1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh

116 914 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại được hiểu là: “Việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định đề nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Thuận Thành năm 2011 45

Bảng 3.2: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Thuận Thành 45

Bảng 4.1: Tình hình tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, 2008-2012 52

Bảng 4.2: Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 53

Bảng 4.3: Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị theo lĩnh vực, 2008-2012 55

Bảng 4.4: Tình hình khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị ở cấp xã được giải quyết theo lĩnh vực, 2008-2012 58

Bảng 4.5: Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND cấp xã giải quyết, 2008-2012 61 Bảng 4.6: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết nhưng công dân vẫn tái tố, tái khiếu 63

Bảng 4.7: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết không đảm bảo trình tự, thủ tục 65

Bảng 4.8: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 67

Bảng 4.9: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức giải quyết khiếu nại, tố cáo của các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 68

Bảng 4.10: Số lượng công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 72

Bảng 4.11: Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 73

Bảng 4.12: Đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị phân theo từng lĩnh vực, 2008-2012 76

Bảng 4.13: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị được UBND huyện giải quyết 80

Bảng 4.14: Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND huyện giải quyết 83

Bảng 4.15: Kết quả thực hiện xử lý và thu hồi diện tích đất theo quy định của pháp luật về đất đai phát sinh theo từng năm phải thực hiện trong toàn huyện 85

Bảng 4.16: Kết quả thực hiện thu hồi tiền xuất toán đối với các khoản thu, chi tài chính trái pháp luật và giảm trừ giá trị quyết toán XDCB phát sinh theo từng năm phải thực hiện trong toàn huyện 86

Bảng 4.17: Vụ việc đã được UBND huyện và các cơ quan chức năng của huyện giải quyết nhưng công dân vẫn thực hiện việc tái tố, tái khiếu 87

Bảng 4.18: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức làm công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp huyện 88

Bảng 4.19: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức làm công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp huyện 89

Bảng 4.20: Tổng hợp về trình độ của người khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Thuận Thành 93

Bảng 4.21: Đánh giá tính kịp thời trong công tác giải quyết khiếu nại của công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành 93

Bảng 4.22: Đánh giá sự hài lòng của người dân đối với công tác giải quyết khiếu nại của công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành .94

Bảng 4.23: Đánh giá tính kịp thời trong công tác giải quyết tố cáo của công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành 96

Bảng 4.24: Đánh giá sự hài lòng của người dân đối với công tác giải quyết tố cáo của công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành 97

Trang 3

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị 54

Biểu đồ 2: Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo phân loại theo lĩnh vực 56

Biểu đồ 3: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND cấp xã giải quyết 62

Biểu đồ 4: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết không đảm bảo trình tự, thủ tục 66

Biểu đồ 5: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 68

Biểu đồ 6: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ công chức các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 69

Biểu đồ 7: Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị 75

Biểu đồ 8: Đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị phân theo từng lĩnh vực 77

Biểu đồ 9: Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND huyện giải quyết 84

Biểu đồ 10: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức làm công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp huyện 88

Biểu đồ 11: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức làm công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp huyện 89

Trang 4

PHẦN I:

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy Nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những

có vai trò quan trọng trong quản lý Nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân, gắn với việc xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế

Những năm gần đây cùng với quá trình CNH thì quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh chóng, từ đó nảy sinh những vấn đề bức xúc trong đời sống nhân dân ở nông thôn đòi hỏi phải giải quyết Trong quá trình công

nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, nông dân bị thu hồi đất để

chuyển giao cho doanh nghiệp do phát triển công nghiệp, du lịch và đô thị mà không kiếm được kế sinh nhai, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm của

nông dân Môi trường tự nhiên ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng, các giá trị của văn hóa truyền thống văn hóa cộng đồng ngày càng bị mai một… thay vào đó là vấn đề tai tệ nạn xã hội ở nông thôn ngày càng gia tăng Tất cả những vấn đề trên chính là nguyên nhân dẫn đến một thực trạng đó là tình hình khiếu nại, tố cáo của người dân ngày càng nhiều, có xu hướng phức tạp

và bức xúc ở nông thôn

Trang 5

Thuận Thành là huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, nằm ở phía Nam sông Đuống, cách không xa các trung tâm đô thị lớn đặc biệt là sát với thủ đô Hà Nội Trong những năm qua, hòa chung với sự vận động phát triển của đất nước, quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Thuận Thành diễn ra khá mạnh

mẽ, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần, bộ mặt nông thôn dần dần được đổi mới, những tiến bộ khoa học, kỹ thuật giúp cho người nông dân đỡ vất vả trong sản xuất nông nghiệp Một số đơn vị cơ sở đã triển khai và tập trung vào công cuộc xây dựng nông thôn mới Nhiều công ty, nhà máy, xí nghiệp đã ra đời giúp cho người dân trong và ngoài huyện có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập…; Tuy nhiên, do nhận thức chưa đầy đủ và sâu sắc, nên việc triển khai thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn chậm, thiếu đồng bộ và chưa thât sự quyết liệt, dẫn đến hiệu quả thấp, chưa bền vững Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn diễn biến rất phức tạp Đặc biệt là những bất cập, yếu kém trong công tác quản lý đất đai, tài chính ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản ở cơ sở… Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu phát sinh tình hình và gia tăng về khiếu nại,

tố cáo Bên cạnh đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả chưa cao Nhiều nơi số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gia tăng, thậm chí có nơi tình hình khiếu kiện diễn biến hết sức phức tạp, bức xúc làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự nông thôn Trong những năm gần đây, có rất nhiều vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai Nhiều trường hợp khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội, như đòi được bồi thường đất ở, nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí nơi tái định cư, giải quyết việc làm khi bị thu hồi đất; đòi lại và đòi phân chia quyền sử dụng đất, tranh chấp đất đai, nhà ở Ngoài ra, có một số vụ khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách xã hội, xử lý thi hành kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức

Trang 6

Trước thực tiễn đó, nhận thức được tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân góp phần vào ổn định an ninh, chính trị

và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương huyện Thuận Thành, tôi mạnh dạn

chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của

công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 Mục tiêu

1.2.1 Mục tiêu chung

Từ nghiên cứu tình hình thực tiễn, kết hợp với những lý luận Luận văn đưa ra các biện pháp khắc phục tồn tại, hạn chế để nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện trong thời gian tới

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu cụ thể tình hình và hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở UBND các xã, thị trấn, UBND huyện và một số cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện Thuận Thành;

- Nghiên cứu về tâm tư, nguyên vọng của người dân khi thực hiện việc khiếu nại, tố cáo thông qua phiếu điều tra

Trang 7

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Nội dung

- Nội dung của đề tài tập trung chủ yếu vào nghiên cứu thực trạng quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết trong thời gian tới

- Căn cứ cơ sở là những báo cáo kết quả giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo từ năm 2008-2012, vận dụng những văn bản mới, tìm hiểu nguyên nhân, để từ đó đưa ra phương pháp thực hiện hợp lý

Trang 8

PHẦN II:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

 Tiếp công dân

Cụm từ “tiếp dân” hiện nay đang ngày càng trở nên quen thuộc và cần thiết trong sinh hoạt đời sống xã hội Có thể nói, đây là cầu nối để lãnh đạo chính quyền, cán bộ nhà nước gần và sát dân hơn Thông qua các buổi tiếp dân, cán bộ lãnh đạo sẽ có cơ hội nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng và những băn khoăn, trăn trở của người dân, từ đó có biện pháp giải quyết hợp tình hợp lý, tạo được niềm tin trong nhân dân, góp phần nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp Đây cũng là thể hiện bản chất của Nhà nước chúng

ta, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân Đồng thời, công tác tiếp công dân cũng nhằm hướng dẫn người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật

 Khiếu nại

Nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị Nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật Trong quá trình tiền hành các hoạt động quản lý, các cơ quan nhà nước ban hành các quyết định quản lý theo thẩm quyền để thực hiện quyền lực nhà nước, buộc mọi người phải tuân theo Các văn bản, quyết định có tác động đến một người hay một nhóm ngườu nhất định Tuy vậy, văn bản hay quyết định đó có sai sót hoặc do cán

bộ, công chức thi hành công vụ có hành vi vi phạm của công dân, cơ quan, tổ chức nên khiếu nại phát sinh

Trang 9

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận tại Điều 74, Hiến pháp năm 1992 Đó là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại được hiểu là: “Việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định đề nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại).[1]

 Người bị khiếu nại

Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại (Khoản 5, Điều 2, Luật Khiếu nại).[1]

 Người giải quyết khiếu nại

Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (Khoản 6, Điều 2, Luật Khiếu nại).[1]

Giải quyết khiếu nại

Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại (Khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại).[1]

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Trang 10

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp (Điều 19, Luật Khiếu nại, tố cáo).[3]

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền:

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình (Khoản 1, Điều 20, Luật Khiếu nại, tố cáo).[3]

Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng

cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại (Khoản 2, Điều 20, Luật Khiếu nại, tố cáo).[3]

Thời hạn giải quyết khiếu nại

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại

có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết (Điều 52, Luật Khiếu nại, tố cáo).[3]

Trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại

Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu người giải quyết khiếu nại phải trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc gặp gỡ, đối thoại phải tiến hành công khai, dân chủ; nếu thấy cần thiết có thể mời đại diện tổ chức chính trị -

xã hội tham dự (Điều 9, Nghị định số: 136/2006/NĐ-CP).[5]

Tố cáo

Trang 11

Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,

tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân cơ quan, tổ chức

Như vậy, những việc làm trái pháp luật không phải chỉ cán bộ, công chức nhà nước mà còn cả cơ quan, tổ chức, những hành vi trái pháp luật thường bị công dân phát hiện và báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm

Mục đích của người tố cáo nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân

Quyền tố cáo của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật Tố cáo và nhiều văn bản pháp luật khác Ở góc độ pháp lý, tố cáo được hiểu: “Là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,

tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản

1, Điều 2, Luật Tố cáo).[2]

 Người bị tố cáo

Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo (Khoản

5, Điều 2, Luật Tố cáo).[2]

 Người giải quyết tố cáo

Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo (Khoản 6, Điều 2, Luật Tố cáo).[2]

Giải quyết tố cáo

Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo (Khoản 7, Điều 2, Luật

Tố cáo).[2]

Trang 12

Thẩm quyền giải quyết tố cáo

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản

lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết

Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc

cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết

Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết (Điều 59, Luật Khiếu nại, tố cáo).[3]

Thời hạn giải quyết tố cáo

- Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 90 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết (Điều 67, Luật Khiếu nại, tố cáo).[3]

- Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ

lý giải quyết tố cáo Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày. (Điều 21, Luật Tố cáo).[2]

 Hiệu quả và hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo

“Hiệu quả” được định nghĩa là đạt được một kết quả giống nhau nhưng

sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất

“Hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo”: Là hiệu quả thể hiện tổng quát

những kết quả khả quan về hoạt động trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo; bao gồm cả về năng lực làm việc của cán bộ, công chức, sự hợp tác của

Trang 13

người dân khiếu nại, tố cáo; tiết kiệm chi phí, tiền của, thời gian đi lại của cán

bộ Nhà nước, công dân, và hệ thống pháp luật được hoàn thiện

Như vậy, nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải đảm bảo được những tiêu chí cơ bản dưới đây:

- Giải quyết kịp thời, chính xác, khách quan, đảm bảo đúng pháp luật;

- Giải quyết xong trước hoặc đảm bảo thời gian so với quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo;

- Tiết kiệm tài lực, nhân lực của cơ quan giải quyết và chi phí, tiền của, thời gian đi lại của người khiếu nại, tố cáo;

- Để cho người khiếu nại, tố cáo sự hài lòng về kết quả đã giải quyết; hạn chế việc tái tố, khiếu nại lần 2; hạn chế việc khiếu nại, tố cáo vượt cấp góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội và phát triển kinh

tế, văn hóa ;

- Thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kiến nghị với Đảng và Nhà nước hoàn hiện cơ chế, chính sách đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội

2.1.2 Vai trò của công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

2.1.2.1 Vai trò của công tác tiếp công dân

- Tiếp công dân là giai đoạn đầu của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đóng vai trò quan trọng như là một khâu then chốt góp phần giải quyết có hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, qua đó bảo vệ lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

- Tiếp công dân là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giữ chặt mối liên hệ với dân

chúng và lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của

Trang 14

Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi” Làm tốt công tác tiếp công dân và giải

quyết khiếu nại, tố cáo là một hình thức biểu hiện trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước

Cơ quan Nhà nước phải tiếp công dân tốt thì nhân dân mới thấy rõ Đảng và Nhà nước luôn giữ chặt mối liên hệ với nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng càng được củng cố hơn

Do đó việc quan tâm làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là thể hiện bản chất dân chủ, là biện pháp củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước

- Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin quan trọng để kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, công chức và cơ quan của Đảng, Nhà nước

Khiếu nại, tố cáo là một trong những phương thức giám sát của nhân dân đối với Nhà nước và cán bộ, công chức Nhà nước Trên thực tế, người dân được trực tiếp làm việc, tiếp xúc với cán bộ, do đó, để đánh giá cán bộ một cách toàn diện, đầy đủ cần thông qua ý kiến phản hồi của quần chúng Muốn vậy người lãnh đạo qua công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ nắm bắt được đầy

đủ thông tin, kiểm tra, đánh giá chính xác cán bộ của mình

Đảng, Nhà nước phải dựa vào dân, qua sự giám sát, kiểm tra của nhân dân thì việc đánh giá sàng lọc cán bộ, đảng viên mới được toàn diện

- Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng là một kênh thông tin

để đánh giá tính khả thi của các chính sách, hiệu quả quản lý nhà nước Đánh giá chính sách là việc xem xét, nhận định về giá trị các kết quả thu được khi thực thi chính sách Đánh giá chính sách được tiến hành trên cơ sở một chính sách đã được hoạch định, thực thi và có sự phản ánh kết quả trở lại

Trang 15

Đánh giá tính khả thi của chính sách, tức là trả lời câu hỏi: việc thực thi chính sách có đạt được mục tiêu đề ra hay không, có đáp ứng được mong muốn, nguyện vọng của các nhóm đối tượng của chính sách hay không? Các chính sách, cũng như hoạt động quản lý Nhà nước được thực thi trên thực tế

sẽ tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân Do vậy, cần có sự phản hồi của người dân để đánh giá chính sách Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một kênh quan trọng để tiếp nhận sự phản hồi của người dân về tính khả thi của chính sách

Trên cơ sở các thông tin thu được qua việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý có được các thông tin về kết quả triển khai thực hiện các mục tiêu của chính sách, có căn cứ để xác định xem việc tồn tại chính sách có hợp lý hay không, kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách và tìm kiếm các biện pháp quản lý thích hợp và hiệu lực để thực thi chính sách đó

- Tiếp công dân tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền tự do, dân chủ, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc, xung đột trong xã hội

Khiếu nại, tố cáo là một phương thức thể hiện quyền dân chủ của nhân dân và là một trong những phương thức để nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với bộ máy Nhà nước và công chức Nhà nước Làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo chính là tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền tự do, dân chủ tạo nên một xã hội hài hòa, xã hội công dân

Khi người dân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm mới đến cơ quan nhà nước để khiếu nại, tố cáo Nếu cơ quan nhà nước không tiếp dân và giải quyết kịp thời sẽ tạo nên bức xúc của người dân đối với cơ quan nhà nước Nếu sự những bức xúc đó không được giải quyết sẽ phát sinh các vấn đề lớn về mặt xã hội; người dân dễ bị kích động bởi các thế lực thù địch, có các hoạt động chống đối Đảng và Nhà nước

Trang 16

2.1.2.2 Vai trò của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Hoạt động khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong các biện pháp đảm bảo pháp chế XHCN nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng Đây là một hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân lao động trực tiếp tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội Công dân không chỉ có quyền khiếu nại, tố cáo mà còn có nghĩa vụ thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân;

- Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân góp phần quan trọng vào

ổn định tình hình an ninh, chính trị, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;

- Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí Thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không những phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí mà còn phát hiện và khắc phục được những sơ hở trong

cơ chế quản lý, chính sách đã làm cho tệ tham nhũng có cơ hội phát sinh, phát triển Làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một biện pháp thiết thực, có hiệu quả nhằm phát huy sức mạnh của nhân dân - một nhân tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiện nay

2.1.2.3 Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo

Khiếu nại, tố cáo đều là các quyền chính trị cơ bản của công dân, thường được quy định trong cùng một điều luật hay trong cùng một văn bản Tuy nhiên, giữa khiếu nại và tố cáo có những đặc điểm khác nhau cả về nội dung và cách thức giải quyết Quá trình thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo đã chỉ ra không ít trường hợp còn chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào là

Trang 17

khiếu nại, thế nào là tố cáo nhất là khi đơn thư của công dân có nội dung chứa đựng cả việc khiếu nại và việc tố cáo thì vấn đề thụ lý và giải quyết còn nhiều lúng túng Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những nhầm lẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xác minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân khiến người dân phải khiếu nại nhiều lần hoặc tố cáo sai sự việc Do vậy, việc phân biệt khiếu nại và tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình đúng pháp luật và giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đỡ mất thời gian, công sức, tránh được nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Thứ nhất, về chủ thể: Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, thì

chủ thể của hành vi khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước, hoặc người có thầm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan tổ chức, cá nhân có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại Hành vi khiếu nại phải là của người bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc Trong khi đó, chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân, tức là chỉ bao gồm công dân và người nước ngoài Cá nhân thực hiện hành vi tố cáo có thể chịu tác động trực tiếp hoặc không chịu tác động của hành vi vi phạm pháp luật Bởi vậy, khi tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau Nếu chủ thể khiếu nại thực hiện không đúng pháp luật quyền khiếu nại của mình thì họ sẽ mất cơ hội được yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Còn nếu chủ thể tố cáo thực hiện quyền của mình không đúng quy định của pháp luật như tố cáo nặc danh, mạo danh thì tố cáo của họ không được giải quyết

Trang 18

- Thứ hai, về đối tượng: Trong khi đối tượng của khiếu nại là quyết

định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, những quyết định và hành vi này phải có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại Thì đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Có nghĩa là hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của tố cáo có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo có thể không Chính sự khác nhau này đã dẫn đến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục giải quyết, về quyền và nghĩa vụ của chủ thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo… Cụ thể:

Về thẩm quyền, khiếu nại được giải quyết lần đầu tại chính cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật là đối tượng của hành vi khiếu nại Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại của mình lên cấp trên trực tiếp của cấp đã có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa

án Còn đối với giải quyết tố cáo thì tại Điều 12, Luật Tố cáo [2] nêu rõ: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ , công chức của cán

bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp cửa cơ quan, tổ chức đó giải quyết Như vậy, khác với thẩm quyền giải quyết khiếu nại, người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào đó là chủ thể giải quyết tố cáo không có thẩm quyền giải quyết đối với đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chính bản thân mình Họ chỉ có quyền giải quyết những

Trang 19

đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp;

Về trình tự giải quyết, có thể chỉ ra một điểm khác nhau giữa khiếu nại,

tố cáo là vấn đề thời hiệu Đối với khiếu nại: “thời hiệu được tính là 90 ngày

kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính” (Điều 9, Luật Khiếu nại) [1] Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không được tính vào thời hiệu khiếu nại” (Điều 9, Luật Khiếu nại) [1] Đối với tố cáo, pháp luật hiện hành không quy định về thời hiệu tố cáo

- Thứ ba, về mục đích: Nếu như mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ

và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩm quyền Thì mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà cao hơn thế nữa là nhằm bảo

vệ lợi ích của Nhà nước

2.1.3 Bản chất, đặc điểm của khiếu nại, tố cáo và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

2.1.3.1 Bản chất, đặc điểm của khiếu nại

- Khiếu nại phát sinh khi quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại

bị xâm phạm, người khiếu nại yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo

vệ hoặc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm;

- Khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc là đề nghị của

Trang 20

cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;

Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại khi

họ cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể kết luận là có sự vi phạm hay không sau khi đã xem xét một cách khách quan và thận trọng nội dung vụ việc cùng những tài liệu và chứng cứ có liên quan;

Như vậy, khiếu nại là quyền, là hành vi của các chủ thể như cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân, còn hoạt động giải quyết khiếu nại là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, chỉ được thực hiện bởi người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Quyền khiếu nại của công dân xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước Quá trình công dân thực hiện quyền khiếu nại chính là quá trình cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các tài liệu, chứng cứ về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

từ phía cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước;

Bởi người khiếu nại không được sử dụng quyền lực nhà nước trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại nên họ không thể tự mình khôi phục lại những quyền

và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, do đó họ phải đề nghị cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành giải quyết khiếu nại của họ theo thủ tục mà pháp luật quy định Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại một mặt sử dụng những tài liệu, chứng cứ tiếp nhận từ người khiếu nại; mặt khác thu thập, xác minh thêm thông tin, tài liệu từ những nguồn khác để làm căn cứ cho việc giải quyết khiếu nại một cách chính xác;

Trang 21

Theo Khoản 2, Điều 2, Luật Khiếu nại "Người khiếu nại là công dân,

cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại" [1] Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại phải là người có năng lực hành vi đầy đủ và phải tự mình thực hiện quyền khiếu nại Việc uỷ quyền cho người khác chỉ thực hiện trong những trường hợp do pháp luật quy định như trong trường hợp công dân là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình thì thông qua người đại diện theo pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại Và khi thực hiện việc khiếu nại, người đại diện phải có giấy tờ để chứng minh với có quan nhà nước có thẩm quyền về việc đại diện hợp pháp của mình Còn trường hợp người ốm đau, già yếu, người có nhược điểm về thể chất hoặc vì

lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì có thể ủy quyền cho người đại diện là cha mẹ, vợ chồng, anh chị em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để thực hiện việc khiếu nại Việc ủy quyền thực hiện việc khiếu nại phải lập thành văn bản có xác nhận (chứng thực) của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người ủy quyền hoặc người được ủy quyền cư trú;

Cơ quan thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện hợp pháp là thủ trưởng cơ quan đó Thủ trưởng cơ quan có thể ủy quyền cho người đại diện theo quy định của pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại Người được ủy quyền

có nghĩa vụ thực hiện việc khiếu nại theo đúng nội dung được ủy quyền;

Tổ chức thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đứng đầu tổ chức Pháp luật thừa nhận sự ủy quyền của người đứng đầu tổ chức cho người đại diện theo pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại;

Về đối tượng của khiếu nại, theo Luật Khiếu nại năm 2011 bao gồm: Quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật;

Quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại được hiểu là: “quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền

Trang 22

trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính” (Khoản 8, Điều

2, Luật Khiếu nại) [1] Như vậy, quyết định hành chính là đối tượng của khiếu nại hành chính chỉ bao gồm quyết định hành chính cá biệt, được thể hiện thành văn bản và do cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành Tuy nhiên, trong thực tiễn, quyết định hành chính do người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước khác ban hành cũng là đối tượng khiếu nại, mặc dù chưa được quy định trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Chẳng hạn, Toà

án nhân dân ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự phiên toà hoặc các quyết định liên quan tới việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức cũng là đối tượng khiếu nại… Việc xác định một quyết định hành chính

có phải đối tượng khiếu nại hay không, không chỉ giúp người khiếu nại thực hiện quyền khiếu nại đúng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn giúp cho cơ quan giải quyết khiếu nại giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật;

Hành vi hành chính là đối tượng khiếu nại được hiểu là: “hành vi của

cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nghĩa vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”(Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại) [1] Hành vi đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Chẳng hạn, việc cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chối không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất theo yêu cầu hợp pháp của công dân thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ của cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng khiếu nại;

Trang 23

Quyết định kỷ luật cũng là đối tượng của khiếu nại, được hiểu là:

“quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản

lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức” (Khoản 10, Điều 2, Luật Khiếu nại)[1] Những quyết định này không bao gồm quyết định

kỷ luật đối với người lao động làm công ăn lương theo quy định của Bộ luật Lao động, quyết định kỷ luật trong cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội…

2.1.3.2 Bản chất, đặc điểm của tố cáo

- Tố cáo phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể, của công dân;

- Công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay không bị ảnh hưởng bởi hành

vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo đều có quyền thực hiện việc

tố cáo khi biết được có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội Công dân có thể cung cấp các thông tin về hành vi vi phạm pháp luật cho các cơ quan nhà nước, nhưng khác với tố cáo ở chỗ là tố cáo luôn được gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và người tố cáo luôn là chủ thể xác định, có những quyền, nghĩa vụ được quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo Khi công dân thực hiện quyền tố cáo thì giữa họ với cơ quan nhà nước sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật nhất định và họ phải chịu trách nhiệm về những thông tin mà mình cung cấp Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp; có tố cáo về những việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; có những tố cáo về những sai phạm trong công tác

Trang 24

quản lý của các cơ quan, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhà nước Ngoài ra, công dân có thể tố cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức… Tổng hợp lại, đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Quy định này đã chỉ rõ hành vi bị tố cáo không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại mà còn bao gồm cả những hành vi vi phạm pháp luật đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân Từ đó, có thể thấy trách nhiệm của Nhà nước ta trong việc quản lý đất nước, không chỉ là khắc phục những hành vi gây thiệt hại mà trước đó phải phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm có thể xảy ra, tránh những thiệt hại cho xã hội Việc tố cáo của công dân cũng theo đó mà đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp giáo dục, xử lý kịp thời, thậm chí là áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân;

Như vậy, khi thực hiện quyền tố cáo là công dân đã thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước làm cho

bộ máy nhà nước ngày càng phát huy hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản

lý xã hội; hay nói rõ hơn thực hiện quyền tố cáo chính là việc tỏ rõ trách nhiệm của công dân không chỉ trong việc giám sát hoạt động quản lý của Nhà nước để xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh mà còn đối với cả việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước để đây thực sự

là những “người đại biểu của nhân dân”, góp phần ngăn chặn, tiến tới loại trừ những hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu quần chúng của một bộ phận cán bộ công chức nhà nước Tuy nhiên, công dân thực hiện quyền tố cáo thường bị đặt vào tình thế bất lợi, thường bị hành hung, đe dọa,

ức hiếp, trả thù Chính bởi vậy mà trong những năm qua Luật Khiếu nại, tố

Trang 25

cáo năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 và ngày 11.11.2011, Quốc hội đã thông qua Luật Tố cáo quy định đầy đủ, chi tiết và chặt chẽ hơn

về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người có thẩm quyền giải quyết tố cáo, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền công dân của mình

2.1.3.3 Ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước Giải quyết tốt công tác này sẽ thể hiện tính dân chủ cơ sở mà Đảng và Nhà nước đã đề ra; thể hiện sự gắn bó, tin tưởng giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước; góp phần khắc phục sự tiêu cực trong hoạt động quản lý nhà nước; tạo niềm tin cho người dân đối với chính quyền, góp phần giữ vững chế độ, ổn định chính trị xã hội, quốc phòng - an ninh Quốc gia;

Qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng quy định pháp luật, phù hợp phong tục tập quán địa phương, vừa hợp tình vừa hợp lý sẽ nâng cao vai trò của Nhà nước pháp quyền theo nguyên tắc pháp chế XHCN Đồng thời phát hiện những trường hợp vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị kể cả cán bộ công chức nhà nước Từ đó nhà nước sẽ có biện pháp xử lý kịp thời đối với những đối tượng vi phạm nhằm đem lại quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, góp phần làm trong sạch và hoàn thiện bộ máy nhà nước

Giải quyết tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ hạn chế việc khiếu nại, tố cáo trong nhân dân; tăng cường mối quan hệ đoàn kết, tinh cảm gắn bó trong nhân dân, tăng cường sự hiểu biết, cảm thông chia sẻ, gắn bó giữa người dân với nhau phù hợp đạo đức dân tộc, phù hợp chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đã đề ra;

Tổ chức tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

Trang 26

của công dân là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; thể hiện bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; đồng thời là một kênh thông tin quan trọng góp phần giúp cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo sát với tình hình thực tế Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đóng vai trò quan quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không những phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng mà còn phát hiện và khắc phục được những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách đã làm cho tệ tham nhũng có cơ hội phát sinh, phát triển Làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một biện pháp thiết thực, có hiệu quả nhằm phát huy sức mạnh của nhân dân, một nhân tố quan trọng đảm quả nhằm phát huy sức mạnh của nhân dân, một nhân tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay;

Thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước ta kịp thời phát hiện những điểm phù hợp và chưa phù hợp trong đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước Từ đó, Đảng và Nhà nước sẽ có biện pháp bổ sung, sửa đổi, khắc phục những kẽ hở của chúng sao cho phù hợp với đặc điểm phát triển của xã hội, đem lại quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân

2.1.4 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo

2.1.4.1.Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại

* Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu

Căn cứ Điều 27; 28; 29; 30; 31; 32; 33; 34 và Điều 35 của Luật Khiếu nại thì trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại như sau:

+ Thụ lý giải quyết khiếu nại;

+ Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu;

+ Xác minh nội dung khiếu nại;

Trang 27

+ Tổ chức đối thoại;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu;

+ Gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu;

+ Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính;

+ Hồ sơ giải quyết khiếu nại;

+ Áp dụng biện pháp khẩn cấp

Người khiếu nại lần đầu phải khiếu nại với người ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Theo quy định, việc khiếu nại của công dân, cơ quan, tổ chức phải được thực hiện bằng đơn, ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và phải ký tên Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên Nếu người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì cán bộ có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn Trong trường hợp người khiếu nại thông qua người đại diện thì người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện đúng theo thủ tục quy định

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khác

mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại Thẩm quyền giải quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp không được thụ lý để giải quyết, người giải quyết khiếu nại lần đầu phải thị lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do

Trang 28

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó Thời hạn tạm đình chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời hạn giải quyết lần đầu.

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết Ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết

Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, người giải quyết khiếu nại phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm

rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại Trong trường hợp người khiếu nại nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật thì luật sư có quyền tham gia trong quá trình giải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản

và phải gửi quyết định này cho người khiếu nại, người có quyền, lợi ích có liên quan; khi cần thiết thì công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại đối với người khiếu nại và người bị khiếu nại

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý, thì có ý quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của pháp luật; đối với vùng sâu vùng xa thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày

Trang 29

Trong trường hợp tiếp tục khiếu nại, thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại trước đó và các tài liệu có lien quan cho người giải quyết khiếu nại tiếp theo Trong thời hạn 10 ngày kể

từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp không được thụ lý để giải quyết của Luật khiếu nại, tố cáo, người giải quyết khiếu nại tiếp theo phải thụ lý để giải quyết

và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu biết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại và nêu rõ lý do

Thời hạn giải quyết khiếu nại mỗi lần tiếp theo không quá 45 ngày, kể

từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết

có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết

Ở vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại mỗi lần tiếp theo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với

vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 70 ngày từ ngày thụ lý

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyêt ở lần khiếu nại kế tiếp mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo, trừ trường hợp quyết định đó là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng Đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày

* Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai

Căn cứ các Điều 36; 37; 38; 39; 40; 41; 42; 43 của Luật Khiếu nại thì trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai như sau:

+ Thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai;

Trang 30

+ Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai;

+ Xác minh nội dung khiếu nại lần hai;

+ Tổ chức đối thoại lần hai;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại lân hai;+ Gửi công bố quyết định giải quyết khiếu nại; + Khởi kiện vụ án hành chính;

+ Hồ sơ giải quyết khiếu nại lần hai

Trang 31

2.1.4.2 Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo

Căn cứ Điều 18, Luật Tố cáo thì việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự sau đây:

- Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;

- Xác minh nội dung tố cáo;

- Kết luận nội dung tố cáo;

- Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo;

- Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm

bị tố cáo

Người tố cáo phải gửi đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Trong đơn tố cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo; nội dung tố cáo Trong trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người có trách nhiệm tiếp nhận phải ghi lại nội dung tố cáo, họ, tên, địa chỉ của người tố cáo,

có chữ ký của người tố cáo

Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức,

cá nhân tiếp nhận tố cáo phải thụ lý để giải quyết; trong trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển cho cơ quan,tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo khi họ yêu cầu

Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 90 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn thời hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày

Người giải quyết tố cáo phải ra quyết định về việc tiến hành xác minh

và kết luận về nội dung tố cáo Xác định trách nhiệm của mỗi người có hành

vi vi phạm, áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan,

tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người vi phạm Trong trường hợp có

Trang 32

căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền tố cáo với

cơ quan với cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo

Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo, nếu thấy có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận, giải quyết tố cáo phải chuyển tin báo, chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật

tố tụng hình sự Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tin bằng văn bản về việc xử lý cho cơ quan, tổ chức đó biết; trường hợp tố cáo có nội dung phức tạp thì thời hạn trả lời có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày

2.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo

Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo

gồm: Người khiếu nại, tố cáo: Về trình độ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật; Cơ quan và người giải quyết khiếu nại, tố cáo: Về năng lực, trình

độ chuyên môn, trình độ lý luận, trách nhiệm và sự tuân thủ trình tự, thủ tục,

chính sách pháp luật khi tiến hành việc giải quyết; Người bị khiếu nại, tố cáo

và người có quyền nghĩa vụ liên quan: Về ý thức chấp hành và sự tuân thủ

thực hiện quyết định, kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp có thẩm

quyền và chính sách, pháp luật liên quan; Chính sách, pháp luật của Nhà

nước: Tuổi thọ ngắn, hay thay đổi, có nhiều bất cập như chồng chéo, thiếu

đồng bộ nên khó cho việc áp dụng khi giải quyết một số vụ việc cụ thể, có một số văn bản pháp luật tính thực thi không cao

Nhận thức rõ được vai trò quan trọng trong công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện Được sự hướng dẫn, giúp đỡ về nghiệp vụ của Thanh tra tỉnh Bắc Ninh và sự quan tâm lãnh đạo của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo các cấp, các ngành, UBND các xã, thị trấn trong huyện triển khai và thực hiện khá tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Trang 33

Thực hiện các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo; Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật Khiếu nại; Luật tố cáo; Nghị định số: 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 Quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Nghị định số: 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo UBND huyện Thuận Thành đã triển khai và yêu cầu các cơ quan, ban ngành, UBND các xã, thị trấn trong huyện tăng cường thực hiện công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật

2.1.5.1 Công tác tiếp dân

Nhằm củng cố và làm tốt mối quan hệ giữa nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, cần làm tốt công tác tiếp công dân Vì, tiếp công dân là giai đoạn đầu có ý nghĩa quan trọng của quá trình xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Tiếp công dân để trực tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, những kiến nghị, phản ánh đồng thời qua đó cơ quan nhà nước nắm bắt được việc thực hiện chủ trương, đường lối, của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước, công tác quản lý cán bộ, công chức phát hiện những sơ hở, yếu kém trong quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước Từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời, nên Trụ sở tiếp công dân (Nơi tiếp công dân) đều được bố trí tại trung tâm huyện và tại Trụ sở làm việc của UBND các xã, thị trấn trong huyện; Trụ sở tiếp công dân được bố trí ở nơi thuận tiện, có đầy đủ trang thiết bị cần thiết như: Bàn, ghế, sổ, sách ghi chép nội dung tiếp công dân, và được trang trí trang nghiêm, có nội quy, lịch tiếp công dân định kỳ của lãnh đạo UBND xã, thị trấn và UBND huyện theo quy định của pháp luật Ngoài việc tổ chức tiếp công dân theo lịnh định kỳ thì những trường hợp đặc biệt khi có yêu cầu khẩn

Trang 34

thiết, lãnh đạo UBND xã, thị trấn, UBND huyện trực tiếp thực hiện việc tiếp dân theo yêu cầu của công dân trên cơ sở quy định của pháp luật.

2.1.5.2 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan hành chính Nhà nước các cấp và là nội dung cơ bản của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo Chính vì vậy mà công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo trên địa bàn huyện Thuận Thành luôn được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ Thuận Thành và sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Thanh tra tỉnh Bắc Ninh;

Đối với đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện đều được chuyển đến Văn phòng HĐND&UBND huyện (Bộ phận Tiếp công dân và xử lý đơn thư) để tổng hợp phân loại đơn và đề xuất biện pháp xử lý Căn cứ vào nội dung đơn thư, đơn có nội dung liên quan đến công tác quản lý của ban ngành nào thì tham mưu cho UBND huyện giao cho ban, ngành đó xem xét, xác minh, kiến nghị việc giải quyết hoặc giao cho Chánh Thanh tra huyện, xác minh, kết luận giải quyết theo thẩm quyền;

Đối với đơn thư khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện thì hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo gửi đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết hoặc hoàn trả lại công dân theo quy định;

Trong quá trình xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo; UBND các xã, thị trấn, UBND huyện ngoài việc thực hiện giải quyết đúng thẩm quyền còn phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện đúng quy trình giải quyết khiếu nại lần đầu, lần tiếp theo, lần giải quyết cuối cùng đảm bảo đúng thời hạn giải quyết việc phân loại xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo; việc xử lý đơn tố cáo nặc danh, mạo danh, và việc

Trang 35

lập và lưu trữ hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo ra quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đều được các cơ quan trên địa bàn huyện cơ bản thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

ở cấp xã đạt tỷ lệ ở mức thấp, còn ở cấp huyện đạt tỷ lệ ở mức khá cao Tuy nhiên, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các năm qua trên địa bàn huyện chưa thật sự đạt hiệu quả tốt lắm; có nhiều vụ giải quyết kéo dài thời gian, chất lượng kém, việc thu hồi tài sản, đất đai sai phạm chậm, số vụ việc tái tố, tái khiếu và khiếu kiện vượt cấp còn nhiều

2.2 Cơ sở thực tiễn

Nói chung, cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính ở các nước gồm các yếu tố sau: Cơ sở khiếu nại, khiếu kiện; cơ quan giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; quy trình, thủ tục khiếu nại, khiếu kiện và giải quyết

khiếu nại, khiếu kiện

2.2.1 Cơ sở khiếu nại

Nói chung ở các nước có ba xu hướng quy định cơ sở khiếu nại, khiếu kiện về tiếp cận thông tin: Một là, không quy định cụ thể trong luật; hai là, chỉ quy định chung là khi có sự vi phạm các quy định của luật; ba là, quy định một số cơ sở cụ thể để có thể khiếu nại, khiếu kiện Nhưng dù theo xu hướng nào thì các cơ sở đó là khá rộng, tạo điều kiện cho người dân có thể khiếu nại, khiếu kiện về hành vi, văn bản pháp lý của các cơ quan công quyền

Ví dụ: Ở Cộng hòa Pháp, người dân có thể vừa kiện ra tòa án hành chính đòi hỏi huỷ bỏ các văn bản trái pháp luật (khiếu kiện về tính hợp pháp), đồng thời có thể đòi được bồi thường những thiệt hại mà họ phải gánh chịu Khiếu kiện về tính hợp pháp lại bao gồm bốn loại, ứng với bốn dạng cơ sở pháp lý để khiếu kiện: 1) Khiếu kiện về thẩm quyền ban hành; 2) Khiếu kiện

về thủ tục ban hành; 3) Khiếu kiện về lạm dụng quyền lực; 4) khiếu kiện về vi

Trang 36

phạm quy định của pháp luật Đặc biệt, khác với Việt Nam, các văn bản phải hủy bỏ là bất kỳ văn bản nào, dù đó là văn bản pháp luật hay văn bản hành chính “cá biệt” áp dụng riêng cho từng cá nhân, và hủy bỏ này có hiệu lực đối với những trường hợp tương tự xảy ra sau này.

Khiếu kiện đòi bồi thường áp dụng đối với một loạt hành động hay không hành động của cơ quan nhà nước gây ra thiệt hại cho nguyên đơn

Thậm chí, thực tiễn xét xử của Conseil d’Etat (Tham chính viện - cấp xét xử

hành chính cao nhất ở Pháp) qua nhiều năm cho thấy, trong nhiều trường hợp, các cơ quan nhà nước phải bồi thường ngay cả khi không có yếu tố lỗi, nhưng

do những hành động của mình, cơ quan nhà nước gây thiệt hại cho công dân Một tác giả nhấn mạnh, trên phương diện này, hệ thống tố tụng hành chính của Pháp đã vượt lên trước hệ thống của các nước theo mô hình Anh và Mỹ, nơi tòa án chỉ buộc các cơ quan công quyền bồi thường khi chứng minh được yếu tố lỗi trong hành động gây ra thiệt hại

Về phạm vi áp dụng, dựa trên các cơ sở pháp lý này, Tham chính viện thậm chí có thể tuyên các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của chính phủ theo quy định tại Điều 37 và Điều 38, Hiến pháp năm 1958 là vô hiệu Trong

phán quyết của vụ Syndicat Général des ingénieurs - conseil, Tham chính

viện cho rằng, Thủ tướng khi ban hành các nghị định (theo quy định của Điều 37) “có nghĩa vụ phải tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật có tính bắt buộc đối với mọi nhà chức trách có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật”, nếu không, Tham chính viện có quyền tuyên các văn bản đó vô hiệu Còn

trong vụ Canal, Tham chính viện tuyên rằng, các pháp lệnh do Chính phủ ban

hành theo quy định tại Điều 38 cũng phải tuân thủ “các nguyên tắc chung của pháp luật” Tham chính viện cũng đã từng xét xử các vụ kiện liên quan đến các văn bản do Tổng thống ban hành theo Điều 16 của Hiến pháp 1958 và các pháp lệnh được ban hành bởi trưng cầu dân ý

Trang 37

Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, khiếu kiện về tính hợp pháp có phạm vi rộng hơn so với ở Anh, xuất phát từ những quy định của Hiến pháp Theo đó, tất cả các văn bản hành chính phải được trải qua trình tự tiền tố tụng, nhưng trong đó phải bảo đảm nguyên tắc đối kháng và tôn trọng quyền của bên bị khiếu nại Nguyên tắc này được ghi nhận trong nhiều đạo luật: Luật về thủ tục khiếu nại hành chính ngày 04/7/1946, được bổ sung bằng Luật ngày 04/7/1966 về quyền tự do thông tin Các đạo luật này buộc cơ quan hành chính nhà nước phải đưa ra căn cứ trong các quyết định của mình và tạo điều kiện để công dân được cung cấp thông tin mà họ cần.[8]

2.2.2 Giải quyết đơn thư dân nguyện bởi Nghị viện và Nghị sỹ ở một số nước trên Thế giới

Trên thế giới hiện nay có một số mô hình phổ biến trong việc giải quyết đơn thư dân nguyện của công dân: Ombudsman - Thanh tra Quốc hội của các nước Bắc Âu, nguyên nghĩa là người bảo vệ công dân, do Nghị viện bầu và có quyền hạn độc lập xem xét các vụ việc khiếu nại; mô hình Uỷ ban dân nguyện của Quốc hội Cộng hòa liên bang Đức (ở phạm vi Quốc hội Liên bang và Quốc hội các bang); mô hình kết hợp ở Hà Lan: vừa có Uỷ ban dân nguyện (xem xét khiếu kiện hành chính và khiếu kiện tập thể) vừa có Thanh tra Quốc hội (thụ lý các vụ việc của cá nhân liên quan tới chính sách xã hội) Mô hình

Uỷ ban Dân nguyện Cộng hòa liên bang Đức không tiếp dân mà chỉ nhận đơn

và trả lời qua bưu điện Uỷ ban này thay thế trách nhiệm nhận và xử lý đơn thư dân nguyện của đại biểu, nhưng không thay thế trách nhiệm tiếp xúc cử tri của họ Ở mô hình kết hợp của Hà Lan, xu hướng công dân tới Thanh tra Quốc hội nhiều hơn Các mô hình nước ngoài trên đây đều không xem xét các đơn thư liên quan tới phán quyết của toà án trong mọi giai đoạn

Theo thông lệ ở một số nước, nếu thư chỉ phản ánh ý kiến của cử tri, nghị sỹ sẽ phúc đáp là đã nhận được thư và cám ơn đã đóng góp ý kiến Đối

Trang 38

với những thư đề nghị giúp đỡ, ví dụ khi cử tri có vướng mắc với một cơ quan công quyền nào đó, nghị sỹ sẽ chuyển thư đến bộ tương ứng Ở Anh, công việc này thường hay xảy ra đến nỗi nghị sỹ chỉ cần gắn tấm danh thiếp của mình kèm vào đơn thư của cử tri, chứ không cần phải thảo công văn gửi bộ trưởng Dạng văn bản này của nghị sỹ được xem xét đầu tiên, và thư trả lời phải do bộ trưởng ký gửi cho nghị sỹ, nghị sỹ chuyển lại cho cử tri Thống kê cho thấy, hàng năm các hạ Nghị sỹ Anh gửi từ 150.000 đến 200.000 thư đến

bộ trưởng Nếu cử tri vẫn không hài lòng với câu trả lời, hoặc bộ trưởng không có phản hồi, lúc đó nghị sỹ mới trực tiếp gặp bộ trưởng hoặc nêu vấn

đề trước phiên họp toàn thể của Hạ viện Ở Anh, Nghị sỹ tìm cách gặp bộ trưởng một cách chính thức tại văn phòng bộ trưởng, hoặc không chính thức vào giờ nghỉ giải lao ở nghị viện Chỉ sau khi gặp bộ trưởng mà không giải quyết được chuyện của cử tri nêu, nghị sỹ mới đưa nó ra phiên họp toàn thể

Ở nhiều nước như Canada, Đức, cử tri có thể gửi kiến nghị bằng văn bản (petition) cho nghị viện hoặc nghị sỹ Bất kỳ một nhóm công dân hay cá nhân công dân nào cũng có thể gửi kiến nghị để bày tỏ ý kiến của mình về những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của nghị viện mà họ cho rằng còn có khiếm khuyết Sau khi nhận đơn, nghị sỹ sẽ chuyển cho uỷ ban thích hợp, uỷ ban xử lý về mặt thủ tục và tổ chức phiên điều trần để nghe các bên trình bày

Trang 39

2.2.3.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo

Từ năm 2008 đến năm 2011, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp 1.571.505 lượt người đến khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận, xử lý 672.990 đơn thư Số lượng công dân khiếu nại, tố cáo ngày càng tăng cả về số đoàn đông người, số vụ việc (từ 187.037 vụ việc năm 2008 tăng lên 236.466 vụ việc năm

2011, tỷ lệ tăng 26,4%; từ 2.466 lượt đoàn năm 2008 tăng lên 4.056 lượt đoàn năm 2011 tỷ lệ tăng 64,5%) Sự gia tăng ở các khu vực không đồng đều: khu vực phía Bắc tuy số vụ việc giảm 6,3%, nhưng số đoàn đông người tăng cao nhất (99%); khu vực Miền Trung - Tây Nguyên tăng 64,2% số vụ việc, 66,4%

số đoàn đông người; khu vực phía Nam tăng 17,5% số vụ, 31,9% số đoàn đông người [9]

- Về tính chất, mức phức tạp mặc dù so với những năm 2006-2007 tình hình khiếu nại, tố cáo từ 2008-2011 ở một số địa bàn có giảm, nhưng về tổng quan thì tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp và bức xúc ở nhiều nơi,

có lúc, có nơi đặc biệt phức tạp, gay gắt, biểu hiện rõ nhất là: số đoàn đông người tăng mạnh, thái độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên Trung ương gia tăng; tình trạng đơn thử gửi tràn lan mang tính chất phổ biến, nhất là trong các dịp có sự kiện chính trị (họp Trung ương, họp Quốc hội, Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại hội Đảng …).[9]

- Có nhiều vụ việc phát sinh từ những năm trước, đã được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn không nhất trí tiếp tục khiếu kiện kéo dài, nhất là các vụ việc khiếu nại về thu hồi đất để thực hiện

dự án tại các địa phương như: Thành phố Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Đắk Lắk, Đắk Nông, Thanh Hóa, An Giang, Tiền Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai…, các vụ việc đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân tại các địa phương như: Long An, Bến Tre, Tây Ninh, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh …

Trang 40

- Có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại "liên kết" với nhau để khiếu nại [10] đông người nhằm tạo thêm sức ép lên các cơ quan Đảng và Nhà nước Đáng chú ý là trong một số trường hợp có sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người khi khiếu nại liên kết đông người có những hành vi quá khích, gây rối [8] Tình hình khiếu nại, tố cáo nêu trên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và tiềm ẩn những nguy

cơ làm mất ổn định chính trị - xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm Trong một số trường hợp đã xuất hiện những mâu thuẫn phát sinh giữa người dân với chính quyền, giữa người dân với nhà đầu tư Trong nhiều dự

án, do tác động của tình hình khiếu nại, tố cáo nên đã làm cho dự án bị chậm triển khai, kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội Một số vụ việc khiếu kiện người dân thể hiện thái độ sẵn sàng đối đầu, bất phục tùng chính quyền, thậm chí hăm dọa cán bộ có trách nhiệm Điều đáng

lo ngại là tình hình khiếu nại, tố cáo đã tác động tiêu cực vào tâm lý, hành động của cán bộ, vào đời sống xã hội và niềm tin của một bộ phận không nhỏ nhân dân, cán bộ đối với chính quyền, đòi hỏi phải được quan tâm chỉ đạo quyết liệt

2.2.3.2 Nội dung khiếu nại, tố cáo chủ yếu của công dân

- Nội dung công dân khiếu nại tập trung chủ yếu liên quan đến đất đai

(chiếm trên 70%); Trong đó:

+ Tập trung nhiều nhất là khiếu nại việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội;

+ Khiếu nại đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nhân dân qua các thời kỳ nhưng chưa được giải quyết dứt điểm;

+ Khiếu nại về nhà ở (đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, đòi nhà thuộc diện thực hiện các chính sách của Nhà nước về quản lý nhà

Ngày đăng: 31/08/2014, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Đức Lam, (năm 2009), Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính và vai trò của Nghị sỹ: Kinh nghiệm một số nước, Bài viết cho hội thảo“Đại biểu dân cử với pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo”, Trung tâm Bồi dưỡng Đại biểu dân cử tổ chức, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu dân cử với pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo
3. Quốc hội, (năm 1998), Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 Khác
5. Chính phủ, Nghị định số: 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006, Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
6. Chính phủ, (năm 2012), Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012, Quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại Khác
7. Chính phủ, (năm 2012), Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo Khác
9. Thanh tra Chính phủ, (2012), Báo cáo tình hình kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2008-2011 Khác
10. Ngô Đăng Huynh, Phó Vụ trưởng, Thanh tra Nhà nước, (năm 2004), Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân với cuộc đấu tranh chống tham nhũng, www.giri.ac.vn/images/File/tap3/phan18.doc Khác
11. Nguyễn Đức Hạnh, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, (năm 2010), Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, www.giri.ac.vn/nang- cao-hieu-qua-cong-tac-giai-quyet-khieu-nai-to-cao t104c2717n408tn.aspx Khác
12. Trần Văn Truyền, Tổng Thanh tra Chính phủ, (năm 2008), Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2008/1803/Mot-so-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-cong-tac-giai-quyet.aspx Khác
13. Thanh tra Chính phủ, Hướng dẫn việc lập, quản lý hồ sơ thanh tra, hồ sơ giải quyết khiếu nại và hồ sơ giải quyết tố cáo, (NXB Thống kê, năm 2008) Khác
14. Trường Cán bộ Thanh tra - Thanh tra Chính phủ, Nghiệp vụ công tác Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, (NXB Tài chính, năm 2009) Khác
15. Đảng bộ huyện Thuận Thành, (năm 2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, khóa XX trình tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2010-2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Trang 45)
Bảng 3.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Thuận Thành năm 2011 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của huyện Thuận Thành năm 2011 (Trang 48)
Bảng 4.1:  Tình hình tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị,  2008-2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.1 Tình hình tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, 2008-2012 (Trang 55)
Bảng 4.2:  Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2 Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 (Trang 56)
Bảng 4.3 cho thấy, số lượng đơn thư có nội dung liên quan đến lĩnh vực  đất đai chiếm tỷ lệ cao nhất - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3 cho thấy, số lượng đơn thư có nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ cao nhất (Trang 58)
Bảng 4.4: Tình hình khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị ở cấp xã được giải quyết theo lĩnh vực, 2008-2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4 Tình hình khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị ở cấp xã được giải quyết theo lĩnh vực, 2008-2012 (Trang 61)
Bảng 4.5: Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND cấp xã giải quyết, 2008-2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5 Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND cấp xã giải quyết, 2008-2012 (Trang 64)
Bảng 4.6: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết nhưng công dân vẫn tái tố, tái khiếu - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.6 Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết nhưng công dân vẫn tái tố, tái khiếu (Trang 66)
Bảng 4.7: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết không đảm bảo trình tự, thủ tục - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7 Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết không đảm bảo trình tự, thủ tục (Trang 68)
Bảng 4.8: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức tham gia giải  quyết khiếu nại, tố cáo của các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.8 Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 (Trang 70)
Bảng 4.9:  Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức giải quyết - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.9 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức giải quyết (Trang 71)
Bảng 4.10: Số lượng công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.10 Số lượng công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 (Trang 75)
Bảng 4.11: Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.11 Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 (Trang 76)
Bảng 4.12: Đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị phân theo từng  lĩnh vực, 2008-2012 - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.12 Đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị phân theo từng lĩnh vực, 2008-2012 (Trang 79)
Bảng 4.14:  Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND huyện giải quyết - nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.14 Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND huyện giải quyết (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w