Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội (1999-2003)
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoánhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN , nềnkinh tế nước ta có sự biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ Hoà chung với xu thế đó, hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm cũng phát triển hết sức sôi động Trên thị trường bảohiểm hiện nay đã xuất hiện nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới nhằm đáp ứng nhucầu ngày càng đa dạng và phong phú của người tham gia bảo hiểm Một trong sốnhững nghiệp vụ mới phải kể tới nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nóichung và nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng - mộttrong những nghiệp vụ bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểunhững hậu quả ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh, gópphần ổn định - phát triển kinh tế
Ở Việt Nam hiện nay, nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháytuy không còn xa lạ nhưng để hiểu thấu đáo, tường tận cơ sở lý luận và thực tếtriển khai nghiệp vụ bảo hiểm này cho phù hợp với điều kiện Việt Nam khôngphải là điều đơn giản Trong thời gian thực tập tại phòng Marketing thuộc công
ty bảo hiểm Hà Nội, được tiếp xúc với nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanhsau cháy, em nhận thấy đây là một nghiệp vụ mới mẻ nhưng có tiềm năng khôngnhỏ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Song, quá trình triển khai nghiệp vụ nàytại Bảo Việt Hà Nội còn gặp khá nhiều khó khăn Với mong muốn, hệ thốnghoá các nguyên tắc lý luận được áp dụng trong loại hình bảo hiểm gián đoạnkinh doanh sau cháy, cũng như được tìm hiểu nghiên cứu tình hình triển khainghiệp vụ bảo hiểm này, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triểnnghiệp vụ bảo hiểm này Chính vì vậy em chọn “ Bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội (1999-2003) ” làm đề tài cho chuyên đềthực tập của mình
Trang 2Kết cấu chuyên đề thực tập, ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm có 3chương:
Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Chương II: Thực tiễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanhsau cháy tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1999-2003
Chương III : Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội.Mặc dù rất cố gắng nhưng do thời gian eo hẹp và trình độ nghiên cứu cóhạn nên chuyên đề thực tập này không tránh khỏi những khiếm khuyết trongbiên tập cũng như trong trình bầy Rất mong nhận được sự đóng góp ý và phêbình từ phía các thày cô và những ai quan tâm đến đề tài này để luận văn nàyđược hoàn thiện hơn
Trang 3Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN
KINH DOANH SAU CHÁY
I SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN
KINH DOANH SAU CHÁY
1.1 Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy.
Bảo hiểm là một hoạt động tài chính, có tính chất chuyên ngành mà thôngqua hoạt động này các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội cùng tham gia đóng gópmột khoản tiền nhất định để tạo lập nên quỹ bảo hiểm Khi không may gặp rủi
ro, tổn thất ngoài mong đợi của các thành viên thì lúc đó quỹ bảo hiểm mới pháthuy tác dụng của nó là giúp đỡ các thành viên nhanh chóng ổn định hoạt độngsản xuất cũng như đời sống, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cáchbình thường Ngày nay, hoạt động bảo hiểm được thực hiện chủ yếu thông quahoạt động của các tổ chức bảo hiểm
Hoả hoạn là một rủi ro mang tính chất thảm hoạ, nó có thể xảy ra ở bất cứđâu, bất cứ lúc nào, hậu quả của nó gây ra thường rất nặng nề và kéo dài trongnhiều năm Theo số liệu thống kê, hàng năm trên thế giới trung bình có khoảng 5triệu vụ hoả hoạn, gây thiệt hại ước tính hơn 600 tỷ USD
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm, chúng ta thấy bảohiểm có từ rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại Ở buổi sơ khai, khimới hình thành nghiệp vụ bảo hiểm không phong phú và đa dạng như hiện nay
Xã hội ngày càng phát triển, hoạt động kinh doanh ngày càng mở rộng dần dầnnảy sinh nhiều nhu cầu bảo hiểm mới Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
là một trong số những nghiệp vụ bảo hiểm mới đó Nếu so nghiệp vụ bảo hiểmnày với các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm cháy thì bảo hiểm giánđoạn kinh doanh sau cháy ra đời muộn hơn rất nhiều
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, mặc dù chịu sự thúc ép từ phía chínhphủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nhưng các công ty bảo hiểm của Anh vẫnchưa tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm “tổn thất hiệu quả nào” Có sự chậm trễnày là do tính phức tạp trong việc phân tích các chi phí tài chính, xác định phạm
vi bảo hiểm trong điều kiện kinh tế chính trị chưa ổn định Sau đó, với sự ra đờicủa hai nguyên tắc Herry Booth & Commircial Union (1923) và PolikoffLtd vsNorth British and Mercantile (1836) mới thực sự đặt nền móng cho bảo hiểmgián đoạn kinh doanh nói chung và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nóiriêng hình thành và phát triển
Trang 4Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh còn được biết đến dưới tên gọi khác là
“Bảo hiểm mất lợi nhuận” hay “tổn thất hậu quả”, mục đích của nghiệp vụ bảohiểm này là bồi thường cho người được bảo hiểm đối với trường hợp mất lợinhuận do doanh thu giảm và chi phí hoạt động gia tăng do hoạt động kinh doanh
bị ngừng trệ do hậu quả của một rủi ro hoả hoạn Tổn thất này thường phát sinhsau một khiếu nại thiệt hại về tài sản do cháy hay do một số rủi ro đặc biệtkhác.Trong thực tế, khi một doanh nghiệp không may gặp phải rủi ro hoả hoạnthì doanh nghiệp không những phải gánh chịu những thiệt hại về mặt vật chất
mà còn gánh chịu những thiệt hại mang tính chất hậu quả như chi phí hoạt độnggia tăng, chi phí trả lương, trả tiền thuê nhà xưởng… Ngoài ra doanh nghiệp còn
bị tổn thất do lợi nhuận thuần dự kiến thu được đã bị giảm hoặc mất Đối vớithiệt hại vật chất trực tiếp, doanh nghiệp có thể khắc phục thông qua việc mưabảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt cho tài sản,với số tiền bồi thường nhậnđược từ phía bảo hiểm, người được bảo hiểm có đủ tài chính để phục hồi cơ sở
hạ tầng, sửa chữa, mua lại các máy móc trang thiết bị… phục vụ cho quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh Nhưng đơn bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệtkhông chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gián tiếp - những thiệthại mang tính hậu quả - trong khi doanh nghiệp lại có nhu cầu được bảo đảmtrước các tổn thất này Do đó, việc xuất hiện bảo hiểm gián đoạn kinh doanh làmột nhu cầu tất yếu khách quan
Mặc dù, “mầm mống” ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh xuất hiện
từ những năm 1923 nhưng phải đến năm 1985 giao dịch bảo hiểm gián đoạnkinh doanh đầu tiên mới xuất hiện tại Uỷ ban tổn thất hậu quả (một bộ phận của
Uỷ ban bảo hiểm hoả hoạn ở Anh) Đây là nơi đánh giấu sự ra đời bản mẫu đơnbảo hiểm đầu tiên về đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Mẫu đơn này đã đượcthông qua và được sử dụng ở một số nước Tây Âu Vào tháng 10/1989, Hiệp hộicác nhà bảo hiểm London ( ABI ) đã xem xét lại mẫu đơn này trên cơ sở thốngnhất lại phạm vi bảo hiểm và sau đó chính thức phát hành Từ đó đến nay, hầuhết các quốc gia đều áp dụng theo mẫu đơn đó
Ngày nay, ở các nước phát triển, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói chung
và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng đã không còn xa lạ, gópphần đắc lực vào việc ổn định tâm lý cũng như an toàn sản xuất kinh doanh chocác doanh nghiệp
Ở Việt Nam nghiệp vụ bảo hiểm này mới được triển khai từ 1994, trên cơ
sở mẫu đơn bảo hiểm của Anh (ABI) Tuy mới triển khai, nhưng nghiệp vụ bảohiểm này đã bước đầu khẳng định được vai trò, tiềm năng cũng như ưu điểm
Trang 5không thua kém gì các nghiệp vụ “đàn anh đàn chị khác” Trong vài năm trở lạiđây, nghiệp vụ này đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà bảo hiểm Năm 1997tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo bảo hiểm ngừng trệ kinh doanh do Muniche vàVina Re đồng tổ chức Từ đó đến nay, hàng năm các công ty bảo hiểm đều liênkết với nhau tổ chức hội thảo đề cập tới vấn đề này
1.2 Tác dụng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
1.2.1 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là “lá chắn kinh tế” của các doanh nghiệp góp phần giảm thiểu những hậu quả của các rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa mỗi doanh nghiệp mặc dù con người đã chú ý đề phòng hạn chế rủi ronhưng rủi ro vẫn xảy ra ở bất kì đâu, bất kì lúc nào không ai có thể lường trướcđược
Các rủi ro đã và đang không chỉ gây lên những tổn thất thiệt hại về tài sản tínhmạng con người mà còn làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Hoả hoạn là một trong những rủi ro gây thiệt hại ghê gớm cho conngười Hoả hoạn xảy ra do nhiều nguyên nhân, các nguyên nhân gây cháy có thể
là do sơ xuất khi dùng lửa, do vi phạm nội quy an toàn phòng cháy, do nghịchngợm của trẻ hay do các sự cố về điện … Phần lớn các nguyên nhân dẫn đến hoảhoạn là do sơ suất hay bất cẩn của con người Hoả hoạn không chỉ gây thiệt hạimang tính thảm hoạ về tài sản, mà còn ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa họccông nghệ đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất kinh doanh, điềunày làm cho qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng
mở rộng, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày càng lớn Nếu chẳng may xảy rahoả hoạn thì hậu quả thường rất lớn và để lại ảnh hưởng lâu dài không chỉ vớichính doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới cả những cá nhân, doanh nghiệp cóquan hệ thường xuyên với doanh nghiệp
Để khắc phục những tổn thất này, doanh nghiệp thường áp dụng nhiều biệnpháp khác nhau để bù đắp những tổn thất đó, vay ngân hàng và vay của các tổchức tín dụng khác là một trong những biện pháp khá phổ biến, song biện phápnày lại có bất lợi lớn là mang lại gánh nặng nợ nần cho doanh nghiệp về lâu dàiđiều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc phục hồi sản xuất Nhưng có thể nóirằng ngoài biện pháp hiện nay đang được áp dụng rộng rãi, hiệu quả là tham gia
Trang 6bảo hiểm thì hầu hết các biện pháp còn lại đều chỉ là các biện pháp thụ động.Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là một trong những nghiệp vụ bảohiểm đó.
Sự ra đời của các công ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh
ổn định tình hình sản xuất, đảm bảo công việc kinh doanh được tiến hành bìnhthường Thông qua việc bồi thường một cách kịp thời, chính xác bảo hiểm đãgiúp cho các doanh nghiệp nhanh chóng khắc phục được hậu quả thiệt hại Bêncạnh đó, với sự chuyển đổi của cơ chế quản lý, việc Nhà nước đã chủ động giaovốn cho các doanh nghiệp nhà nước Theo đó các doanh nghiệp Nhà nước khôngcòn nhận được nhiều sự hỗ trợ của Nhà nước như trong thời bao cấp, vì thế việcbảo toàn và phát triển vốn đối với các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hơntrước Nếu có thiệt hại gây ra bởi các rủi ro đặc biệt là những rủi ro các công tybảo hiểm trong nước đã triển khai hay với các loại hình tương tự Vì vậy, bảohiểm thực sự là “lá chắn kinh tế” giúp các doanh nghiệp bảo toàn vốn khi khôngmay gặp phải rủi ro
Trên thực tế, sau khi gặp bất cứ rủi ro nào ví dụ như rủi ro hoả hoạn thườngthì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể tiến hành bìnhthường như kế hoạch đã định Phần thiệt hại vật chất sẽ được bảo hiểm theo đơnbảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, nhưng hoả hoạn xảy ra không chỉ gây thiệthại về mặt vật chất mà nó còn có ảnh hưởng hậu quả lâu dài đến hoạt động sảnxuất kinh doanh, do vậy còn rất nhiều khoản tổn thất khác không được bảo hiểmtheo đơn bảo hiểm tổn thất vật chất Để đối phó với tình huống doanh nghiệp cóthể bị phá sản hay lâm vào tình huống tài chính khó khăn khi phải đối mặt vớinhững tổn thất đó, tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh mà cụ thể ở đây làbảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là cách tốt nhất để bù đắp phần thiệthại này
Khi tham gia loại hình bảo hiểm này, trong trường hợp xảy ra tổn thất,doanh nghiệp không những được bồi thường những hoạt động gia tăng nhằmduy trì hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp còn được bồi thường phần lợinhuận ròng đáng ra họ có thể thu được nếu không xảy ra hoả hoạn
Như vậy, cùng với đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt, bảo hiểm giánđoạn kinh doanh sau cháy đã góp phần làm hạn chế đến mức tối thiểu những hậuquả ảnh hưởng của hoả hoạn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy thực sự là “lá chắn kinh tế”giúp các doanh nghiệp nhanh chóng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh khikhông may gặp phải rủi ro hoả hoạn
Trang 71.2.2 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy góp phần mang lại sự an toàn trong xã hội, giảm thiểu rủi ro.
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, nước ta đã và đang thu hútđược lượng lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước Các nhà đầu tư, vì mục đíchkinh doanh của mình luôn quan tâm đến việc bảo toàn vốn, làm sao có thể tránhđược các rủi ro đáng tiếc xảy ra với đồng vốn của họ Song, trong hoạt động sảnxuất kinh doanh thường chứa đựng nhiều rủi ro mang tính ngẫu nhiên bất ngờ cóthể xảy ra ở bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào mà không ai có thể lường trước được Cáccông ty bảo hiểm là các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở xử lý, chuyển giao vàphân tán rủi ro, vì vậy để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuđược hiệu quả cao nhất có thể, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn tìm cách giảmthiểu xác suất cũng như mức độ tổn thất của rủi ro Một biện pháp mà các doanhnghiệp bảo hiểm hiện đang áp dụng rất hiệu quả là biện pháp đề phòng và hạnchế tổn thất Hàng năm, trên cơ sở số phí thu được, doanh nghiệp bảo hiểmthường trích ra một khoản theo tỷ lệ nhất định trên cơ sở nguồn phí thu được đểchi cho công tác này Ở Bảo Việt Hà Nội tỷ lệ này tính cho tất cả các nghiệp vụ
là 0.37% phí thu Phí thu được từ nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh saucháy tất yếu cũng sẽ góp một phần trong đó Vì vậy có thể nói, bảo hiểm giánđoạn kinh doanh sau cháy có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn trật tự, anninh, an toàn xã hội cũng như tạo tâm lý an tâm trong sản xuất kinh doanh chocác chủ doanh nghiệp
1.2.3 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm gián đoạn kinh doanhsau cháy góp phần làm tăng thu cho ngân sách nhà nước Không những thế,phần phí tạm thời nhàn rỗi thu được từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh sau cháy tạo ra nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế thông qua hoạt độngđầu tư
Trên đây là một vài minh chứng cho sự cần thiết khách quan của việc thamgia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
II NHỮNG NỘi DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINHDOANH SAU CHÁY
2.1 Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Trang 8Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy bảo hiểm cho các tổn thất mấtgiảm thu nhập thực tế và tiềm năng cũng như các chi phí hoạt động gia tăng phátsinh từ hậu quả tổn thất vật chất khi không may xảy ra hoả hoạn
Nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy mang một số đặc điểmkhác biệt so với các loại hình bảo hiểm khác:
2.1.1 Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là đối tượng vô hình.
Khi xảy ra rủi ro hoả hoạn, doanh nghiệp phải gánh chịu những thiệt hại vậtchất trực tiếp do cháy như: nhà xưởng, hàng hoá, máy móc trang thiết bị bị pháhuỷ Phần thiệt hại về tài sản, doanh nghiệp có thể khắc phục thông qua việctham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt Nhưng, bên cạnh những thiệt hại
về vật chất thì chủ doanh nghiệp còn phải gánh chịu những tổn thất hậu về kinhdoanh khác như: mất lợi nhuận, mất khả năng kinh doanh trong một khoảng thờigian nhất định Không những thế, anh ta còn phải chịu những chi phí khác như:chi phí thuê nhà tạm, tiền trả cho công nhân viên làm ngoài giờ, lãi suất ngânhàng… mặc dù không thực hiện sản xuất kinh doanh Hay nói khác đi, tuỳ vàomức độ thiệt hại gây ra, mà hoạt động sản xuất kinh doanh của người được bảohiểm sẽ bị ngưng trệ hay giảm sút Chúng ta hãy cùng xem xét một ví dụ dướiđây:
Hình trên miêu tả tổn thất doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêmtrọng Cần chú ý rằng doanh thu của doanh nghiệp sẽ chỉ trở lại bình thường sau
9 tháng kể từ khi có vụ cháy xảy ra mặc dù công việc xây dựng lại chỉ mất 3tháng Có tình huống này là do nguyên nhân một số khách hàng không chắcchắn được liệu công ty có tiếp tục kinh doanh nữa hay không và nếu khách hàng
có thể dễ dàng tìm được hàng hoá đó từ các đối thủ cạnh tranh khác thì thời gianphục hồi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ kéo dài hơn Không giống như thiệthại về mặt vật chất, thiệt hại mà nhà kinh doanh phải gánh chịu trong trường hợp
xây dựng lại
Trang 9gián đoạn kinh doanh là rất trừu tượng và chỉ có thể được xác định trong tươnglai, tại thời điểm doanh nghiệp của người được bảo hiểm trở lại tình trạng tàichính như trước khi tổn thất xảy ra Tóm lại, đối tượng của bảo hiểm kinh giánđoạn kinh doanh là đối tượng vô hình.
Trong biểu đồ trên, người ta giả định một doanh thu tĩnh song thực tế, córất nhiều ngành nghề biến động theo mùa, yếu tố này cần được xem xét khi giảiquyết bất kỳ khiếu nại nào Vì vậy trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nóichung và trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng thường nêu rõcông thức sẽ được sử dụng khi giải quyết bồi thường
2.1.2 Thời hạn bồi thường.
Một đặc trưng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là người đượcbảo hiểm được chọn một thời hạn bồi thường Thời hạn bồi thường được địnhnghĩa: “Thời hạn bồi thường là khoảng thời gian mà trong suốt khoảng thời gian
đó kết qủa kinh doanh bị ảnh hưởng do hậu qủa của hoả hoạn được bắt đầu từngày xảy ra hoả hoạn và không kéo dài quá thời hạn bồi thường tối đa do ngườiđược bảo hiểm lựa chọn”
Thời hạn bồi thường tối đa là giai đoạn mà theo tính toán của người đượcbảo hiểm sẽ đủ để người đó khôi phục lại kinh doanh, hoàn toàn khôi phục lạikhả năng hoạt động và doanh thu kể cả khi xảy ra vụ hoả hoạn nghiêm trọngnhất Không giống với thời hạn bảo hiểm, thời hạn bồi thường được tính từ ngàybắt đầu xảy ra rủi ro hoả hoạn ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh củangười được bảo hiểm tại địa điểm được bảo hiểm Nếu tại một thời điểm chưahết thời hạn bồi thường tối đa mà quả kinh doanh của doanh nghiệp được khôiphục thì thời hạn bồi thường cũng chấm tại thời điểm đó Và ngược lại, nếu đếnhết thời hạn bồi thường tối đa mà kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp vẫn chưa đạt được mức dự kiến thì thời hạn bồi thường cũngkhông vượt quá thời hạn bồi thường tối đa được xác định trước Người bảo hiểm
sẽ không chịu trách nhiệm về bất cứ khoản tổn thất doanh thu nào xảy ra sauthời hạn đó Thời hạn bồi thường có thể là 6 tuần, 8 tuần, 10 tuần hay kéo dài cảthời hạn bồi thường tối đa
Người được bảo hiểm phải cân nhắc kĩ lưỡng khi lựa chọn thời hạn bồithường tối đa Bởi, thời hạn bồi thường tối đa không chỉ ảnh hưởng tới phạm vibảo hiểm tối đa mà còn ảnh hưởng tới số tiền bảo hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm Dotrong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy số tiền bảo hiểm là số lợi nhuậngộp ước tính lẽ ra thu được trong thời hạn đó Nếu thời hạn bồi thường tối đakéo dài thì số tiền bảo hiểm càng lớn và tỷ lệ phí bảo hiểm càng nhỏ vì kết quả
Trang 10hoạt động kinh doanh sẽ được khôi phục dần theo thời gian đó, khi đó mức độgiảm doanh thu sẽ bớt nghiêm trọng, hay số tiền mất lợi nhuận bình quân cho cảthời hạn bồi thường tối đa sẽ thấp và ngược lại nếu thời hạn bồi thường tối đangắn thì số tiền mất lợi nhuận bình quân cho cả thời hạn bồi thường sẽ cao Thờihạn bồi thường tối đa thường được lựa chọn là 12 tháng 18 tháng hay nhiều hơn,
ít khi thời hạn này được chọn dưới 12 tháng bởi khoảng thời gian đó không đủdài để người được bảo hiểm trở lại vị trí tài chính đáng ra doanh nghiệp sẽ đạtđược nếu không xảy ra hoả hoạn Xét tiếp ví dụ trên ta thấy, việc lựa chọn thờihạn bồi thường tối đa dưới 12 tháng không chỉ dẫn đến tình huống người đượcbảo hiểm không thoả mãn với kết quả bồi thường, mà còn là nguyên nhân dẫnđến tranh cãi giữa hai bên khi giải quyết bồi thường Thời hạn bồi thường tối đa
sẽ được ghi rõ trong phụ lục của hợp đồng
Thời hạn bồi thường tối đa phụ thuộc vào một số yếu tố sau :
Sự sẵn có của các loại tài sản thay thế
Thời gian sửa chữa –xây dựng lại các tài sản bị thiệt hại bao gồm cả thời gianthu dọn hiện trường, thời gian lên kế hoạch, thời gian thiết kế và thời gian xincác loại giấy phép
Mức độ sẵn có của nguyên vật liệu
Thời gian sửa chữa lắp đặt máy móc thiết trang thiết bị
Khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của các đối thủ cạnh tranh kéo dài hơn
Thời gian giành lại khách hàng sau khi hoạt động kinh doanh được khôi phụchoàn toàn
Đặc điểm mùa vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh
Đây là một yếu tố quan trọng khi quyết định thời hạn bồi thường tối đa.Ví
dụ như một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh hàng hoá phục vụgiáng sinh có đặc điểm là hoạt động kinh doanh không diễn ra đều đặn trong cảnăm mà phần lớn doanh thu của doanh nghiệp thu được trong trong một vàitháng trước lễ giáng sinh Giả sử không may xảy ra một vụ hoả hoạn vào thờiđiểm gần kết thúc mùa kinh doanh, khi đó nếu thời hạn bồi thường tối đa đượclựa chọn là dưới 12 tháng thì sẽ không đủ dài để đưa người được bảo hiểm về vịtrí tài chính lẽ ra họ có nếu không xảy ra hoả hoạn
Thời gian tuyển và đào tạo nhân viên mới
Thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy có thểtrùng với thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt hoặc bắtđầu sau khi hợp đồng bảo hiểm tổn thất vật chất có hiệu lực nhưng phải khôngkéo dài quá thời điểm kết thúc của hợp đồng bảo hiểm đó Còn thời hạn bồi
Trang 11thường bắt đầu từ ngày xảy ra hoả hoạn trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồngkéo dài cho đến khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được khôi phụchoàn toàn mà không quan tâm đến việc hợp đồng có tiếp tục tái tụng hay không
2.1.3 Rủi ro được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy trừ những trường hợp loại trừ phải trùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt.
Điều kiện tiên quyết để người được bảo hiểm có quyền đòi bồi thường theođơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là “tại thời điểm xảy ra hoả hoạn,các thiệt hại vật chất của tài sản được bảo hiểm tại địa điểm được bảo hiểm phảiđược bảo vệ bởi đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt”
Việc đảm bảo có đơn bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt trước khi giaokết hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là cực kì quan trọng bởi:
Khi hoả hoạn xảy ra dẫn đến thiệt hại về tài sản được bảo hiểm của ngườitham gia tại địa điểm bảo hiểm, thì đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt sẽnhanh chóng bồi thường phần thiệt hại vật chất Do đó, người được bảo hiểm
có thể nhanh chóng phục hồi những thiệt hại đó Điều này có giúp tối thiểuhoá thiệt hại gián đoạn kinh doanh
Đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt là điều kiện cần để đơn bảo hiểm giánđoạn kinh doanh sau cháy được giao kết
Không những thế, đơn bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt sẽ thực hiện cáckhâu công việc như điều tra nguyên nhân gây ra tổn thất, xác định tráchnhiệm bồi thường khi phát sinh khiếu nại bồi thường Nếu bên phía bảo hiểmvất chất quyết định chấp thuận bồi thường thì phía bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh sau cháy cũng tự động chấp thuận bồi thường Điều này không chỉ cólợi cho phía bảo hiểm mà còn có lợi cho cả bênn tham gia bảo hiểm vì việcđiều tra, giám định tổn thất chỉ phải tiến hành một lần, giúp tiết kiệm thờigian và tiền cho cả hai bên
Theo đó, người ta không xét tới yếu tố doanh nghiệp tham gia đơn bảo hiểmcháy và các rủi ro đặc biệt đầy đủ hay không mà chỉ nhấn mạnh cần phải sựbảo vệ của đơn bảo hiểm tổn thất vật chất đối với tài sản được bảo hiểm.Rủi ro được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy,trừ những trường hợp loại trừ, phải trùng khớp với rủi ro trong bảo hiểm cháy vàcác rủi ro đặc biệt
Trang 122.2 Nội dung cơ bản trong hợp động bảo hiểm nói chung và trong hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng.
2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm.
2.2.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệpbảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảohiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngườiđược bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
2.2.1.2 Điều kiện pháp lý trong hợp đồng bảo hiểm
Có hai loại điều kiện được áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là:
Các điều kiện ngầm định trong hợp đồng bảo hiểm gồm có:
* Quyền lợi được bảo hiểm :
Giống như luật bảo hiểm của nhiều nước trên thế giới, trong luật bảo hiểmViệt Nam có quy định rõ về quyền lợi được bảo hiểm Theo đó, để có đủ nănglực pháp lý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải làngười có quyền lợi khi đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại Điều đó có nghĩa là đốitượng bảo hiểm, đặc biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu hayquyền quản lý hợp pháp của người tham gia bảo hiểm
* Trung thực tuyệt đối:
Điều kiện “Trung thực tuyệt đối” được áp dụng trong quan hệ kinh doanhbảo hiểm giữa người bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm Điều này cónghĩa, người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm trả lời trung thực và đầy đủtất cả các câu hỏi của người bảo hiểm trong phạm vi kiến thức và sự hiểu biếtcủa họ Bởi không giống như các hoạt đông kinh doanh thương mại khác, chỉ cóbên tham gia bảo hiểm là nắm rõ tất cả các thông tin, người bảo hiểm chỉ biếtnhững gì mà bên tham gia nói cho họ Những thôn tin này có vai trò quan trọngđối với người bảo hiểm bởi đó chính là căn cứ để người bảo hiểm quyết định cóchấp thuận hay từ chối? Nếu chấp thuận thì chấp thuận ở mức độ nào? Với điều
Trang 13kiện nào? Người tham gia bảo hiểm không được thực hiện bất cứ hành vi giandối nào trong thời hạn bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm.Việc tuân thủ đúngnguyên tắc này đóng vai trò quan trọng trong giao dịch bảo hiểm
* Bồi thường.
Khi có sự cố xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm gây thiệt hại cho người đượcbảo hiểm, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường theo đúng quy định của hợpđồng Hiện nay có 3 hình thức bồi thường được áp dụng:
Thanh toán bằng tiền mặt
Sửa chữa
Thay thế hay phục hồi
Hình thức bồi thường áp dụng khi giải quyết bồi thường của nghiệp vụ bảohiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là hình thức thanh toán bằng tiền mặt
b Điều kiện rõ ràng:
Cùng với nghĩa vụ thực hiện các điều kiện ngầm định, giữa người bảo hiểm
và người được bảo hiểm cũng có những điều kiện rõ ràng được quy định bằngvăn trong hợp đồng buộc hai bên cùng phải tôn trọng tuân thủ Các điều kiện này
sẽ được xem xét một cách cụ thể trong các phần tiếp theo của hợp đồng bảohiểm
2.2.1.3 Kết cấu và nội dung của hợp đồng bảo hiểm
Thông thường một đơn bảo hiểm bao gồm ba phần chính:
Giấy yêu cầu bảo hiểm
Giấy chứng nhận bảo hiểm
Mẫu đơn bảo hiểm
a Giấy yêu cầu bảo hiểm:
Giấy yêu cầu bảo hiểm là cách các công ty bảo hiểm thu thập thông tin cóliên quan tới rủi ro được bảo hiểm Giấy yêu cầu bảo hiểm gồm có các câu hỏichung - riêng, tất cả các câu hỏi đó đều có giá trị đối với doanh nghiệp bảohiểm Bởi đó chính là căn cứ để bên bảo hiểm nghiên cứu, cân nhắc quyết địnhchấp thuận hay từ chối bảo hiểm Người yêu cầu bảo hiểm phải kê khai đầy đủ,chính xác các thông tin mà phía bảo hiểm yêu cầu Đối với những thông tin bêntham gia bảo hiểm không đủ khả năng cung cấp đầy đủ theo yêu cầu của công tybảo hiểm thì công ty bảo hiểm hoàn toàn có quyền diễn giải theo ý nghĩa giatăng rủi ro trong khi xác định phí
Mỗi giấy yêu cầu bảo hiểm đều phải có một phần cam kết và một phầncảnh báo Nội dung của phần cam kết là thông tin do người yêu cầu bảo hiểmcung cấp “là hoàn toàn đúng sự thật trong giới hạn tối đa người đó biết và tin
Trang 14tưởng” Cam này là cần thiết để thỏa mãn các yêu cầu của nguyên tắc trung thựctuyệt đối.
Các đơn này có thể do công ty bảo hiểm gốc, môi giới bảo hiểm hay cáctrung gian bảo hiểm Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thường có những câu hỏichung như sau:
Đối với người tham gia yêu cầu bảo hiểm là cá nhân:
- Tên , địa chỉ nghề nghiệp tuổi tác của người yêu cầu bảo hiểm
- Thời hạn bảo hiểm
- Những khiếu nại trước kia và trong một số trường hợp là những hợp đồngbảo hiểm trước kia hay những hợp đồng bảo hiểm trước kia
Đối với trường hợp bên tham gia bảo hiểm là doanh nghiệp:
- Tên của người yêu cầu bảo hiểm (tên doanh nghiệp hoặc tên giao dịch củadoanh nghiệp)
- Địa điểm kinh doanh cũng như các địa điểm hoạt động kinh doanh kháccần được bảo hiểm của doanh nghiệp
- Đặc điểm ngành nghề kinh doanh, loại hình kinh doanh
- Thời hạn bảo hiểm
Bên cạnh đó, cũng có những câu hỏi liên quan trực tiếp đến rủi ro cụ thể.Nói cách khác, một đơn yêu cầu bảo hiểm chứa đựng các câu hỏi chung và riêngtất cả các câu hỏi đó đều có giá trị với doanh nghiệp bảo hiểm
Giấy yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng và là một phần khôngthể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm
b Giấy chứng nhận bảo hiểm:
Nếu đơn bảo hiểm được trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp thuậnbảo hiểm, thì công ty sẽ cấp cho người được bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theogiấy chứng nhận bảo hiểm Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằngchứng về việc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm nội dung chi tiết về việc bảohiểm
Giấy chứng nhận bảo hiểm là tài liệu chứng minh một đơn bảo hiểm đang
có hiệu lực Thông tin được nêu trong một giấy chứng nhận bảo hiểm do phápluật liên quan quy định
c Mẫu đơn bảo hiểm:
+ Mẫu đơn bảo hiểm là văn bản dưới hình thức hợp đồng soạn sẵn trong đóchỉ rõ các điều kiện, điều khoản của hợp đồng
+ Mẫu đơn bảo hiểm là giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa công ty bảo hiểm
và người được bảo hiểm đã nghiên cứu đơn và chấp thuận hợp đồng bảo hiểm
Trang 15+ Mẫu đơn bảo hiểm thể hiện rõ các điều kiện rõ ràng của một hợp đồngbảo hiểm Là căn cứ giải quyết các tranh chấp khiếu kiện có thể phát sinh trongthời hạn hợp đồng bảo hiểm.
+ Mẫu đơn bảo hiểm được xây dựng trên nguyên lý số đông của ngườitham gia bảo hiểm với một đối tượng có nhu cầu được bảo hiểm
+ Trong mẫu đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập đượccác nội dung chính sau :
- Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảohiểm hoặc người thụ hưởng
- Đối tượng bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
- Phạm vi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
- Thời hạn bảo hiểm
- Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí
- Thời hạn , phương thức bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm
- Các quy định giải quyết tranh chấp
- Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Ngoài ra nếu phía bảo hiểm muốn có thêm thông tin khác về đối tượngđược bảo hiểm ngoài những thông tin có trong giấy yêu cầu bảo hiểm thì có thểđưa ra các câu hỏi khác trong phụ lục hợp đồng Phụ lục hợp đồng thể hiện cácđặc điểm riêng có của người được bảo hiểm
2.2 Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy.
Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh giống như bất kỳ một hợp đồngbảo hiểm nào đều mang đầy đủ các nội dung cũng như đặc điểm của một hợpđồng bảo hiểm như đã đề cập ở trên Tuy nhiên, do tính đặc thù của nghiệp vụbảo hiểm này nên hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy còn mangnhững đặc điểm riêng so với các loại hợp đồng bảo hiểm khác
2.2.1 Một số khái niệm.
Có ba loại thiệt hại gián tiếp mà doanh nghiệp phải gánh chịu do hậu quảcủa vụ cháy của vụ cháy: thiệt hại về lợi nhuận thuần, các chi phí cố định màdoanh nghiệp vẫn phải tiếp tục chi trả và các khoản chi phí hoạt động gia tăng
Do đó để xác định rõ đối tượng bảo hiểm trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh sau cháy cần thống nhất một số khái niệm sau:
Trang 16- Doanh thu: là số tiền được trả hoặc có thể được trả cho doanh nghiệp chocác hàng hoá được bán hoặc phân phối cho các dịch vụ trong qua trình tiến hànhhoạt động kinh doanh tại địa điểm được bảo hiểm.
Doanh thu năm: Là khoản doanh thu lẽ ra đạt được trong 12 tháng nếukhông xảy ra hoả hoạn làm gián đoạn hoạt động kinh doanh
Doanh thu tiêu chuẩn: Là khoản doanh thu thu được trong thời hạn 12tháng ngay trước khi xảy ra hoả hoạn tương ứng với thời hạn bồi thường
- Chi phí khả biến: Là các khoản chi phí biến đổi liên tục, tỷ lệ so với khốilượng kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí bất biến: Là các khoản chi phí được ấn định về mặt số lượng,không phụ thuộc vào khối lượng công việc thực hiện được
- Lợi nhuận thuần: Là khoản chênh lệch giữa doanh thu và các chi phí hoạtđộng (chi phí bất biến và chi phí khả biến) nhưng phải được tính trước khi trừ đicác loại thuế tính trên thu nhập
- Lợi nhuận gộp
Có hai phương pháp để xác định lợi nhuận gộp:
Phương pháp thứ nhất là phương pháp chênh lệch
Theo phương pháp này, lợi nhuận gộp được tính bằng: Doanh thu cộng vớigiá trị sản phẩm dở dang cuối kì trừ đi giá trị sản phẩm dở dang đầu kì và chi phíhoạt động kinh doanh không được bảo hiểm
Giá trị tồn đầu kì và cuối kì được tính toán phù hợp với các phương pháp kếtoán thông thường của người được bảo hiểm và những khoản dự phòng thíchhợp do sụt giá
Phương pháp thứ hai là phương pháp gia tăng:
Theo phương pháp này, lợi nhuận gộp được tính bằng lợi nhuận thuần cộngvới chi phí bất biến
- Tỷ suất lợi nhuận gộp: Là tỷ lệ lợi nhuận lẽ ra có thể đạt được trên doanhthu có được trong thời hạn bồi thường nếu hoạt động kinh doanh không bị giánđoạn
- Thời hạn bảo hiểm: Là thời hạn ghi trong phụ lục hợp đồng Ngày bắt đầuthời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy có thể trùnghoặc muộn hơn ngày bắt đầu của đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt Ngàychấm dứt vào ngày được quy định cụ thể trong phụ lục có thể sớm hơn hoặctrùng với ngày chấm dứt hợp đồng bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt Điều này cónghĩa: thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nằmtrong thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt
Trang 17- Thời hạn bồi thường: Là khoảng thời gian mà trong suốt khoảng thời gian
đó, kết quả kinh doanh bị ảnh hưởng do hậu qủa cảu sự ngừng trệ kinh doanh,được tính từ ngày xảy ra hoả hoạn và không kéo dài hơn thời hạn bồi thường tối
đa do người được bảo hiểm do người được bảo hiểm lựa chọn
2.2.2 Đối tượng bảo hiểm.
Như đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanhsau cháy, đối tượng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình.Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy bồi thường cho phần lợi nhuận gộp bịmất vì doanh thu giảm và chi phí hoạt động gia tăng Không giống như các loạinghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tượng bảo hiểm là hữu hình, đốitượng bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói chung và bảo hiểmgián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng do tính trừu tượng Chính điều nàyđãgây không ít khó khăn cho các nhà bảo hiểm Đây cũng chính là lý do khiến chomột nghiệp vụ bảo hiểm quan trọng như bảo hiểm gián đoạn kinh doanh saucháy ra đời muộn hơn hẳn so với các nghiệp vụ bảo hiểm khác Theo đơn bảohiểm gián đoạn kinh doanh của Anh (ABI), thì đối tượng của bảo hiểm giánđoạn kinh doanh là “tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệ hay gián đoạnkinh doanh phát sinh sau một rủi ro hoả hoạn đối với đối tượng được bảo hiểmtại địa điểm được bảo hiểm”
2.2.3 Phạm vi bảo hiểm và rủi ro bảo hiểm.
a Phạm vi bảo hiểm:
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy chịu trách nhiệm bồi thường chophần mất lợi nhuận gộp của chủ doanh nghiệp do doanh thu giảm và chi phí hoạtđộng gia tăng với điều kiện:
1 Việc giảm doanh thu và tăng chi phí hoạt động là do tác động của bất cứtổn thất vật chất nào của hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời hạnbảo hiểm mà những tổn thất vật chất đó phải thuộc trách nhiệm bồithường của đơn bảo hiểm hoả hoạn và rủi ro đặc biệt
2 Việc giảm doanh thu và tăng chi phí hoạt động không phải do những tổnthất thuộc những điểm loại trừ áp dụng riêng cho loại hình bảo hiểm nàygây ra
Trách nhiệm của công ty bảo hiểm trong mọi trường hợp sẽ không vượtquá:
1 Tổng số tiền bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm tương ứng với mỗi khoảnmục được kê khai trong giấy chứng nhận bảo hiểm
Trang 182 Số tiền bảo hiểm còn lại sau khi đã bồi thường cho một tổn thất nào đó
do ngưng trệ hay ảnh hưởng kinh doanh nào khác là hậu quả của tổnthất, phá huỷ hay thiệt hại xảy ra trong thời hạn bảo hiểm nếu nhà bảohiểm hay người đại diện cho công ty bảo hiểm không thoả thuận khôiphục lại số tiền bảo hiểm ban đầu
Điều kiện 1 và 2 là hai điều kiện cần và đủ, tức là không thể thiếu một tronghai điều kiện Trong đó điều kiện 1 có tính chất bao trùm cần phải được xem xétđầu tiên khi giải quyết bất cứ khiếu nại nào
- Nếu điều kiện 1 không thoả mãn, thì không cần phải xét tới điều kiện 2cũng có thể kết luận khiếu nại đó không thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm
- Nếu điều kiện một thoả mãn thì ta mới xét đến điều kiện 2 Nếu điều kiện
2 cũng thoả mãn thì khiếu nại đó mới được kết luận là thuộc phạm vi bồi thườngcủa bảo hiểm này
Như vậy loại hình bảo hiểm này có mối liên hệ chặt chẽ với phần bảo hiểmthiệt hại vật chất thuộc đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt Do vậy, tốt hơn cả
là cả hai đơn bảo hiểm này đều được bảo hiểm tại cùng một công ty bảo hiểm,bởi điều này giúp người bảo hiểm quản lý rủi ro hiệu qủa nhất Chính vì thế, màhầu hết các công ty bảo hiểm trên thế giới đã ghép loại hình bảo hiểm gián nàyvào đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt và biến nó thành một bộ phận của đơnbảo hiểm này
Có một số tổn thất mà doanh nghiệp phải gánh chịu do hậu quả của vụ cháynhưng không được bồi thường trong cả đơn bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
và đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy Các tổn thất đó không đượcloại trừ một cách cụ thể trong hai đơn bảo hiểm này nhưng đó là các nằm ngoàiphạm vi bảo hiểm của các đơn bảo hiểm tiêu chuẩn, các tổn thất này bao gồm:
- Bảo hiểm thiệt hại vật chất dưới giá trị
- Chênh lệch giữa giá trị của hàng hóa tại thời điểm xảy ra thiệt hại với giátrị của hàng hoá tại thời điểm thay thế
- Giảm giá của hàng hoá không bị thiệt hại sau khi xảy ra cháy
- Chi phí chuẩn bị cho các khiếu nại đòi bồi thường bảo hiểm
- Chi phí tố tụng liên quan đến khiếu nại bảo hiểm
- Các khoản tiền phạt hay các khoản thiệt hại theo hợp đồng phát sinh từviệc vi phạm hợp đồng do vụ cháy gây ra (trừ khi có thoả thuận khác trong hợpđồng)
- Khiếu nại của bên thứ ba
- Tổn thất do mất tín nhiệm
Trang 19- Tổn thất do không đòi được các khoản nợ vì tài liệu ghi chép, lưu trữ bịphá huỷ
b Rủi ro có thể được bảo hiểm và rủi ro loại trừ:
Như đã trình bầy ở phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh saucháy thì rủi ro trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy, trừ nhữngtrường hợp loại trừ, phải trùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm cháy và rủi rođặc biệt Theo đó, ta có:
* Các rủi ro có thể được bảo hiểm:
Rủi ro là những sự cố không chắc chắn, rủi ro có thể được bảo hiểm chialàm hai loại:
- Một là: Rủi ro cơ bản như: Cháy, nổ, sét
Cháy: Bắt nguồn do nổ hoặc các nguyên nhân khác nhưng loại trừ cháy dođộng đất, núi lửa, hoặc các hiện tượng thiên nhiên khác, do tự lên men,toả nhiệt, hay bất cứ thiệt hại nào xảy ra dù bất ngờ hay không do hậu quảcủa việc cháy rừng, đồng cỏ hay do dùng lửa dọn đất
Sét: Chỉ bảo hiểm cho tác động của tia sét tới tài sản được bảo hiểm …
Nổ: Là hiện tượng cháy cực nhanh, tạo ra hoặc giải phóng một áp lực lớnkèm theo một tiếng động mạnh, phát sinh bởi sự giãn nở nhanh và mạnhcủa các chất lỏng, chất rắn và chất khí Chỉ bảo hiểm trong trường hợp nổnồi hơi và hơi đốt phục vụ sinh hoạt
- Hai là: Rủi ro phụ
Bên cạnh những rủi ro cơ bản, còn có một số rủi ro đặc biệt không nằmtrong rủi ro cháy nhưng có thể được lựa chọn để bảo hiểm cùng với rủi ro hoảhoạn thông qua việc mở rộng đối tượng bảo hiểm Chỉ có bảo hiểm cho nhữngrủi ro cơ bản mới bảo hiểm cho những rủi ro phụ Các rủi ro phụ gồm:
1 Máy bay và các phương tiện hàng không khác hoặc tài sản trên cácphương tiện đó rơi
2 Động đất, núi lửa phun bao gồm cả lụt và nước biển tràn vào do hậu quảcủa động đất và núi lửa
3 Giông bão, lũ lụt, mưa đá
4 Vỡ hay tràn nước từ các bể chứa nước, thiết bị đựng nước hay đường ốngdẫn nước nhưng loại trừ tài sản bị phá huỷ hay hư hại do nước chảy, rò rỉ
từ hệ thống thiết bị phòng cháy tự động
5 Gây rối, đình công, bãi công, sa thải
Trang 20* Các rủi ro không được bảo hiểm:
Đây là những rủi ro được cụ thể hoá trong hợp đồng bảo hiểm vì phần loạitrừ thường là phần gây ra tranh chấp giữa hai bên khi giải quyết khiếu nại bồithường Rủi ro không được bảo hiểm bao gồm:
Các thiệt hại do nổi loạn , bạo động dân sự, quần chúng nổi dậy , bãi công, sathải công nhân, chiến tranh xâm lược các hành động thù địch của nướcngoài, chiến sự nổi loạn, cách mạng binh biến bạo động, đảo chính, khủng
bố hay bất cứ nguyên nhân nào quyết định việc tuyên bố duy trì và duy trìtình trạng bao vây, thiết quân luật
Những thiệt hại cho bất cứ tài sản tổn thất hay chi phí phát sinh hay tổn thấthậu quả nào trực tiếp hay gián tiếp gây ra cấu thành hoặc phát sinh từ vũkhí hạt nhân …
Những thiệt hại do ô nhiễm môi trường nhưng không loại trừ tổn thất phátsinh từ thiệt hại cho tài sản của người được bảo hiểm sử dụng trong nhàcho mục đích kinh doanh mà không loại trừ ở mục khác gây ra bởi: ônhiễm tại khu nhà được bảo hiểm nếu sự ô nhiễm này phát sinh bởi rủi rođược bảo hiểm hay bất kì rủi ro nào phát sinh do hậu quả của sự ô nhiễm
2.2.4 Số tiền bảo hiểm.
Khác với các số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm khác, số tiềnbảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy được xác định dựa trên giá trị lợi nhuậngộp hàng năm của doanh nghiệp tham gia bảo hiểm Số tiền bảo hiểm trong loạihình bảo hiểm này do người được bảo hiểm xác định dựa trên số liệu sổ sách kếtoán của người được bảo hiểm có sự điều chỉnh với tốc độ tăng trưởng doanh thu
và lạm phát trong tương lai để đảm bảo thể hiện được giá trị lợi nhuận gộp ướctính đạt được trong tương lai của doanh nghiệp được bảo hiểm
Để xác định giá trị đó, số liệu kế toán của năm tài chính gần nhất sẽ được
sử dụng Song, để loại trừ ảnh hưởng của những biến động bất thường tới độchính xác của số liệu thì người ta thường sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc banăm liên tiếp
Nếu thời hạn bồi thường lớn hơn 12 tháng thì số tiền bảo hiểm sẽ là lợinhuận gộp của thời gian đó tức là số tiền bảo hiểm sẽ tăng lên một cách tỷ lệ (ví
dụ thời hạn bồi thường là 12 tháng thì số tiền bảo hiểm sẽ bằng 1,5 lần lợi nhuậngộp hàng năm)
Tuy nhiên, mục đích của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không chỉ bảohiểm cho phần lợi nhuận bị mất so với cùng kỳ năm trước mà còn bồi thườngthêm cả phần lợi nhuận họ sẽ đạt được theo tỷ lệ tăng doanh thu bình quân Do
Trang 21vậy để tránh sự đánh giá thấp số tiền bảo hiểm, người ta còn tính đến hệ số tăngdoanh thu bình quân của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách sosánh nhiều năm tài chính dựa trên cơ sở tính toán trước khi kí kết hợp đồng giánđoạn kinh doanh sau cháy Bằng cách đó người ta có thể tính được số tiền bảohiểm Trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy thông thường, số tiềnbảo hiểm sẽ giảm đi một khoản tương ứng với khoản tiền bồi thường cho tới khiđáo hạn hợp đồng Khi đó, nếu người bảo hiểm muốn được bảo hiểm đầy đủ thìcần phải thảo luận với bên bảo hiểm để tiến hành các bước cần thiết để phục hồi
số tiền bảo hiểm
Để thấy rõ hơn vấn đề này chúng ta cùng xem xét ví dụ sau:
Giả sử vào ngày 1/12 trước khi kết thúc năm tài chính, chủ doanh nghiệpgửi đơn yêu cầu mua bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy đến doanh nghiệpbảo hiểm Sau khi thảo luận hai bên cùng đi đến thống nhất một số điểm sau:
- Thời hạn bồi thường tối đa là 12 tháng
- Chi phí hoạt động không được bảo hiểm bao gồm :
100% chi phí nguyên vật liệu
100% chi phí bao gói
100 % chi phí vận chuyển
100% các khoản nợ phải thu khó đòi
- Và người yêu cầu bảo hiểm còn yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm cho 80%chi phí thắp sáng và qua chi phí về điện
Từ giả thiết trên ta có:
Trang 22Do người yêu cầu bảo hiểm yêu cầu người bảo hiểm, bảo hiểm cho 80% chiphí thắp sáng và chi phí đốt nóng, bỏ qua chi phí về điện nên trong phần chi phíhoạt động không được bảo hiểm phải tính thêm 20 % chi phí thắp sáng, và 100
% chi phí về điện Hay ta có:
Giả sử, tỷ lệ lạm phát tăng lên 10%, và doanh nghiệp hi vọng tiếp tục duytrì được tốc độ tăng trưởng doanh thu ở mức 10%
Khi đó ta có:
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu tính cho
994.400
Giả sử vào ngày 31/12 năm thứ ba thì xảy ra hoả hoạn Thời hạn bồi thường
sẽ bắt đầu từ ngày 31/12/năm thứ tư và kéo dài cho tới khi kết quả hoạt độngkinh doanh của người bảo hiểm trở về vị trí đáng lẽ ra đạt được nếu không xảy
ra hoả hoạn hoặc tới khi hết thời hạn bồi thường tối đa Do vậy, con số lợi nhuậngộp có thể cần phải được điều chỉnh cho tới hết thời hạn bồi thường tối đa
Lúc này ta có số liệu như sau:
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu tính cho năm bảo hiểm 10% 90.400
Trang 23Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu tính cho thời hạn bồi thường 90.400
tối đa
1.175.200 là con số phỏng đoán, rằng trong năm bảo hiểm và năm tiếp sautốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp được duy trì với mức 10 % Sốlợi nhuận gộp thu được sau khi điều chỉnh: 1.175.000 là số tiền bảo hiểm nhỏnhất Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanhthu cao hơn thì rõ ràng trường hợp này sẽ rơi vào trường hợp bảo hiểm dưới giátrị, khi đó người được bảo hiểm phải tự chịu một phần thiệt hại dưới giá trị đó
2.2.5 Phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy được tính trên cơ sở số tiềnbảo hiểm do người được bảo hiểm chọn (gọi là số tiền đăng kí) Để đăng kí mộthợp đồng bảo hiểm thiệt hại kinh doanh sau cháy, người bảo hiểm phải thôngbáo một loạt số liệu về kế toán, đặc biệt là tài khoản kết quả sản xuất kinh doanhthực hiện được một số năm trước đó Căn cứ vào tài liệu này cộng thêm với lờikhai báo , hai bên thoả thuận với nhau về số tiền bảo hiểm Việc đi đến thoảthuận về số tiền bảo hiểm có ý nghĩa hết sức quan trọng cho công tác tính phí vìthực chất phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy được xác định như sau:
gián đoạn kinh doanh
Tỷ lệ phí bảo hiểm lại phụ thuộc vào nhân tố:
Rủi ro vật chất (thể hiện bằng tỷ lệ phí bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt)
Giai đoạn bồi thường
Rủi ro gián đoạn kinh doanh
Để xác định tỷ lệ phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy đầu tiêncông ty bảo hiểm sẽ xác định tỷ lệ phí bảo hiểm chung bình của các hàng hoá,máy móc thiết bị được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm vật chất Tỷ lệ phí này được
Năm bảo hiểm
Thời hạn bồi thường
Thời điểm yêu cấu bảo hiểm Thời điểm xảy ra hoả hoạn
904.000 994.400 1.084.800 1.175.200
(Nguồn: hình 7/28 – Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh lý thuyết và thực hành)
Trang 24gọi là tỷ lệ phí cơ bản Trên cơ sở tỷ lệ phí này, người ta sẽ thực hiện một sốđiều chỉnh theo giai đoạn bồi thường nhằm tạo ra tỷ lệ phí bảo hiểm lợi nhuậngộp.
Nhân tố, rủi ro gián đoạn kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới tỷ lệ phíbảo hiểm gián đoạn kinh doanh Rủi ro gián đoạn kinh doanh là các điều kiệnthuận lợi hay bất lợi làm tăng hoặc làm cản trở qúa trình khôi phục hoạt độngsản xuất kinh doanh sau khi xảy ra rủi ro được bảo hiểm Các rủi ro đó có thểbao gồm: sự khó khăn trong việc thay thế máy mớc, trang thiết bị, nguyên vậtliệu, đặc điểm ngành nghề kinh doanh… Theo đó, để tính đến các rủi ro giánđoạn này, người bảo hiểm sẽ tỷ lệ phí bảo hiểm lợi nhuận gộp ở trên
2.2.6 Phương thức bồi thường.
Bồi thường là nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm Trong bảo hiểm gián đoạnkinh doanh sau cháy, rất khó xác định số tiền bồi thường mặc dù đã có công thứcxác định cách giải quyết tổn thất được ghi trong nội dung đơn bảo hiểm Kế toáncủa người được bảo hiểm thường tham gia xác định mức lãi kinh doanh củadoanh nghiệp sẽ thu được nếu như hoả hoạn hay một hiểm hoạ nào đó khôngxảy ra
Bồi thường trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy khác với bồithường trong thiệt hại vật chất Nếu như mục đích của bảo hiểm trong các đơnbảo hiểm vật chất là đưa người được bảo hiểm trở về vị trí tài chính giống nhưtrước khi xảy ra tổn thất, thì đối với nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanhsau cháy lại không hoàn toàn như vậy Chúng ta hãy xem xét một ví dụ ngắn: Một nhà sản xuất hàng phục vụ lễ Giáng Sinh, và hiện giờ hàng đang ởtrong kho chờ ngày đem bán Một vụ cháy xảy ra ở nhà kho, phá huỷ gần hết sốhàng phục vụ cho Giáng Sinh Như vậy chúng ta sẽ thấy ngay một số nhân tốkhiến hầu như không thể đưa người được bảo hiểm trở về vị trí tài chính giốngnhư trươc khi xảy ra tổn thất Thực tế hiển nhiên là, chẳng hạn trong vòng mộttháng tới nhà sản xuất này hẳn sẽ hi vọng sẽ thu được phần lớn doanh thu của cảnăm Nhà sản xuất trong hiện tại không thể thực hiện được điều này và sẽ bỏ lỡthị trường Vì vậy việc đưa người sản xuất về vị trí tài chính như truớc khi tổnthất xảy ra sẽ không cung cấp được một số tiền để có thể bù đắp được tổn thấtthực sự của nhà sản xuất Do đó, đối với đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh saucháy, bồi thường có thể có thể được coi là nỗ lực đưa người được bảo hiểm về vịtrí tài chính mà lẽ ra người đó phải có nếu không xảy ra hoả hoạn
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện qua doanhthu đạt được Doanh thu thường được sử dụng làm căn cứ để xác định mức độ
Trang 25ảnh hưởng của hoả hoạn dẫn đến hoạt động kinh doanh bị gián đoạn hay ngưngtrệ
Doanh thu được chia làm ba bộ phận chính
Giả định, mỗi đơn vị doanh thu bao gồm 0,6 đơn vị chi phí bất biến, 0,3đơn vị chi phí khả biến và 0,1 đơn vị lợi nhuận ròng Khi tổn thất xảy ra dẫn đếnhoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn thì chủ doanh nghiệp không phảigánh chịu tổn thất của cả một đơn vị doanh thu đó chỉ phải gánh chịu 0,4 đơn vịchi phí cố định và lợi nhuận ròng vì doanh thu giảm thì chi phí biến đổi cũnggiảm tương ứng Nếu chủ doanh nghiệp tham gia bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh sau cháy thì người bảo hiểm chỉ cần bồi thường 0,4 đơn vị là đủ để có thểđưa người được bảo hiểm về vị trí tài chính mà lẽ ra người đó có nếu như tổnthất không xảy ra
Tuy nhiên, đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy không những đồng
ý bồi thường cho phần lợi nhuận gộp thiệt hại mà còn bồi thường cả phần chi phíhoạt động gia tăng
Chi phí hoạt động gia tăng là những khoản chi cần thiết, hợp lý nhằm tốithiểu số hoá thiệt hại về lợi nhuận gộp Nếu hợp đồng bảo hiểm là hợpđồng đầy đủ và khoản chi không vượt quá con số xác định bằng cách lấy
tỷ lệ lợi nhuận gộp nhân với doanh số được phục hồi nhờ bỏ ra chi phí
đó thì chi phí hoạt động gia tăng này sẽ được bảo hiểm toàn bộ Hợpđồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy không giới hạn bất cứkhoản chi phí nào bởi không ai có thể dự đoán trước chính xác nhữngkhoản chi phí cần thiết, hợp lý cần phải thực hiện sau khi xảy ra tổn thất.Đối với một khiếu nại bồi thường có giá trị lớn, khoản chi phí hoạt động giatăng thường chiếm một tỷ lệ tương đối lớn Khoản chi giúp chủ doanh nghiệp tốithiểu hoá thiệt hại lợi nhuận gộp hay chính là tối thiểu hoá số tiền bồi thườngcủa người bảo hiểm
Trang 26Số tiền có thể được bồi thường theo đơn bảo hiểm này là
Đối với thiệt hại về lợi nhuận gộp:
Là số tiền được tính toán bằng cách lấy tỷ suất lợi nhuận gộp nhân với hiệu
số giữa doanh thu có thể đạt được nếu không xảy ra tổn thất trừ đi doanh thuthực sự đạt được trong thời hạn bồi thường
Thông thường tỷ lệ lợi nhuận gộp thường được giả định là không đổi quacác năm, đó là một giả định có thể chấp nhận được và tương đối hợp lý Nhưngthực tế tỷ lệ này có thể thay đổi do ảnh hưởng của các sự kiện không lường trướcđược… Do đó trong đơn bảo hiểm thườngcó các điều khoản ghi chú thểm rằngtrong một số trường hợp ngoại lệ tỷ lệ lợi nhuận gộp cũng như giá trị thiệt hại vềdoanh thu có thể được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế
Đối với chi phí hoạt động gia tăng:
Là khoản chi phí tăng thêm cần thiết và hợp lý nhằm tránh hoặc hạn chếviệc giảm doanh thu mà nếu không có khoản chi này thì không tránh khỏi giảmdoanh thu hoặc gia tăng hơn Nhưng số tiền bồi thường cho phần chi phí nàykhông vượt quá số tiền tính được bằng cách lấy tỷ suất lợi nhuận gộp nhân vớidoanh số được phục hồi nhờ bỏ ra chi phí đó
Điều kiện được bảo hiểm
Để được bảo hiểm người được bảo hiểm phải:
1 Trong trường hợp xảy ra một thiệt hại nào đó có thể sẽ được bồi thườngtheo đơn bảo hiểm này người được bảo hiểm sẽ:
Thông báo ngay cho nhà bảo hiểm
Có trách nhiệm và được phép thực hiện những hành động hợp lý để giảmthiểu hoặc kiểm tra sự ngừng trệ hoặc ảnh hưởng có thể xảy ra cho doanh nghiệp
Các bước tính số tiền bồi thường:
- Bước 1: Xác định tỷ lệ lợi nhuận gộp trong doanh thu (dựa vào báo cáo tàichính các năm trước)
Trang 27- Bước 2: Xác định thiệt hại về doanh thu: So sánh doanh thu trong thờigian bồi thường với doanh thu trước khi xảy ra thiệt hại.
- Bước 3: Xác định thiệt hại về lợi nhuận gộp
Thiệt hại về lợi = Tỷ lệ lợi nhuận gộp Thiệt hại
- Bước 4: Xác định phần chi phí hoạt động gia tăng cần thiết hợp lý nhằmngăn ngừa hạn chế tổn thất xảy ra thêm
- Bước 5: Xác định khoản chi phí tiết kiệm được(Tức là các khoản chikhông phải tiếp tục trả do hậu quả của vụ cháy)
- Bước 6: Xác định số tiền bồi thường
Ngoài ra, khi tham gia bảo hiểm dưới giá trị tức số tiền bảo hiểm nhỏ hơngiá trị xác định được bằng cách lấy tỷ lệ lợi nhuận gộp nhân với doanh thu hàngnăm thì số tiền bảo hiểm cũng giảm đi một tỷ lệ tương ứng
Để hiểu rõ hơn chúng ta hãy cùng xem xét một ví dụ sau:
Xét một đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy thông thường, không
có đặc điểm đặc biệt về nghành nghề kinh doanh, hoạt động kinh doanh diễn rađều đặn trong năm
Giả sử :
Lợi nhuận gộp năm trước khi xảy ra hoả hoạn : 250.000
Doanh thu 12 tháng trước khi xảy ra hoả hoạn:
Trang 28Số tiền bảo hiểm cho lợi nhuận gộp ước tính đạt được
bao gồm cả lương trả cho công nhân viên là : 300.000
Chi phí hoạt động gia tăng doanh nghiệp phải chi ra nhằm
tối thiểu hóa thiệt hại doanh thu trong thời hạn bồi thường : 75.000
(bao gồm chi phí thuê nhà tạm trong khi tài sản của doanh nghiệp đang trongquá trình sửa chữa, tiền công trả cho công nhân làm thêm giờ và một số chi phíkhác)
Trong thời hạn bồi thường chi phí tiết kiệm được : 27.500
(khoản tiền thuê tài sản tiết kiệm được do không thể thuê được tài sản)
Theo số liệu giả định ở trên, tổn thất được xác định như sau:
- Bước 1: Xác định tỷ lệ lợi nhuận gộp
Lợi nhuận gộp được đảm bảo
Tỷ lệ lợi nhuận gộp =
Doanh thu
Trang 29250
100.000
- Bước 2: Xác định giá trị thiệt hại về doanh thu:
Doanh thu lẽ ra thực hiện được ước tính là: 825.000
Doanh thu thực tế đạt được trong thời hạn bồi thường là: 400.000
Khi đó thiệt hại doanh thu thực tế không chỉ là 390.000 mà sẽ là kết quảcủa phép tính:
- Bước 3: Xác định thiệt hại về lợi nhuận gộp
Người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều nhất trí cho rằng không cóbất cứ bằng chứng nào chứng tỏ có sự thay đổi tỷ lệ lợi nhuận gộp hay nói cáchkhác tỷ lệ lợi nhuận gộp không thay đổi Khi đó ta có:
Thiệt hại về lợi = Tỷ lệ lợi nhuận gộp Thiệt hại
= 0.25425.000
Trang 30- Bước 4: Xác định chi phí hoạt động gia tăng được bảo hiểm
Theo số liệu ban đầu ta có: Tỷ lệ lợi nhuận gộp doanh số được phục hồinhờ bỏ ra chi phí này = 25% 300.000 = 75.000
Ta thấy chi phí hoạt động gia tăng là 75.000, không lớn hơn khoản lợinhuận gộp được bảo hiểm nên khoản chi phí này được bảo hiểm đầy đủ
- Bước 6: Xác định số tiền bồi thường
thường
Ta có:
Doanh thu 12 tháng trước khi xảy ra hoả hoạn : 1.040.000
Doanh thu lẽ ra thu được trong 12 tháng nếu hoạt
động kinh doanh diễn ra bình thường ( được xác định dựa
doanh thu 12 tháng trước khi xảy ra tổn thất có sự điều
chỉnh với tốc độ tăng trưởng doanh thu và ảnh hưởng
Lợi nhuận gộp lẽ ra đạt được = 0.25 1.086.000
trong thời hạn bồi thường
Đơn bảo hiểm này là đơn bảo hiểm hơn giá trị Hay nói cách khác, sốthiệt hại lợi nhuận gộp 153.750 $ sẽ được bồi thường 100%
Trang 31Khi khoản thiệt hại lợi nhuận gộp được nhà bảo hiểm bồi thường thì ngườiđược bảo hiểm được đưa về vị trí tài chính lẽ ra người đó phải có nếu không xảy
ra hoả hoạn làm gián đoạn kinh doanh
Có thể tóm tắt như sau:
trong 12 tháng
+
Trang 32Chương II : THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH SAU CHÁY TẠI BẢO VIỆT HÀ NỘI
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VIỆT HÀ NỘI
1.1 Giới thiệu chung về Bảo Việt Hà Nội
Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam gọi tắt là Bảo Việt (tiền thân là công tyBảo Hiểm Việt Nam) được thành lập theo quyết định số 179/CP ngày 17/2/1964của thủ tướng chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/1965 BảoViệt là doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh bảo hiểm, có nhiệm vụthành lập quỹ dự trữ bảo hiểm từ sự đóng góp tham gia của các cá nhân, đơn vịsản xuất kinh doanh
Công ty Bảo Hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội), được thành lập từnăm 1980 theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB ngày 17/11/1980 của bộ TàiChính có tên gọi là chi nhánh bảo hiểm Hà Nội và trực thuộc Tổng công ty bảohiểm Việt Nam Nhiệm vụ chủ yếu của Bảo Việt Hà Nội là tổ chức hoạt độngkinh doanh bảo hiểm thương mại trên địa bàn thành phố, trụ sở đặt tại số 7- LýThường Kiệt – Hà Nội
Từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước có những bước chuyểnmình căn bản, đặt bảo hiểm thương mại trước những yêu cầu mới của sự nghiệpđổi mới xây dựng đất nước Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 17/2/1989, Bộ Tài Chính
ra quyết định số 27/TCQĐ-TCCB chuyển chi nhánh bảo hiểm Hà Nội thànhcông ty bảo hiểm Hà Nội ( gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội ), có trụ sở tại 15C - TrầnKhánh Dư – Hà Nội
Trải qua hơn 20 năm hoạt động liên tục, công ty Bảo Việt Hà Nội đãkhông ngừng lớn mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu Ban đầu thành lập, công
ty chỉ có vẻn vẹn 10 cán bộ với một phòng nhỏ làm trụ sở chính, tới nay BảoViệt Hà Nội đã trở thành một đơn vị kinh tế lớn mạnh với đội ngũ hàng trăm cán
bộ bảo hiểm, có trụ sở chính bề thế khang trang, thành lập văn phòng trực thuộctại tất cả các quận huyện trên địa bàn Hà Nội cùng đội ngũ cộng tác viên đại lýphủ kín trên địa bàn dân cư thành phố thành phố Sẵng sàng đáp ứng yêu cầu củamọi tầng lớp nhân dân, trở thành một đơn vị chủ lực của Tổng công ty bảo hiểmViệt Nam
Trang 331.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo Việt Hà Nội
Hiện nay cơ cấu tổ chức của Bảo Việt Hà Nội được biểu hiện qua sơ đồdưới đây:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Bảo Việt Hà Nội:
Như vậy, tại công ty Bảo Việt Hà Nội, giám đốc là người điều hành caonhất về toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty giúp việc cho giám đốc là haiphó giám đốc Mỗi phó giám đốc quản lý một số phòng trên công ty và một sốphòng đại diện trực thuộc
Cơ cấu văn phòng Bảo Việt Hà Nội hiện nay được chia làm hai bộ phận:Thứ nhất là: Bao gồm 7 phòng chức năng (phòng tổng hợp, phòng hànhchính quản lý, phòng giám định bồi thường …) và 5 phòng nghiệp vụ (phònghàng hải, phòng phi hàng hải, phòng quốc phòng …) tại trụ sở công ty Trong
đó, năm phòng nghiệp vụ cùng với phòng marketing có nhiệm vụ trực tiếp tiếnhành triển khai các nghiệp vụ, giải quyết các khiếu nại bồi thường thuộc phâncấp Ngoài ra, các phòng này còn có nhiệm vụ giúp đỡ các phòng đại diện tại các
Trang 34quận huyện trong quan hệ với khách hàng, cân nhắc chấp nhận bảo hiểm, pháthành hợp đồng, xử lý khiếu nại, giám định bồi thường thuộc phân cấp
Các phòng nghiệp vụ và các phòng chức năng có quan hệ mật thiết vớinhau và cùng phối hợp với ban giám đốc thực hiện quản lý, đánh giá tình hìnhhoạt động kinh doanh, đưa ra các quy định nghiệp vụ, đề ra các biện pháp đốiphó kịp thời với tình hình cạnh tranh trên thị trường
Thứ hai là: 14 phòng đại diện tại tất cả các quận huyện, nhiệm vụ của cácphòng này là triển khai phát triển địa bàn Sang tới 2004, được sự cho phép củaTổng công ty, Bảo Việt Hà Nội không lấy tên quận huyện làm tên phòng màchuyển sang đánh thứ tự 1,2,3… ví dụ: phòng 1 là phòng Hoàn Kiếm, phòng 2 làphòng Ba Đình …nhằm nâng cao tính chủ động kinh doanh của các phòng tạođiều kiện thuận lợi cho các phòng trong khai thác trên địa bàn
Ngoài ra, công ty còn có một hệ thống đại lý cộng tác viên rộng khắp đượcquản lý thống nhất bởi phòng quản lý đại lý
Với mô hình này, việc quản lý chung của Bảo Việt Hà Nội khá chặt chẽ cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu
1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Hà Nội (1999-2003).
Trong vài năm trở lại đây, kinh tế xã hội cả nước nói chung và Hà Nội nóiriêng tiếp tục phát triển ổn định Đây là một nhân tố thuận lợi cho công tác khaithác kinh doanh bảo hiểm của bảo hiểm Việt Nam cũng như của Bảo Việt HàNội Hơn thế Bảo Việt Hà Nội còn nhận được sự quan tâm chỉ đạo và ủng hộcủa lãnh đạo Tổng công ty, sự hợp tác giúp đỡ thường xuyên của các phòng banthuộc Tổng công ty, cán bộ công nhân viên bảo hiểm của Bảo Việt Hà Nội từngbước tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động cạnh tranh Và trong bất kì hoàn cảnhnào, cán bộ công nhân viên của công ty cũng luôn đoàn kết nhất trí trên dướimột lòng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Tổng công ty và nhà nước giao phó Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam có
sự thay đổi cơ bản về bản chất, đó là do việc ban hành nghị định 100/CP ngày18/12/1993 và nghị định 74/CP ngày14/6/1997 đã phá vỡ thế độc quyền của BảoViệt Hoạt động kinh doanh của công ty do đó cũng gặp nhiều khó khăn hơn domức độ cạnh tranh của thị trường bảo hiểm cao hơn những năm trước Hà Nội –trái tim của cả nước, đầu não kinh tế chính trị quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá– khoa học – giáo dục –kinh tế và giao dịch quốc tế, một trong những thành phố
có các hoạt động kinh doanh diễn ra sôi động nhất Thủ đô Hà Nội là một thịtrường giàu tiềm năng và cơ hội để phát triển dịch vụ bảo hiểm Hiện, trên địa
Trang 35bàn Hà Nội có 13 trên tổng số 14 công ty bảo hiểm phi nhân thọ tham gia và chútrọng đầu tư, phát triển Bảo Việt Hà Nội không những phải cạnh tranh vớinhững công ty bảo hiểm trên thị trường khác về tỷ lệ phí, chi phí kinh doanh màcòn phải cạnh tranh cả về những yếu tố phục vụ khác Việc mở rộng hoạt độngkinh doanh của các công ty bảo hiểm nước ngoài là cho tính cạnh tranh giữa cáccông ty bảo hiểm trước đã gay gắt nay càng thêm khốc liệt tất yếu dẫn tới việcgiảm phí bảo hiểm hay phải chia xẻ phí do đồng bảo hiểm, đặc biệt là trong cácnghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm Kết quả kinh doanh của BảoViệt Hà Nội giai đoạn 1999-2003 thể hiện bảng số liệu 1 dưới đây:
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của Bảo Việt Hà Nội (1999-2003)
Đứng trước những khó khăn thách thức trên Bảo Việt Hà Nội không ngừngtìm hiểu, nghiên cứu và luôn nhanh nhạy trong kinh doanh, có sự kết hợp linhhoạt các chính sách của chính phủ , các quy định của Tổng công ty với các biệnpháp của mình để có thể đứng vững và tăng trưởng cao Một trong những biệnpháp quan trọng mà Bảo Việt Hà Nội đang áp dụng nhằm nâng cao chất lượngdịch vụ, đảm bảo khả năng cạnh tranh là thay đổi phương thức hạch toán kinhdoanh Theo phương thức mới này công ty sẽ giao khoán cụ thể hoạt động kinh
Trang 36doanh cho từng phòng và các phòng phải có nhiệm vụ hỗ trợ nhau để thực hiệncác chỉ tiêu kinh doanh đó.
Kết quả là sang tới năm 2002 doanh thu phí đã đạt được 95.100 triệu đồng
và 2003 là 131.214 triệu đồng bằng 113,2% mức kế hoạch mà Tổng công tygiao, tăng trưởng xấp xỉ 38% so với năm 2002 Điều này, chứng tỏ công ty đangtừng bước đi đúng hướng dần đạt được những mục tiêu đã đề ra, thích nghi vớimôi trường kinh doanh mới
Có được kết qủa này một phần là nhờ vào sự quan tâm chỉ đạo và ủng hộgiúp đỡ của lãnh đạo Tổng công ty, lãnh đạo các cơ quan ban nghành thành phố.Phần còn lại là kết qủa từ chính nỗ lực của cán bộ công nhân viên Bảo Việtcũng như kết quả từ chất lượng dịch vụ mà Bảo Việt Hà Nội dành cho kháchhàng của mình Bảo Việt Hà Nội đang dần tạo cho mình một phong cách riêngmột nét riêng:
“Nền nếp khoa học trong kinh doanh, thân thiện coi trọng quyền lợi của kháchhàng”
Với phương châm: “Phục vụ khách hàng là phục vụ chính mình” và “Đáp ứngcái khách hàng cần chứ không phải những gì mình có” Bảo Việt Hà Nội khôngngừng đổi mới phong cách làm việc để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn
Vì vậy, Bảo Việt Hà Nội vẫn luôn là người bạn đồng hành tin cậy của kháchhàng
Công tác giám định bồi thường của Bảo Việt Hà Nội cũng có những bước cảithiện đáng kể, với sự giúp đỡ của Tổng công ty, Bảo Việt Hà Nội đã giải quyếttôt các khiếu nại bồi thường thuộc phân cấp nhanh chóng, chính xác góp phầnnâng cao uy tín với khách hàng
Các mặt hoạt động khác như: công tác tổng hợp, công tác đào tạo, công táctuyên truyền quảng cáo, công tác kế toán- tài chính, công tác tin học… cũngtừng bước được cải thiện đáng kể
II.THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁNĐOẠN KINH DOANH SAU CHÁY TẠi BẢO VIỆT HÀ NỘI (1999-2003)
2.1 Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián doạn kinh doanh sau cháytại Bảo Việt Hà Nội
Bảo hiểm hoả hoạn là nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện từ lâu trong lịch sửphát triển của nghành bảo hiểm Hiện nay, trên thế giới, bảo hiểm hoả hoạn đãphát triển mạnh mẽ và trở thành nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống với số phí bảohiểm hàng năm thu được rất cao Đơn cử như ở Nhật Bản, doanh thu phí bảo
Trang 37hiểm hoả hoạn thường vào khoảng 10 tỷ USD chiếm khoảng 15,5% doanh thuphí bảo hiểm phi nhân thọ Nhưng tại Việt Nam nói chung và tại Bảo Việt HàNội nói riêng thì mãi cho tới ngày 17/1/1989 nghiệp vụ bảo hiểm cháy (hay còngọi là bảo hiểm hoả hoạn) mới chính thức được triển khai theo quyết định số 06/TC-QĐ của bộ Tài Chính Ngay sau khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm nàynhanh chóng khẳng định ngay vai trò quan trọng của nó quả doanh thu phí thu
về hàng năm đều tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của toàn công
ty Như năm 2003 doanh thu phí nghiệp vụ bảo hiểm này đạt 11,039 tỷ đồngchiếm gần 8,5% tổng doanh thu
Bảo hiểm gián doạn kinh doanh sau cháy tuy là một nghiệp vụ mở rộngphạm vi của bảo hiểm cháy nhưng đóng vai trò không kém phần quan trọngtrong việc giúp đỡ người được bảo hiểm nhanh chóng phục hồi hoạt động sảnxuất kinh doanh so với bảo hiểm hoả hoạn
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy ra đời nhằm khắc phục những mặt cònthiếu, còn hạn chế của bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt Tuy nhiên, thực tếnghiệp vụ bảo hiểm này không ra đời cùng thời điểm với bảo hiểm cháy bắt đầutriển khai mà phải cho tới năm 1994, bảo hiểm gián doạn kinh doanh sau cháymới bắt đầu được đưa vào thử nghiệm… Hiện nay, nghiệp vụ bảo hiểm nàyđược triển khai trên cơ sở mẫu đơn của Anh Từ khi đưa vào triển khai doanhthu phí cũng như số đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy do Bảo Việt
Hà Nội kí với khách hàng chưa nhiều chưa đáp ứng được quy luật số lớn
Năm 1996 sau 2 năm triển khai số đơn khai thác được mới chỉ là 8 đơn.Đến năm 2003, sau gần 10 năm triển khai số đơn khai thác được coi là nhiềunhât cũng mới chỉ dừng lại ở con số 102 đơn, con số còn quá ư khiêm tốn so với
số đơn khai thác được của các nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống khác ví dụ nhưnghiệp vụ bảo hiểm vật chất ô tô có số đơn bảo hiểm khai thác được trong năm
2003 là gần 8000 đơn hay nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm chủ xe cơ giới đốivới người thứ 3 là trên 25.000 đơn
2.2 Thực trạng tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián doạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội (1999-2003).
Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm nói chung, việc triển khai nghiệp vụ bảohiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy cũng bao gồm các khâu truyền thống:
Trang 38Bốn khâu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và bổ xung cho nhau, chỉ cầnmột trong bốn khâu hoạt động kém hiệu quả thì sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới cảquá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm Do đó để có thể tìm ra được biện phápthích hợp nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh một nghiệp vụ nào đó chúng tacần phải phân tích từng khâu của nghiệp vụ đó Trong phần này, từng khâu củanghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy của Bảo Việt Hà Nội sẽđược xem xét cụ thể.
2.2.1 Khâu khai thác
Khai thác là khâu đầu tiên của quá trình kinh doanh bảo hiểm, nó có ýnghĩa quan quyết định tới sự thành bại đối với một công ty bảo hiểm nói chunghay một nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng
Nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm lànguyên tắc số đông bù số ít Có làm tốt khâu khai thác mới đảm bảo nguyên tắcnày và đảm bảo hình thành được quỹ bảo hiểm đủ lớn Do vậy, khâu khai thác làkhâu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công ty Khai thác được nhiều thìdoanh thu phí bảo hiểm gốc của công ty càng tăng nhanh kéo theo đó là sự tănglên của lợi nhuận, cũng như mức trích lập dự phòng lớn hơn đảm bảo cho công
ty phát triển ổn định kinh doanh lâu dài
Như vậy, ta có thể thẩy khâu khai thác có vai trò rất quan trọng, không thểthiếu trong việc phân tích hoạt động kinh tế một nghiệp vụ Quy trình khai thácbảo hiểm bao gồm việc tuyên truyền quảng cáo, tiếp cận khách hàng, đánh giárủi ro được bảo hiểm trên cơ sở đó ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối bảohiểm, xác định điều khoản, phạm vi bảo hiểm, tính toán mức phí bảo hiểm thíchhợp, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm …
Nhiệm vụ đầu tiên của khai thác viên bảo hiểm, sau khi nhận được giấy yêucầu bảo hiểm của người yêu cầu bảo hiểm là đánh giá các nguy cơ có liên quanđến rủi ro được yêu cầu bảo hiểm, trong đó cần chú ý tới các nguy cơ vật chất(các yếu tố có thể làm tăng tần số và mức độ nghiêm trọng của hiểm hoạ yêu cầubảo hiểm gắn liền với đặc điểm của đối tượng được yêu cầu bảo hiểm) và cácnguy cơ tinh thần (là các yếu tố có thể làm tăng tần số và mức độ nghiêm trọngcủa hiểm hoạ được yêu cầu bảo hiểm gắn liền với thái độ của người yêu cầu bảohiểm hay người được bảo hiểm)
Tuy bảo hiểm gián cháy và bảo hiểm đoạn kinh doanh sau cháy có chungrủi ro được bảo hiểm nhưng cơ sở đánh giá rủi ro trong bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh sau cháy lại có một số điểm khác so với bảo hiểm cháy Trong bảo hiểm