Giám đốc xét xử bao gồm nhiều hoạt động cụ thể nhưkiểm tra, phát hiện những thiếu sót, sai lầm trong bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giám đốc xét xử là việc toà án cấp trên theo quy định của pháp luật,thực hiện việc kiểm tra hoạt động xét xử của toà án cấp dưới, qua đó có thểphát hiện ra những thiếu sót, sai lầm của bản án, quyết định của toà án cấpdưới đã có hiệu lực pháp luật và cách thức để sửa chữa, khắc phục nhữngthiếu sót, sai lầm đó Giám đốc xét xử bao gồm nhiều hoạt động cụ thể nhưkiểm tra, phát hiện những thiếu sót, sai lầm trong bản án, quyết định của toà
án đã có hiệu lực pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhànước, tổ chức xã hội, công dân đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử; hướng dẫn toà án các cấp áp dụngthống nhất pháp luật; kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật, nhưng bị phát hiện có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làmthay đổi cơ bản nội dung vụ án, để yêu cầu toà án có thẩm quyền xem xét lại
vụ án theo thủ tục tố tụng đặc biệt: xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ
án mà bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị người
có thẩm quyền kháng nghị
Trong hệ thống Toà án của nước ta, Toà án nhân dân tối cao(TANDTC) là cơ quan xét xử cao nhất, có nhiệm vụ giám đốc việc xét xử củacác Toà án khác theo quy định của pháp luật [ ] Toà dân sự TANDTC là mộttoà chuyên trách thuộc TANDTC, có nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩmnhững vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghịtheo quy định của pháp luật tố tụng [ ]
Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động tố tụng dân sự, kinh tế, laođộng, ngày 15/6/2004, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XI đã thông qua Bộluật Tố tụng dân sự (BLTTDS) Đây là BLTTDS đầu tiên của nước ta [ ] và
Trang 2việc ra đời bộ luật này đã chấm dứt hiệu lực của một loạt các văn bản quyphạm pháp luật tố tụng đơn lẻ trước đó là: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQCVADS) [ ], Pháp lệnh Thủ tục giải quyếtcác vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT) [ ], Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ) [ ]
Từ khi có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2005) đến nay, những quy địnhcủa BLTTDS đã trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu, giúp TAND các cấp giảiquyết đúng đắn các vụ việc dân sự; trong đó bao gồm cả việc xét lại bản án,quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị theo thủ tụcgiám đốc thẩm, tái thẩm Trên thực tế, đa phần các vụ án dân sự được giảiquyết theo thủ tục sơ thẩm ở TAND cấp huyện, phúc thẩm ở TAND cấp tỉnh;bên cạnh đó, bản án, quyết định dân sự của TAND cấp tỉnh đã có hiệu lựcpháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giảiquyết vụ án thì thẩm quyền giám đốc thẩm thuộc về Toà dân sự TANDTC [ ],nên Toà dân sự TANDTC là đầu mối chủ yếu thực hiện hoạt động giám đốcthẩm vụ án dân sự Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dông các quy định củaBLTTDS trong hoạt động giám đốc xét xử tại Toà dân sự TANDTC, trong đóchủ yếu là những quy định liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự,
đã bộc lộ những bất cập: Có những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, cần phải
có căn cứ pháp lý để vận dụng giải quyết, nhưng chưa được quy định (như thủtục, thẩm quyền, trình tù tiÕp nhận, giải quyết khiếu nại, kiến nghị giám đốcthẩm đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật); một sè quyđịnh hiện hành không phù hợp hoặc còn quá chung chung, nhưng chưa đượccấp có thẩm quyền hướng dẫn (như quy định quá hẹp về thẩm quyền khángnghị giám đốc thẩm nên việc kháng nghị nhiều khi không kịp thời, thời hạnkháng nghị không hợp lý nên trong nhiều trường hợp khi phát hiện những bản
án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng có sai lầm nghiêm trọng, thì đã hết thờihạn kháng nghị, quy định quá rộng về quyền phát hiện vi phạm pháp luật
Trang 3trong quá trình giải quyết vụ án là mâu thuẫn với quyền tự định đoạt củađương sự, không có quy định về thời hạn gửi đơn khiếu nại, kiến nghị bản án
đã có hiệu lực pháp luật, nên có nhiều trường hợp đã gần hết thời hạn khángnghị hoặc đã hết thời hạn kháng nghị, thì mới phát hiện ra bản án có sai lầmnghiêm trọng nên không còn đủ thời gian để sửa chữa, khắc phục những sailầm đó ); phạm vi giám đốc thẩm chưa rõ ràng; không có quy định về việcthu thập chứng cứ tại giai đoạn giám đốc thẩm Những nguyên nhân nêu trêntrực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám đốc thẩm vụ án dân sự củaToà dân sự TANDTC, ảnh hưởng không nhỏ tới việc bảo vệ quyền và lợi Ýchhợp pháp của các đương sự, làm giảm sút uy tín của ngành Toà án
Bên cạnh đó, đội ngũ thẩm phán, thẩm tra viên, chuyên viên của Toàdân sù TANDTC hiện nay còn thiếu về số lượng và chưa thật sự đáp ứng yêucầu về chất lượng, nên đã tạo ra tình trạng giải quyết không kịp thời, thiếuđúng đắn, thiếu nhất quán trong việc giám đốc thẩm các vụ án dân sự; cơ sởvật chất, điều kiện làm việc của Toà dân sự TANDTC chưa đáp ứng yêu cầucông việc; chế độ tiền lương và thu nhập khác chưa đảm bảo giúp cho các cán
bộ, công chức Toà dân sự TANDTC yên tâm công tác
Tình trạng đơn khiếu nại, kiến nghị giám đốc thẩm tăng nhanh qua từngnăm, số đơn tồn đọng từ năm trước chuyển qua năm sau không có dấu hiệugiảm; số lượng các vụ án dân sự mà bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật bị Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị và yêu cầuToà dân sự TANDTC xét xử giám đốc thẩm cũng tăng nhanh theo thời gian,vượt quá khả năng giải quyết của Toà dân sự TANDTC; chất lượng giải quyếtkhiếu nại, kiến nghị giám đốc thẩm và chất lượng xét xử giám đốc thẩm củaToà dân sự TANDTC còn chưa cao Thực tế nêu trên đã được lãnh đạo ngành
Toà án nghiêm túc thừa nhận là: “Tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm còn thấp, cá biệt có trường hợp đã trả lời không có căn cứ kháng
Trang 4nghị nhưng sau đó Chánh án lại kháng nghị vì phát hiện có sai lầm nghiêm trọng hoặc có những trường hợp khi phát hiện có sai lầm nghiêm trọng nhưng đã hết thời hạn kháng nghị” [ ]
Những tồn tại trên đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải hoàn thiện các quyđịnh về thủ tục giám đốc thẩm, nâng cao hơn nữa chất lượng giám đốc thẩmcác vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của các chủ thể khi thamgia giao lưu dân sự Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của
Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu rõ: “Từng
bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ” [ ]
Dưới góc độ nghiên cứu khoa học, thời gian qua tuy đã có một số côngtrình nghiên cứu về chế định giám đốc thẩm vụ án dân sự, nhưng các côngtrình này mới chỉ tập trung nghiên cứu về những vấn đề riêng biệt; chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về thủ tục giám đốc thẩm vụ ándân sự, đặc biệt là áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sựtại Toà dân sự TANDTC
Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc
thẩm vụ án dân sự của Toà dân sự TANDTC ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn
thạc sỹ luật học là cấp thiết cả về lý luận cũng như thực tiễn ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đến trước khi Quốc hộiban hành BLTTDS, thì thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung, thủ tụcxét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghịnói riêng được quy định trong PLTTGQCVADS Vì vậy, những công trình
Trang 5nghiên cứu việc áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sựtrong quãng thời gian này chỉ nghiên cứu việc áp dụng các quy định của
PLTTGQCVADS trong hoạt động giám đốc thẩm, như: “Thủ tục giải quyết
giám đốc thẩm các vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”,
Luận văn Thạc sĩ, Ngô Anh Dũng, Đại học Luật Hà Nội, năm 1996; “Thủ tục
giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam”, ĐÒ tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, Viện nghiên cứu khoa học kiểm sát thuộc Viện kiểm sát nhân dân tốicao chủ nhiệm, năm 2003
Từ khi BLTTDS được ban hành cho đến nay, cũng đã có một số côngtrình nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án
dân sự, như: Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những vấn đề đặt ra trong
việc thi hành, của thạc sĩ Trần Anh Tuấn, Tạp chí Luật học, số đặc san về Bộ
luật Tố tụng dân sự, năm 2005; Tìm hiÓu các quy định của pháp luật về thủ
tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, của thạc sĩ Dương Thị Thanh Mai, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, năm 2005 Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ tậptrung nghiên cứu về những vấn đề riêng biệt; chưa có công trình nào nghiêncứu một cách hệ thống về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, đặc biệt là ápdụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự tại Toà dân sựTANDTC
Xuất phát từ những lý do trên đây, cùng với một sè kinh nghiệm thựctiễn có được trong thời gian công tác tại Toà dân sự TANDTC, tác giả mạnh
dạn lựa chọn đề tài “Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân
sự của Toà dân sự TANDTC ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ luật
học, nhằm nêu ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giám đốcthẩm các vụ án dân sự của Toà dân sự TANDTC; qua đó đề xuất tháo gỡnhững khó khăn, vướng mắc trong hoạt động áp dụng pháp luật về thủ tục
Trang 6giám đốc thẩm vụ án dân sự nói chung, cũng như tại Toà dân sự TANDTCnói riêng.
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở làm sáng tỏ những vẫn
đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân
sự của Toà dân sự TANDTC trong giai đoạn hiện nay, tác giả sẽ đề xuất một
số giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật về thủ tụcgiám đốc thẩm vụ án dân sự tại Toà dân sự TANDTC, bao gồm các nhóm giảipháp về hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ ándân sự, trong đó có các quy định liên quan đến hoạt động giám đốc xét xử vụ
án dân sự tại Toà dân sự TANDTC; hoàn thiện về tổ chức và điều kiện làmviệc tại Toà dân sự TANDTC; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡngchuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị cho cán bộ, công chức Toà dân
sự TANDTC, cải thiện môi trường làm việc cho Toà dân sự TANDTC
Nhiệm vụ của luận văn: Từ mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các
nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật thủ tụcgiám đốc thẩm vụ án dân sự như khái niệm, đặc điểm về áp dụng pháp luậtthủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, quy trình áp dụng pháp luật thủ tục giámđốc thẩm vụ án dân sự, tÝnh khách quan và các căn cứ áp dụng thủ tục giámđốc thẩm trong tố tụng dân sự
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về thủ tục giám đốcthẩm tại Toà dân sự TANDTC
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốcthẩm tại Toà dân sự TANDTC
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc
thẩm vụ án dân sự tại Toà dân sự TANDTC
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống những quy định phápluật về thủ tục giám đốc thẩm tại Toà dân sự TANDTC cũng như việc ápdụng những quy định pháp luật đó trong thực tiễn hoạt động giám đốc thẩmcủa Toà dân sự TANDTC
Phạm vi nghiên cứu trong đề tài này là việc áp dụng pháp luật về thủtục giám đốc thẩm tại Toà dân sự TANDTC đối với các bản án, quyết địnhdân sự đã có hiệu lực của TAND cấp tỉnh bị kháng nghị theo quy định củaBLTTDS hiện hành của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm
2005 đến hết năm 2008
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta vÒNhà nước và pháp luật, về công tác xét xử nói chung, xét xử các vụ án dân sựnói riêng
-Luận văn cũng được tiến hành nghiên cứu bằng nhiều phương phápkhác, như: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát,đánh giá thực trạng giám đốc thẩm các vụ án dân sự; phỏng vấn, trao đổi vớicác thẩm phán và thẩm tra viên; khảo cứu các tài liệu có liên quan đến công táckháng nghị, xét xử giám đốc thẩm các vụ án dân sự
Tác giả cũng lựa chọn một số vụ án đã được Toà dân sự TANDTCxét lại theo thủ tục giám đốc thẩm để bình luận minh hoạ; đồng thời có thamkhảo số liệu thống kê của ngành TAND, để việc nghiên cứu được toàn diện
và sâu sắc hơn
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Qua kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đóng góp những điểm mới sau đây:
Trang 8- Luận văn chỉ ra những quy định hiện hành của pháp luật về thủ tụcgiám đốc thẩm vụ án dân sự không phù hợp với thực tiễn, cần sửa đổi; đồngthời đề xuất hướng sửa đổi.
- Luận văn nêu rõ những quy định còn có những cách hiểu khác nhau,nên cần có hướng dẫn của cấp có thẩm quyền để áp dụng thống nhất
- Luận văn cũng chỉ ra những quy định còn thiếu, cần phải bổ sung để cócăn cứ áp dụng trên thực tiễn và đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật về thủ tục giám
đốc thẩm vụ án dân sự
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về thủ tục
giám đốc thẩm vụ án dân sự của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao
Chương 3: Giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc
thẩm vụ án dân sự của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao
Trang 91.1.1.1 Khái niệm vụ án dân sự, thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
a Khái niệm vụ án dân sự
Khi tham gia vào mét quan hệ xã hội bất kỳ, các chủ thể đều xuất phát
từ động cơ nhất định để hướng đến mục đích cụ thể, đó là khách thể của quan
hệ xã hội Êy Theo nghĩa này, khách thể của quan hệ pháp luật dân sự (nhómquan hệ xã hội được luật dân sự điều chỉnh) là những giá trị lợi Ých vật chấthoặc lợi Ých tinh thần mà các chủ thể hướng tới khi tham gia vào quan hệpháp luật dân sự nhất định; tuy nhiên, chỉ những quyền và lợi Ých của cácchủ thể được Nhà nước công nhận và bảo hộ thì mới là quyền và lợi Ých hợppháp của chủ thể Vì vậy, khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự nhấtđịnh, chủ thể được hưởng các quyền, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụnhất định theo đúng quy định của pháp luật Việc chủ thể không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình tất yếu sẽ ảnh hưởngđến việc hưởng quyền và lợi Ých hợp pháp của chủ thể khác Để duy trì trật
tự, bảo đảm công bằng xã hội và thúc đẩy giao lưu dân sự, Nhà nước thiết lập
cơ chế pháp lý bảo vệ quyền, lợi Ých hợp pháp của các chủ thể trong quan hệdân sự Theo đó, các chủ thể có quyền, lợi Ých hợp pháp bị chủ thể khác xâmphạm, cản trở, hạn chế hoặc có nguy cơ bị xâm phạm, cản trở, hạn chế, có
Trang 10quyền sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để bảo vệ quyền, lợi Ýchhợp pháp đó, như yêu cầu người có hành vi trái pháp luật phải chấm dứt ngayhành vi đó, yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thựchiện các hoạt động cần thiết nhằm bảo vệ quyền, lợi Ých hợp pháp của họ.
Toà án xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, laođộng, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định củapháp luật, để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tậpthể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.Thông qua hoạt động của mình, Toà án giáo dục công dân trung thành với Tổquốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộcsống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạmpháp luật khác [ , Điều 1] Do đó, khi chủ thể yêu cầu Toà án bảo vệ quyền
và lợi Ých hợp pháp của họ, trong trường hợp họ cho rằng quyền, lợi Ých hợppháp của mình (hoặc của người khác) bị chủ thể khác xâm phạm, cản trở, hạnchế hoặc có nguy cơ bị xâm phạm, cản trở, hạn chế, thì Toà án phải căn cứvào các quy định của pháp luật để xem xét, thô lý giải quyết yêu cầu đó Tuỳtheo nhóm quan hệ pháp luật bị chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm mà vụ án
do Toà án thụ lý giải quyết là vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hôn nhân vàgia đình, vụ án lao động, vụ án hành chính hay vụ án kinh tế
Thuật ngữ “vụ án dân sự” là một thuật ngữ pháp lý chuyên ngành.Trong các cuốn Từ điển phổ thông đang lưu hành, như Từ điển Tiếng Việtcủa Viện ngôn ngữ học [ ], Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [ ], Đại từđiển tiếng Việt [ ], đều không đề cập thuật ngữ “vụ án dân sự”; ngay cả cuốn
Từ điển chuyên ngành luật học duy nhất của nước ta cho đến thời điểm này làcuốn Từ điển Luật học, do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản
Tư pháp phối hợp phát hành năm 2006 [ ] cũng không đề cập thuật ngữ này
Trang 11Hiện tại, duy nhất chỉ có cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (thực rađây chỉ có thể coi là sổ tay tham khảo dành cho việc học tập và giảng dạyLuật học), do Trường đại học luật Hà Nội biên soạn và Nhà xuất bản Công annhân dân phát hành năm 1999 [ ] là có đưa ra giải thích về thuật ngữ “vụ án
dân sự”, theo đó: “Vụ án dân sự là việc phát sinh tại Toà án, thuộc thẩm
quyền xét xử về dân sự của Toà án, do cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức xã hội khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố yêu cầu Toà án bảo
vệ quyền, lợi Ých hợp pháp của mình, của Nhà nước, của tập thể hay của người khác Các vụ án dân sự có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các đương sự gọi là việc kiện dân sự Các vụ án dân sự không có tranh chấp
về quyền, nghĩa vụ giữa các đương sự, trong đó người khởi kiện chỉ yêu cầu Toà án xác định sự kiện pháp lý thông qua đó làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ giữa các đương sự được gọi là việc dân sự Các vụ án dân
sự chủ yếu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Một số vụ án dân sự có thể phát sinh từ quan hệ pháp luật hành chính hoặc quan hệ pháp luật khác” Như vậy, khái niệm “vụ án dân
sự” dùng để chỉ những tranh chấp, những yêu cầu phát sinh từ quan hệ dân sự(theo nghĩa hẹp) và những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ hôn nhân
và gia đình Cho nên, bên cạnh khái niệm “vụ án dân sự” còn có các kháiniệm “vụ án kinh tế”, “vụ án lao động” Tuy nhiên, so với quy định của phápluật hiện hành thì khái niệm “vụ án dân sự” như đã nêu trên đã không còn phùhợp nữa
BLTTDS được ban hành đã thống nhất ba loại thủ tục tố tụng về dân
sự, kinh tế và lao động thành một thủ tục tố tụng dân sự chung và các loại vụviệc được giải quyết theo thủ tục này được gọi là vụ việc dân sự Tuy khôngđưa ra khái niệm “vụ việc dân sự”, nhưng theo Điều 1 của BLTTDS thì “vụviệc dân sự” bao gồm “vụ án dân sự” và “việc dân sự”; trong đó:
Trang 12- “Vụ án dân sự” là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các
bên đương sự, phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (bao gồm những tranh
chấp giữa cá nhân và cá nhân về quốc tịch Việt Nam, tranh chấp về quyền sởhữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp về quyền sở hữu trítuệ, chuyển giao công nghệ nhưng không có mục đích lợi nhuận, tranh chấp
về thừa kế tài sản, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tranhchấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của phápluật về đất đai, tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy
định của pháp luật); quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình (bao gồm ly hôn,
tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp về chia tài sảnchung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tranh chấp về thay đổi người trựctiếp nuôi con sau khi ly hôn, tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác
định con cho cha mẹ, tranh chấp về cấp dưỡng); quan hệ pháp luật kinh
doanh, thương mại (bao gồm tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh
thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều cómục đích lợi nhuận về mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đạidiện, đại lý, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn kỹ thuật, vậnchuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, dường bộ, đường thuỷ nội địa,vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, muabán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy từ có giá khác, đầu tư tài chính, ngânhàng, bảo hiểm, thăm dò khai thác; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyểngiao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viêncủa công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sát
nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức của công ty) và quan hệ pháp
luật lao động (bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với
người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên
Trang 13lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện hoà giải khôngthành hoặc không giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định, trừ các tranhchấp không phải hoà giải tại cơ sở, gồm: về xử lý kỷ luật lao động theo hìnhthức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động, về trợcấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, giữa người giúp việc gia đình với người
sử dụng lao động, về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động
và về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu laođộng; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng laođộng đã được Hội đồng trong tài lao động cấp tỉnh giải quyết mà tập thể ngườilao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của hộiđồng trọng tài lao động, gồm: về quyền và lợi Ých liên quan đến việc làm,tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về việc thực hiện thoảước lao động tập thể, về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn)được Toà án thụ lý, giải quyết; và
- “Việc dân sự” là những yêu cầu vÒ dân sù (bao gồm yêu cầu tuyên
bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vidân sự, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sựhoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, yêu cầu thông báotìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêucầu tuyên bố một người mất tích hoặc huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích,yêu cầu tuyên bố một người là đã chết hoặc huỷ bỏ quyết định tuyên bố mộtngười là đã chết, yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án,quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án hình sự, hành chínhcủa Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự,quyết định về tài sản trong bản án hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài
mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam); về hôn nhân và gia đình (bao
Trang 14gồm yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu công nhận thuận tình lyhôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, yêu cầu công nhận sự thoả thuận vềthay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu hạn chế quyền củacha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn,yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, yêu cầu công nhận và cho thi hành tạiViệt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoàihoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án
nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; về kinh doanh,
thương mại (bao gồm yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt
Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tàithương mại, yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyếtđịnh về kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không côngnhận bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài
mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, yêu cầu công nhận và cho thihành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước
ngoài) và về lao động (bao gồm yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam bản án, quyết định về lao động của Toà án nước ngoài hoặc không côngnhận bản án, quyết định về lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêucầu thi hành tại Việt Nam, yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Namquyết định về lao động của Trọng tài nước ngoài) được Toà án thụ lý, giảiquyết
Như vậy, so với quan niệm trước đây là tất cả những vụ việc được Toà
án thụ lý giải quyết đều là “vụ án”, thì quan niệm hiện tại về “vụ án dân sự”
đã có sự thay đổi đáng kể :
Thứ nhất, phải là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
đương sự mới là “vụ án dân sự”; còn những yêu cầu của đương sự chỉ nhằm
Trang 15xác nhận sự kiện pháp lý nhất định mà không có tranh chấp về quyền và nghĩa
vụ thì không phải vụ án dân sự mà là “việc dân sự”
Thứ hai, “vụ án dân sự” phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo
nghĩa rộng (bao gồm quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh, thương mại và lao động)
Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm vụ án dân sự như sau: Vụ án dân sự là tranh chấp giữa các đương sự về quyền và nghĩa vụ, phát sinh trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động, do người có quyền khởi kiện và được Toà án thụ lý, giải quyết.
Tuy nhiên, theo mô hình tổ chức của ngành TAND hiện nay, thì ởTAND cấp tỉnh và ở TANDTC vẫn tồn tại các toà chuyên trách giải quyết cácloại vụ việc về dân sự và hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao độngtheo nghĩa hẹp, tương ứng là Toà dân sự, Toà kinh tế và Toà lao động Vì
vậy, nhóm “vụ án dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà dân sự TANDTC chỉ bao gồm những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh
từ quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình,
tức là chỉ gồm những tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về hợp đồng dân sự
về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ không có mục đích lợinhuận, về thừa kế tài sản, về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, về quyền sửdụng đất và tài sản gắn liền với đất, về quốc tịch giữa cá nhân với cá nhân, vềvấn đề liên quan đến hoạt động báo chí, về ly hôn, về chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, về thay đổi người nuôi con sau ly hôn, vềxác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ và tranh chấp về cấpdưỡng
b Khái niệm thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
Trang 16Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản
Đà Nẵng, năm 1996 [ ] thì “giám đốc thẩm” được giải thích là: Toà án có
thẩm quyền xét lại các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới khi bị kháng nghị trên cơ sở phát hiện có sai lầm trong quá trình điều tra, xét xử vụ án Còn trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật
học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công án nhân dân, năm
1999 [ ] thì “giám đốc thẩm” được hiểu là: XÐt lại bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lí vụ án Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2005 [ ] còng đưa
ra quan niệm: Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án.
Thuật ngữ “giám đốc thẩm” xuất hiện lần đầu tiên tại Luật Tổ chứcTAND năm 1981 [ ]; tuy nhiên, các quy định về thủ tục xét lại bản án của Toà
án đã có hiệu lực pháp luật lại được quy định sớm hơn Tại Thông tư số 321/VHH-CT ngày 12 tháng 02 năm 1958 của Bộ Tư pháp quy định về việc yêucầu các Toà án phải nghiên cứu giải quyết các đơn thư khiếu nại về các vụ án
đã xử chung thẩm, đã nêu: “Đối với những việc đã xử rồi… nếu thấy sai hoặc
đúng không rõ ràng thì tuỳ từng trường hợp có kế hoạch giải quyết thích đáng (báo cáo cấp trên đề nghị kháng cáo hay xin xử lại hoặc đặt vấn đề điều tra, xác minh lại )” [ ] Phải đặt ra yêu cầu trên là do thực tiễn giai đoạn này
có nhiều đơn khiếu nại oan sai về các bản án chung thẩm, chứ không phảixuất phát từ quá trình nghiên cứu lý luận và tham khảo kinh nghiệm lập phápcủa nước ngoài Chính vì vậy, thời kỳ này chưa có một thủ tục cụ thể để giảiquyết vấn đề xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.Sau đó, tại Luật tổ chức TAND năm 1960 [ ] và Pháp lệnh quy định cụ thể
Trang 17về tổ chức của TANDTC và tổ chức của các TAND địa phương năm 1961 [ ]
thì việc xử lại những vụ án do TAND cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật nhưng Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởngVKSNDTC kháng nghị đã được quy định cụ thể hơn Theo các quy định này,việc xử lại thuộc thẩm quyền của TANDTC nhưng nếu thấy cần thiết,TANDTC có thể giao cho TAND cấp tỉnh thực hiện thẩm quyền xử lại đốivới những vụ án mà toà án cấp này hoặc cấp dưới đã xử mà bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật Như vậy, trong giai đoạn này, giám đốc thẩmđược hiểu là việc Toà án có thẩm quyền (có thể là TANDTC hoặc chính Toà
án đã ban hành bản án, quyết định bị kháng nghị) xét xử lại vụ án mà bản án,quyết định bị kháng nghị Quy định này khác với thủ tục giám đốc thẩm hiệnnay là sau khi có kháng nghị giám đốc thẩm, Toà án giám đốc thẩm sẽ xemxét vụ án trên cơ sở bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị và nếu cócăn cứ thì huỷ bản án và giao hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xửlại Thủ tục để xem xét kháng nghị mới là thủ tục giám đốc thẩm chứ khôngphải là thủ tục xét lại vụ án như quy định của giai đoạn này
Thuật ngữ “giám đốc thẩm” lần đầu tiên được quy định trong Luật tổchức TAND năm 1981 và sau đó được quy định trong PLTTGQCVADS năm
1989 Theo đó, nếu phát hiện thấy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luậtcủa Toà án có sai lầm, thì những người có thẩm quyền (Viện trưởng, PhóViện trưởng VKSNDTC, Chánh án, Phó Chánh án TANDTC, Viện trưởngVKSND cấp tỉnh và Chánh án TAND cấp tỉnh) sẽ kháng nghị bản án, quyếtđịnh đó và đề nghị Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm xem xét lại vụ án.Trên cơ sở kháng nghị, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ xem xét lại
vụ án và ra mét trong những quyết định:
- Không chấp nhận kháng nghị và giữa nguyên bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật; hoặc
Trang 18- Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; hoặc
- Huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị và giao cho Toà án cấp dướixét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm
Như vậy, trong giai đoạn này, giám đốc thẩm được hiểu là việc Toà án
có thẩm quyền giám đốc thẩm xét xử lại vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị Biểu hiện rõ nhất của hoạt động “xét xử lại vụ án” là ở quy định
Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm có quyền sửa trực tiếp bản án, quyếtđịnh bị kháng nghị
Khi BLTTDS được ban hành, chúng ta thấy rõ sù thay đổi trong nhậnthức về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự Theo các quy định của BLTTDS,Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm không còn quyền sửa bản án, quyếtđịnh dân sù đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị nữa, mà chỉ có méttrong các quyền là:
- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định bịkháng nghị; hoặc
- Huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị và giao hồ sơ vụ án cho Toà
án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm lại; hoặc
- Huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị và đình chỉ giải quyết vụ án.Qua đó, chúng ta dễ dàng nhận thấy khái niệm giám đốc thẩm hiện naykhông còn là việc “xét xử lại” vụ án như trước đây nữa, mà chỉ là việc “xét
lại” bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Đây được xem là sù thay đổi căn
bản quan niệm về bản chất của giám đốc thẩm, chứ không đơn thuần chỉ làthay đổi từ ngữ trong quá trình lập pháp
Như trên đã phân tích, giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết địnhcủa Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị người có thẩm quyền khángnghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ
án Vì vậy có thể hiểu là để thực hiện được hoạt động giám đốc thẩm, tất yếu
Trang 19phải trải qua một chuỗi các công đoạn với những việc cụ thể, bao gồm từ việc
phát hiện ra sù vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án –> người có thẩm quyền thực hiện quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật –> Toà án cấp giám đốc thẩm mở phiên toà giám đốc thẩm –> Hội đồng giám đốc thẩm ban hành quyết định giám đốc thẩm.
Như vậy, cũng như thủ tục sơ thẩm hay thủ tục phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm là mét giai đoạn của tố tụng dân sự, bao gồm toàn bộ quy trình từ khi phát hiện sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, kháng nghị, phiên toà giám đốc thẩm đến việc ra phán quyết của Toà
án cấp giám đốc thẩm, được tuân theo một trình tự chặt chẽ.
Có thể chia thủ tục giám đốc thẩm làm hai thủ tục cơ bản là thủ tục
kháng nghị giám đốc thẩm và thủ tục phiên toà giám đốc thẩm Trong đó:
- Thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm những quy định về việc
phát hiện sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án trên cơ sởkhiếu nại, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức; về căn cứ kháng
nghị giám đốc thẩm; về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm;
- Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm bao gồm những quy định về thẩm
quyền giám đốc thẩm, về thủ tục phiên toà giám đốc thẩm, về phạm vigiám đốc thẩm và về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
1.1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
Áp dụng pháp luật, hiểu theo cách khái quát nhất là một hình thức thựchiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩmquyền hoặc cá nhân người có chức vụ, quyền hạn, tổ chức cho các chủ thể phápluật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quyđịnh của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặcchấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Áp dụng pháp luật được xem là hoạt
Trang 20động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, nó vừa là một hình thứcthực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn mà các cơ quan nhà nước có thẩmquyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy địnhpháp luật.
Nhiều khi các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng tựthực hiện các quy phạm pháp luật, nên ngoài các hình thực thực hiện pháp luậtnhư tuân theo, thi hành, sử dụng pháp luật, thì cần thiết phải có hoạt động ápdụng pháp luật Vì vậy, áp dụng pháp luật được tiến hành khi:
- Thứ nhất: Khi cần truy cứu trách nhiệm pháp lý hoặc áp dụng biện pháp
cưỡng chế Nhà nước đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Ví dụ: Khimột người có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ thương tậtcủa người bị hại được xác định là từ 11% trở lên, thì cơ quan điều tra, Viện kiểmsát và Toà án sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật để thực hiện việc khởi tố,điều tra, truy tố và xét xử để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó; hoặckhi một người thực hiện việc xây dựng công trình trái phép, đã bị cơ quan nhànước có thẩm quyền ra quyết định xử lý hành chính buộc dừng việc thi công vàtháo dỡ công trình vi phạm, nhưng họ không thực hiện thì cơ quan nhà nước cóthẩm quyền sẽ ra quyết định cưỡng chế và thực hiện việc tháo dỡ công trình xâydựng có vi phạm
- Thứ hai: Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước Ví dụ:Khi một người nghiện ma tuý hoặc chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sảncủa gia đình thì theo yêu cầu của của người có quyền, lợi Ých liên quan, cơquan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lựchành vi dân sự của người đó, đồng thời quyết định người đại diện theo pháp luật
và phạm vi đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nêu trên
Trang 21- Thứ ba: Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không thể tự giải quyết được Vídụ: Khi nhiều người tranh chấp với nhau về quyền thừa kế tài sản, không tự thoảthuận được và có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết Toà án sẽ căn cứ vàocác quy định của pháp luật để quyết định việc thụ lý vụ án, sau đó tiến hành cáchoạt động tố tụng, cuối cùng là xét xử vụ án và ra phán quyết để giải quyết tranhchấp về quyền thừa kế tài sản giữa các đương sự
- Thứ tư: Khi Nhà nước thấy cần thiết kiểm tra, giám sát hoạt động của
các chủ thể Ví dụ: Sau khi Toà án giải quyết một vụ án dân sự nhất định và bản
án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên đương sự trong vụ án có đơnkhiếu nại cho rằng việc giải quyết vụ án có dấu hiệu không vô tư khách quan và
vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi Ých hợp pháp của họ Nhậnđược đơn khiếu nại của đương sự, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ thựchiện các hoạt động kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án đã cóhiệu lực pháp luật, trên cơ sở xem xét, đánh giá lại toàn bộ các chứng cứ, tài liệu
có trong hồ sơ vụ án Nếu xét thấy việc khiếu nại của đương sự là không có căn
cứ thì Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ trả lời đơn khiếu nại cho đươngsự; còn nếu thấy việc khiếu nại là có cơ sở thì Toà án có thẩm quyền giám đốcthẩm sẽ đề xuất người có thẩm quyền kháng nghị bản án đã có hiệu lực pháp luậttheo thủ tục giám đốc thẩm Sau khi có kháng nghị giám đốc thẩm của người cóthẩm quyền, Toà án cấp giám đốc thẩm sẽ thực hiện việc xét xử giám đốc thẩm
và sẽ ra phán quyết để quyết định về tình trạng pháp lý của bản án bị kháng nghị
Ở nước ta và nhiều quốc gia khác, thực hiện chế độ hai cấp xét xử là mộtnguyên tắc cơ bản trong quá trình tiến hành tố tụng của Toà án nói chung, trongtiến hành tố tụng vụ án dân sự nói riêng Theo nguyên tắc này thì trong một thờihạn nhất định bản án, quyết định dân sự sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị
để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định dân sự phúc thẩm có
Trang 22hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, vì hoạt động xét xử là một hoạt động áp dụngpháp luật rất phức tạp, phụ thuộc vào sù đầy đủ, hoàn thiện, phù hợp xã hội của
hệ thống quy phạm pháp luật, vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức thựchiện nhiệm vụ, tư cách đạo đức của người Thẩm phán, vào nhiều yếu tố điềukiện, hoàn cảnh chủ quan, khách quan khác, nên không thể không xảy ra sai lầm,thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án, kể cả khi xét xử phúc thẩm Do đó,cần thiết phải có một thủ tục tố tụng đặc biệt cho phép cơ quan nhà nước, cánhân người có thẩm quyền thực hiện những công việc nhất định, theo một trật
tự cho phép, để có thể khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình giảiquyết vụ án dân sự
Thủ tục giám đốc thẩm là một giai đoạn đặc biệt để sửa chữa nhữngsai lầm đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Do vậy, áp dụngpháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn làm phá vỡtính ổn định của bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Điều đóyêu cầu khi thực hiện thủ tục giám đốc thẩm phải tuân theo một trình tự chặtchẽ do pháp luật quy định
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm nguyên nhân của sai lầm trong các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà các nhà làm luật chia thủ tục xétlại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật thành “giám đốc thẩm” và
“tái thẩm” Nếu trong quá trình tiến hành tố tụng, do yếu tố chủ quan dẫn đến
có sai lầm (như kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với các tìnhtiết khách quan của vụ án, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng phápluật, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng) thì bản án, quyết định có hiệulực pháp luật có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Còn nếu doxuất hiện những tình tiết mới là những yếu tố khách quan làm thay đổi cơ bảnnội dung bản án, quyết định (như phát hiện được tình tiết mới mà đương sự đãkhông thể biết trong quá trình giải quyết vụ án, có sự giả mạo chứng cứ), thì
Trang 23bản án, quyết định có thể bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Vì vậy, tuycùng xét lại những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng hai thủ tụcnày lại là hai thủ tục độc lập trong tố tụng dân sự.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm áp dụng pháp luật về
thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự như sau: Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là việc Toà án, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, theo một trình tự và trong một khoảng thời gian do pháp luật tố tụng dân sự quy định; trong trường hợp phát hiện ra những sai lầm, thiếu sót trong bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì thực hiện việc khắc phục, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó.
1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
Từ khái niệm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
ở trên, có thể rót ra những đặc điểm áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốcthẩm vụ án dân sự như sau:
- Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là hoạt động chỉ do những chủ thể mang quyền lực Nhà nước tiến hành:
Sau khi bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật, đương sự trong
vụ án hoặc cá nhân, tổ chức khác có quyền khiếu nại, kiến nghị cho rằng việcxét xử vụ án có sai lầm nghiêm trọng hoặc vi phạm pháp luật Cơ quan cóthẩm quyền tiếp nhận và giải quyết khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đốivới bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật là TANDTC vàVKSNDTC (đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật củaTAND các cấp) hoặc TAND cấp tỉnh và VKSND cấp tỉnh (đối với bản án,
Trang 24quyết định của TAND cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật) Trong trường hợpsau khi kiểm tra phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giảiquyết vụ án, TAND, VKSND phải báo cáo với người có thẩm quyền (làChánh án Toà án hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát) xem xét kháng nghị bản
án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật đó theo thủ tục giám đốc thẩm.Sau khi người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị, thì Hội đồng giámđốc thẩm của Toà án cấp có thẩm quyền thực hiện việc xét lại bản án, quyếtđịnh dân sự bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và Hội đồng giám đốcthẩm sẽ ra phán quyết để quyết định về tình trạng pháp lý của bản, quyết địnhdân sự bị kháng nghị
- Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự phải tuân theo thủ tục chặt chẽ và dưới những hình thức nhất định:
Tính chất của giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị người có thẩm quyền kháng nghị vì pháthiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án Qua tínhchất của giám đốc thẩm như đã nêu trên, chúng ta có thể thấy hoạt động giámđốc thẩm có xu hướng phá vỡ tính ổn định của bản án, quyết định dân sự đã
có hiệu lực pháp luật Vì vậy, thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự phải đượcquy định thật chặt chẽ, cụ thể Thật vậy, để thực hiện được hoạt động giámđốc thẩm vụ án dân sự một cách có hiệu quả, nhất thiết phải tuân theo các thủtục về quy trình giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với bản án, quyết định dân
sự đã có hiệu lực pháp luật để phát hiện ra dấu hiệu vi phạm nghiêm trọngpháp luật trong quá trình giải quyết vụ án (để giải đáp được các câu hỏi: bản
án, quyết định dân sự bị khiếu nại, kiến nghị có sai lầm hay không?, nếu cósai lầm thì thuộc loại sai lầm nào, có nghiêm trọng hay không?); về thời hạn,căn cứ và thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm (để giải đáp được các câuhỏi: còn thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm hay không?, căn cứ để kháng
Trang 25nghị giám đốc thẩm là căn cứ nào?, ai là người có quyền kháng nghị giám đốcthẩm?); về phạm vi giám đốc thẩm, về thẩm quyền của Hội đồng giám đốcthẩm (để giải đáp được các câu hỏi: cần xem xét lại những nội dung nào trongbản án, quyến định bị kháng nghị?, tính pháp lý của bản án, quyết định bịkháng nghị là như thế nào, sẽ được giữ nguyên hay sẽ bị huỷ bỏ?, nếu bị huỷ
bỏ thì Toà án cấp nào sẽ có thẩm quyền giải quyết lại?)
- Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là hoạt
động điều chỉnh mang tính cá biệt:
Các vụ án dân sự không giống nhau về quan hệ pháp luật có tranh chấp,
về quyền và nghĩa vụ của các đương sự, về cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng, về thời gian, cách thức tiến hành các hoạt động tố tụng cụthể, , nên việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với từng vụ án làkhông thể giống nhau, càng không thể chỉ xét lại một hoặc một số vụ án vàcho đó là điển hình để từ đó đưa ra kết luận về nhiều vụ án khác Pháp luật tốtụng Việt Nam hiện hành không thừa nhận án lệ là một hình thức của quyphạm pháp luật, nên các quyết định giám đốc thẩm của Toà án có thẩm quyềnchỉ có giá trị tham khảo đối với Toà án các cấp, chứ không thể có giá trị ápđặt phải tuân theo Toà dân sự TANDTC có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyếtkhiếu nại, kiến nghị đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luậtcủa TAND các cấp trên toàn quốc và có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩmđối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực của các TAND cấp tỉnh trêntoàn quốc; tuy nhiên, trong thực tiễn công tác giám đốc thẩm thì không thể sửdụng kết quả giải quyết vụ án này để giải quyết vụ án khác, mà phải căn cứvào các quy định của pháp luật
- Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là hoạt động mang tính sáng tạo:
Trang 26Hoạt động áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sựcũng là một dạng hoạt động áp dụng pháp luật, tức là nó là hoạt động của conngười cụ thể, tuân theo các quy định pháp luật cụ thể về thẩm quyền, phạm vi
và trình tự công việc Đã là hoạt động của con người thì tất yếu phải có tínhsáng tạo, vì con người không phải máy móc; bên cạnh đó, các quy định củapháp luật cũng luôn cần phải được hiểu và vận dụng chính xác, đầy đủ và hợp
lý Khi áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, phải xembản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có dấu hiệu vi phạm phápluật hay không, nếu có thì vi phạm như thế nào (vi phạm quy định nào?, viphạm nghiêm trọng hay không nghiêm trọng ?); có phải là căn cứ khángnghị giám đốc thẩm hay không, nếu là căn cứ kháng nghị thì là căn cứ nào (là
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay là sai lầm nghiêm trọng trong việc
áp dụng pháp luật ); phương hướng xử lý bản án, quyết định bị kháng nghị(huỷ bản án, quyết định phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại hay huỷ cả bản án,quyết định phúc thẩm và bản án, quyết định sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại )
1.2 QUY TRÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Áp dụng pháp luật, trước hết nhằm xác định những tình tiết thực tếkhách quan của vụ việc Sau đó tìm kiếm và phân tích quy phạm pháp luậtthích ứng với vụ việc đó Tiến tới ra quyết định giải quyết vụ việc và tổ chức,kiểm tra thực hiện quyết định Êy trên thực tế Áp dụng pháp luật là một quytrình rất phức tạp và được chia thành nhiều giai đoạn
Áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự nói riêngcũng phải tuân theo mét quy trình phức tạp, trải qua các giai đoạn khác nhau.Sau khi bản án, quyết định dân sự của Toà án có hiệu lực pháp luật, vềnguyên tắc thì phải được thi hành và phải được mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức
có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh Tuy nhiên, sau khi một bản án, quyết
Trang 27định dân sự cụ thể của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhưng việc thi hành phánquyết của Toà án chưa thể thực hiện, thậm chí không thể thực hiện được vìnhiều lý do khác nhau, như:
- Đương sù trong vụ án không đồng ý thi hành án, khiếu nại gay gắt
và cản trở việc thi hành án;
- Cơ quan Thi hành án nhận thấy là không thể thực hiện việc thi hành
án trên thực tế, do quyết định của bản án không phù hợp với điềukiện khách quan;
- Cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện quyền giám sát hoạt độngxét xử có kiến nghị yêu cầu xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn
cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
- Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án không được
dư luận xã hội đồng tình;
- Có bằng chứng rõ ràng về sự không vô tư, khách quan của ngườitiÕn hành tố tụng vụ việc…
Trong những trường hợp nêu trên, cần thiết phải thực hiện mét quy trìnhnghiêm ngặt để xét lại tính có căn cứ, tính hợp pháp của bản án, quyết địnhdân sự của Toà án, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, đồng thời bảo vệ được cácquyền, lợi Ých hợp pháp của công dân Việc áp dụng pháp luật về thủ tụcgiám đốc thẩm vụ án dân sự có mục đích là đảm bảo cho tất cả các bản án,quyết định của Toà án là có căn cứ, tuân thủ các quy định của pháp luật về nộidung cũng như pháp luật về hình thức, phản ánh sự công bằng, khách quan vàđược dư luận xã hội đồng tình ủng hộ, có hiệu lực pháp luật thì phải được đưa
ra thi hành Nhưng sẽ là không công bằng và vi phạm nguyên tắc pháp chế,nếu để cho bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạmpháp luật, hoặc xâm phạm đến lợi Ých của các chủ thể khi tham gia vào cácquan hệ pháp luật mà vẫn được đưa ra thi hành Như vậy, sẽ tạo nên sự không
Trang 28đồng tình của của các chủ thể đối với các phán quyết của Toà án, làm choniềm tin vào pháp luật và công lý bị giảm sút, hoạt động xét xử không đạtđược mục đích là bảo vệ những quyền và lợi Ých hợp pháp của các nhân, tậpthể và Nhà nước Bởi vậy, thủ tục giám đốc thẩm là một quy trình chặt chẽ,bao gồm các bước như sau:
Bước 1: Khi bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật, nhưng bịkhiếu nại, kiến nghị, đề nghị được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, Toà án
có thẩm quyền giám đốc thẩm phải thụ lý yêu cầu và phải tiến hành các hoạtđộng theo một trình tự thủ tục nhất định, nhằm xác định chính xác xem bản
án, quyết định dân sự đó có được dựa trên các căn cứ pháp lý và sự kiện thực
tế hay không; quy trình ban hành bản án, quyết định đó có tuân thủ đúng cácquy định của pháp luật hay không Nói cách khác là Toà án có thẩm quyềngiám đốc thẩm phải xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án,quyết định dân sù có hiệu lực pháp luật, qua đó nhằm phát hiện vi phạm phápluật trong bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Như vậy, trênthực tế sẽ xảy ra hai trường hợp:
- Một là: Bản án, quyết định dân sự bị khiếu nại, kiến nghị, đề nghị
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm lại là bản án, quyết định có căn
cứ, đúng pháp luật, đồng nghĩa là việc khiếu nại, kiến nghị, đề nghịxem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là không có cơ sở;
- Hai là: Bản án, quyết định dân sự bị khiếu nại, kiến nghị, đề nghị
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là bản án, quyết định không cócăn cứ, không đúng pháp luật, đồng nghĩa là việc khiếu nại, kiếnnghị, đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là có cơ sở.Đây là bước đầu của hoạt động áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốcthẩm Về lý thuyết, bản án là văn bản cô đọng nhất, chứa đựng đầy đủ nộidung cơ bản của vụ án; các phân tích, nhận định, đánh giá của Hội đồng xét
xử về sự thật khách quan; các điều luật thuộc các văn bản quy phạm pháp luật
Trang 29cụ thể được viện dẫn áp dụng để giải quyết vụ án Tuy nhiên, không thể thựchiện hoạt động giám đốc thẩm vụ án dân sự mà chỉ qua việc xem xét bản án,quyết định và nội dung khiếu nại, kiến nghị của đương sự, cá nhân, cơ quan,
tổ chức khác, mà phải xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án để xác định chính xác yêu cầu, quan điểm của các bên đương sự; các tàiliệu, chứng cứ do các bên đương sự xuất trình để chứng minh cho yêu cầu,quan điểm của mình, các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh kết quả của cáchoạt động bổ trợ tư pháp như kết quả giám định, kết quả định giá, biên bảnxem xét tại chỗ, kết quả đo đạc để xác định sự thật khách quan của vụ án.Trên cơ sở đó mới xác định được những nhận định, đánh giá của Hội đồng xét
xử là có đúng đắn hay không, có cơ sở hay không và việc áp dụng các quyđịnh của pháp luật đã chính xác hay chưa Mục đích của bước này là phát hiện
sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án Trongtrường hợp bản án, quyết định dân sự của Toà án có sai lầm nghiêm trọng thìhoạt động áp dụng pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm tiếp tục chuyển tiếpsang giai đoạn thứ hai Còng trong giai đoạn này, nếu xét thấy việc thi hànhbản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế có thể gây ra hậu quảtiêu cực khó khắc phục, thì Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải đề xuấtngười có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm yêu cầu cơ quan Thi hành ándân sự có thẩm quyền ra quyết định hoãn thi hành bản án, quyết định dân sự
Trang 30dân sự thuộc loại sai lầm nào: Kết luận trong bản án, quyết định không phùhợp với những tình tiết khách quan của vụ án; cã vi phạm nghiêm trọng thủtục tố tụng hay có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Chỉ cótrên cơ sở xác định được loại sai lầm trong bản án, quyết định thì mới có thểyêu cầu người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đó, để đề nghịToà án có thẩm quyền giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định bị kháng nghịtheo thủ tục giám đốc thẩm VÒ lý luận thì như vậy, nhưng việc phân tíchnhững tình tiết thực tế khách quan của vụ việc và các đặc trưng pháp lý của
nó, đi đến kết luận là bản án, quyết định dân sự có sai lầm nghiêm trọng vàcần thiết phải khắc phục sai lầm đó suy cho cùng cũng là hoạt động mang tínhchủ quan của con người, nên không phải là khi bản án, quyết định bị khángnghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì có nghĩa là nó chắc chắn đã có sai lầmnghiêm trọng Tuy nhiên, kháng nghị giám đốc thẩm là điều kiện cần để Toà
án có thẩm quyền giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệulực theo thủ tục giám đốc thẩm Hậu quả pháp lý của bước này chính là việcbản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật của Toà án bị người có thẩmquyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Trong trường hợp cần thiết,song song với việc kháng nghị bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực phápluật, người có thẩm quyền kháng nghị có quyền ra quyết định tạm đình chỉviệc thi hành bản án, quyết định dân sự đó Người có thẩm quyền kháng nghịcũng có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút lại quyết định kháng nghị trongtrường hợp xét thấy việc kháng nghị là không có căn cứ vững chắc hoặckhông còn cần thiết nữa Nhưng khi một bản án, quyết định bị kháng nghịtheo thủ tục giám đốc thẩm thì chắc chắn vụ án phải được Toà án có thẩmquyền giám đốc thẩm xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Bước 3: Trên cơ sở kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền,trong thời hạn luật định, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải thực hiện
Trang 31các công việc chuẩn bị cho phiên toà giám đốc thẩm như chuẩn bị lịch xét xử,
dự kiến các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm sẽ tham gia xét xử, yêucầu VKSND cùng cấp cử đại diện tham gia phiên toà giám đốc thẩm, danhsách những người tham gia tố tụng sẽ được triệu tập để tham gia phiên toà;nghiên cứu hồ sơ vụ án, nội dung quyết định kháng nghị và làm bản thuyếttrình vÒ vụ án gửi các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm cùng nghiên cứu.Bước 4: Sau khi hoàn tất các công việc chuẩn bị cho phiên toà giám đốcthẩm, trong thời hạn luật định, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm mà trựctiếp là Hội đồng giám đốc thẩm sẽ thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật vềthủ tục giám đốc thẩm trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật.Hội đồng giám đốc thẩm sẽ xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án; các tài liệu, chứng cứ được bổ sung sau khi xét xử phúc thẩm;đối chiếu với những điểm sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật mà kháng nghị đã nêu ra, để xác định kháng nghị giám đốc thẩm củangười có thẩm quyền là có căn cứ hay không Trong trường hợp kháng nghịgiám đốc thẩm của người có thẩm quyền là không có căn cứ thì Hội đồnggiám đốc thẩm ra quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; còn trong trường hợp bản án, quyếtđịnh rõ ràng là có sai lầm nghiêm trọng và sai lầm đó đã được người có thẩmquyền nêu trong kháng nghị, tức là kháng nghị là có căn cứ, thì Hội đồnggiám đốc thẩm sẽ ra quyết định chấp nhận kháng nghị và sẽ tuỳ theo từngtrường hợp mà đưa ra cách thức xử lý để khắc phục sai lầm của bản án, quyếtđịnh, có thể là:
- Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới
đã bị huỷ hoặc bị sửa (trong trường hợp thấy bản án, quyết định củaToà án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật và bản án, quyết
Trang 32định của Toà án cấp phúc thẩm đã sửa hoặc huỷ bản án, quyết địnhcủa Toà án cấp sơ thẩm là không có căn cứ, không đúng pháp luật);
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩmlại (trong trường hợp thấy bản án, quyết định của Toà án cấp phúcthẩm và bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đều có sai sót doviệc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, kết luận trong bản án, quyếtđịnh không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, sai lầmnghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có sự vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng, mà không thể khắc phục được ở Toà
án cấp phúc thẩm);
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử phúcthẩm lại (trong trường hợp thấy bản án, quyết định của Toà án cấpphúc thẩm và bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đều có saisót do việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, kết luận trong bản án,quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, sailầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có sự vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng có thể khắc phục được ở Toà áncấp phúc thẩm);
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giảiquyết vụ án (trong trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đãchết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế, cơ quan, tổchức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, người khởikiện rút đơn khởi kiện, người khởi kiện không có quyền khởi kiện,các đương sự đã tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án tiếp tục giảiquyết vụ án)
Trang 33Sau khi xét xử giám đốc thẩm, trong thời hạn quy định của pháp luật,Hội đồng giám đốc thẩm phải hoàn thiện quyết định giám đốc thẩm và phảigửi quyết định giám đốc thẩm cho đương sự và những người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan, cho Toà án đã ra bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lựcpháp luật bị kháng nghị, cho Viện kiểm sát cùng cấp, cho cơ quan Thi hành
án dân sự có thẩm quyền; đồng thời còn phải thông báo kết quả giải quyếtgiám đốc thẩm vụ án đó cho cơ quan nhà nước và cá nhân người có thẩmquyền khác, nếu các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền đó theo quyđịnh của pháp luật, có quyền được nhận thông báo kết quả giám đốc thẩm(như Quốc hội, Trụ sở tiếp công dân của các ban Đảng và Nhà nước, các cơquan báo chí, đại biểu Quốc hội )
1.3 TÍNH KHÁCH QUAN VÀ CÁC CĂN CỨ ÁP DỤNG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.3.1 Áp dụng thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự là một yêu cầu mang tính khách quan
Giám đốc thẩm là xét lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của Toà án Hoạt động giám đốc thẩm giúp khắcphục được những sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nên
ở một chừng mực nào đó nó đảm bảo được sự công bằng cần thiết, nhưngđồng thời nó luôn có xu hướng phá vỡ tính ổn định của bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật và tạo ra tâm lý của đương sự là không thực sự tin tưởng
và phục tùng bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (là bản án, quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật ngay từ khi được ban hành), mà luôn trông chờ vàokết quả hoạt động giám đốc thẩm, nên dẫn đến tình trạng không chịu chấphành án và khiếu nại tràn lan bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm
Trang 34Vì vậy, trên thế giới hiện nay tồn tại các quan điểm khác nhau về việc nên haykhông nên quy định thủ tục giám đốc thẩm.
Quan điểm thứ nhất cho rằng không cần thiết phải có thủ tục giám đốc
thẩm Vì Toà án xét xử theo hai cấp (cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm), nếuthêm thủ tục giám đốc thẩm là mặc nhiên chúng ta công nhận Toà án xét xửtheo ba cấp Trong thực tế xã hội, rất nhiều loại công việc mà ta chỉ đượcphép làm một lần, nếu sai lầm thì rất khó, thậm chí là không thể có cơ hội sửachữa, khắc phục Bản án, quyết định có căn cứ, đúng pháp luật không cứ làphải xét qua nhiều lần, nhiều cấp Vấn đề cơ bản phụ thuộc vào sự phù hợpcủa hệ thống các quy phạm pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, vàotrình độ, năng lực, đạo đức nghề nghiệp của các Thẩm phán Mặt khác, saukhi Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử, trong thời hạn luật định, các đương sự, các
tổ chức xã hội có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị nêu lý
do không đồng tình với bản án sơ thẩm Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại nộidung kháng cáo, kháng nghị và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, thậm chí Toà án cấp phúc thẩm còn có thể xác minh, thu thập thêm tàiliệu, chứng cứ để đưa ra phán quyết Nếu việc xét xử của Toà án cấp sơ thẩm
là có căn cứ, đúng pháp luật, tức là bản án sơ thẩm đúng, thì Toà án cấp phúcthẩm sẽ quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm; nếu việc xét xử của Toà áncấp sơ thẩm là không có hoặc thiếu căn cứ, không đúng pháp luật thì Toà áncấp phúc thẩm có quyền sửa hoặc huỷ bản án sơ thẩm và nếu huỷ bản án sơthẩm thì hoặc sẽ giao cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại, hoặc sẽ đình chỉ vụ
án Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì bản án, quyÕt định phúc thẩm
là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và mọi công dân, tổ chức xã hội và
cơ quan Nhà nước phải nghiêm chỉnh thi hành Nếu ta xem xét lại chóng theothủ tục giám đốc thẩm thì sẽ làm mất đi tính ổn định của chính nã, tạo cơ hội
Trang 35sự khiếu nại, kiến nghị tràn lan, gây khó khăn cho Toà án cấp trên, đồng thờicản trở việc thi hành án.
Quan điểm thứ hai cho rằng cần thiết phải có thủ tục giám đốc thẩm, vì
trên thực tế các nhà làm luật đã tính đến vẫn có sai lầm khi Toà án ban hànhbản án, quyết định ở giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm
Chúng tôi ủng hộ quan điểm này, bởi lẽ, Toà án là cơ quan quyền lựcNhà nước duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết nhằmgiải quyết mâu thuẫn về quyền lợi chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá của cácchủ thể trong xã hội Việc ban hành bản án, quyết định được thông qua nhữngngười tiến hành tố tụng Mà những người tiến hành tố tụng có thể do lạmquyền hoặc do trình độ non kém vÒ nghiệp vụ, dẫn tới ra bản án, quyết địnhnhưng vẫn bị sai lầm Mặt khác bản án, quyết định do thẩm phán nhân danhNhà nước phán quyết, nên hiệu lực là của quyền lực Nhà nước có tính chấtcưỡng chế thi hành và không phải bất cứ một cơ quan quyền lực nào đó cóquyền sửa đổi hay điều chỉnh lại bản án, quyết định đó Nếu như không quyđịnh một thủ tục để xem xét lại những bản án và quyết định có hiệu lực phápluật nhưng vẫn bị sai lầm đó thì sẽ dẫn tới tình trạng: không bảo vệ được cácquyền, lợi Ých hợp pháp của công dân; tạo cơ hội cho các thẩm phán lạmquyền và mắc sai lầm; không phù hợp nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp luật nước ta và hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đềuquy định về thủ tục giám đốc thẩm, tuy ở mức độ và tên gọi khác nhau, nhưnước ta gọi là toà giám đốc nhưng một số nước khác gọi là toà phá án
Tóm lại, việc quy định thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụngxuất phát từ những yêu cầu là:
Thứ nhất, đảm bảo nguyên tắc pháp chế và nguyên tắc công bằng xã
hội trong hoạt động xét xử, để cho mọi bản án, quyết định của Toà án đã cóhiệu lực pháp luật tuyệt đối không được trái pháp luật;
Trang 36Thứ hai, thông qua thủ tục giám đốc thẩm, Toà án cấp trên có điều kiện
thống kê, kiểm tra các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhằm khắcphục, sửa chữa những sai phạm và tổng kết kinh nghiệm để hướng dẫn choviệc xét xử được thống nhất;
Thứ ba, đÓ đạt được mục đích là mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án không có sai phạm, thì thủ tục giám đốc thẩm chính là việcsửa chữa, khắc phục những sai sót trong quá trình xét xử và áp dụng pháp luật;
Thứ tư, để việc xét xử phải đảm bảo tính khách quan, công bằng và
đúng pháp luật
Việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giámđốc thẩm và việc áp dụng chúng trong thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt.Bởi vì việc đặt ra các quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm nhằm mụcđích đảm bảo cho tất cả các bản án, quyết định của Toà án có căn cứ, tuân thủcác quy định của pháp luật về nội dung cũng như các quy định của pháp luật
về hình thức, phản ánh sự công bằng, khách quan và được dư luận đồng tìnhủng hộ, có hiệu lực pháp luật thì phải được tôn trọng và thi hành trên thực tế
Sẽ là không công bằng và vi phạm nguyên tắc pháp chế, nếu bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của Toà án lại có sự vi phạm pháp luật, hoặcxâm phạm đến quyền và lợi Ých hợp pháp của các đương sự, mà vẫn được thihành Thực tế này tạo nên sự bất bình của các đương sự đối với các phánquyết của Toà án, làm cho niềm tin vào pháp luật và công lý bị giảm sút, làmcho công tác xét xử không đạt được mục đích là bảo vệ quyền và lợi Ých hợppháp của cá nhân, tập thể và Nhà nước
Việc xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà ántheo thủ tục giám đốc thẩm có ý nghĩa to lớn về cả lý luận và thực tiễn Thôngqua việc thực hiện thủ tục giám đốc thẩm, không chỉ nhằm huỷ bỏ bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đã có sai phạm, mà còn định hướng và
Trang 37trong một chừng mực nhất định nào đó, còn tạo ra tiền lệ để cho Toà án cấpdưới rút kinh nghiệm khi vận dụng giải quyết các vụ việc tương tự Do đó, thủtục giám đốc thẩm còn là một phương tiện hướng dẫn của Toà án cấp trên đốivới hoạt động xét xử của Toà án cấp dưới, nhằm đảm bảo áp dụng thống nhất
và đúng pháp luật Thông qua thủ tục giám đốc thẩm, Toà án còn góp phầnvào công tác tuyên truyền pháp luật, tạo niềm tin cho cộng đồng dân cư đốivới công lý và công bằng xã hội Việc thực hiện thủ tục giám đốc thẩm hoàntoàn phù hợp với thông lệ quốc tế, vì ở những nước có chế độ chính trị khácnhau cũng đều áp dụng thủ tục giám đốc thẩm ở một mức độ, một hình thứcnhất định Như vậy, việc quy định về thủ tục giám đốc thẩm là phản ánh vàđáp ứng những đòi hỏi là tất yếu khách quan của cuộc sống
1.3.2 Các căn cứ áp dụng thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự
“ở Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử” là nguyên tắc đã được quyđịnh trong Hiến pháp Do đó, mọi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệulực pháp luật nói chung, bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực nói riêngphải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng; cánhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định dân sự củaToà án đã có hiệu lực pháp luật phải nghiêm chỉnh chấp hành Tuy nhiên, đểđảm bảo việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất thì Toà áncấp trên phải thực hiện việc giám đốc đối với hoạt động xét xử của Toà án cấpdưới, TANDTC phải giám đốc hoạt động xét xử của Toà án các cấp; theo đó,nếu bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, qua hoạtđộng giám đốc mà phát hiện có vi phạm pháp luật sẽ được xem xét lại theothủ tục giám đốc thẩm
Quá trình tiến hành tố tụng một vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm,sau đó là tại Toà án cấp phúc thẩm bị chi phối bởi rất nhiều quy định của phápluật, bao gồm hệ thống những quy định pháp luật về nội dung có liên quan
Trang 38đến quan hệ pháp luật có tranh chấp (như BLDS, Luật HN và GĐ, Luật đấtđai, , và nhiều văn bản dưới Luật hướng dẫn) và hệ thống những quy địnhpháp luật về tố tụng (như BLTTDS, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phánTANDTC hướng dẫn thi hành BLTTDS, các văn bản quy phạm pháp luật củaliên ngành ) Vì vậy, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân
sự được biểu hiện rất đa dạng và dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên,không phải sự vi phạm pháp luật nào trong quá trình giải quyết một vụ án dân
sự cũng phải chịu hậu quả là bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực phápluật sẽ bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, ví dụ: Trong quá trình tiếnhành tố tụng, Toà án chưa tuân thủ triệt để các quy định về các loại thời hạn
tố tụng, dẫn đến kéo dài quá trình giải quyết vụ án Bản án, quyết định dân sựcủa Toà án đã có hiệu lực pháp luật chỉ bị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩmkhi có một trong những căn cứ sau đây:
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án Đây là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án,
Toà án đã nhận định về các tình tiết của vụ án không đúng với sự thật kháchquan, có thể là đã mô tả nội dung vụ án không đúng với thực tế; nhận địnhmang tính áp đặt, suy diễn thiếu căn cứ; quyết định giải quyết vụ án khôngphù hợp với các chứng cứ đã thu thập và được xác minh tại phiên toà; căn cứvào cả những chứng cứ không được thẩm tra tại phiên toà để kết luận Đặctrưng của căn cứ này là mặc dù sự thật khách quan đã được làm sáng tỏ, đãđược xác định chính xác, nhưng Toà án lại có những kết luận không phù hợp,thậm chí kết luận trái ngược
Tuy nhiên, hiện nay cũng chưa có một công trình khoa học pháp lý nàonghiên cứu hoặc một văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn thế nào là
“kết luận không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án” là căn cứ đểkháng nghị giám đốc thẩm Riêng tác giả luận văn này cho rằng đó phải là
Trang 39những kết luận ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung phán quyết của Toà án mới
là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm.
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Đây là các trường hợp
trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án không có thẩm quyền xét xử vụ án đónhưng thực tế lại đã xét xử (có thể sai về cấp xét xử, có thể sai về nơi xét xử);Toà án không xác định đầy đủ hoặc xác định sai tư cách của những ngườitham gia tố tụng; thành phần Hội đồng xét xử không đúng luật định hoặcThẩm phán, Hội thẩm nhân dân không được xét xử vụ án đó (đáng lẽ phải từchối hoặc bị thay đổi nhưng không từ chối, không bị thay đổi); đương sự,người bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của đương sự, người đại diện hợppháp của đương sự không được triệu tập hợp lệ đến phiên toà; Toà án khôngtiến hành hoà giải trong trường hợp bắt buộc phải hoà giải; Toà án không đợikết quả giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà vẫn tiến hành giảiquyết vụ án, trong khi sự việc bắt buộc phải được cơ quan Nhà nước có thẩmquyền giải quyết trước; các chứng cứ quan trọng không được đưa ra xem xét
tại phiên toà, mới là cơ sở để kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tuy nhiên, đến nay cũng chưa có một công trình khoa học pháp lý nàohoặc một văn bản quy phạm pháp luật nào chỉ ra đầy đủ các trường hợp bị coi
là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết
vụ án, nên việc vận dụng căn cứ này để xét lại bản án, quyết định dân sự củaToà án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm là vấn đề cần phải
có sự nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, để thống nhất áp dụng Riêng tácgiả luận văn này cho rằng chỉ coi là “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”nếu sự vi phạm đó làm ảnh hưởng hoặc có khả năng ảnh hưởng đến việc giảiquyết đúng đắn vụ án
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Đây là các
trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã áp dụng không đúngcác quy định pháp luật cần áp dụng Việc áp dụng không đúng các quy định
Trang 40của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án có thể là áp dụng không đúngcác quy định của pháp luật về nội dung, dẫn đến xác định sai quan hệ phápluật có tranh chấp (ví dô: Ông A tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ củaCông ty bảo hiểm B, hợp đồng điều khoản quy định trong trường hợp ông A
bị thương tật tổn hại sức khoẻ vĩnh viễn thì sẽ được hưởng bảo hiểm Sau khitham gia hợp đồng một thời gian, ông A bị thương tật tổn hại sức khoẻ vĩnhviễn và đã yêu cầu Công ty B bồi thường tiền bảo hiểm Công ty B từ chối vìcho rằng có khuất tất trong việc ông A bị thương tật Ông A khởi kiện Công
ty B, yêu cầu Toà án buộc Công ty B bồi thường tiền bảo hiểm Như vậy,quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” Toà ánthụ lý giải quyết lại cho rằng đây là vụ án dân sự về “Đòi bồi thường thiệt hại
do sức khoẻ bị xâm phạm”, nên không căn cứ vào các quy định của BLDS vềhợp đồng bảo hiểm và Luật kinh doanh bảo hiểm để giải quyết); có thể là ápdụng không đúng các quy định của pháp luật về tố tụng (ví dụ: Trong quátrình giải quyết vụ án, Toà án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ ánvới lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắngmặt Tuy nhiên, qua hoạt động giám đốc thẩm đã xác định Toà án đã thựchiện việc triệu tập đương sự không đúng theo các quy định của pháp luật, nênviệc triệu tập nguyên đơn của Toà án chưa thể được coi là hợp lệ Vì vậy, việcToà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án là không có căn cứ phápluật); có thể là áp dụng quy định pháp luật đã hết hiệu lực (ví dô: Tháng5/2006, A và B giao kết hợp đồng mua bán ô - tô và thoả thuận phương thứcthanh toán bằng đô-la Mỹ Căn cứ vào Điều 290 BLDS năm 2005 thì hợpđồng nêu trên không bị vô hiệu về phương thức thanh toán Tuy nhiên, khigiải quyết tranh chấp, Toà án lại căn cứ vào các điều 131, 295 và 424 BLDS năm
1995 để xác định hợp đồng giữa A và B là vô hiệu do vi phạm quy định vềphương thức thanh toán)
Ngoài ra, hiện nay có quan điểm cho rằng cần phải bổ sung thêm căn
cứ kháng nghị giám đốc thẩm là “việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa