1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên

107 725 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 13,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4.3 Tỷ lệ các loài thiên địch của sâu hại lúa trong sinh quần ruộng lúa 4.4 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ C.. Từ những cơ sở khoa học trên với mục đích tìm hiểu nghiên

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP Hà Nội

- -

Lê thị hồng nhung

Thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) và biện pháp phòng chống

vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, HƯng Yên

Luận văn thạc sĩ NÔNG nGHIệP

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số : 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Đình Chiến

Hà Nội - 2010

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ2

đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ2 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Nông học, Viện Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Ban Giám Đốc cùng toàn thể cán bộ phòng Dự báo & Chuyển giao - Trung tâm Bảo Vệ Thực Vật phía Bắc đã hỗ trợ giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Đình Chiến đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tác giả luận văn

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 4

3.2 Đối t−ợng, Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 29

4.1 Thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng vụ xuân 2010 tại

4.1.1 Thành phần sâu hại lúa vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, H−ng Yên 37

Trang 5

4.1.2 Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ xuân 2010 tại Văn Lâm,

4.2 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ

4.2.1 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis)

trên các giống lúa phổ biến ngoài sản xuất vụ xuân 2010 tại Văn

4.2.2 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis)

trên các chân đất khác nhau tại Văn Lâm, Hưng Yên 49 4.3 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến mật độ, tác hại

của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn Lâm,

4.3.1 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến diễn biến

mật độ, tác hại của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010

4.3.2 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (1 dảnh) đến diễn biến

mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010

4.4 Diễn biến mật độ thiên địch và tỷ lệ sâu cuốn lá nhỏ (C

medinalis) bị kí sinh vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên 59 4.4.1 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis)

4.4.2 Tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ kí sinh trứng ở các lứa chính của sâu cuốn

lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên 61 4.4.3 Tỷ lệ sâu non sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) bị kí sinh vụ xuân

Trang 6

4.5 B−íc ®Çu nghiªn cøu nguån s©u cuèn l¸ nhá chuyÓn tõ vô mïa

4.6 Kh¶o s¸t hiÖu lùc cña mét sè lo¹i thuèc BVTV phßng trõ s©u

Trang 7

Danh môc c¸c ch÷ t¾t

Bvtv B¶o vÖ thùc vËt

Trang 8

4.3 Tỷ lệ các loài thiên địch của sâu hại lúa trong sinh quần ruộng lúa

4.4 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis)

trên một số giống lúa vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên 474.5 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis)

trên các chân đất khác nhau vụ xuân 2010 tại Trưng Trắc, Văn

4.6 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến diễn biến

mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn

4.7 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến tỷ lệ hại

của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn Lâm,

4.8 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (1 dảnh) đến diễn biến

mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn

4.9 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (1 dảnh) đến tỷ lệ hại

của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn Lâm,

4.10 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis)

trên giống lúa khang dân 18 tại Văn Lâm, Hưng Yên 60

Trang 9

4.11 Tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ kí sinh trứng ở các lứa chính của sâu cuốn

lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên 624.12 Tỷ lệ sâu non sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) bị kí sinh vụ xuân

4.13 Thành phần sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra

Swartz), cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R Br.) A Cam) sau vụ mùa 2009 tại Văn Lâm , Hưng Yên (pha trưởng

4.14 Thành phần các loài sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra

Swartz), cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R Br.) A Cam) nuôi từ sâu non thu ngoài đồng sau vụ mùa 2009 tại Văn Lâm,

4.15 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ bấc đuôi chuột

(Sacciolepis myosuroides (R Br.) A Cam) sau vụ mùa 2009 tại

4.16 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra

Swartz) sau vụ mùa 2009 tại Văn Lâm, Hưng Yên 674.17 Tỷ lệ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ bấc đuôi chuột , cỏ môi gây hại

4.18 ảnh hưởng của một số thuốc BVTV đến diễn biến mật độ sâu

cuốn lá nhỏ trên lúa vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên ở các

4.19 Hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ của một số loại thuốc BVTV

Trang 10

4.8 Bä rïa 6 v»n (Menochilus sexmaculatus Fabr) 45 4.9 Bä 3 khoang 4 chÊm tr¾ng (Ophionea indica Thunbr) 45 4.10 Ong ®en kÐn tr¾ng tËp thÓ (Cotesia angustibasis (Gahan)) 45 4.11 Ong ®en (Cardiochiles phillippines Ashmead) 46 4.12 Ong kÐn nhá (Apanteles liparidis Bouche) 46 4.13 NhÖn ch©n dµi (Tetragnatha mandibulata Walck) 46

Trang 11

4.30 TriÖu chøng h¹i cña s©u cuèn l¸ nhá trªn cá bÊc ®u«i chuét

Trang 12

danh mục hình

4.1 Diễn biến mật độ của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) trên một số

giống lúa vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên 484.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) trên các chân

đất khác nhau vụ xuân 2010 tại Trưng Trắc, Văn Lâm 51

4 3 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến diễn biến

mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn

4.4 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (1 dảnh) đến diễn biến

mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) vụ xuân 2010 tại Văn

4.5 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) trên

giống lúa khang dân 18 vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên 614.6 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ bấc đuôi chuột

(Sacciolepis myosuroides (R Br.) A Cam) sau vụ mùa 2009 tại

4.7 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra

Swartz) sau vụ mùa 2009 tại Văn Lâm, Hưng Yên 68

Trang 13

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Lúa là cây lương thực quan trọng hàng đầu ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, là nguồn thức ăn chủ yếu của trên 3 tỷ dân sống ở châu á và cung cấp 1/3 lượng calo cần thiết cho gần 1,5 tỷ dân ở Châu Mỹ la tinh và Châu Phi [64]

ở nước ta cây lúa chiếm khoảng 80% tổng sản lượng lương thực của cả nước

Đối với nước ta, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong đó lúa là cây lương thực chính và chiếm diện tích lớn nhất trong tổng diện tích trồng cây lương thực ở nước ta Sự thay

đổi toàn diện hệ thống canh tác lúa với những giống lúa cải tiến, phân hoá học

và hơn thế nữa việc lạm dụng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không theo nguyên tắc “4 đúng” làm phát sinh nhiều loài dịch hại mới, làm thay đổi thành phần sinh vật gây hại và thiên địch của chúng, bên cạnh đó còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng Một số loài trước đây gây hại

đáng kể, nhiều năm gây hại nghiêm trọng, song thời gian gần đây có thể chúng không được coi là dịch hại nghiêm trọng nữa như sâu gai (Dicladispa armigera), sâu cắn gié (Mythimna separata) Trong khi đó một số loài thứ yếu trong những năm gần đây lại trở thành loài dịch hại chủ yếu như sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai chấm, rầy nâu, rầy nâu nhỏ, nhện gié

Sâu cuốn lá nhỏ trong những năm gần đây thường có diện tích bị nhiễm nặng cao nhất trong các loài dịch hại lúa với diện tích bị nhiễm nặng hàng năm từ hàng chục đến hàng trăm nghìn hécta, mật độ sâu non nhiều nơi lên tới hàng trăm con/m2 Theo báo cáo tổng kết công tác bảo vệ thực vật của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, chỉ riêng vụ xuân 2010 tổng diện tích lúa bị nhiễm sâu cuốn lá nhỏ là 314.509,7 ha trên các trà lúa, đặc biệt là giai đoạn

đòng - trỗ, cao gần gấp 2 lần so với vụ xuân 2007 (168.815ha), sâu non gây

Trang 14

hại nặng ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hoà Bình, Quảng Ninh, Bắc Giang và Hà Nam Mật độ phổ biến 30-50con/m2 cao 100-200 con/m2 cá biệt 300-500 con/m2 Nguyên nhân chính làm cho sâu cuốn lá phát sinh phát triển mạnh có thể do chế độ thâm canh chưa hợp lý, bộ giống lúa thuần Trung Quốc chiếm ưu thế, sử dụng quá nhiều phân hoá học và thuốc trừ sâu đ2 làm cho hệ sinh thái ruộng lúa biến đổi có lợi cho sự phát triển của sâu cuốn lá nhỏ

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất, được sự phân công của Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật

độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở điều tra nắm được thành phần thiên địch của sâu hại lúa

đồng thời theo dõi diễn biến mật độ và mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ vụ xuân 2010 tại Văn Lâm, Hưng Yên, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ hợp lý

đạt hiệu quả kinh tế và môi trường

- Bước đầu tìm hiểu nguồn sâu cuốn lá nhỏ chuyển từ vụ mùa sang vụ xuân năm sau

- Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc BVTV phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ

Trang 15

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Để nâng cao hiệu quả kinh tế, con người không ngừng hoàn thiện hệ thống canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên, x2 hội của từng vùng Điều này phần nào đ2 thay đổi các yếu tố sinh thái trong môi trường sống, dẫn đến làm thay đổi mật độ của chủng quần dịch hại, một số dịch hại có xu hướng tăng lên và một số dịch hại có xu hướng giảm đi Trong điều kiện môi trường sống thuận lợi, dịch hại sẽ bùng phát về số lượng và phát sinh thành dịch Nghiên cứu động thái quần thể giúp cho việc dự tính được số lượng quần thể sâu hại

và thiên địch quan trọng của chúng trong điều kiện đồng ruộng Vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái đồng ruộng sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh tổn thất do dịch hại gây ra, bảo vệ môi sinh và góp phần giữ cân bằng hệ sinh thái

Vào những năm 60 của thế kỷ, sâu cuốn lá nhỏ là loài gây hại thứ yếu, hầu như con người không mấy quan tâm bởi mức độ hại của chúng là không

đáng kể Tuy nhiên khi cuộc cách mạng xanh nổ ra đ2 làm thay đổi bộ mặt của ngành sản xuất Nông nghiệp trên thế giới, sản lượng lúa gạo tăng lên mạnh mẽ nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Từ những năm 70 của thế kỷ, sâu cuốn lá nhỏ đ2 trở thành mối nguy hại cho các vùng trồng lúa trên thế giới, sâu có mặt thường xuyên và gây hại nghiêm trọng ở các nước thuộc châu á, châu Phi và quần đảo Thái Bình Dương ở Trung Quốc sâu cuốn lá nhỏ được coi là một trong những loài sâu hại lúa nguy hiểm nhất

ở Việt Nam nói chung, ở các tỉnh phía Bắc nói riêng trong những năm gần đây sâu cuốn lá nhỏ là đối tượng gây hại chủ yếu trên các vùng trồng lúa Phạm vi phân bố và mức độ gây hại ngày càng lớn

Trang 16

Theo báo cáo tổng kết công tác của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc cho thấy sâu cuốn lá nhỏ trong một năm thường có 7 lứa phát sinh Thời gian phát sinh sớm hay muộn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, cơ cấu thời vụ gieo cấy và sinh trưởng của cây trồng Diện tích nhiễm các đối tượng này có xu thế ngày một tăng lên: năm 1998 diện tích nhiễm sâu cuốn lá nhỏ là 268.200 ha,

đến năm 2003 là 578.230 ha và đến vụ xuân năm 2008 là 491.950 ha

Để hạn chế tác hại do sâu cuốn lá nhỏ, xu hướng ngày nay trong nông nghiệp thế giới bắt đầu từ thập kỷ 80 là xây dựng một hệ thống "Nông nghiệp bền vững", trong đó biện pháp phòng trừ tổng hợp đóng vai trò quan trọng

Phòng trừ tổng hợp (IPM) đ2 có hơn 30 năm nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất Ngày nay nó đ2 trở thành chiến lược phòng trừ sâu bệnh ở nhiều nước trên thế giới ở nước ta phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng là một nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ thực vật

Từ những cơ sở khoa học trên với mục đích tìm hiểu nghiên cứu mối quan hệ giữa cây lúa với sâu cuốn lá nhỏ và thiên địch của chúng để từ đó đề xuất một số cải tiến trong biện pháp phòng trừ chúng, nhằm làm giảm thiệt hại

do chúng gây ra, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đưa ngành nông nghiệp nước nhà tiến tới một nền nông nghiệp sạch và bền vững góp phần đảm bảo chương trình an ninh lương thực quốc gia

2.2 Nghiên cứu nước ngoài

2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa

Kết quả điều tra của Dale, Kiritani [50], [56] trên thế giới có hơn 800 loài sâu hại lúa Đông Nam á đ2 phát hiện được khoảng hơn 100 loài [63], [65] ở Trung Quốc đ2 phát hiện hơn 200 loài [47], [58] Tuy nhiên trong số

đó chỉ có số ít loài gây hại nặng cho cây lúa, còn đa số không gây hại hoặc ít gây hại Số loài gây hại giữa các vùng không giống nhau

Trang 17

Kết quả nghiên cứu của Kiritani [56] ở châu á có tới 20 loài sâu hại chính, ở châu úc chỉ có 9 loài, châu Mỹ là 13 loài và châu Phi có 15 loài Đa

số các loài còn lại ít gây hại hoặc gây hại không đáng kể

Trên thế giới ở các nước trồng lúa khác nhau các loài sâu hại chính cũng khác nhau Theo Nagarajan [62] ấn Độ có 4 loài đó là sâu đục thân hai chấm, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và sâu năn Nhưng theo Chiu [47] ở Trung Quốc có 7 loài gây hại chính là: Sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn và bọ trĩ Nhật Bản có các loài sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, rầy nâu, rầy xanh đuôi

đen… [56] Số lượng các loài sâu gây hại chính phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có khoảng 22 loài, giai

đoạn làm đòng đến trỗ khoảng 8 loài và giai đoạn chín chỉ có 3 - 4 loài [63] 2.2.2 Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa

Thiên địch của sâu hại lúa rất đa dạng và phong phú, chúng có vai trò rất quan trọng, không những chúng góp phần điều chỉnh mật độ quần thể sâu hại phát triển dưới ngưỡng gây hại kinh tế ở một điều kiện cụ thể nào đó mà còn giúp con người hạn chế được số lần phun thuốc hoá học trên đồng ruộng, giữ cho môi trường trong sạch, sinh thái ổn định Tuy nhiên mối quan hệ giữa các nhóm thiên địch với sâu hại có chặt chẽ hay không, vai trò của từng nhóm

đó hay với mỗi loài trong các nhóm có ảnh hưởng sâu sắc ra sao với việc điều chỉnh số lượng của sâu hại thì không như nhau

Qua các công trình nghiên cứu người ta thấy rằng trong 3 nhóm thiên

địch của sâu cuốn lá nhỏ là nhóm bắt mồi ăn thịt, nhóm kí sinh và nhóm vi sinh vật gây bệnh thì nhóm kí sinh đặc biệt là các loài kí sinh chuyên tính có mối quan hệ rất chặt chẽ, có vai trò rất quan trọng trong việc làm giảm mật độ quần thể sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng [46] W.H.Reissing và cộng sự (1986) [68] cho biết trên đồng ruộng vùng nhiệt đới các kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ hoạt động rất tích cực, chúng tấn công sâu cuốn lá nhỏ ở tất

Trang 18

cả các pha phát dục Ngoài nhóm thiên địch bắt mồi và kí sinh, nhóm vi sinh vật gây bệnh cho sâu cuốn lá nhỏ bao gồm các loại nấm, virus, vi khuẩn… có vai trò không nhỏ trong việc làm tăng tỷ lệ chết tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng, làm giảm mật độ sâu cuốn lá nhỏ cùng với các nhóm thiên

địch khác

Theo Vinsens [46], kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ có vai trò giữ cho quần thể sâu cuốn lá nhỏ dưới ngưỡng gây hại mà tại đó không cần sử dụng biện pháp phòng trừ Tác giả Copel H.C , J.W Mertins [49] kết luận các loài côn trùng bắt mồi, nhện ăn thịt và côn trùng ký sinh có vai trò rất quan trọng trong đấu tranh sinh học

Số lượng các loài côn trùng ký sinh rất phong phú, ở Trung Quốc có tới

30 loài ong ký sinh, trong đó loài có khả năng ký sinh cao nhất là Apanteles cypris và Elasmus sp Trong năm tỷ lệ ký sinh sâu non do loài Apanteles cypris ở lứa 3 chiếm 36,2% lứa 4 chiếm 21,6% [46] Chen và Chiu [48] cho thấy có 25 loài thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ, trong đó có 21 loài ong ký sinh, 2 loài nhện ăn thịt và 2 loài nấm gây bệnh

2.2.3 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ

2.2.3.1 Nghiên cứu sự phân bố của sâu cuốn lá nhỏ

Sâu cuốn lá nhỏ là một trong những loài sâu hại lúa chính ở nhiều vùng trồng lúa trên thế giới, loài Cnaphalocrocis medinalis Guenee có phân bố rộng Bản đồ phân bố của sâu cuốn lá nhỏ được CIE thể hiện năm 1987 sau đó Khan và cộng sự có bổ sung rồi được Barrion hoàn chỉnh [57]

ở châu á hầu hết các nước đều xuất hiện loài sâu hại này Điển hình là Thái Lan, ấn Độ, Trung Quốc, Apganixtan, Bangladet, Brunay, Butan… ở châu Đại Dương sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin… Như vậy sâu cuốn lá nhỏ phân bố chủ yếu là vùng Nam và Đông Nam Châu

á, thuộc những nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và cũng là nơi có diện tích

Trang 19

trồng lúa lớn nhất thế giới, gần đây sâu cuốn lá nhỏ trở thành loài dịch hại chính trên cánh đồng lúa ở Chia-Nan [74]

2.2.3.2 Nghiên cứu phạm vi ký chủ của sâu cuốn lá nhỏ

Ký chủ chính của sâu cuốn lá nhỏ là cây lúa, chúng còn gây hại trên lúa mì, cao lương, đại mạch Ngoài ra chúng còn có một số ký chủ phụ như: cỏ lá tre, cỏ môi, cỏ lồng vực, cỏ gà nước, cỏ bấc…[46]

Theo Barrion và cộng sự [45] sâu cuốn lá nhỏ có 19 loại ký chủ khác nhau với phổ ký chủ tương đối rộng Sâu cuốn lá nhỏ có thể tồn tại khi trên

đồng ruộng thiếu vắng ký chủ chính, sự chu chuyển của chúng qua các mùa

vụ nhờ các ký chủ phụ là các cây trồng hoặc các cây dại quanh ruộng lúa 2.2.3.3 Nghiên cứu về thành phần sâu cuốn lá nhỏ

ở châu á W.H.Reissig, E.A.Heinrichs và cộng tác viên [75] đ2 xác định

được 4 loài là Cnaphalocrois medinalis, Marasmia exigua, Marasmia patnalis

và Marasmia ruralis Sự khác biệt giữa 4 loài này chủ yếu phân biệt thông qua

đặc điểm vân cánh Loài Cnaphalocrocis medinalis được phân biệt bởi nét đặc trưng là giữa 2 vân ngang màu tro xám có một vân cụt to đậm, khác với loài Cnaphalocrocis medinalis loài Marasmia exigua có nét đặc trưng trên đôi cánh

là vân ngang, giữa trên đôi cánh ngoài hình gấp khúc, còn loài Marasmia patnalis thì ở mép trên đôi cánh ngoài có viền nâu đậm tới vân ngoài của cánh, vân ngang giữa gián đoạn không liền nét, khác với 3 loài trên, loài Marasmia ruralis có nét đặc trưng là ở giữa mép trên của đôi cánh ngoài có điểm đen to hình ovan nằm ngang, mép ngoài của cánh có viền nâu mảnh Đặc điểm chi tiết

về phân loại và các giai đoạn phát dục của Cnaphalocrocis medinalis Guenee đ2

được Barrion cùng cộng sự mô tả chi tiết năm 1991 [45], [53]

2.2.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái sâu cuốn lá nhỏ

Các pha phát dục của sâu cuốn lá nhỏ đ2 được Kotama (1969) và Barrion cùng cộng sự (1991) [45] nghiên cứu rất chi tiết

Trang 20

- Trứng được đẻ thành từng quả rải rác hoặc thành cụm từ 3-8 trứng ở mặt dưới lá lúa, trong 24 giờ trứng thành thục dài 0,93 mm màu vàng sáng, hình ovan, mặt bụng phẳng, mặt trên gồ lên ở đoạn giữa

- Sâu non mới nở có màu trắng sữa, đầu nâu đậm hoặc đen sau chuyển sang màu trắng xám hoặc vàng sáng, trên cơ thể có nhiều lông ngắn Tuổi 1 cơ thể nhỏ dài 2 mm rộng 0,2 mm; tuổi 2 dài 4,4 mm rộng 0,68 mm; tuổi 3 dài 7 mm rộng 1,2 mm; tuổi 4 cơ thể mập mạp dài 9 -10 mm rộng 0,68 mm; tuổi 5 đầu nâu sáng, cơ thể được bao phủ bởi các lông cứng màu nâu nhạt, sâu

đẫy sức dài 16 mm rộng 1,8 mm, cuối tuổi 5 sâu non nhả tơ tạo kén trong tổ

cũ, cơ thể chuyển màu vàng nhạt, nằm im từ 24 - 48 giờ, giai đoạn tiền nhộng chuyển sang màu nâu sáng

- Nhộng nằm ở trong tổ cuốn, màu sắc chuyển từ nâu sáng thành nâu

đỏ, nhộng có chiều dài 9 - 12 mm, rộng 1,6 - 3 mm, nhộng có các r2nh sinh dục rõ ở đốt bụng thứ 8, con đực là đốt bụng thứ 9

- Trưởng thành có màu nâu vàng, vân mép cánh rộng màu nâu đậm, có

3 vân ngang hình lượn sóng ở cánh trước, vân trong và vân ngoài là vân liền, vân giữa là vân cụt, sải cánh dài 17 - 20 mm, con đực có túm lông màu nâu nhạt hoặc trắng xám sắp xếp trên mạch C của cánh trước

2.2.3.5 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của sâu cuốn lá nhỏ

Theo Pathak [65] Sâu cuốn lá nhỏ là loài biến thái hoàn toàn, vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ từ 33-34 ngày Theo Dale [50] vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ khoảng từ 24-39 ngày Trong thời gian phát dục của pha trứng từ 3-6 ngày, sâu non từ 15-30 ngày, nhộng 4-8 ngày

Sâu cuốn lá nhỏ trải qua 5 tuổi thời gian phát dục của sâu non phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây lúa và nhiệt độ ở nhiệt độ 25oC giai đọan lúa đẻ nhánh thời gian phát dục là 15,5 - 16,5 ngày, nhưng ở giai đoạn đòng thời gian phát dục là 18,5 - 20,5 ngày Thời gian phát dục của pha nhộng ở nhiệt độ 25oC, 27oC và 30oC tương ứng là 7,6; 5,8 và 5,3 ngày [46]

Trang 21

Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ thường hoạt động về ban đêm Trứng thường đẻ rải rác hoặc thành ổ 10-12 quả xếp dọc theo gân chính lá lúa Lượng trứng đẻ nhiều nhất vào đêm thứ 4-7, sau khi trưởng thành vũ hoá, một con cái có thể đẻ khoảng 300 trứng Sâu non từ tuổi 2 trở đi cuốn lá làm tổ và nằm trong đó gặm chất xanh của lá chỉ để lại gân lá, khi đẫy sức sâu làm nhộng ngay trong tổ hoặc xuống bẹ lá phía dưới để hoá nhộng [65], [67], [70]

Tại ấn Độ sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại từ 5-6 lứa trong một năm Tại Korala trong điều kiện nhân nuôi giai đoạn trứng là 4 ngày, sâu non có 5 tuổi, thời gian các tuổi trung bình là 3,0; 5,0; 3,8; 4,0; 5,4 ngày từ tháng 10

đến tháng 3, tổng thời gian phát dục của sâu non trung bình là 24,2 ngày, giai

đoạn nhộng dài nhất là 7,4 ngày Trong điều kiện nhân nuôi thời gian trứng là 3-4 ngày, sâu non là 15-17 ngày, nhộng là 6-7 ngày, trưởng thành sống 2-3 ngày Mỗi con trưởng thành đẻ trung bình là 100 trứng

ở Philippin đặc điểm sinh vật học của sâu cuốn lá nhỏ được nhiều tác giả nghiên cứu như Olanes và Sison (1941), Lim (1962), Barrion và cộng sự (1987, 1991), Mun Y.D (1982) [61] Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian từ trứng đến trưởng thành là 25 - 52 ngày Trong đó thời gian trứng là 3 - 6 ngày, sâu non là 15 - 36 ngày, nhộng là 6 - 9 ngày, tuy nhiên theo Gonzales (1974) [52] cho rằng thời gian này từ 2 - 18 ngày

ở Malaysia vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ là 35 ngày, các giai đoạn phát dục trong điều kiện nhân nuôi là: Trứng 4 ngày, sâu non 21 ngày, nhộng 7 ngày Thời gian trước đẻ trứng của trưởng thành là 3-4 ngày [20]

ở Bangladet sâu cuốn lá nhỏ phát sinh mỗi năm có 5-6 lứa Vòng đời sâu cuốn lá nhỏ trung bình 40,7 ngày, dao động trong khoảng 34- 47 ngày Trong điều kiện nhân nuôi thời gian trứng là 5,6 ngày, sâu non là 25 ngày, nhộng là 6,6 ngày và trưởng thành trước đẻ trứng là 1-3 ngày [43]

Trang 22

2.2.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển và sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ

Chang và cộng sự (1981) [46] cho rằng loài sâu hại này xuất hiện và gây hại ở phía bắc Trung Quốc từ mùa xuân đến đầu mùa hè, còn ở vùng Tây nam chúng qua đông và bắt đầu vào mùa thu Qua nhiều năm nghiên cứu họ thấy rằng ở quần thể sâu hại này có sức đẻ trứng trung bình là 153 trứng/con cái Sâu cuốn lá nhỏ rất phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu ở Trung Quốc, giai đoạn phát dục của sâu cuốn lá nhỏ ngắn lại khi nhiệt độ cao Sau khi qua

đông hoạt động sinh sản của con cái trở lại bình thường Có 5 lứa sâu trong 1 năm Vào tháng 8 và tháng 9 quần thể sâu hại tạm ngừng sinh trưởng, ngài sống từ 4 - 7 ngày Theo nghiên cứu của Hirao (1982) [54] tại Trung Quốc thì

sự bùng phát dịch của sâu cuốn lá nhỏ gây ra vào các năm 1967, 1970, 1971,

1974 và 1981

ở các nước vùng á nhiệt đới và châu á sâu cuốn lá nhỏ phát sinh quanh năm nhưng phát triển mạnh trong mùa mưa [50], [65] Các nước có mùa đông lạnh sâu cuốn lá nhỏ phát sinh từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ cũng di chuyển theo mùa từ Trung Quốc đến Nhật Bản và Triều Tiên [50]

Việc sử dụng phân bón không hợp lý đặc biệt là đạm sẽ tác động lớn

đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ Bón Kali hợp lý có tác dụng làm giảm thiệt hại của sâu cuốn lá nhỏ Bón phân đạm với lượng 30, 60, 90, 120 và 150 kg/ha cho giống lúa ngắn ngày kết quả tỷ lệ lá hại tăng theo lượng đạm bón [46] Kết quả nghiên cứu của Jaswant singh [55] ô không bón đạm, 30, 60 và bón

150 kg/ha có tỷ lệ lá hại tương ứng 10,53%; 11,0%; 15,3% và 16% Kết quả trên chỉ ra rằng lượng phân đạm có mối quan hệ chặt chẽ với sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ, bón đạm càng cao thì sự gây hại càng lớn và ngược lại

Việc sử dụng quá nhiều lượng phân bón sẽ làm tăng mật độ của sâu cuốn lá nhỏ đặc biệt là phân đạm Bón phân kali với liều lượng hợp lý có tác

Trang 23

dụng làm giảm thiệt hại của sâu cuốn lá nhỏ Theo nghiên cứu của Phaliwal (1979) [46] với thí nghiệm phân bón ở các công thức thí nghiệm là 30, 60, 90,

120 và 150 kg N/ha nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa tỷ lệ lá hại với chiều tăng của phân đạm Kết quả cho thấy nhóm lúa ngắn ngày từ 110 - 120 ngày

có tỷ lệ lá hại tăng theo chiều tăng của lượng đạm được bón

Lượng phân bón cũng liên quan đến khả năng đẻ trứng của trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ Kết quả nghiên cứu của Liang [59] bón đạm 6, 12, 18 và 24 kg/N số lượng trứng thu được tương ứng là 72, 76, 121 và 161 quả/khóm

Phương pháp bón phân cho lúa cũng ảnh hưởng tới mật độ sâu cuốn lá nhỏ ngoài đồng ruộng, các công thức bón lót đều bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng hơn sau đó mới bón thúc Trong cách bón thúc thì cách vo viên dúi gốc

có tỷ lệ lá hại cao hơn cả Nhận xét trên của Saroja và Raju (1981) [69] cho thấy tỷ lệ lá bị hại cũng phụ thuộc vào phương pháp bón phân

Mật độ cấy ảnh hưởng đến số lượng sâu cuốn lá nhỏ, mật độ cấy dày thường có mật độ sâu cuốn nhỏ cao hơn mật độ cấy thưa Theo kết quả nghiên cứu của Thangamuthu [72] với nền phân bón 70kgN/ha, cấy ở 4 mật độ 10x15; 15x20; 20x20 và 30x20cm Kết quả điều tra 55 ngày sau cấy tỷ lệ lá hại ô 10x15cm là 36% nhưng ô 15x20cm tỷ lệ lá hại chỉ 12%

Các giai đoạn sinh trưởng của lúa khác nhau, mức độ hại của sâu cuốn lá nhỏ cũng khác nhau Sản lượng của lúa giảm nhiều nhất nếu sâu cuốn lá nhỏ gây hại vào lúc lúa trỗ, trung bình vào giai đoạn lúa đẻ nhánh và nhẹ nhất

ở giai đoạn lúa chín sữa [51], [71]

Thời vụ khác nhau mức hại của sâu cuốn lá nhỏ cũng khác nhau Gieo cấy sớm, tập trung mức hại giảm hơn gieo cấy muộn [71]

Các giống lúa khác nhau thì mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ cũng khác nhau Theo Majunder và Pathak [60], có nhận xét giống lúa bị sâu cuốn lá nhỏ nặng thường là giống có có bản lá to màu xanh đậm, chiều cao cây và

Trang 24

chiều dài lá lớn hơn các giống khác Tuy nhiên ở vùng Đông Nam á chưa có giống nào chống chịu với sâu cuốn lá nhỏ

2.2.3.7 Biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ

- Biện pháp sinh học:

Ngày nay với mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững, biện pháp

đấu tranh sinh học trong đó nguyên lý cơ bản là lợi dụng các mắt xích thiên

địch của sâu hại để khống chế, điều chỉnh mật độ của chúng phát triển dưới ngưỡng gây hại đang là biện pháp được khuyến khích để góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường, giữ cân bằng sinh thái

Việc ứng dụng biện pháp đấu tranh sinh học để xây dựng một hệ thống phòng trừ tổng hợp đang gặp phải một số khó khăn đó là việc sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu bệnh ngày một gia tăng do trình độ thiếu hiểu biết

về sinh thái của người dân Thuốc hoá học bên cạnh có tác dụng diệt sâu bệnh thì cũng tiêu diệt rất mạnh lực lượng thiên địch của các loài sâu hại nói chung, trong đó có các nhóm thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì các loài ong kí sinh rất mẫn cảm với thuốc trừ sâu, đặc biệt là những loại thuốc có phổ rộng, tính độc hại cao ở Trung Quốc khi điều tra trên ruộng phun thuốc 1 lần/ vụ thì tỷ lệ trứng sâu cuốn lá nhỏ bị kí sinh là 3,5%, tỷ lệ kí sinh sâu non là 25,6%, kí sinh nhộng là 17% Trong khi đó ở ruộng phun thuốc nhiều lần trên vụ thì tỷ lệ kí sinh sâu non đạt 13% [46]

ở Philippin phát hiện có nhiều loài thiên địch bắt mồi ăn thịt như nhện Lycosa, Oxyopes, Tetragnatha sp và 6 loài kiến, những loài kiến này 1 giờ có thể diệt từ 4 -10 sâu non cuốn lá nhỏ [44]

Hiện nay ở các nước Đông Nam á đang sử dụng khoảng 1000 loại thuốc thương phẩm của 100 loại hoạt chất trong khoảng 6000 hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật hiện nay trên thế giới [1] Số lượng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng gia tăng gây ra tác hại lớn đến môi sinh, môi trường và đặc biệt là tiêu

Trang 25

diệt một số lượng thiên địch của sâu hại, dẫn đến sự bùng phát số lượng của một số loài sâu hại do cân bằng sinh học bị phá vỡ

Đấu tranh sinh học là một trong những giải pháp trong hệ thống phòng trừ tổng hợp đem lại hiệu quả về kinh tế, an toàn môi trường và giữ cân bằng sinh thái Việc lợi dụng kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ để khống chế mật

độ của chúng dưới ngưỡng gây hại là mục tiêu của các nhà bảo vệ thực vật với rất nhiều giải pháp khác nhau như nuôi, lây thả thiên địch, nhập nội, bảo vệ và tăng cường hoạt động của thiên địch bằng cách hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, không sử dụng những loài thuốc có độ độc cao với thiên địch, tạo môi trường thuận lợi cho thiên địch phát triển

Tại Nhật Bản loài Trathala flavoobitalis có thể giết chết sâu non từ 34

đến 54% trong giai đoạn cuối tháng 6 đầu tháng 7, tính trung bình suốt vụ tỷ

lệ này là 12% Có 2 loài ong kí sinh là Itoplectis narganyae và Brachymeria excarinata kí sinh nhộng vào cuối tháng 10, tỷ lệ kí sinh là 11-31%

Tại Quảng Đông, Trung Quốc loài ong Trichogramma japonicum Aslimead đ2 được sử dụng để diệt trứng sâu cuốn lá nhỏ có tác dụng làm giảm

tỷ lệ lá lúa bị sâu hại là 92,8% so với đối chứng Lượng ong thả là 15 vạn con/ha nếu mật độ là 5 trứng / khóm, có thể thả liên tục 3-4 lần cách nhau 1-2 ngày Ong Apanteles cypris cũng là loài ong kí sinh chuyên tính trên sâu non tuổi nhỏ rất phổ biến tại Trung Quốc Việc phun lên cây lúa chất Kairomon và chất tiết từ tuyến nước bọt của sâu non đ2 làm tăng tỷ lệ kí sinh tới 15-25% (Theo Hu va Chen, 1987)[46]

Tại Philippin có 83 loài bắt mồi ăn thịt, 55 loài kí sinh và 6 loài nấm tấn công lên tất cả các giai đoạn phát dục của sâu cuốn lá nhỏ Tuy nhiên các loài bắt mồi ăn thịt là quan trọng nhất Những loài bắt mồi ăn thịt thuộc giống Grylidae gồm Metioche và Anaxipha ăn trứng và Ophionea spp ăn sâu non Các loài kí sinh quan trọng gồm Copidosomopsis nacoleiae, Cotesia angustibasis, Cardiochiles philippinensis và Macrocentrus cnaphalocrocis,

Trang 26

trong suốt mùa mưa nếu lượng mưa vừa phải thì quần thể nấm Zoophthora radicans có thể tiêu diệt toàn bộ quần thể sâu non (Barrion và cộng sự, 1991)[45]

- Biện pháp sử dụng giống kháng:

Hiện nay việc sử dụng giống kháng sâu cuốn lá nhỏ cũng được quan tâm nhiều Để đánh giá khả năng kháng sâu cuốn lá nhỏ ở các giống lúa, nhiều nhà khoa học như: Subramani, Jayaraman, Velusamy và Chellian (1985) [73] dựa trên cơ sở phân cấp lá bị hại bằng cách so sánh số lá bị hại với tổng

số lá điều tra giống lúa nào đó để từ đó tìm ra giống kháng với sâu cuốn lá nhỏ Majunder và Pathak (1984) [60] có nhận xét những giống lúa bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng thường là những giống có bản lá to, màu xanh đậm, chiều cao cây và chiều dài lá lớn hơn các giống lúa khác

Pathak M.D [66] cho rằng việc bố trí tỷ lệ hợp lý các giống kháng sâu cuốn lá nhỏ là một giải pháp nhằm giảm áp lực sâu cuốn lá nhỏ đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trên đồng ruộng nhằm hạn chế thiệt hại do loài sâu này gây ra Đây là một biện pháp chủ động, an toàn sinh thái và nên thực hiện trong hệ thống phòng trừ tổng hợp sâu cuốn lá nhỏ

Jaswant và Dhaliwai (1983) [46] có nhận xét rằng những giống lúa

được gọi là kháng với sâu cuốn lá nhỏ chỉ thể hiện tính kháng trong từng điều kiện cụ thể của từng địa phương Tại ấn Độ người ta khảo nghiệm 384 giống lúa đối với sâu cuốn lá nhỏ ở hai địa phương Gurdaspur và Kapurthala Kết quả nhận được 15 giống kháng ở Gurdaspur và 2 giống kháng ở Kapurthala, nhưng chỉ có một giống kháng chung cho cả 2 địa phương trên, đó là giống IET.7776 Điều này chứng tỏ rằng công việc tuyển chọn giống chống chịu với sâu cuốn lá nhỏ đang còn là vấn đề khó khăn trong sản xuất nông nghiệp

- Biện pháp canh tác:

Trong các biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ thì biện pháp canh tác là một biện pháp có ảnh hưởng lớn đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ có mặt trên đồng

Trang 27

ruộng Cần chú ý tiêu diệt kí chủ phụ quanh bờ là nơi cư trú của chúng mỗi khi chuyển vụ, là nguồn sâu quan trọng để chuyển sang vụ sau, cỏ bấc là một trong những cây kí chủ chính để sâu cuốn lá nhỏ tồn tại và phát triển Những ruộng lúa gần mương máng nhiều cỏ bấc thì có mật độ sâu cao hơn những nơi khác

Phương pháp bón phân hợp lý, cân đối NPK, đặc biệt không nên bón phân đạm quá muộn (tức là không nên bón đạm sau khi lúa bước sang giai

đoạn tượng khối sơ khởi), vì nếu bón đạm muộn thì sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng cây lúa, bộ lá xanh non, thu hút trưởng thành đến tập trung và đẻ trứng, yếu tố này rất thuận lợi cho sâu cuốn lá nhỏ phát sinh và gây hại

Bằng các công thức bón lót toàn bộ hay chỉ 1/2 lượng bón lót và 1/2 lượng còn lại bón thúc hoặc bón v2i toàn bộ vào ngày thứ 15 sau cấy hoặc bón toàn bộ bằng cách vo viên dúi gốc vào ngày thứ 15 sau cấy hoặc là 1/2 lượng

đạm bón vào ngày thứ 15 sau cấy và 1/2 lượng còn lại vào ngày thứ 35 Tất cả các công thức trên đều được theo dõi ở 2 mức phân bón là 76 kg N/ha và 150

kg N/ha, kết quả cho thấy tất cả các công thức bón lót đều bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng hơn sau đó mới đến bón thúc [69]

Mật độ cấy cũng có ảnh hưởng lớn đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ phát sinh phát triển, không nên cấy mật độ quá dầy, nên cấy với khoảng cách khoảng 22,5 x 20 cm cũng có tác dụng hạn chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên

đồng ruộng Việc bố trí thời vụ gieo cấy cũng có ảnh hưởng đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ, nếu bố trí cấy thời vụ sớm thì cây lúa sinh trưởng nhanh có tác dụng tránh được lứa sâu cuốn lá gây hại vào khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 giúp cho cây lúa ít bị ảnh hưởng của lứa sâu này [46]

- Biện pháp hoá học :

Hiện nay thuốc hoá học rất đa dạng và phong phú nhiều chủng loại khác nhau, nguồn thuốc hoá học được nhiều h2ng thuốc, nhiều các công ty nhập từ nhiều nước khác nhau dùng để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ, tuy nhiên hiện nay nhiều công trình nghiên cứu khoa học đ2 khẳng định rằng đ2 có

Trang 28

nhiều giống lúa mới có khả năng tự đền bù thiệt hại nên việc sử dụng thuốc hoá học không là vấn đề cần thiết để quản lý loài sâu hại này [46] Việc phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ bằng biện pháp hoá học ở giai đoạn đầu vụ là việc không nên làm Biện pháp tốt nhất là phun thuốc để trừ sâu cuốn lá nhỏ ít nhất là 30 ngày sau cấy hoặc 40 ngày sau sạ, mức độ thiệt hại trên lá đòng cao hơn 50%

từ giai đoạn làm đòng đến chín có thể sử dụng các thuốc trừ sâu để phun Ruộng lúa sẽ tránh được thiệt hại do sâu cuốn lá nhỏ gây ra khi quản lý tốt nước và dinh dưỡng Nhóm thuốc Pyrethroid và các thuốc trừ sâu có phổ rộng

có thể tiêu diệt được sâu non song có thể gây rủi ro cho cây lúa vì sự bùng phát của các loài dịch hại thứ yếu như rầy nâu đó là nguyên nhân gây mất cân bằng sinh học

Theo Endo và cộng sự (1987) nông dân sử dụng tới 40% số lần phun thuốc để trừ sâu cuốn lá nhỏ, trong điều kiện nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn đầu vụ thì không làm thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập từ 15 - 30% và tiết kiệm được chi phí thuốc trừ sâu, việc giảm sự phun thuốc có thể giảm ảnh hưởng đến sức khoẻ người nông dân do thuốc trừ sâu gây ra

Ngày nay xu hướng sử dụng những thuốc trừ sâu có phổ hẹp ít hoặc không

ảnh hưởng đến thiên địch và các loài sinh vật khác Thuốc trừ sâu có nguồn gốc

vi sinh và thảo mộc được chú trọng Theo nghiên cứu của Saxenna và cộng sự (1980) dầu hạt Neem được sử dụng có hiệu quả để trừ sâu cuốn lá nhỏ

2.3 Nghiên cứu trong nước

2.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa

Kết quả điều tra côn trùng 1967 - 1968 ở miền Bắc và 1977 - 1979 ở miền Nam của Viện Bảo vệ thực vật đ2 xác định được ở miền Bắc có 88 loài côn trùng và ở miền Nam có 86 loài côn trùng và nhện nhỏ hại trên cây lúa [40], [42] Thành phần sâu hại lúa ở Việt Nam còn được một số tác giả khác công bố, trong đó có công trình nghiên cứu của Phạm Văn Lầm tổng hợp tất cả các tài liệu đ2 công bố và chỉ ra rằng: ở Việt Nam có 133 loài côn trùng và

Trang 29

nhện nhỏ (thuộc 90 giống, 33 họ của 8 bộ côn trùng và nhện nhỏ) gây hại trên cây lúa [19]

Trong tổng số 133 loài đó chỉ có khoảng trên 40 loài thường xuyên xuất hiện trên cây lúa và chỉ một số loài gây hại chính là rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu

đục thân 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài, bọ trĩ, sâu năn, v.v [19], [22] 2.3.2 Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa

Theo Phạm Văn Lầm [17] ở nước ta qua các tài liệu nghiên cứu cho thấy đ2 phát hiện 344 loài thiên địch sâu hại lúa, trong đó 199 loài bắt mồi ăn thịt chiếm 57,8% tổng số loài ăn thịt và 137 loài côn trùng kí sinh chiếm 39,8% còn lại là nhóm vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại

Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng và phong phú Ghi nhận của Phạm Văn Lầm [19], sâu cuốn lá nhỏ có 72 loài thiên địch tấn công Vụ mùa năm 1994 tại vùng Gia Lâm - Hà Nội Đặng Thị Dung [10] đ2 thu thập được 12 loài bắt mồi ăn thịt sâu cuốn lá nhỏ trong đó phổ biến nhất là 5 loài nhện, đặc biệt là nhện Sói, nhện Linh miêu có số lượng lớn hơn nhiều so với các loài khác

Theo nghiên cứu của Vũ Quang Côn [6] thì trong nhóm thiên địch sâu cuốn lá nhỏ ong kí sinh có tới 34 loài trong đó có 23 loài kí sinh bậc 1; 8 loài

kí sinh bậc 2, hiệu quả kí sinh chung đạt 15-30% Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Hùng [14] cho thấy ở địa bàn Hà Nội sâu cuốn lá nhỏ có 27 loài kí sinh và bắt mồi ăn thịt cả 3 pha trứng, sâu non, nhộng

Trần Huy Thọ và cộng tác viên [31] vụ mùa năm 1993 khi nghiên cứu thành phần kí sinh trên sâu non cuốn lá nhỏ thu được kết quả: lứa 1 sâu cuốn lá nhỏ bị kí sinh chủ yếu bởi ong Apenteles sp, tỷ lệ kí sinh đạt 25 - 100% Cuối lứa 1 đầu lứa 2 sâu non kí sinh chủ yếu do ong Goniozus hanoiensis Ong Temelucha kí sinh với tỷ lệ thấp hơn đạt 7,3 - 28% Cuối vụ mùa ong kí sinh đa phôi Copidosomopsis nacoleiae phát triển mạnh, tỷ lệ kí sinh đạt rất cao lên tới 92,7%

Trang 30

Vụ mùa năm 1993 tỷ lệ kí sinh sâu non cuốn lá nhỏ của tập hợp các loài ong kí sinh cao nhất đạt 87,6% Theo Phạm Văn Lầm đỉnh cao kí sinh không phụ thuộc vào mật độ sâu cuốn lá nhỏ mà tuỳ thuộc vào từng thời điểm trong các tháng Pha nhộng sâu cuốn lá nhỏ có 5 loài ong cự kí sinh, tỷ lệ nhộng kí sinh là 27,5% ở vụ xuân và 20% ở vụ mùa [15] Nh− vậy có thể thấy cả 3 pha trứng, sâu non, nhộng đều có rất nhiều loài ong kí sinh, tỷ lệ ong kí sinh đạt cao tuy nhiên thành phần và tỷ lệ kí sinh của các loài thay đổi khác nhau tuỳ thuộc vào từng vùng sinh thái, nắm bắt đ−ợc thành phần loài kí sinh chủ yếu ở từng khu vực giúp chúng ta bảo vệ, duy trì và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng gia tăng mật độ, khống chế số l−ợng sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng kìm h2m chúng khó phát triển nhanh số l−ợng gây dịch để bảo vệ cây lúa và năng suất nh− mong muốn

Phạm Văn Lầm, 1992 [16] cho biết trứng cuốn lá nhỏ chủ yếu kí sinh

do ong Trichogramma Japonicum sau đó đến Trichogramma chilonis Pha sâu non cuốn lá nhỏ có tới 4 loài kí sinh đó là: ong đen to Cardiahiles sp., tỷ

lệ kí sinh đạt 48 - 58%, ong nâu đen Goniozus japonicus tỷ lệ kí sinh là 51,4%

và ong kén trắng đơn Apanteles cypris Nixon là 53% Loài Apanteles cypris Nixon là một trong những loài ong kí sinh chuyên tính rất quan trọng của sâu cuốn lá nhỏ, tỷ lệ kí sinh đạt 30%

Ngoài lực l−ợng kí sinh nh− nhiều tác giả cho biết là lực l−ợng quyết

định, có liên quan chặt chẽ đến việc làm tăng tỷ lệ chết tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng thì lực l−ợng thứ 2 cũng có vai trò quan trọng trong việc hạn chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng đó là nhóm bắt mồi Kết quả điều tra thành phần côn trùng bắt mồi của Trần Đình Chiến [4] cho biết có

43 loài thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn ăn thịt trong đó bộ cánh cứng là chủ yếu có 30 loài chiếm 69,77%, bộ cánh nửa 4 loài, bộ cánh thẳng 3 loài, bộ cánh cứng 2 loài, bộ cánh da 1 loài, bộ bọ ngựa 1 loài và bộ nhện lớn 2 loài

Trang 31

Phạm Văn Lầm và cộng tác viên (1989) [15] thu được 10 loại nhện lớn

ăn mồi, Nguyễn Viết Tùng và cộng tác viên (1993) [39] khi nghiên cứu thành phần nhóm nhện lớn bắt mồi ở vùng Gia Lâm - Hà Nội cho biết có 27 loài thuộc 7 họ khác nhau trong đó phổ biến là nhện nhảy có 9 loài, nhện lưới có 8 loài, các họ khác có 2 - 4 loài

Theo Phạm Văn Lầm và cộng tác viên (1993), (1994) [17], [18] khi nghiên cứu về biến động số lượng nhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên đồng ruộng 2 vụ lúa xuân và vụ mùa cho thấy mật độ nhện lớn bắt mồi ăn thịt tăng dần từ đầu vụ cho đến cuối vụ lúa, đỉnh cao là giai đoạn lúa làm đòng - trỗ Quy luật tích luỹ của nhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt tỷ lệ thuận với quy luật tích luỹ của quần thể sâu hại chính trên lúa Nhưng đỉnh cao mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt chậm hơn so với quần thể sâu hại chính

Theo Bùi Hải Sơn (1995) [24] thì mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi trên ruộng cấy giống nhiễm rầy có mật độ cao hơn ruộng cấy giống kháng rầy

Mỗi vụ khác nhau thì diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi ăn thịt cũng khác nhau, mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ xuân là 0,2 - 2,8 con/m2, đỉnh cao là 73,8 - 175,9 con/m2, mật độ này bao giờ cũng thấp hơn mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ mùa là 4,0 - 19,7 con/m2,

đỉnh cao là 76,9 - 201,6 con/m2 các điều kiện canh tác như giống lúa, chế độ nước, số vụ lúa/năm đều ảnh hưởng đến sự tích luỹ số lượng quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt [17]

2.3.3 Những nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa

2.3.3.1 Sự phân bố của sâu cuốn lá nhỏ

Sâu cuốn lá nhỏ là loài sâu hại thứ yếu trong những năm 60 của thập kỷ trước, nhưng từ thập kỷ 70 sâu cuốn lá nhỏ trở thành một dịch hại, trong những năm 1990 - 1994 sâu cuốn lá nhỏ đứng ở hàng thứ hai nguy hại sau rầy nâu [33] Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng của viện Bảo vệ thực vật [41], thì sâu cuốn lá nhỏ phân bố hầu hết ở các vùng trồng lúa trong cả nước Tuy

Trang 32

nhiên thời gian phát sinh, mức độ gây hại phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và tập quán canh tác của từng địa phương Nhìn chung các tỉnh vùng ven biển sâu cuốn lá nhỏ thường có thời gian phát sinh sớm và mức độ gây hại cao hơn ở các nơi khác [3] Các tỉnh miền Bắc trong mấy năm gần đây sâu cuốn lá nhỏ phân bố rộng chủ yếu tập trung ở các tỉnh vùng ven biển như: Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Ninh…, diện tích nhiễm ở mỗi vụ lên đến hàng trăm nghìn ha, mật độ sâu non nơi cao > 500 con/m2

2.3.3.2 Tình hình gây hại của sâu cuốn lá nhỏ

Trên đồng ruộng sâu cuốn lá nhỏ gây hại từ giai đoạn mạ đến giai đoạn lúa trỗ, nặng nhất ở giai đoạn đòng ở thời kỳ lúa con gái sâu cuốn lá nhỏ gây hại không hoặc ít ảnh hưởng đến năng suất vì cây lúa có khả năng tự đền bù Giai

đoạn lúa làm đòng - trỗ bông nếu bị sâu gây hại sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, làm cho gié lúa ngắn, ít hạt, trọng lượng hạt giảm hoặc nghẹn đòng bông lúa ngắn hạt lép lửng, năng suất có thể giảm tới 60% [33] Theo Nguyễn Văn Hành [12], trên bông lúa nếu số lá bị hại là 1, 2, 3 và 4 năng suất lúa giảm tương ứng là 3, 7, 6, 15 và 33% Trường hợp chỉ có lá đòng bị hại, các lá khác còn nguyên thì năng suất giảm 20 - 30% Kết quả nghiên cứu của Đỗ Xuân Bành

và cộng tác viên [2], cứ 1% lá bị hại thì tỷ lệ năng suất giảm ở giai đoạn lúa đẻ nhánh là 0,15 - 0,18%; giai đoạn lúa đứng cái - làm đòng là 0,7 - 0,8%; giai

đoạn trỗ là 1,15 - 1,20% nhưng giai đoạn này ít xảy ra vì lúc này lá đòng đ2 cứng sâu không cuốn tổ được Theo Nguyễn Trường Thành [26] thì trên giống lúa CR

203 tỷ lệ lá hại 20 - 30% năng suất lúa giảm từ 1,9 - 2,3% nhưng giống Nếp cái hoa vàng có tỷ lệ hại như trên năng suất giảm từ 4,2 - 5,2%

Theo số liệu tổng kết của Cục Bảo vệ thực vật năm 1968 nhiều tỉnh ở miền Bắc bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại rất nặng ở Bắc Thái có 6.832 ha lúa bị hại, ở Nghệ An có 80% diện tích lúa bị sâu cuốn lá gây hại, ở Quảng Ninh tuy có tổ chức phòng trừ nhưng tỷ lệ lá hại vẫn lên tới 30 - 40% Tại Hà Tây năm 1963 sâu cuốn lá nhỏ hại lúa thời kỳ đẻ nhánh tỷ lệ lá hại nơi cao lên tới 80 - 90%

Trang 33

Năm 1990-1991 dịch sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng trên cả nước, năm

2001 sâu cuốn lá nhỏ gây hại 855.000 ha lúa ở các tỉnh phía Bắc, diện tích nhiễm và nhiễm nặng do sâu cuốn lá nhỏ liên tục tăng và tăng ở mức cao, từ năm 1999 đến năm 2003 là cao nhất trong cả nước lên tới 938.643 ha, trong

đó diện tích bị hại nặng là 182.950 ha, diện tích mất trắng là 272 ha, năm

2002 diện tích lúa nhiễm sâu cuốn lá nhỏ ở các tỉnh miền Bắc là 748.904 ha trong đó diện tích nhiễm nặng là 270.362 ha [8]

Riêng vụ mùa 2003 sâu cuốn lá nhỏ có mật độ rất cao, diện phân bố rộng, diện tích do sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở 26 tỉnh phía Bắc lên tới 412.146 ha, nặng 226.754 ha, năm 2005 diện tích do sâu cuốn lá nhỏ gây hại có xu hướng giảm hơn năm trước Riêng vụ xuân 2010 tổng diện tích lúa bị nhiễm sâu cuốn lá nhỏ là 314.509,7 ha trên các trà lúa, đặc biệt là giai đoạn đòng - trỗ

2.3.3.3 Nghiên cứu về kí chủ sâu cuốn lá nhỏ

Về ký chủ của sâu cuốn lá nhỏ, Vũ Quang Côn (1987) [5] đ2 tiến hành

điều tra sự phân bố mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên một số cây cỏ dại trong thời gian chưa có lúa ngoài đồng, kết quả cho thấy: cỏ môi có 79,45%, cỏ chỉ có 0,02%, cỏ tranh là 0,01%, cỏ bấc là 10,95%, cỏ lá tre là 6,04%, cỏ lồng vực là 1,73%, cỏ mần trầu là 1% Theo Trần Văn Rao (1982) [23] thì sâu cuốn lá nhỏ qua đông chủ yếu trên các cây cỏ dại, trên ruộng mạ là không đáng kể Sự

có mặt của sâu cuốn lá nhỏ trên một số kí chủ như sau: lúa chét là 1,3%, cỏ mần trầu là 53,2%, cỏ gà nước là 19,2%, cỏ lồng vực cạn là 13,8%, cỏ trứng ếch là 12,5% Theo Trần Huy Thọ (1983) [30] thì sâu cuốn lá nhỏ sống trên tất cả các cây cỏ như cỏ mần trầu, cỏ gà nước, cỏ lông, cỏ trứng ếch

Tóm lại sâu cuốn lá nhỏ là loài đa thực gây hại trên nhiều cây trồng nông nghiệp khác nhau, chúng có khả năng cư trú và gây hại trên rất nhiều cây kí chủ phụ như ngô, lúa mì, miến, kê, dứa, thuốc lá, cỏ lồng vực, cỏ lá tre, cỏ gà nước,

cỏ môi… tuy nhiên kí chủ chính của loài này chủ yếu vẫn là cây lúa

Trang 34

2.3.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu cuốn lá nhỏ

Trứng sâu cuốn lá nhỏ hình bầu dục, chiều dài 0,7 - 0,8 mm, chiều rộng 0,39 - 0,45 mm, trong quá trình phát dục trứng thay đổi màu sắc từ màu trắng kem đến màu vàng nhạt, bề mặt trứng có vân hình mạng lưới [11], nhiệt độ và

ẩm độ không khí có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian nở của trứng Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hành trong điều kiện thí nghiệm với nhiệt độ 26,30C, ẩm độ xấp xỉ 80% thì thời gian trứng nở là 4 ngày

Sâu non mới nở hoạt động rất nhanh nhẹn, chúng bò khắp nơi trên khóm lúa sau đó chui vào nõn lá hoặc tổ cũ ăn lớp thịt lá, sau một thời gian thường là tuổi 2 sâu bò lên ngọn lá nhả tơ cuốn 2 mép lá lại với nhau khâu thành bao, sâu nằm trong bao ăn biểu bì lá, khi ăn hết biểu bì sâu lại tiếp tục khâu bao lá dọc suốt 2/3 chiều dài lá, tuổi càng lớn sức ăn càng khoẻ, khi ăn hết thức ăn chúng chuyển sang lá khác tiếp tục tạo bao lá mới để gây hại, sâu di chuyển vào lúc trời râm mát Trong suốt thời kì sâu non chúng có thể phá từ 4 - 6 lá [11] Theo

Hồ Khắc Tín, 1982 số lượng lá bị hại là từ 4-9 lá Còn theo Nguyễn Trường Thành một đời sâu cuốn lá nhỏ gây hại từ 3,2 - 6,2 lá ứng với 12 - 15 cm2, cây lúa bị hại nặng sẽ tăng tỷ lệ lép và giảm số hạt/bông [28]

Theo Cục Bảo vệ thực vật thì thời gian trứng nở là 3 - 4 ngày [3] Màu sắc, kích thước sâu non thay đổi tuỳ theo độ tuổi, lúc mới nở sâu non có màu vàng nhạt sau trở thành màu xanh nhạt và tuổi cuối có màu xanh vàng, chiều dài cơ thể sâu thay đổi từ 1,5 - 19 mm (Nguyễn Văn Hành, 1988; Vũ Quang Côn, 1985; Chu Cẩm Phong, 1985) [11], [21] Thời gian phát dục của sâu non thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết, ôn ẩm độ môi trường của từng vùng sinh thái, từng năm Nhìn chung thời gian phát dục của sâu non là 13,14 ngày

đến 19,20 ngày Theo nghiên cứu của Cục bảo vệ thực vật [8] thời gian sâu non là từ 18 - 25 ngày

Khả năng sống và phát triển của sâu non không chỉ phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ và ẩm độ mà còn phụ thuộc vào thức ăn nơi chúng sinh sống

Trang 35

Theo dõi quá trình sống của sâu non nuôi bằng lá lúa ở các giai đoạn khác nhau Nguyễn Văn Hành cho biết nếu nuôi bằng lá lúa giai đoạn đẻ nhánh thì thời gian hoàn thành giai đoạn sâu non là 14,1 ngày, nếu thức ăn là lá lúa giai

đoạn làm đòng thì thời gian này là 15,3 ngày, giai đoạn lúa trỗ là 16 ngày Như vậy sâu non được nuôi bằng lá lúa giai đoạn đẻ nhánh có thời gian phát dục nhanh, tỷ lệ sống sót cao hơn Đó là yếu tố quan trọng góp phần tăng nhanh số lượng quần thể sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng

Sâu non khi đẫy sức chuyển sang màu vàng hồng chui ra khỏi tổ tìm vị trí hoá nhộng, sâu nhả tơ cắn đứt 2 mép lá khâu thành bao kín để hoá nhộng trong đó hoặc bò xuống dưới khóm lúa hoá nhộng trong bẹ lá, đôi khi chúng hoá nhộng ngay trong bao cũ Thời gian để hoàn thành giai đoạn nhộng phụ thuộc chặt chẽ vào ẩm độ môi trường, thời gian này có thể kéo dài từ 4 - 11 ngày, trung bình 6 ngày [11] Nhiệt độ từ 25 - 280C, ẩm độ 80 - 85%, thời gian nhộng là 6 ngày; nhiệt độ 22 - 240C, ẩm độ 70-80%, thời gian nhộng là 7 ngày, nếu nhiệt độ dưới 200C thì thời gian nhộng kéo dài 11 - 12 ngày Theo Cục Bảo vệ thực vật [3] thì thời gian nhộng từ 6 - 8 ngày

Giống như các loài sinh vật khác sự sinh trưởng, phát dục, sinh sản của sâu cuốn lá nhỏ phụ thuộc vào các điều kiện ngoại cảnh Với sâu cuốn lá nhỏ

là động vật biến nhiệt thì sự phụ thuộc này càng chặt chẽ và hầu như sự tăng giảm số lượng quần thể của sâu cuốn lá nhỏ đều có liên quan đến sự thay đổi thời tiết khí hậu nơi chúng sinh sống

Theo Nguyễn Văn Hành sâu cuốn lá nhỏ có phạm vi nhiệt độ hoạt động

là 10-320C Trên dưới ngưỡng này mọi hoạt động của sâu đều bị ức chế nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong Yếu tố ẩm độ và lượng mưa là những yếu tố quyết định đến khả năng gia tăng mật độ sâu cuốn lá nhỏ ẩm độ từ 85 - 88% là cực thuận cho sâu sinh trưởng và phát triển, ẩm độ không khí liên quan

đến lượng mưa của mỗi vụ, thường lượng mưa đủ lớn và rải đều trong các tháng đáp ứng được điều kiện trên tuy nhiên nếu mưa quá to trên 100 mm sẽ

Trang 36

gây tử vong đối với sâu cuốn lá nhỏ và hạn chế sự phát tán của trưởng thành

Vòng đời sâu cuốn lá nhỏ ở nhiệt độ từ 25 - 30oC là 25 - 38 ngày, ở nhiệt độ 22 - 24oC là 44 ngày, trong đó thời gian phát dục của các pha trứng, sâu non, nhộng tương ứng là 3- 7,5; 13 - 24 và 4 - 8 ngày Thời gian trước đẻ trứng là 3 - 8 ngày [2], [12]

Thời gian giao phối có thể tiến hành từ 2 - 4 giờ Trong suốt thời gian sống bướm cái chỉ giao phối có 1 lần Bướm cuốn lá nhỏ có xu tính với ánh sáng đèn Thời gian sống của trưởng thành là từ 4 - 10 ngày [11] Theo nghiên cứu của Cục Bảo vệ thực vật thì thời gian đó là 2-6 ngày [8] hoặc 3 - 5 ngày (Cẩm Phong) [21], sau ngừng ăn 2 - 3 ngày bướm mới chết Thời gian sống của bướm đực và bướm cái tương tự nhau

Trưởng thành cuốn lá nhỏ thường tập trung trên những chân ruộng gieo cấy dầy, khóm lúa rậm rạp và màu sắc xanh đậm, vì vậy nhũng ruộng cấy dày, bón nhiều phân đạm, giống lúa đẻ khoẻ, bản lá to, xanh đậm thì mật độ sâu cuốn lá nhỏ ở đó thường cao Sau khi vũ hoá được 1-2 ngày thì trưởng thành bắt đầu đẻ trứng, trứng được đẻ từng quả rải rác ở dưới mặt lá, thường mỗi lá 1 trứng nhưng cũng có khi có 2-3 trứng/lá Một trưởng thành cái cuốn lá nhỏ có thể đẻ từ 50- 100 [2], [12]

Khả năng đẻ trứng và thời gian đẻ trứng phụ thuộc và điều kiện thời tiết, thức ăn và mùa vụ

Theo Nguyễn văn Hành [11] ở nhiệt độ 27 - 290C và ẩm độ từ 85 - 90% lượng trứng đẻ trung bình 1 bướm cái là trên dưới 100 quả trứng Khi theo dõi khả năng đẻ trứng của bướm cuốn lá nhỏ, Trần Huy Thọ [30] nhận định nếu cho bướm ăn thêm nước đường hoặc mật ong pha lo2ng 5 - 10% thì lượng trứng đẻ tăng rõ rệt Bướm cái ít khi đẻ hết số trứng có trong bụng mà vẫn còn một lượng nhỏ trứng còn lại, có khi lượng này chiếm tới 1/5 tổng số trứng của bướm Khả năng đẻ trứng của bướm cái phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu

Trang 37

Vụ xuân thời gian đẻ trứng từ 5 - 8 ngày, vụ mùa từ 3 - 5 ngày Lượng trứng đẻ giảm dần theo số lứa trong năm Trong điều kiện phòng thí nghiệm cho bướm ăn bằng nước đường pha lo2ng ở nhiệt độ 220C, ẩm độ 90% thì trung bình mỗi bướm cái đẻ khoảng 374 quả và ở nhiệt độ khoảng 300C, ẩm độ 78% bướm chỉ đẻ có 80 trứng Do vậy ở điều kiện nhiệt độ trung bình của vụ chiêm xuân là

23 - 240C, ẩm độ từ 85 - 90% là thích hợp cho bướm cuốn lá nhỏ đẻ trứng hơn so với vụ mùa có nhiệt độ trung bình là 27 - 280C Có tới 83% lượng trứng được đẻ vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 kể cả ngày bướm vũ hoá, hai ngày có lượng trứng

đẻ nhiều nhất là ngày thứ 4 và ngày thứ 5 chiếm 48,15% tổng số và là đỉnh cao của bướm [12]

Bướm cuốn lá nhỏ đẻ trứng mang tính chon lọc rõ rệt, những ruộng xanh tốt, rậm rạp thường hấp dẫn trưởng thành đến đẻ trứng Giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây lúa cũng quyết định đến khả năng đẻ trứng nhiều hay ít của trưởng thành Theo Nguyễn Văn Hành, Trần Huy Thọ (1989) [12] thì có khoảng 50,7% lượng sâu non trên các trà lúa thời kì đẻ rộ, 35,2% trên trà lúa làm đòng đến trỗ và 14% ở các giai đoạn sinh trưởng khác của cây lúa

Số ngày có mưa nhỏ trong thời gian bướm cuốn lá nhỏ ra rộ cũng liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ trứng nở, trong thời gian bướm ra rộ và đẻ trứng số ngày có mưa nhỏ nhiều, ẩm độ cao thì tỷ lệ trứng nở cao và ngược lại Theo Nguyễn Thị Thắng [29] tỷ lệ ngày mưa trong thời gian bướm rộ là 28,6 - 63,4% thì tỷ lệ nở của trứng biến động từ 71 - 90% Như vậy nhiệt độ và ẩm

độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát sinh, phát triển của sâu cuốn lá nhỏ

ở các tỉnh phía Bắc một năm thường có 7 lứa bướm sâu cuốn lá nhỏ phát sinh, thời gian phát sinh các lứa bướm ở mỗi năm sớm hay muộn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, thức ăn và thời vụ gieo cấy Trong năm sâu non gây hại cả hai vụ lúa nhưng ở vụ mùa mức độ gây hại cao hơn vụ xuân, các lứa sâu non gây hại thường là lứa 2 (vụ xuân), lứa 5, lứa 6 và có năm cả lứa 7 (vụ mùa) [34], [35], [36], [37], [38]

Trang 38

Sâu cuốn lá nhỏ, thông thường hàng năm cho thấy lứa bướm thứ 2 trong năm vũ hoá vào cuối tháng 3 - đầu tháng 4, cao điểm rộ khoảng 15/4 Số lượng bướm của lứa này không nhiều nhưng số lượng sâu non có thể khá cao

20 - 60 con/m2 đ2 gây hại nặng ở một số tỉnh vùng đồng bắng và vùng ven biển ở giai đoạn lúa đứng cái – làm đòng, nếu không phòng trừ kịp, các lá

đòng và các lá công năng bị hại nặng, ảnh hưởng lớn tới năng suất [25]

ở Tiền Giang sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại quanh năm, mỗi vụ lúa

có 3 lứa sâu cuốn lá nhỏ Trong năm thường có 3 cao điểm tháng 2 (trên lúa

đông xuân); tháng 7 (trên lúa hè thu) và tháng 9 - 10 (trên lúa mùa) [2] Phạm

vi nhiệt độ hoạt động của sâu cuốn lá nhỏ là 10 - 32oC, trên dưới ngưỡng này mọi hoạt động của sâu đều bị ức chế nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong

Ngoài các yếu tố nhiệt độ, ẩm độ thì các yếu tố canh tác như lượng phân bón, mật độ gieo cấy, giống lúa và giai đoạn sinh trưởng của cây cũng

ảnh hưởng đến qui luật phát sinh của sâu cuốn lá nhỏ Ruộng gieo cấy với khoảng cách 15 x 10 cm có mật độ sâu non cao gấp 3 lần những ruộng khoảng cách cấy 20 x 20 cm vì ở những ruộng cấy dày tạo nên tiểu khí hậu đồng ruộng có ẩm độ cao là điều kiện thích hợp cho sâu cuốn lá nhỏ phát triển đạt mật độ số cao hơn Ruộng bón nhiều đạm, bón lai dai thường bị sâu cuốn lá gây hại nặng Do ruộng bón nhiều phân lá xanh non, lá mềm hấp dẫn bướm

đến đẻ trứng, do đó có mật độ sâu non cao hơn [26]

Mức độ thâm canh cũng ảnh hưởng đến số lượng trứng và tỷ lệ nở trứng của sâu cuốn lá nhỏ Theo Nguyễn Thị Thắng [29] ở giai đoạn lúa đẻ nhánh ruộng thâm canh cao khả năng đẻ trứng của 1 trưởng thành cái cao gấp 2,7 lần, tỷ lệ trứng nở gấp 1,7 lần so với mức độ thâm canh trung bình

Thời vụ gieo cấy cũng là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ [3] Thời vụ gieo cấy tập trung, cấy đúng thời vụ cũng có tác dụng hạn chế tác hại của sâu cuốn lá nhỏ

Trang 39

Theo báo cáo của Cục BVTV thực hiện chương trình quản lý dinh dưỡng trên cây lúa, áp dụng biện pháp gieo mạ thưa, cấy mạ non, bón phân dựa trên cơ sở so màu lá lúa, điều tiết nước hợp lý tạo cho cây lúa khoẻ tăng khả năng chống chịu sâu bệnh Kết quả mật độ sâu cuốn lá nhỏ giảm so với ruộng làm theo nông dân ít nhất là 0,9 lần cao nhất 5,4 lần [9]

2.3.3.5 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ

Ngày nay xu hướng phòng trừ tổng hợp đ2 là mục tiêu chung của nền nông nghiệp tất cả các nước Muốn thực hiện tốt phòng trừ tổng hợp đối với sâu cuốn lá nhỏ nói riêng và các loài dịch hại khác thì phải tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của chúng để ứng dụng linh hoạt các biện pháp phòng trừ Các biện pháp này phải được phối hợp hài hoà dựa trên đặc điểm sinh thái của từng vùng, ngày nay biện pháp sinh học đ2 được con người chú trọng Do đó việc nhận biết, tìm hiểu lực lượng thiên địch của mỗi loài sâu hại góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả của biện pháp đấu tranh sinh học

Đối với sâu cuốn lá nhỏ, việc xác định sâu non làm chỉ tiêu quyết định phòng trừ là hợp lý vì mật độ bướm cao không đi đôi với mật độ sâu non cao, tỷ

lệ nở phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết, tỷ lệ kí sinh trứng Hơn nữa việc phun trừ sâu cuốn lá nhỏ có hiệu quả nhất vào giai đoạn sâu non mới nở rộ

- Biện pháp canh tác: đối với sâu cuốn lá nhỏ cấy với mật độ vừa phải, bón phân cân đối hợp lý, không bón đạm quá mức khi lúa trỗ là biện pháp hạn chế đáng kể thiệt hại do sâu cuốn lá nhỏ [32] Theo Hồ Khắc Tín việc diệt kí chủ phụ quanh bờ ruộng là nơi trú ẩn và tích luỹ sâu cuốn lá nhỏ nhằm cắt đứt nguồn chu chuyển tích luỹ của chúng

- Biện pháp sinh học: Việc bảo vệ các loài thiên địch là rất cần thiết để khống chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng

Hiện nay thuốc trừ sâu sinh học do Viện công nghiệp thực phẩm chế biến và sản xuất đang được nhiều địa phương sử dụng rộng r2i, thuốc có hiệu quả cao đối với sâu cuốn lá nhỏ hại lúa, ít độc với người không gây ô nhiễm môi trường và bảo vệ được thiên địch

Trang 40

- Biện pháp hoá học: Trong 15 loại thuốc sâu được sử dụng phổ biến trên đồng ruộng hiện nay có tới 5 loại có độ độc cấp 4 và 5 loại có độ độc cấp

3 với bọ rùa đỏ và bọ cánh cứng cánh ngắn (Nguyễn Trường Thành, 2002) [27] Đặc biệt gần đây thuốc nhóm Pyrethroid được sử dụng ngày càng nhiều trên đồng ruộng để trừ các loại sâu ăn lá và chích hút đ2 ảnh hưởng nghiêm trọng đến thiên địch trên đồng ruộng Do vậy có được một chiến lược phòng trừ hợp lý với sâu cuốn lá nhỏ là một yêu cầu bức thiết và có tầm quan trọng

đặc biệt với sản xuất lúa hiện nay

Theo Đỗ Văn Hoè (1984) [13] dùng thuốc Padan 95 SP phun từ sâu cuốn lá nhỏ thì cho hiệu lực phòng trừ đạt > 90% Hiện nay trên thị trường xuất hiện rất nhiều loại thuốc hoá học dùng để phun trừ sâu cuốn lá nhỏ, song theo chúng tôi một số loại thuốc có hiệu lực diệt sâu cao như: Regent 800

WG, Padan 95 SP, thuốc sinh học Firi - Biotox…

Kết quả cho thấy giai đoạn lúa đẻ nhánh khoảng 30 - 40 ngày sau gieo cấy thì không cần phải sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ vì mật độ sâu thường xuyên thấp hơn mức gây hại kinh tế Thời kỳ lúa làm đòng khi bị sâu nhiễm hại chỉ dùng thuốc hoá học nhằm làm cho mật độ sâu thấp hơn 22 - 25 con/m2, vừa bảo vệ được năng suất lúa, vừa hạn chế ô nhiễm môi trường, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến sinh quần đồng ruộng cũng như hạn chế sự bùng phát quần thể loài sâu ăn lá này [28]

Ngày đăng: 31/08/2014, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Trọng á nh (1997), "Tình hình lưu thông sử dụng thuốc BVTV hiện nay", Tạp chí BVTV, số 2, 02/1997, trang 23 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình lưu thông sử dụng thuốc BVTV hiện nay
Tác giả: Đào Trọng á nh
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 1997
2. Đỗ Xuân Bành (1990), "Kết quả khảo sát sâu cuốn lá nhỏ hại lúa ở Tiền Giang", Thông tin BVTV, số 3 trang 10 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát sâu cuốn lá nhỏ hại lúa ở Tiền Giang
Tác giả: Đỗ Xuân Bành
Năm: 1990
4. Trần Đình Chiến (1993), “Tìm hiểu thành phần côn trùng bắt mồi và ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến diễn biến thành phần côn trùng bắt mồi trên lúa Gia Lâm, Hà Nội”, Kết quả nghiên cứu khoa học của khoa trồng trọt 1991-1992, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thành phần côn trùng bắt mồi và ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến diễn biến thành phần côn trùng bắt mồi trên lúa Gia Lâm, Hà Nội
Tác giả: Trần Đình Chiến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
5. Vũ Quang Côn (1987), “Vài dẫn liệu về nhóm các loài sâu cuốn lá lúa”, Thông tin bảo vệ thực vật, Số 2, tr. 47-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài dẫn liệu về nhóm các loài sâu cuốn lá lúa
Tác giả: Vũ Quang Côn
Năm: 1987
6. Vũ Quang Côn (1989), “Các loại ký sinh và hiệu quả của chúng trong việc hạn chế số l−ợng sâu cuốn lá nhỏ hại lúa”, Tạp chí BVTV, số 3, tr. 156- 161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại ký sinh và hiệu quả của chúng trong việc hạn chế số l−ợng sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
Tác giả: Vũ Quang Côn
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 1989
10. Đặng Thị Dung (1995), "Thành phần kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ hại lúa vụ mùa 1994 vùng Gia Lâm - Hà Nội", Kết quả nghiên cứu khoa học 1994 - 1995 khoa trồng trọt - tr−ờng ĐHNNI, trang 49 -51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ hại lúa vụ mùa 1994 vùng Gia Lâm - Hà Nội
Tác giả: Đặng Thị Dung
Nhà XB: Kết quả nghiên cứu khoa học 1994 - 1995 khoa trồng trọt - tr−ờng ĐHNNI
Năm: 1995
12. Nguyễn Văn Hành, Trần Huy Thọ (1989), "Kết quả nghiên c−ú về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa các tỉnh phía Bắc", Kết quả nghiên cứu khoa học Viện BVTV 1979 - 1989, NXB nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên c−ú về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Văn Hành, Trần Huy Thọ
Nhà XB: NXB nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 1989
13. Đỗ Văn Hòe (1984), “ Phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ bằng thuốc hoá học”, Tạp chí BVTV, Số 6/1984, tr. 14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ bằng thuốc hoá học
Tác giả: Đỗ Văn Hòe
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 1984
14. Hà Quang Hùng (1986), “ Ong kí sinh trứng sâu hại lúa vùng Hà Nội”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Số 5/1986, tr. 26-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ong kí sinh trứng sâu hại lúa vùng Hà Nội
Tác giả: Hà Quang Hùng
Năm: 1986
15. Phạm Văn Lầm (1989), “Một số kết quả điều tra về côn trùng kí sinh và ăn thịt trên lúa”, Kết quả nghiên cứu của Viện BVTV 1979-1989, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả điều tra về côn trùng kí sinh và ăn thịt trên lúa
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1989
16. Phạm Văn Lầm (1992), “Một số dẫn liệu về ong kén trắng ký sinh, sâu non bộ cánh vẩy hại lúa”, Tạp chí BVTV, Số 2, tr. 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về ong kén trắng ký sinh, sâu non bộ cánh vẩy hại lúa
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Năm: 1992
17. Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn, Trần Thị H−ờng (1993). “Diễn biến số l−ợng nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa vùng Từ Liêm, Hà Nội”, Tạp chí Bảo vệ thực vật, Số 5, tr. 6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến số l−ợng nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa vùng Từ Liêm, Hà Nội
Tác giả: Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn, Trần Thị H−ờng
Năm: 1993
18. Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn (1994), “ ả nh h−ởng của một vài loại thuốc hoá học trừ sâu phổ tác dụng rộng đến nhóm thiên địch bắt mồi trên ruộng lúa”, Tạp chí BVTV, Số 6/1994, tr. 7-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ả nh h−ởng của một vài loại thuốc hoá học trừ sâu phổ tác dụng rộng đến nhóm thiên địch bắt mồi trên ruộng lúa
Tác giả: Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 1994
22. Phạm Bình Quyền (2002), " ả nh hưởng của thuốc BVTV đến các loài thiên địch trong các hệ sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam và các giải pháp hạn chế", Kỷ yếu hội thảo Quốc gia về Khoa học và Công nghệ BVTV, NXB Nông nghiệp - Hà Nội, trang 172 - 179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hưởng của thuốc BVTV đến các loài thiên địch trong các hệ sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam và các giải pháp hạn chế
Tác giả: Phạm Bình Quyền
Nhà XB: NXB Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
25. Lê L−ơng Tề (2009), “Kinh nghiệm phòng trừ sâu bệnh hại vụ lúa xuân hàng năm ở các tỉnh Phía Bắc”, Tạp chí BVTV, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phòng trừ sâu bệnh hại vụ lúa xuân hàng năm ở các tỉnh Phía Bắc
Tác giả: Lê L−ơng Tề
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 2009
26. Nguyễn Tr−ờng Thành, Nguyễn Văn Thành, Trần Huy Thọ (1986), "Kết quả nghiên cứu tác hại và ng−ỡng phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa", Tạp chí BVTV, số 6/1986, trang 211 - 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu tác hại và ng−ỡng phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
Tác giả: Nguyễn Tr−ờng Thành, Nguyễn Văn Thành, Trần Huy Thọ
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 1986
27. Nguyễn Trường Thành (2002), “Khả năng phục hồi quần thể cây lúa đối với sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ”, Tạp chí BVTV, Số 4/2002, tr. 27- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng phục hồi quần thể cây lúa đối với sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ
Tác giả: Nguyễn Trường Thành
Năm: 2002
28. Nguyễn Trường Thành (2003), “ ả nh hưởng của sâu cuốn lá nhỏ đến năng suất lúa ở Việt Nam và ứng dụng”, Tạp chí BVTV, Số 190, tr. 12-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ả nh hưởng của sâu cuốn lá nhỏ đến năng suất lúa ở Việt Nam và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Trường Thành
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 2003
30. Trần Huy Thọ (1983), “Một số kết quả nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa”, Tạp chí BVTV, Số 3/1983, tr. 49-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
Tác giả: Trần Huy Thọ
Năm: 1983
33. Nguyễn Công Thuật (1996), Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng nghiên cứu và ứng dụng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng nghiên cứu và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Công Thuật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thí nghiệm: - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 44)
Sơ đồ thí nghiệm: - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 46)
Hình 4.1 Diễn biến mật độ của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên một số - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Hình 4.1 Diễn biến mật độ của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên một số (Trang 60)
Bảng 4.5 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên  các chân đất khác nhau vụ xuân 2010 tại Tr−ng Trắc, Văn Lâm, H−ng Yên - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 4.5 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên các chân đất khác nhau vụ xuân 2010 tại Tr−ng Trắc, Văn Lâm, H−ng Yên (Trang 62)
Hình 4.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên các chân đất - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Hình 4.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên các chân đất (Trang 63)
Bảng 4.6 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến diễn biến  mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 4.6 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C (Trang 64)
Hình 4. 3 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến diễn biến  mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Hình 4. 3 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (3 dảnh) đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C (Trang 66)
Hình 4.4 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (1 dảnh) đến diễn biến  mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Hình 4.4 ảnh hưởng của mật độ cấy và số dảnh cấy (1 dảnh) đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (C (Trang 70)
Bảng 4.10 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 4.10 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) (Trang 72)
Hình 4.5 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Hình 4.5 Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên (Trang 73)
Bảng 4.12  Tỷ lệ sâu non sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) bị kí sinh vụ - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 4.12 Tỷ lệ sâu non sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) bị kí sinh vụ (Trang 74)
Bảng 4.13 Thành phần sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra  Swartz), cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 4.13 Thành phần sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra Swartz), cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R (Trang 75)
Bảng 4.14 Thành phần các loài sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra  Swartz), cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 4.14 Thành phần các loài sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ môi (Leersia hexandra Swartz), cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R (Trang 76)
Bảng 4.15 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ bấc đuôi chuột  (Sacciolepis myosuroides (R - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Bảng 4.15 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R (Trang 77)
Hình 4.6 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ bấc đuôi chuột  (Sacciolepis myosuroides (R - Luận văn thạc sĩ thành phần thiên địch của sâu hại lúa; diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) và biện pháp phòng chống vụ xuân 2010 tại văn lâm, hưng yên
Hình 4.6 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên cỏ bấc đuôi chuột (Sacciolepis myosuroides (R (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w