các vấn đề về bảo hiểm xã hội,nợ đọng bảo hiểm xã hội,nguyên nhân ,hậu quả của nợ đọng bảo hiểm xã hội,cách thức giải quyết nợ đọng bảo hiểm xã hội,Hoàn thiện Luật bảo hiểm xã hội, Nguyên tắc quản lý nợ đọng bảo hiểm xã hội, Tăng cường sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đến sự nghiệp bảo hiểm xã hội
Trang 21 BHXH Bảo hiểm xã hội
8 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
9 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
10 DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
11 DNLD Doanh nghiệp liên doanh
Trang 3Danh mục bảng:
Danh mục đồ thị:
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
BHXH luôn là một trong những chính sách quan trọng nhất đối với bất kỳquốc gia nào Bởi lẽ, để tiến tới một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh thìviệc phát triển kinh tế luôn luôn phải đi đôi với đảm bảo tốt an sinh xã hội
Ở nước ta, chính sách BHXH đã được ban hành và tổ chức thực hiện ngay
từ khi thành lập nước Trải qua hơn 65 năm thực hiện với những bổ sung, sửađổi cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách BHXH đã góp phần to lớnđảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình, đồng thời góp phần ổn địnhchính trị - xã hội của đất nước Luật BHXH Việt Nam ra đời là bước ngoặt tolớn tạo chuyển biến tích cực tới việc thực hiện các chế độ BHXH Qua đó, cácchế độ bảo hiểm đã được mở rộng và linh hoạt hơn với nhiều loại hình đadạng từ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, Bảo hiểm thất nghiệp, BHYTphạm vi đối tượng cũng đã gia tăng đáng kể, cơ chế quản lý quỹ bảo hiểmcũng có những đổi mới từng bước được hoàn thiện hơn Hiện nay, trong côngcuộc đổi mới đất nước, chính sách BHXH đã từng bước phát huy đầy đủ vaitrò trụ cột của nó trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần ổn định và pháttriển bền vững xã hội, BHXH ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong cộngđồng Bởi vậy, việc đảm bảo một quỹ BHXH bền vững là việc làm hết sứccần thiết, trong đó yếu tố quan trọng nhất là phải thực hiện tốt khâu quản lýthu BHXH Hiện nay, trong công tác quản lý BHXH ở nước ta đang gặp phảinhững trở ngại lớn, đặc biệt là tình trạng các doanh nghiệp nợ đóng BHXHđang diễn ra ở hầu hết các địa phương và trở thành vấn đề nan giải trong khâuquản lý thu BHXH Theo thống kê của BHXH Việt Nam, tính đến hết năm
2011 số tiền nợ đọng BHXH của các doanh nghiệp là 3338 nghìn tỷ đồng.Tình trạng nợ đọng BHXH tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp thuộc cácngành xây dựng, cầu đường, cơ khí, giao thông, dệt may,… Đặc biệt, số
Trang 5doanh nghiệp nợ đọng tiền BHXH trong thời gian dài (hơn 12 tháng) với mức
nợ trên 1 tỷ đồng còn rất nhiều Tình trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ đếnquyền lợi của người lao động trong cả nước Theo quy định, khi doanh nghiệpkhông nộp BHXH thì người lao động cũng không được hưởng BHXH Do đó,cần phải có những biện pháp tích cực để thu hồi khoản tiền nợ đọng này đểđảm bảo quyền lợi cho người lao động cũng như quyền lợi của cơ quan bảohiểm Từ đó đảm bảo thực hiện tốt chính sách ASXH
Từ những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn nêu trên nên chúng em chọn đề
tài: “Nợ đọng bảo hiểm xã hội - vấn đề nóng của nước ta hiện nay” để nghiên
cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Khái quát và luận giải để làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
Nợ đọng BHXH nước ta hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu:
Trang 6- Tình hình nợ đọng Bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp trên phạm vi
cả nước giai đoạn 2007 - 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả nghiên cứu đã
sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh
- Các phương pháp của toán học và nghiệp vụ kế toán
- Các kết quả nghiên cứu, rút ra từ các công trình nghiên cứu khoa họccủa các học giả trong và ngoài nước
5 Kết quả đạt được của đề tài
- Về mặt lí luận: Đề tài đã hệ thống hóa được các vấn đề lí luận củaBHXH và nợ đọng BHXH Đặc biệt, …………
- Về mặt thực tiễn: Đề tài đã làm rõ thực trạng, nguyên nhân của vấn đề
nợ đọng bảo hiểm xã hội ở nước ta từ năm 2007 - 2011, từ đó đưa ra các giảipháp, định hướng, làm cơ sở cho việc quản lý vấn đề này trong những nămsắp tới
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát về bảo hiểm xã hội và nợ đọng bảo hiểm xã hội.Chương II: Thực trạng vấn đề Nợ đọng bảo hiểm xã hội nước ta giai đoạn
2007 - 2011
Chương III: Giải pháp nhằm khắc phục tình trạng nợ đọng bảo hiểm xãhội ở nước ta trong thời gian tới
Trang 7CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ NỢ ĐỌNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Tổng quan về bảo hiểm xã hội
1.1.1Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm xã hội
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thỏamãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩmcần thiết Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, cónghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của conngười Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủđiều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoànthành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình mộtcuộc sống ấm no hạnh phúc Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phảinhững rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu côngviệc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinhhoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào các trường hợp đó, cácnhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi Trái lại, có cái còntăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới Bởi vậy, muốn tồn tại,con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giảiquyết khác nhau Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn chobản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động phảiđược sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội
Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thứckhác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ýthức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau.Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công
Trang 8nghiệp, hệ thống BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Quátrình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên,cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đemlại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro,
bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sốngbình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiềnlương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đãbuộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hànhđộng tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời,đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ.Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêucầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật
Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp Lúc đầu chỉ có giới thợ thamgia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ronghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, BHXH đã mở rahướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp
mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế babên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người,không phân biệt già – trẻ, nam – nữ, lao động phổ thông – lao động kỹ thuật,người khoẻ – người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp vì mục đíchchung
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước MỹLatin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sauchiến tranh thế giới thứ hai, BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độclập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê BHXH dần dần đã trở thành một trụcột cơ bản của hệ thống An sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận làmột trong những quyền con người
Trang 9Có thể nói, qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đềcủa giới chủ và giới thợ, cùng với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế xãhội, cùng với trình độ chuyên môn và nhận thức về BHXH của người laođộng ngày càng được nâng cao, cách thức chủ động khắc phục khi có những
sự kiện hoặc không may gặp những rủi ro xảy ra ngày càng hoàn thiện Tuynhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp cũng nhưnhững khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất
Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong quátrình phát triển: sự chia sẻ Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quankhi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia
hệ thống BHXH và sự cần thiết được BHXH Vì vậy, BHXH đã trở thành nhucầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếukhách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong Tuyên ngônnhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu
BHXH luôn đóng vai trò quan trọng và thể hiện được những vai trò tolớn Cụ thể:
- Đối với người lao động: Có thể nói BHXH có vai trò rất quan trọngtrong việc góp phần đảm bỏa cuộc sống ổn định của người lao động và giađình họ khi mà họ gặp phải những rủi ro biến cố làm giảm hoặc mất sức laođộng gây ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Chính nhờ sự thay thế
bù đắp thu nhập, BHXH làm cho người lao động ngày càng yêu nghề, gắn bóvới công việc hơn, kích thích họ hăng hái tham gia sản xuất hơn từ đó có thểnâng cao năng suất lao động, tăng cường sức khỏe cho người lao động gópphần tái sản xuất sức lao động nhanh chóng trở lại làm việc tạo ra những sảnphẩm mới cho doanh nghiệp nói riêng và của cho xã hội nói chung, đông thờigóp phần đảm bảo thu nhập của bản thân họ
Trang 10- Đối với người sử dụng lao động: BHXH góp phần điều hòa, hạn chếcác mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, tạo ra môi trường ổn định cho ngườilao động, tạo ra sự ổn định trong công tác quản lý của người sử dụng lao động
từ đó nâng cao năng suất lao động của bản thân doanh nghiệp Hơn nữa,người sử dụng lao động không phải lo chi trả những khoản tiền trợ cấp độtxuất cho người lao động, điều nào có ý nghĩa lớn đối với tâm lý của chủ sửdụng lao động, qua đó giúp họ phát huy hết trí tuệ và sức lực của mình chohoạt động sản suất của công ty
- Đối với nhà nước: BHXH góp phần đảm bảo an ninh chính trị trongnước, ổn định trật tự an toàn xã hội BHXH điều hòa hạn chế các mâu thuẫngiữa giới chủ và giới thợ đồng thời tao ra môi trường làm việc thuận lợi, ổnđịnh cho người lao động BHXH làm tăng thu cho ngân sách nhà nước ,BHXH giúp kích thích người lao động hăng hái lao động sản suất, nâng caonăng suất lao động cá nhân nói riêng đồng thời làm tăng năng suất lao động
xã hội nói chung Do vậy, Ngân sách nhà nước tăng lên do có 1 khoản thuthông qua việc thu thuế của các doing nghiệp sản xuất nói trên Khi người laođộng tham gia BHXH mà không may gặp các rủi ro biến cố làm giảm hoặcmất thu nhập thì sẽ được bù đắp 1 phần từ quỹ BHXH Từ đó góp phần thunhập từ quỹ BHXH Từ đó góp phần làm giảm chi Ngân sách, tao điều kiệncho Nhà nước tập trung nguồn vốn vào các mục đích khác nhằm đem lạilượng lợi ích lớn hơn cho xã hội
1.1.2 Bản chất của bảo hiểm xã hội
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ pháttriển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH
có điều kiện ra đời phát triển Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời vàphát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tếchậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống
Trang 11BHXH vững mạnh được Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đadạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càngphong phú.
Thực chất BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xãhội” hoặc các sự kiện bảo hiểm Sự đền bù này được thực hiện thông qua quátrình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp củacác bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH.Như vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vitoàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại chonhững thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạnlao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết… Xét trong nội tại BHXH, sựphân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang Phânphối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người lao động theothời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quátrình không làm việc) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa nhữngngười khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ chongười già; giữa những người không sinh đẻ (nam giới) và người sinh đẻ (nữgiới); giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp… Để dễhình dung có thể dùng “lát cắt ngang” vào một tập hợp những người đang và
đã tham gia BHXH vào bất kỳ thời điểm nào vào bất kỳ “đoạn” nào của tậphợp ta đều có thể thấy được mối quan hệ của sự phân phối này Ở lát cắt này
có cả người mới tham gia BHXH, người đang hưởng BHXH; người khỏemạnh, người ốm đau; người già, người trẻ; người có thu nhập cao, người cóthu nhập thấp… Nói cách khác, đây là sự phân phối lại thu nhập theo khônggian
Qua đây có thể thấy, BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm antoàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ BHXH là quá trình tổ chức sử
Trang 12dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) để thoả mãn nhucầu an toàn kinh tế của người lao động và an toàn xã hội BHXH mang cả bảnchất kinh tế và cả bản chất xã hội Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phốilại thu nhập, đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được bảo đảmtrước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” củaBHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập củamình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trảinhững rủi ro xảy ra ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông
Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sốngcho người lao động khi họ bị giảm hay mất khả năng lao động Có nghĩa làtạo ra một khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ gặp phải các rủi
1.1.3 Hệ thống các chế độ BHXH
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất củamỗi quốc gia Nó là những quy định chung, rất khá khái quát cả đối tượng,
Trang 13phạm vi, các mối quan hệ và những giải pháp lớn nhằm nhằm đạt được mụctiêu chung đã đề ra đối với BHXH Việc ban hành chính sách BHXH phải dựavào điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và xu hướng vậnđộng khách quan của toàn bộ nền kinh tế- xã hội Chính sách này có thể biểuhiện dưới dạng văn bản pháp luật, hiến pháp,… song lại rất khó thực hiện nếukhông được cụ thể hóa và không thông qua các chế độ BHXH.
Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quyđịnh cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện đẻ thực hiệnBHXH đối với người lao động Nói cách khác, đó là một hệ thống các quyđịnh được pháp luật hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và nhà nước đóng gópcho từng trường hợp BHXH cụ thể Chế độ BHXH thường được biểu hiệndưới dạng văn bản pháp luật và dưới luật, các thông tư, điều lệ,… Tuy nhiên,
dù có cụ thể đến đâu thì các chế độ cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mọichi tiết trong quá trình thực hiện chính sách BHXH Vì vậy, khi thực hiện mỗichế độ thường phải nắm vững vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHX
H, để đảm bảo tính đúng đắn và nhất quán toàn bộ hệ thống các chế độBHXH
Theo kiến nghị của ILO đã nêu trong công ước 102 tháng 6 năm 1952 tạiGiơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:
9 Trợ cấp cho người còn sống ( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tùy theođiều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước tham gia công ước Giơ - ne - vơ thực
Trang 14hiện khuyến khích nghị định đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thựchiện được ba chế độ Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3); (4);(5); (8); (9).
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ được xây dựng theo pháp luật mỗi nước
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ củ yếu vào mức đóng góp của cácbên tham gia BHXH
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán.+ Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ Nếu quỹ dự trữ được đầu tư
có hiệu quả an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định
+ Các chế độ BHXH cần pahir được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết
sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội
Toàn bộ hệ thống cũng như mỗi chế độ BHXH trong hệ thống trên khixây dựng đều phải dựa vào những điều kiện kinh tế - xã hội như: cơ cấungành kinh tế quốc dân, tiền lương và thu nhập của người lao động, hệ thốngtài chính quốc gia… Đồng thời tùy từng chế độ khi xây dựng còn phải tínhđến các yếu tố sinh học, yếu tố môi trường như: tuổi thọ bình quân của ngườilao động, xác suất tai nạn lao động và tử vong, độ tuổi sinh đẻ của người laođộng nữ, môi trường lao động …
Những cơ sở khoa học trên quyết định đến một loạt vấn đề về xác địnhđiều kiện, thời gian và mức trợ cấp trong từng chế độ, cũng như khả năng ápdụng bao nhiêu chế độ trong BHXH trong một hệ thống Chẳng hạn, khi xácđịnh điều kiện hưởng trợ cấp BHXH tuổi già phải dựa vào cơ sở sinh học làtuổi đời và giới tính của người lao động là chủ yếu Bởi vì tuổi già để hưởngtrợ cấp hưu trí mỗi giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia có những sự khác biệt nhấtđịnh Do đó, có những quy định: nam 60 tuổi nữ 55 tuổi sẽ nghỉ hưu Nhưng
Trang 15cũng có những nước quy định: nam 55 tuổi và nữ 60 tuổi… Hoặc khi xác địnhđiều kiện hưởng trợ cấp cho chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp phảitính đến các yếu tố như: điều kiện môi trường lao động; bảo hộ lao động…Các yếu tố này thường có quan hệ và tác động qua lại với nhau ít nhiều ảnhhưởng đến điều kiện BHXH của từng chế độ và toàn bộ hệ thống các chế độBHXH.
Thời gian hưởng trợ cấp và mức hưởng trợ cấp BHXH nói chung phụthuộc vào từng trường hợp cụ thể và thời gian đóng phí bảo hiểm của ngườilao động, trên cơ sở tương ứng giữa đóng và hưởng Đồng thời mức trợ cấpcòn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của từng quỹ tài chính BHXH; mứcsống chung của tầng lớp dân cư và người lao động Nhưng về nguyên tắc,mức trợ cấp này không cao hơn mức tiền lương hoặc tiền công khi người laođộng đang làm việc và nó chỉ bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với mứctiền công hay tiền lương Ở các nước kinh tế phát triển, do mức sống cao nên
tỷ lệ này thường thấp và ngược lại ở các nước đang phát triển do mức tiềnlương còn thấp nên phải áp dụng một tỷ lệ khá cao Ví dụ ở Pháp mức trợ cấphưu trí chỉ bằng 50% mức lương bình quân của 10 năm cao nhất (với điềukiện đóng BHXH đủ 37,5 năm) Ốm đau được hưởng trợ cấp bằng 50% tiềnlương, thời gian nghỉ ốm đau không quá 12 tháng Sinh con được hưởng trợcấp BHXH bằng 90% lương trong vòng 16 tuần… còn ở Philipin mức trợ cấphưu trí từ 42% đến 102%, tùy thuộc từng nhóm lương khác nhau Ốm đauđược hưởng 65% sinh con được nghỉ 45 ngày và được trợ cấp đúng bằng100% tiền lương…
Tuy vậy, việc các nước quy định trợ cấp BHXH bằng tỷ lệ phần trăm sovới tiền lương hay tiền công thường dẫn đến bội chi quỹ BHXH Vì vậy, một
số nước phải tìm cách khắc phục như: trả ngay một lần khi nghỉ hưu (NhậtBản một lần khi nghỉ hưu là 15 triệu yên; Ấn Độ, Malaixia, Inđônêxia trả một
Trang 16lần bằng tổng số tiền mà chủ và thợ đã đóng góp cộng với lãi) hoặc suốt đờiđóng theo tỷ lệ phần trăm của một mức thu nhập quy định và hưởng cụngtheo tỷ lệ phần trăm của mức quy định ấy.
Theo khuyến nghị của ILO, BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ, songkhông phải nước nào cũng thực hiện đầy đủ Bởi vì điều kiện kinh tế - xã hộicủa mỗi nước khác nhau, thậm chí ngay trong một nước những điều kiện đócũng khác nhau giữa các thời kỳ nên việc thực hiện 9 chế độ trên là rất khó.Chẳng hạn, nếu tiềm lực và sức, mạnh kinh tế yếu kém, khả năng tổ chứcquản lý yếu kém thì rất khó thực hiện chế đọ trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp giađình Hoặc nếu không nhận thức đầy đủ quyền bình đẳng nam nữ, vai trò đặcđiểm của lao động nữ thì rất khó thực hiện được chế độ trợ cấp sinh đẻ…Chính vì vậy, cho đến nay trên thế giới chỉ có 43 nước thực hiện được cả 9chế độ BHXH, 92 nước chưa thực hiện được chế đọ bảo hiểm thất nghiệp; 9nước chưa thực hiện được chế đọ trợ cấp gia đình; 13 nước chưa thực hiệnđược cả ba chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình và trợ cấp tai nạn laođộng
1.1.4 Quỹ bảo hiểm xã hội
1.1.4.1 Khái niệm và đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
Trong đời sống kinh tế - xã hội, người ta thường nói đến nhiều loại quỹkhác nhau như : quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiềnlương, quỹ tiền thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm … tất cả các loại quỹ nàyđều có một đặc điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chấtkhác cho những hoạt động nào đó có mục tiêu định trước với những quy định
quy chế nhất định Như vậy, “Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước Quỹ có, mục đích, và chủ thể riêng Mục đích
tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn địnhcuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro Chủ thể của quỹ BHXH chính là
Trang 17những người tham gia đóng góp hình thành quỹ, đó có thể bao gồm cả: NLĐ,NSDLĐ và Nhà nước.”
Quỹ Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Quỹ được ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo cuộcsống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố rủi ro làm giảmhoặc mất thu nhập từ lao động Hoạt động của quỹ hông nhằm mục đích kinhdoanh kiếm lời Vì vậy, nguyên tắc quản lý của quỹ BHXH chính là: cân bằngthu – chi
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính chất khônghoàn trả Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, NLĐ là đối tượng tham gia vàđóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp, chi trả từquỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người làkhác nhau tùy thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải, cũng nhưmức đóng và thời gian đóng của họ Tính không hoàn trả được thể hiện ở chỗcùng tham gia đóng góp BHXH nhưng có người được hưởng trợ cấp nhiềulần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng cũng có người được hưởng ít lần hơn,thậm chí không được hưởng Điều đó thể hiện tính xã hội của toàn bộ hoạtđông BHXH
- Quỹ BHXH phải đảm bảo tính an toàn Đặc điểm này xuất phát từ chứcnăng của BHXH là đảm bảo an toàn về mặt thu nhập cho NLĐ Vì vậy, đếnlượt mình, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tàichính Nguồn hình thành quỹ được đóng góp và tích lũy lại trong suốt quátrình lao động Nếu xét tại một thời điểm cụ thể nào đó, Quỹ BHXH luôn làmột lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để chi trả cho tương lai Lượng tiền này cóthể biến động tăng hoặc biến động giảm do mất an toàn, giảm giá trị do yếu tốlạm phát Do đó bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH đã trở thành yêu cầumang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động của BHXH
Trang 18- Quỹ BHXH là khâu tài chính trung gian cùng với NSNN và tài chínhdoanh nghiệp hình thàn nên hệ thống tài chính quốc gia Tuy nhiên mỗi khâutài chính được tạo lập, sử dụng cho mục đích riêng và gắn với một chủ thểnhất định, vì vậy chúng luôn độc lập với nhau trong khâu quản lý và sử dụng.Thế nhưng tài chính BHXH, NSNN, tài chính doanh nghiệp lại có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và đều chịu sự chi phối của pháp luật nhà nước
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế, xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kìcủa đất nước Kinh tế xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiệnđầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thỏa mãn về BHXH đối với NLĐ vàNSDLĐ ngày càng được nâng cao Đồng thời khi kinh tế xã hội phát triển,NLĐ và NSDLĐ sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham giađóng góp BHXH…
1.4.1.2 Nguồn hình thành quỹ
Quỹ BHXH đươc hình thành từ các nguồn chủ yếu do NLĐ, NSDLĐ,Nhà nước đóng góp và hỗ trợ thêm Ngoài ra, quỹ BHXH còn được bổ sungthêm từ các nguồn khác như cá nhân và các tổ chức ủng hộ, lãi do đầu tư quỹnhàn rỗi…
Trong cơ chế thị trường sự đóng góp của NLĐ diễn ra khá dài có thể từ
20 đến 30 năm đối với các chế độ BHXH dài hạn và thời gian hưởng thụBHXH của họ cũng rất lâu từ 10 - 20 năm sau Vì vậy, khoản đóng góp củaNLĐ, NSDLĐ phải được tình toán, điều chỉnh cho phù hợp, có tình đến yếu
tố lạm phát, đầu tư và sự thay đổi của mức sống của dân cư Hơn nữa, cũngphải tính đến mức hưởng của người nghỉ hưu sau 15-20 năm, khi mức sốngcủa dân cư ngày càng tăng lên Đây là những bài toán cơ bản của quá trìnhcân đối quỹ BHXH theo mô hình quỹ có sự đóng góp của các bên tham giaBHXH Đồng thời, quỹ bảo hiểm xã hội hình thành hoạt động đã tạo ra khả
Trang 19năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ
ít nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều khônggian và thời gian, giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho NSDLĐ, tiết kiệmchi cho cả ngân sách nhà nước và ngân sách gia đình
Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, Chính phủ đãban hành Nghị quyết 43/CP ngày 26/6/1993 và điều lệ BHXH Việt nam banhành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 trong các văn bản này đềuquy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:
- NSDLĐ đóng góp 15% so với tổng quỹ lương của những người thamgia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% chi trả chế độ hưu trí, tử tuất và 5%
để chi trả chế độ ốm đau thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp
- NLĐ đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi cho chế độ tử tuất và hưutrí
- Nhà nước hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối vớingười lao động
- Các nguồn khác
Đặc biệt từ năm 2007 đến nay, Luật BHXH nước ta có hiệu lực, có nhữngquy định mới về mức đóng góp của các bên tham gia BHXH trong quỹBHXH
1.4.1.3 Sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được chi trả chủ yếu cho các mục đích sau:
- Chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi cho sự nghiệp quản lý BHXH
- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH:
Trong 3 nội dung chi trả trên thì chi trợ cấp cho các chế độ BHXH là lớnnhất và quan trọng nhất Khoản chi này được thực hiện theo luật định và phụthuộc vào phạm vi luật định của từng hệ thống BHXH Về nguyên tắc có thu
Trang 20mới có chi, thu trước chi sau Vì vậy, quỹ chỉ chi cho các chế độ trong phạm
vi có nguồn thu Thu của chế đọ nào thì chi ở chế độ đó
Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH:
Ngoài việc trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH, quỹ BHXH cònđược sử dụng để chi cho các khoản chi phí quản lý như: tiền lương cho cáccán bộ làm việc trong hệ thống
Chi phí đầu tư:
Khoản chi tiêu này để đảm bảo các hoạt động đầu tư phần nhàn rỗi củaquỹ BHXH được diễn ra bình thường và hoạt động hiệu quả cao Về mặt kếtoán, khoản chi này có được trích ra trong tổng thu được từ lợi nhuận đầu tư
1.2 Vấn đề nợ đọng bảo hiểm xã hội
1.2.1 Khái niệm nợ đọng bảo hiểm xã hội
BHXH được coi là trụ cột của An sinh xã hội ở hầu khắp các nước trênthế giới Vì vậy, vấn đề để làm cho BHXH phát triển mạnh mẽ, đảm bảo,ngày càng mở rộng luôn được các quốc gia chú trọng Một trong những vấn
đề được ưu tiên đó là khả năng chi trả cho các chế độ của BHXH, trên cơ sở
có một quỹ BHXH đủ sức chi trả cho các chế độ đó
Do đó, việc đảm bảo các nguồn thu BHXH được thu đầy đủ là vấn đề hếtsức quan trọng
Thế nhưng một thực tại hiện nay vẫn còn tồn tại ở rất nhiều các quốc giatrên thế giới, đó là vấn đề “nợ đọng bảo hiểm xã hội” của các tổ chức, doanhnghiệp có sử dụng lao động Đây là chủ đề rất nhức nhối đối với các cơ quanquản lý BHXH Tình trạng này ngày càng diễn ra phức tạp dưới nhiều hìnhthức tinh vi, đa dạng càng đòi hỏi một cơ chế quản lý phù hợp Vậy, “Nợđọng Bảo hiểm xã hội” là gì?
Đứng trên góc độ của cơ quan Bảo hiểm xã hội, “Nợ đọng Bảo hiểm xãhội” là khoản tiền đóng thiếu hoặc chậm đóng của các doanh nghiệp, tổ chức
Trang 21sử dụng lao động cho các khoản phí của các chế độ Bảo hiểm xã hội đã đượcPháp luật của mỗi quốc gia quy định.
Việc nợ đọng BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người laođộng, sự an toàn của quỹ BHXH và hệ thống an sinh của mỗi quốc gia
Nợ đọng BHXH tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Có thể kể đếnnhư:
- Theo thời gian có nợ đọng BHXH ngắn hạn và nợ đọng BHXH dài hạn
Nợ đọng BHXH ngắn hạn là chậm đóng BHXH dưới 3 tháng so với thời gianquy định; Nợ đọng BHXH dài hạn là chậm đóng BHXH từ 3 tháng trở lên sovới thời gian quy định
Khi xem xét các loại nợ đọng này cơ quan BHXH sẽ xác định rõ nhữngđơn vị sử dụng lao động nợ dài hạn để tập trung đôn đốc thu, đồng thời xácđịnh những đơn vị SDLĐ thuộc diện nợ khó đòi để kịp thời thông tin phản hồivới các cơ quan chức năng Từ đó, có biện pháp xử lý
- Theo quy mô có nợ BHXH ít (nợ dưới 100 triệu đồng) và nợ BHXHnhiều (nợ trên 100 triệu đồng)
Làm rõ loại này, cơ quan chức năng xác định được quy mô nợ của từngđơn vị, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý khác nhau Trước hết là ưu tiên xử lýcác đơn vị nợ BHXH với số tiền nhiều bởi tại những đơn vị đó quyền lợi củangười lao động thường bị ảnh hưởng nhiều hơn Đồng thời, nếu thu hồi được
nợ của các đơn vị này sẽ góp phần tích cực trong việc tăng thu cho quỹBHXH
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá
Có thể xem xét một số chỉ tiêu đánh giá tình trạng này để có cái nhìn tổng
thể về BHXH
Các chỉ tiêu đánh giá tình hình nợ đong BHXH:
Để đánh giá tình trạng nợ đọng BHXH, sử dụng các chỉ tiêu sau:
Trang 22a) Các chỉ tiêu tuyệt đối.
+ Số tiền nợ BHXH trong kỳ: Là số tiền còn lại của số BHXH phải thu
trong kì với số BHXH đã nộp trong kỳ
Cách tính:
Số tiền nợ
BHXH trong kỳ
= Số phải thuBHXH trong kỳ
- Số đã nộp BHXH
trong kỳChỉ tiêu này phản ánh về số tuyệt đối tình trạng số tiền nợ BHXH củatừng đơn vị hoặc toàn hệ thống
+ Số đơn vị nợ BHXH trong kỳ: Là số đơn vị chưa đóng đủ số tiềnBHXH phải thu trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh về số tuyệt đối số đơn vị nợ BHXH của từng đơn vịhoặc của toàn bộ hệ thống
b) Các chỉ tiêu tương đối
+ Tỷ lệ nợ BHXH: là tỷ lệ phần tram tổng số tiền BHXH nợ đọng so vớitổng số tiền BHXH phải thu
Cách tính:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu kịp thời, hoàn thành công tác thuBHXH của bộ phận thu BHXH Tỷ lệ này càng nhỏ phản ánh số nợ đóngBHXH so với tổng số tiền phải thu càng thấp, ngược lại tỷ lệ này càng caophản ánh tình trạng nợ đóng BHXH diễn ra phổ biến
+ Tỷ lệ đơn vị nợ BHXH: là tỷ lệ phần trăm tổng số doanh nghiệp nợđọng BHXH so với tổng số doanh nghiệp phải tham gia BHXH
Cách tính:
Tỷ lệ đơn vị nợ
đọng BHXH
Trang 23Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ số đơn vị nợ BHXH trên tổng số đơn vịphải tham gia càng nhiều và ngược lại.Xác định chỉ tiêu này giúp cơ quanBHXH có những biện pháp xử lý kịp thời để ngăn chặn tình trạng nợ BHXH.
1.2.3 Nguyên nhân và hậu quả của nợ đọng bảo hiểm xã hội.
Nguyên nhân.
Có thể thấy, nợ đọng bảo hiểm xã hội rất phổ biến ở các nước, nó đe dọađến sự lớn mạnh, thành công không chỉ của Bảo hiểm xã hội nói chung màcòn là An sinh xã hội của mỗi nước Nguyên nhân do đâu mà tồn tại vấn đề
nợ đọng bảo hiểm xã hội? Luôn là vấn đề cần được làm rõ
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, thì “Nợ đọng Bảo hiểm xãhội” là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
a) Khuôn khổ pháp lý thiếu sự minh bạch; chưa thuận lợi cho NLĐ vàNSDLĐ; chế tài còn chưa đủ mạnh; sự phối hợp của các cơ quan chức năngchưa hiệu quả, đồng bộ
- Tính minh bạch của các chính sách về thu BHXH: Về nguyên tắc, cácchính sách BHXH đều phải được công bố công khai cho tất cả người laođộng, người sử dụng lao động được biết và thực hiện Tuy nhiên, nếu ngườitham gia BHXH gặp khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin, tài liệu của cơquan BHXH: về quy trình, biểu mẫu, hồ sơ… sẽ kéo dài thời gian đăng kýtham gia BHXH và gián đoạn công tác đóng BHXH định kỳ, nguyên nhânlàm cho tình trạng nợ BHXH gia tăng
- Mức độ thuận lợi của việc tham gia đóng BHXH cho đơn vị sử dụng
lao động và người lao động Nếu như việc thực hiện đóng BHXH được diễn
ra thuận lợi, nhanh chóng; các mẫu danh sách, bảng biểu thu BHXH được đơngiản hóa sẽ tạo điều kiên cho người sử dụng lao động tuân thủ pháp luật.Ngược lại, thủ tục hành chính rườm rà là nguyên nhân đầu tiên mà ngànhBHXH “tự đẩy” doanh nghiệp vào xu hướng không tuân thủ pháp luật về
Trang 24BHXH và lao động bởi tâm lý không sẵn sàng thực hiện do thủ tục rắc rồi,phiền hà.
- Chế tài xử phạt đối với các đơn vị nợ BHXH chưa đủ mạnh, mức xửphạt còn thấp, tính khả thi của các biện pháp chưa cao dẫn tới các doanhnghiệp còn trốn tránh lách luật, cố tình chây ỳ, chậm đóng BHXH Ngoài ra,một nguyên nhân đáng lưu ý khác nữa là mức lãi suất phạt chậm nộp BHXHchưa linh hoạt Hiên mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH trong năm thấp hơn sovới lãi suất tiền vay của các ngân hàng thương mại do đó nhiều doanh nghiệpchấp nhận chịu phạt để chiếm dụng vốn của cơ quan BHXH
- Sự phối hợp của các cơ quan chức năng chưa được thực hiện đồng bộ
và hiệu quả: chính sách BHXH chịu tác động, đan xen của nhiều chính sáchkhác như tiền lương tiền công… Vì vậy thực hiện tốt chính sách BHXH rấtcần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan trong đó có các cơ quan như: Cụcthuế, sở Lao Động Thương Binh xã hội, thanh tra người lao động, sở kế hoạchđầu tư…bởi khi doanh nghiệp thành lập phải đăng ký chế độ tiền lương màdoanh nghiệp sẽ áp dụng số người lao động với sở lao động thương binh xãhội Song thực tế thời gian qua ở Việt Nam do sự phối hợp thiếu đồng bộ giữacác cơ quan quản lý chuyên ngành nên dẫn đến tình trạng tạo ra nhiều kẻ hở,tạo thuận lời cho việc nợ đọng BHXH của các chủ lao động
b) Do các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội chưa quản
lý, quan sát chặt chẽ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
- Nhận thức , thái độ phục vụ của các nhân viên ngành BHXH: Hiện nay,không ít cán bộ thu trong cơ quan BHXH ngồi chờ người sử dụng lao độngmang tiền đến đóng ,chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan BHXH Cán bộBHXH không chủ động đôn đốc, tìm đến người tham gia BHXH nên cơ quanBHXH hầu như không phát hiện được ra các lỗ hổng, bất cập trong công tácthu nộp BHXH Chỉ đến khi hệ thống có trục trặc ở khâu nào đó mới tìm cách
để tháo gỡ, do đó quá trình vận hành sẽ bị gián đoạn
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý công tác thu
Trang 25Những ứng dụng tiện ích của hệ thống công nghệ thông tin hiện đại là yếu
tố quan trọng trong công tác quản lý điều hành và tổ chức thực hiện cácnghiệp vụ Với kiểu quản lý thu không thể kiểm soát hết được dữ liệu củangười tham gia BHXH Theo đó, việc quản lý thu nộp BHXH chưa được chặtchẽ
c) Do các đơn vị sử dụng lao động và người lao động chưa nhận thức hếtvai trò của bảo hiểm xã hội
Do phương thức trả lương hai kỳ của doanh nghiệp thường kéo dài đếnđầu tháng sau cho nên đa số các doanh nghiệp đóng BHXH thường chậm.+ Một số đơn vị thật sự khó khăn trong kinh doanh sản xuất nhất là cácdoanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng cơ bản, giao thông vận tải do chủ đầu
tư chậm thanh toán, đơn vị không dủ chi phí trả lương và đóng BHXH chongười lao động
Doanh nghiệp cố tình chậm đóng BHXH, chiếm dụng vốn để đầu tư, sảnxuất kinh doanh
Hậu quả.
- Đối với người lao động:
Cùng với sự phát triển lớn mạnh của khoa học kỹ thuật, công nghệ thìtrong giai đoạn hiện nay, yếu tố con người ngày càng phát huy được vai tròquan trọng của mình trong lao động sản xuất cũng như trên mọi hoạt độngchính trị, xã hội khác, các chế độ chính sách nhà nước luôn bảo vệ quyền lợicủa người lao động, được cụ thể bằng luật lao động, chế độ tiền lương, chế độbảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Một doanh nghiệp dù có cơ sở vật chất hay kỹthuật hiện đại nhưng nguồn lao đông không đáp ứng được yêu cầu thì doanhnghiệp đó cũng khó có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế cạnh tranhkhốc liệt như hiện nay Để phá huy sức mạnh của người lao động, các doanhnghiệp cần phải có những chính sách khuyến khích người lao động thong quacông tác tạo đọng lực cho họ Một trong các đông lực để khuyến khích họ,
Trang 26không thể không kể đến đó là chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động.BHXH có vai trò quan trọng, có tác dụng làm đòn bẩy kinh tế tác động trựctiếp đến người lao động Khi người lao động có động lực, họ sẽ phát huy đượcsức mạnh, cũng như khả năng làm việc của mình, hang say công tác và cốnghiến hết mình cho tổ chức Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tăng cường quantâm đến người lao động khi doanh nghiệp không nộp BHXH cho người laođộng thì quyền lợi thụ hưởng của họ sẽ bị tước đoạt Đo đôi với số lượngdoah nghiệp nợ BHXH là số lượng lớn lao động không được đóngBHXH.Điều này đồng nghĩa với việc lợi ích của hàng nghìn người lao động
bị xâm phạm Mọi chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghềnghiệp… của người lao động đều không được giải quyết
- Đối với người sử dụng lao động:
Đơn vị sử dụng lao động có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là
bộ phận chủ yếu tạo ra tống sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gầnđây, hoạt động của đơnvị sử dụng lao động đã có bước phát triển đột biến,góp phần giải phóng và phát triến sức sản xuất, huy động và phát triển nội lựcvào phát triển kinh tế xã hội góp phần quyết dịnh vào phục hồi và tăng trưởngkinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và giải quyết có hiệuquả các vấn đề xã hội như: Tạo viêc làm, xóa đói, giảm nghèo… là yếu tốquan trọng, quyết đinh đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốcdân như: cơ cấu nhiều thành phần kinh tế cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh
tế của các vùng, địa phương; đơn vị sử dụng lao động là nhân tố đảm bảo chomục tiêu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quảkinhh tế, giữ vững ổn định và tọa thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh củanên kinh tế trong quá trình hội nhập
Đơn vị sử dụng lao động nợ đọng BHXH đồng nghĩa với việc các đơn vịnày đã vi phạm pháp luật về BHXH, pháp luật về lao động Người lao động
Trang 27mất niềm tin và doanh nghiệp, khi quyền lợi của họ không được đảm bảo thìnăng suất lao động của đơn vị cụng giảm, ảnh hưởng đến cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường.
- Đối với hệ thống an sinh xã hội của đất nước: Bảo hiểm xã hội là trụ
cột trong hệ thống an sinh xã hội: vì BHXH có đối tượng người lao độngtham gia rất lơn, đây là những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất và dịch
vụ cho xã hội Khi rủi ro ốm đau, tai nạn, mất việc làm và già yếu sẽ đe dọađến cuộc sống bản thân người lao động và gia đình họ,làm ảnh hưởng xấu tớitâm lý của người lao động từ đó ảnh hưởng tới xã hội Yếu tố tâm lý của conngười luôn đóng vai trò là động lực thúc đẩy phát triển trí tuệ và khả năngkhai thác nguồn chất xám trong mỗi con người Nếu như trong công việc, thunhập là mục đích chính, là yếu tố kích thích hoạt động sản xuất thì yếu tố tâm
lý sẽ nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất Do vậy sự vững chắc của hệthống an sinh xã hội ở một quốc gia được phản ánh qua chính sách BHXHcủa quốc gia đó Vì vậy, việc các đơn vị nợ đọng BHXH cũng đồng nghĩa vớiviệc không ổn định của Tài chính BHXH, nguy cơ phân hóa giàu nghèo lớn,gây bất bình đẳng xã hội, tiềm ẩn bất ổn định xã hôi
1.2.4 Kinh nghiệm giải quyết nợ đọng BHXH ở các nước trên thế giới
và bài học cho Việt Nam.
Việc tìm ra giải pháp, cách thức tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội luônđược các nước quan tâm; đặc biệt với nước ta là một trong những quốc gia có
tỷ lệ nợ đọng BHXH tương đối cao Do đó, nghiên cứu khả năng giải quyết
nợ đọng BHXH của các nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Cho đến nay đã có nhiều phương pháp được các quốc gia áp dụng nhằmgiải quyết vấn đề nợ đọng BHXH Các phương pháp đó đã phần nào cho thấytác dụng của nó
Trang 28Có thể kể đến:
Kinh nghiệm của cộng hòa liên bang Đức
Cộng hòa liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH bắt buộc Sựphát triển của BHXH được phát triển theo từng bước Các chế độ BHXH baogồm: bảo hiểm ốm đau, thai sản: bảo hiểm tuồi già; tàn tật; bảo hiểm tai nạnlao động; bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm phụ thuôc Hiện tại, người lao động
và người sử dụng lao động có tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc là 19,9% Ngoài ra,còn khoản trợ cấp của liên bang Các khoản đóng BHXH Là 180.5 tỷ EUR,
hỗ trợ từ ngân hàng liên bang là 61,3 tỷ EUR Để công tác quản lý thu BHXHđược hiểu quả, Đức đã xây dựng hệ thống giám sát chủ sử dụng lao động.Hằng năm kiểm tra tính tuân thủ khoảng 800 vụ việc, trong đó: 50% do cácchuyên gia được đào tạo chuyên biệt của cơ quan bảo hiểm hưu trí liên bangĐức (DRV Bund) tiến hành, 50% do 14 cơ quan khu vực của DRV Bund tiếnhành
Đức đã tiến hành xây dựng 20 khu vực giám sát ở tất cả liên bang với sốlượng nhân viên rất lớn 1,732 người, công tác quản lý hành chính được đặt tại
20 khu vực số giám sát viên là 309 người Cơ cấu tổ chức tại mỗi khu vựcgiám sát gồm: giám đốc khu vực, thư ký, lãnh đạo nhóm (mỗi nhóm có từ 56đến 100 giám sát viên) Văn phòng của giám sát viên được trang bị đầy đủthiết bị hiện đại do liên bang cung cấp như: máy tính nối mạng toàn hệ thống,điện thoại, ô tô… tất cả khoản chi phí này do liên bang chi trả Ngoài nhiệm
vụ giám sát chủ lao động công tác quản lý hành chính bao gồm: quan hệ cộngđồng, đưa ra con số thống kê, báo cáo kiểm soát… với các trường hợp nợ quáhạn chia làm hai loại là: trường hợp không cố ý sẽ yêu cầu nộp các khoản quátháng, trường hợp cố ý sẽ yêu cầu nộp khoản quá hạn + 1% lãi suất mỗitháng Các trường hợp dã mạo hồ sơ, gian lận, lao động bất hợp pháp và
Trang 29những trường hợp chủ ý phạm tội sẽ chuyển hồ sơ lên cơ quan công tố để truycứu trách nhiệm hình sự.
Kinh nghiệm của Nhật Bản
Đặc điểm của nhật bản là không tồn tại một hệ thống đảm bảo thống nhất
mà các chế độ được quản lý một cách riêng biệt tùy theo chức năng đối tượngtham gia nên việc thu BHXH cũng do các cơ quan khác nhau thực hiện:
Chế độ hưu trí: hệ thống hưu trí nhật Bản bao gồm nhiều quỹ khác nhauđản bảo hưu trí cho nhiều tầng lớp dân cư khác nhau Các quỹ hưu trí do vụhưu trí bộ y tế phúc lợi chịu trách nhiệm giám sát chung Cơ quan BHXHquản lý hành chính trên toàn quốc gia và dưới là các chi nhánh cơ quanBHXH địa phương quản lý thực hiện thu chi và trả trợ cấp
Quỹ hiệp hội tương trợ đảm bảo chế độ hưu trí cho tầng lớp thu nhập caonhư: Viên chức các cấp, thủy thủ ,giáo sư đại học và những người lao độngtrong các cơ quan nhà nước Mức đóng góp từ 10 đến 16% lương tháng.Nhànước hỗ trợ từ 15 đến 18% tổng mức trả tiền hưu hàng năm của quỹ
Quỹ hưu trí do chính phủ quản lý: đảm bảo chi trả trợ cấp cho nhữngngười làm việc trong các doanh nghiêp tư nhân từ 5 lao động trở lên Mứcđóng góp của người lao động và sử dụng lao động tương tự nhau là: 8,675%lương tháng của người lao động ( đối với những người làm việc nghề mỏ vàngư nghiệp là 9.575% Hằng năm nhà nước hỗ trợ 20% tổng số tiền chi trảhằng năm và chi phí quản lý hành chính
Quỹ hưu trí quốc gia đảm bảo chế độ trợ cấp hưu trí cho những người laođộng làm trong lĩnh vực nông nghiệp, trong xí nghiệp nhỏ và tư nhân với mứcthu nhập thấp trong xã hội, chỉ có 1/3 số người tham gia có thu nhập ổn định
số conflaij chủ yếu là phụ nữ và người có thu nhập thất thường, thậm chíkhông có thu nhập phải dựa vào người than để đóng BHXH Mức đóng củangười lao động và chủ sử dụng lao động ngang bằng với nhau với mức 12.800
Trang 30yên/tháng cộng với khoản phụ them tự nguyện 400 yên để nhận một khoảnlương hưu bổ sung Nhà nước hỗ trợ1/3 tổng mức chi trả hằng năm của quỹ.Chế độ tai nạn lao động cho người lao động ở các khu vực sản xuất vàkinh doanh: đặt dưới sự quản lý trực tiếp của chính phủ Bộ lao động thươngbinh có trách nhiệm giám sát và quản lý hành chính cấp trung ương, phòngđền bù cho người lao động nằm trong cơ quan lao đông cấp quận chịu tráchnhiệm quản lý trong khu vực của mình thông qua các văn phòng thẩm tra tiêuchuẩn lao động Trong đó, mức đóng của chủ sử dụng lao động có 27 mức từ0.6 đến 13.4 lương tùy theo ngành nghề, mức độ rủi ro và số lao động làmviệc.
Người lao động phải đóng không quá 200Y cho một lần điều trị (không
áp dung cho những người nhận trợ cấp tạm thời)
Ngân sách quốc gia sẽ hỗ trợ một phần những chi phí cần thiết chochương trình bảo hiểm TNLĐ trong giới hạn của ngân sách nhà nước và chịutoàn bộ chi phí quản lý hành chính
Chế độ bảo hiểm việc làm: đặt dưới sự quản lý trực tiếp của chính phủ và
bộ lao động (vụ đảm bảo việc làm) có trách nhiệm giúp chính phủ trong việcthực hiện bảo hiểm việc làm thông qua các văn phòng bảo đảm việc làm côngcộng và bộ phận đảm bảo việc làm của phòng lao động cấp quận - hai cơ quannày trực tiếp làm những công việc hành chính có liên quan đến người laođộng, tổ chức thu bảo hiểm theo luật bảo hiểm xã hội việc làm… và truyềntrực tiếp những dự liệu đó lên bộ lao động theo hệ thống siêu máy tính Mứcthu BHXH như sau:
Những ngành nghề chung: mức đóng là 1.15% (trong đó chủ sử dụng laođộng đóng 0.75%, người lao động đóng 0.4%); ngành nông lâm nghiệp, thủysản, sản xuất bia mức đóng là 1.35% ( chủ sử dụng lao động đóng 0.95%,người lao động đóng 0.4%); ngành xây dựng 1.45%chủ sử dụng lao động
Trang 31đóng 1.05% người lao động đóng 0.4%) Riêng đối với người lao động làmviệc theo ngày thì phải đóng lệ phí tem bảo hiểm Việc đóng phí tem nàyđược chia đều cho chủ sử dụng lao động và người lao động với 3 mức caonhất là 176Y và mức thấp nhất là 96Y.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước đang phát triển rất thành công về kinh tế Từ mộtnước rất nghèo năm 1960, đến cuối thế kỷ 20 đã được xếp vào những nướcOECD( một trong số các tiêu chí là thu nhập đầu người phải ít nhất 10000USD/năm) Về mặt BHXH, cơ quan quản lý về BHXH là tổ chức xã hội thuộc
bộ lao động cung cấp các dịch vụ liên quan tới lao động và việc làm thuộcdiện BHXH và phúc lợi xã hội Về nguồn nhân lực có tổng số là 5051 nhânviên/01 trụ sở chính, 06 trụ sở khu vực, 49 văn phòng chi nhánh 06 ủy ban và
09 viện đền bù cho người lao động khách hàng của họ là người lao động,người sử dụng lao động, người thất nghiệp… chiếm 62.3% dân số tham giahoạt động kinh tế Về quản lý nợ đọng BHXH cơ quan BHXH ở Hàn Quốcthực hiện như sau:
Về phía cơ quan BHXH: Khuyến khích đóng các khoản nợ đọng BHXHtrong năm hiện tại thống qua các hình thức gọi điện, gặp trực tiếp sau đó làgửi thư thúc dục đơn vị nợ BHXH Thời gian được tính từ ngày công vănnhắc nhở tới các đơn vị sử dung lao động đến hạn cuối cùng đóng BHXHđược ghi trong công văn Việc thu các khoản nợ này trước tiên tập trung vàocác doanh nghiệp có số tiền nợ nhiều và thời gian nợ kéo dài Trong cáctrường hợp quá thời hạn quy định trụ sở chính của cơ quan BHXH sẽ lên danhsách các đơn vị này tiến hàn truy vấn tài sản trên toàn quốc như bất động sản,phương tiện đi lại, nhà xưởng máy móc… với sự trợ giúp của các cơ quan liênquan như bộ đất đai, giao thông
Trang 32Bên cạnh đó, cơ quan BHXH tại trụ sở chính và văn phòng chi nhánhcũng khuyến khích các đơn vị sử dụng lao đông, người lao động đóng BHXH,trao đổi thông tin giữa các cán bộ chuyên trách thống qua các bài thuyết trìnhthực tiễn hiệu quả do văn phòng chi nhánh thực hiện trước thời hạn tuyêntruyền phổ biến chính sách về BHXH để người dân hiểu biết về BHXH đồngthời cung cấp các biện pháp tốt phục vụ cho đơn vị sử dụng lao động chuyểntiền tự động, thuận tiện.
Mở các khóa đào tạo công việc nhằm nâng cao nghiệp vụ của các cán bộphụ trách nợ đong BHXH từ đó cho phép phép các học viên làm thế nào để
xử lý vụ việc hiệu quả trong từng trường hợp cụ thể Với các phương phápnhư trên số nợ của Hàn Quốc đã giảm liên tiếp trong 4 năm từ 686 triệu USD(năm 2006) xuống 498 triệu USD (năm 2009)
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Xuất phát từ kinh nghiệm của các nước trong việc giải quyết vấn đề nợđọng bảo hiểm xã hội, cơ quan BHXH Việt Nam có được những bài học sau:
• Để công tác quản lý thu BHXH được hiểu quả, cần xây dựng hệ thốnggiám sát chủ sử dụng lao động, vì họ là đại lý thu BHXH và cũng là đối tượng
có động cơ vi phạm pháp luật về BHXH
• Nghiêm chỉnh chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, các văn bảnchỉ đạo của các cấp, đồng thời tranh thủ kịp thời sự chỉ đạo của Ban lãnh đạocũng như sự ủng hộ, tư vấn về mặt pháp lý của các phòng chuyên môn nghiệp
vụ Trụ sở chính để áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể, đảm bảo tínhkhách quan và công khai
• Hàng tháng gửi thông báo nợ đến các cơ quan chính quyền địa phương.Tranh thủ sự ủng hộ và hỗ trợ của chính quyền địa phương và các cơ quanchức năng trong việc xử lý giải quyết các khoản nợ khó đòi, tồn đọng kéo dài
• Các cơ quan BHXH thường xuyên quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt
và kịp thời trong việc xử lý, giải quyết nợ tồn đọng khó đòi Có kế hoạch cụthể, giao chỉ tiêu theo tháng, quý, năm cho từng cơ quan có nợ tồn đọng khó
Trang 33đòi và các bộ phận liên quan, có kiểm tra giám sát và sơ kết, tổng kết để đánhgiá mức độ thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời có chế tài khen thưởng vàphê bình kịp thời để tạo động lực thúc đẩy công tác thu hồi nợ tồn đọng tiếntriển nhanh chóng.
• Lập kế hoạch hàng tháng, quý, năm giao cho từng cán bộ và có biệnpháp xử lý cụ thể thu hồi nợ đối với từng đối tượng khách hàng, đối với từngloại tài sản bảo đảm về tính pháp lý của hồ sơ và của tài sản bảo đảm
• Phân loại từng đối tượng khách hàng nợ tồn đọng, trên cơ sở đó có lộtrình xử lý thu hồi nợ hợp lý với mức độ và giải pháp mạnh dần từ thấp đếncao
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NỢ ĐỌNG NƯỚC TA HIỆN NAY
2007 -2011
2.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội ở nước ta
Sau cách mạng tháng 8 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 củanước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính Phủ đã ban hành một loạt sắc lệnhquy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viênchức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12-3-1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22-5-1950) Cơ sở pháp lí tiếp theo củaBHXH được quy định trong Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp năm 1959 đãthừa nhận công nhân viên chức có quyền được hưởng trợ cấp BHXH Quyềnnày được cụ thể hóa trong điểu lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viênchức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27-12-1961 vàĐiều lệ đãi ngộ công quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày30-10-1964 của Chình Phủ Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống
Trang 34xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định vê mặt thu nhập,
ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức Nhà nước, quân nhân và gia đình
họ, góp phần rất lớn trong việc cổ động sức người sức của cho thắng lợi củacuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi từ cơchế kinh tế kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường Sự thay đổi mới về cơ chếkinh tế đòi hỏi có những chính sách thay đổi tương ứng về chính sách xã hộinói chung và chính sách BHXH nói riêng Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ:
“Nhà nước thực hiện chính sách BHXH với công chức Nhà nước và ngườilàm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đốivới người lao động” Trong Văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản VIệtNam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi ngườilao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụđóng góp BHXH, thống nhất tách BHXH ra khỏi ngân sách “Mở rộng chế độBHXH với người lao động thuộc các thành phần kinh tế” Như vậy, các vănbản Pháp lí quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơchế thị trường Ngay sau khi Bộ luật Lao động được ban hành và có hiệu lực
từ ngày 1-1-1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày 26-1-1995
và Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế Nộidung của bản Điều lệ đã góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, gópphần làm lành mạnh hóa thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được mongmỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước.Ngày 26-9-2006, Quốc hội nước ta chính thức thông qua Luật BHXH Bộluật này có hiệu lực từ ngày 1-1-2007 Theo Luật BHXH hiện hành, nước tathực hiện các loại hình BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, và BHTN NhưngBHXH tự nguyện được thực hiện từ 1-1-2008 với 2 chế độ là hưu trí và tử
Trang 35tuất Còn BHTN được thực hiên từ 1-1-2009 BHXH bắt buộc thực hiện với 5chế độ sau đây:
đã được các cấp, các ngành quan tâm hơn bao giờ hết
2.2 Công tác thu bảo hiểm xã hội ở nước ta giai đoạn 2007 – 2011 2.2.1 Cở sở quy định.
Việc hình thành quy định thu BHXH của các cơ quan BHXH từ cấp TWđến địa phương được quy định rất cụ thể trong quyết định 1111/QĐ-BHXH.Quyết định này thay thế Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26 tháng 6 năm
2007 ban hành Quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắtbuộc; Quyết định số 1333/QĐ-BHXH ngày 21 tháng 02 năm 2008 sửa đổi, bổsung một số điểm tại Quyết định số 902/QĐ-BHXH; Quyết định số 555/QĐ-BHXH ngày 13 tháng 5 năm 2009 ban hành Quy định cấp, quản lý và sử dụng
sổ bảo hiểm xã hội; Quyết định số 1359/QĐ-BHXH ngày 25 tháng 11 năm
2009 quy định về cấp, quản lý và sử dụng thẻ bảo hiểm y tế; Quyết định số299/QĐ-BHXH ngày 18 tháng 3 năm 2009 ban hành Quy định về quản lý và
sử dụng phôi sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế Bãi bỏ Phần I Công văn
số 1615/BHXHCSXH ngày 02 tháng 6 năm 2009 hướng dẫn thực hiện thu chi bảo hiểm thất nghiệp; Điểm 1, 2, 3 Công văn số 2035/BHXH-CSXH ngày
Trang 36-26 tháng 6 năm 2009 sửa đổi bổ sung Công văn số 1615/BHXH-CSXH, vàcác công văn, nghị định có nội dung trái với quyết định 1111/2011 này Việcban hành quy định này nhằm giúp các cơ quan BHXH có thể dễ dàng có được
cơ sở xác định mức đóng góp vào quỹ BHXH nhằm đảm bảo quỹ
2.2.2 Quy trình thu bảo hiểm xã hội
* NSDLĐ tham gia BHXH lần đầu
- Đối với người lao động:
Căn cứ hồ sơ gốc của mình (quyết định tuyển dụng, quyết định nânglương hoặc hợp đồng lao động) kê khai 03 bản “Tờ khai tham gia BHXH,BHYT, BHTN” (Mẫu số 01-TBH), nộp cho người sử dụng lao động, trườnghợp đã được cấp sổ BHXH thì không phải kê khai mà chỉ nộp sổ BHXH
- Đối với người sử dụng lao động:
+ Tiếp nhận, đối chiếu Hồ sơ gốc của cá nhân người lao động với Tờ khaitham gia BHXH, BHYT, BHTN hoặc sổ BHXH, ký xác nhận Tờ khai
+ Kiểm tra đối chiếu tờ khai tham gia BHXH với hồ sơ gốc của từngNLĐ; ký xác nhận và phải chịu trách nhiệm về những nội dung trên tờ khaicủa NLĐ
+ Lập 02 bản “danh sách lao động tham gia BHXH bắt buộc” mẫu TBH) và bản sao quyết định thành lập hoặc chứng nhận đăng ký kinh doanhhoặc giấy phép hoạt động trường hợp NSDLĐ là cá nhân thì nộp bản hợpđồng lao động
(02a-+ Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng lao độnghoặc quyết định tuyển dụng, NSDLĐ phải nộp toàn bộ hồ sơ theo quy định đãnêu trên và sổ BHXH của người lao động cho cơ quan BHXH
- Đối với cơ quan BHXH
+ Tiếp nhận danh sách và hồ sơ do người sử dụng lao động chuyển đến.+ Kiểm tra thủ tục hồ sơ, cấp mã số cho người lao động và mã số của đơn
vị quản lý theo quy định
+ Ký, đóng dấu vào "Danh sách lao động đóng BHXH, BHYT, BHTN"(Mẫu số 02a-TBH), “Tờ khai tham gia BHXH, BHYT, BHTN” (Mẫu số 01-
Trang 37TBH)trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ trảlại 01 bản cho người sử dụng lao động cơ quan BHXH lưu 1 bản riêng 3 tờkhai (mẫu số 01-TBH )của người lao động saukhi cấp sổ BHXH hoàn chỉnhthì trả lại cho đơn vị 2 tờ khai cùng với sổ BHXH.
* NSDLĐ đang tham gia BHXH
- Tăng giảm lao động thay đổi căn cứ đóng BHXH trong tháng
+ NSDLĐ :lập 02 bản ‘danh sách điều chỉnh lao động và mức đóngBHXH bắt buộc” ( mẫu số 03-THB) kèm theo hồ sơ như sau : tờ khai, quyếtđịnh tuyển dụng, tuyên chuyển, nghỉ việc, thôi việc hoặc hợp đồng lao động,quyết định tăng giảm lương, thẻ BHYT (nếu có ), nộp cho cơ quan BHXHtrước ngày 20 của tháng.Các trường hợp tăng, giảm từ ngày 16 của tháng trở
đi thì lập danh sách và thực hiện vào đầu tháng kế tiếp
+ Cơ quan BHXH :Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định hồ sơ ;ký, đóng dấuvào danh sách lao động tham gia BHXH ; các tờ khai nếu có, thong báo chođơn vị đóng BHXH ;cấp sổ BHXH, thẻ BHYT kịp thời cho người lao động
- Khi NSDLĐ di chuyển từ địa bàn tỉnh này sang tỉnh khác phải xuấttrình hồ sơ kèm theo “danh sách điều chỉnh lao động và mức đóng BHXH bắtbuộc” (mẫu 03-TBH); đóng đủ BHXH cho NLĐ đến thời điểm di chuyển; cơquan BHXH tỉnh nơi đi xác nhận sổ BHXH cho NLĐ; NSDLĐ đăng ký thamgia BHXH với cơ quan BHXH tỉnh nơi chuyển đến theo thủ tục tham giaBHXH lần đầu
- NSDLĐ thay đổi pháp nhân, chuyển quyền sở hữu; sáp nhập hoặc giảithể, phá sản theo quy định của pháp luật phải thong báo bằng văn bản cho cơquan BHXH và đóng đủ BHXH cho NLĐ đến thời điểm thay đổi.Cơ quanBHXH xác nhận sổ BHXH cho NLĐ theo nguyên tắc đóng đến thời điểm nàothì xác nhận đến thời điểm đó
2.2.3 Kết quả thu
Trong thời gian từ năm 2007-2011, đánh dấu sự phân biệt bằng điểm thời
Trang 38gian Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực (năm 1/1/2007), việc thực hiệncông tác Thu Bảo hiểm xã hội dựa trên các văn bản quy định về Thu Bảohiểm xã hội đã có được các kết quả đáng ghi nhận.
Về số thu BHXH và số người tham gia BHXH
- Xét từ giai đoạn 1995-2004:
Trang 39Bảng 1: Bảng số liệu thống kê tốc độ tăng trưởng liên hoàn về số thu BHXH và số người tham gia BHXH từ năm 1995 – 2004
Năm
Số thu BHXH (tỷ
đồng)
Lượng tăng giảm tuyệt đối (tỷ đồng)
Lượng tăng giảm tương đối (%)
Số người tham gia (nghìn người)
Lượng tăng, giảm tuyệt đối (nghìn người)
Lượng tăng, giảm tương đối (%)
Nguồn: Báo cáo thường kì củaBHXH Việt Nam giai đoạn 1995-2004
Từ số liệu bảng 1 cho thấy:
Từ 6 tháng cuối năm 1995 đến hết năm 2004 BHXH Việt nam đã thuđược 57.883,911 tỷ đồng Đây là một số tiền không nhỏ đã góp phần đảm bảocho quỹ BHXH Việt nam thực hiện tốt các chế độ cho người lao động nằmtrong chính sách BHXH của nước ta trong thời gian qua và là cơ sở tạo tiền
đề vững chắc cho công việc thực thi chính sách BHXH trong thời gian tới
Số thu liên tục tăng với số thu năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt là sốthu trong 2 năm: năm 2003 là 11.488,350 tỷ đồng, năm 2004 là 12.929 tỷđồng Tổng số thu BHXH trong vòng 3 năm từ 2002 đến năm 2004 đạt
Trang 4031.380,373 tỷ đồng nếu so với khoảng thời gian từ 6 tháng cuối năm 1995 đếnnăm 2001 thì thời gian gấp đôi, tương ứng 6.933,524 tỷ đồng.
Mặc dù số thu BHXH năm sau cao hơn năm trước nhưng lượng tăng(giảm) tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng liên hoàn lại tăng không đều thậm chílại có xu hướng giảm có những năm tốc độ tăng trưởng tăng lên rất cao như:năm 1997 số thu tăng cao so với năm 1996 là 944,628 tỷ đồng tương ứngtăng 36,76%, năm 2000 số thu BHXH tăng so với năm 1999 là 1.012,167đồng tương ứng tăng 24,18%, năm 2001 tốc độ tăng trưởng là 22,12% tươngứng với số thu tăng so với năm 2000 là 1.149,963 tỷ đồng, năm 2003 tốc độtăng trưởng là 64,99% tương ứng với số thu tăng so với năm 2002 là4.525,327 tỷ đồng Nhưng bên cạnh đó có những năm số thu tăng không caolàm cho tốc độ tăng trưởng thấp như năm 1999 tốc độ tăng trưởng là 7,38%tương ứng với số thu tăng so với năm 1998 là 287,559 tỷ đồng, năm 2002 tốc
độ tăng trưởng là 9,69% tương ứng với số thu tăng so với năm 2001 là614,838 tỷ đồng
Nguyên nhân chủ yếu đạt được kết quả trên là do:
• Nhà nước tăng lương tối thiểu từ 210.000 đồng/tháng năm 2001 lên đến290.000 đồng/tháng năm 2003
• Năm 2003 trở đi thì quỹ BHXH Việt nam bao gồm cả số thu BHYTViệt