lần 2: Sau trồng khoảng 35 - 40 ngày (bón vào thời kỳ bắt đầu trải lá): Bón ¼ lượng đạm
Lần 3: Bón khi cây bắt đầu cuốn, bón ¼ đạm + 1/3 phân kali
Lần 4: Sau lần 3 khoảng 15 ngày, bón ¼ đạm + 1/3 phân kali
- Nước tưới: Ngày tưới 1 - 2 lần tủy thuộc vào điều kiện thời tiết và ẩm độ
- Chăm sóc:
Thời kỳ trồng - hồi xanh: xới váng, dặm cây chết
Thời kỳ hồi xanh - trải lá: tưới rãnh, vun gốc, bón thúc lần 1, phòng trừ dịch hại
Thời kỳ trải lá - cuốn: tưới rãnh, bón thúc 2 lần, tỉa lá già, phòng trừ dịch hại Thời kỳ cuốn – thu hoạch: tưới nước, bón thúc lần cuối, tỉa lá già, phòng trừ dịch hại Khi bắp cuốn chặt trước thu hoạch khoảng 20 ngày ngừng tưới nước, bón thúc và phun thuốc trừ dịch hại
Trang 382 3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại điểm thực tập
2.3.2 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm quả cây cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ trong phòng trừ sâu hại bắp cải tại Thái Nguyên trong năm 2010
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại Thành phố Thái Nguyên
Phương pháp điều tra được tiến hành theo phương pháp chung của Viện Bảo vệ thực vật
- Định kỳ điều tra 5 ngày một lần trên cây rau bắp cải tại địa điểm tiến hành thí nghiệm
+ Điều tra ruộng cố định:
Phương pháp: Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải được điều tra theo 5 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm 1m2, mỗi lần điều tra không lặp lại số cây lần trước đã điều tra
Xác định thành phần mật độ sâu hại trên đồng ruộng
Mật độ sâu (con/m 2 ) = Tổng số sâu điều tra (con)
Diện tích điều tra (m 2 )
+ Điều tra bổ sung: Trên một số địa điểm khác trồng bắp cải, phương
pháp tiến hành giống như điều tra cố định
2.4.2 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm quả cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ
Trang 39+ Đối với rệp: Thu thập rệp trưởng thành ngoài ruộng về, thả rệp vào
cây bắp cải trong lồng nuôi sâu để gây rệp giống sử dụng trong thí nghiệm Trước khi tiến hành thí nghiệm, bắt một số rệp trưởng thành cho vào cây bắp cải sạch rệp nuôi riêng, ngày hôm (sau 1 ngày) thu rệp non mới nở thả vào các lồng nuôi sâu chuẩn bị cho thí nghiệm
+ Đối với sâu tơ, sâu xanh và sâu khoang: Thu thập nhộng và sâu
trưởng thành từ ngoài ruộng về Cho đến khi nhộng chuẩn bị vũ hóa, cho nhộng vào đĩa Petri (khoảng 50 - 100 nhộng) rồi đặt đĩa Petri có nhộng vào trong lồng nuôi sâu có trồng cải sạch sâu trong đó, đến khi nhộng vũ hóa thành trưởng thành, bướm sẽ đẻ trứng lên cây cải Lấy bông tẩm nước đường cho vào lồng nuôi sâu để làm thức ăn cho bướm Theo dõi đến khi bướm nở
rộ thì bắt đầu thu trứng Thu toàn bộ trứng đẻ tập trung trong 3 ngày liên tục, cho vào các bô can nhỏ và theo dõi trứng nở ra sâu non đồng đều Hàng ngày thay thức ăn cho sâu Khi sâu sang tuổi 2 thì lấy ra làm thí nghiệm
- Phương pháp xác định hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm quả cây xoan Neem và dung dịch ngâm lá cây xà cừ
* Thí Nghiệm 1: Phương pháp xác định hiệu lực xua đuổi sâu của dung dịch quả xoan Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ:
- Phương pháp xác đinh hiệu lực xua đuổi của dung dịch quả xoan Neem:
Dùng một bình lớn lấy 1kg quả xoan Neem ngâm với 10 lít nước lã rồi để ngâm dung dịch trong 24h Sau đó lấy 100 ml từ dung dịch ngâm và thêm 1000 ml nước lã cho loãng dung dịch
Lấy 20 cây cải cùng độ tuổi trồng vào các cốc, cứ một cốc một cây, các cốc có kích thước bằng nhau Dùng bình phun, phun dung dịch ngâm quả
Trang 40xoan Neem vào 10 cốc; 10 cốc còn lại phun nước lã Sau đó để cho ráo nước rồi cho vào lồng nuôi sâu Khi cho vào lồng nuôi sâu, các cốc rau được xếp thành 2 hàng, mỗi hàng 10 cốc, cứ lần lượt một cốc đã phun dung dịch ngâm quả xoan Neem, một cốc đã phun dung dịch nước lã Cuối cùng thả 20 con sâu vào mỗi cây rau trong cốc và quan sát số sâu hại trên các cây rau sau 1h, 3h, 5h, 7h, 9h và 11h
- Phương pháp xác đinh hiệu lực xua đuổi của dung dịch lá xà cừ: Tiến hành tương tự
Công thức tính hiệu lực xua đuổi:
Cb Trong đó:
E: Hiệu lực xua đuổi (%)
Cb: Số sâu còn sống ở công thức đối chứng sau thí nghiệm
Tb: Số sâu còn sống ở công thức thí nghiệm sau thí nghiệm
* Thí nghiệm 2: Phương pháp xác định hiệu lực gây ngán đối với sâu của dung dịch quả cây xoan Neem và dung dịch lá xà cừ
- Phương pháp xác đinh hiệu lực gây ngán của dung dịch quả xoan Neem:
Xác định hiệu lực gây ngán của dung dịch ngâm quả xoan Neem và lá
xà cừ đối với sâu được tính theo phương pháp cải tiến từ phương pháp: “ Leaf dics no – choice” của Kubo & Nakanishi, 1977
Lấy 20 cây cải nguyên vẹn cùng độ tuổi (không có triệu chứng bị hại do sâu, bệnh) được trồng vào các cốc, mỗi cây một cốc, các cốc có kích thước bằng nhau Dùng bình phun, phun dung dịch ngâm quả xoan Neem vào 10