Các yếu tố ảnh hưởng ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình dệt lụa ở Vạn Phúc .... Nhận xét chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình dệt lụa Vạn Phúc ....
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 2Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
Trang 3Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh ii
LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh của mình, ngoài
sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi ñã nhận ñược sự giúp ñỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp ñỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Viện sau ñại học - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội; ñặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của cô giáo PGS TS Kim Thị Dung - Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội là người ñã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Qua ñây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn ñối với tất cả các ñồng nghiệp, gia ñình và bạn bè ñã giúp ñỡ, ñộng viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
Trang 4Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh iii
MỤC LỤC LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC ðỒ THỊ viii
DANH MỤC BẢN ðỒ viii
1 MỞ ðẦU i
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của ñề tài 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 ðối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nghề dệt lụa và hộ sản xuất kinh doanh lụa 5
2.1.2 Vai trò của nghề sản xuất kinh doanh lụa 14
2.1.3 ðặc ñiểm của hộ gia ñình sản xuất kinh doanh lụa 16
2.1.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình 18
2.1.4.3 Các chỉ tiêu cơ bản dùng ñể phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ gia ñình dệt lụa 21
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ dệt lụa 22
2.2 Cơ sở thực tiễn 25
2.2.1 Thực tiễn phát triển nghề dệt lụa trên thế giới 25
Trang 5Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh iv
2.2.2 Thực tiễn phát triển nghề dệt lụa ở Việt Nam 30
3 ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 ðặc ñiểm phường Vạn Phúc 34
3.1.1 Vị trí ñịa lý 34
3.1.2 Các ñiều kiện tự nhiên 37
3.1.3 ðiều kiện kinh tế - xã hội 39
3.1.4 Tình hình phát triển kinh tế của phường Vạn Phúc 41
3.1.5 Khái quát sự phát triển của làng nghề dệt lụa Vạn Phúc 47
3.2 Phương pháp nghiên cứu 59
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 59
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 62
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 63
4.1 ðặc ñiểm sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh lụa ở Vạn Phúc 63
4.1.1 ðặc ñiểm ñầu vào của các hộ sản xuất kinh doanh dệt lụa ở Vạn Phúc 63
4.1.2 ðặc ñiểm ñầu ra trong sản xuất kinh doanh của các hộ dệt lụa ở Vạn Phúc 67
4.2 Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình và nguyên nhân 75
4.2.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh lụa 75
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình dệt lụa ở Vạn Phúc 79
4.2.1 Nhận xét chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình dệt lụa Vạn Phúc 79
4.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình ở Vạn Phúc 81
Trang 6Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh v
4.2.3 Một số tồn tại trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hộ gia ñình dệt lụa ở Vạn Phúc 86
4.3 BiÖn ph¸p nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lụa của các hộ s¶n xuÊt kinh doanh nghÒ dÖt lôa ở ph−êng Vạn Phúc 87
4.3.1 ðịnh hướng phát triển nghề dệt Vạn Phúc của chính quyền ñịa phương 87
4.3.2 BiÖn ph¸p về vốn 91
4.3.3 BiÖn ph¸p về nguyên liệu 93
4.3.4 BiÖn ph¸p về thị trường ñầu ra 95
4.3.5 BiÖn ph¸p về phát triển nghề lụa bền vững 97
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX : Hợp tác xã
TB : Trung bình TCN : Trước công nghiệp
Trang 8Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh vii
DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang 2.1 Mười nước sản xuất lụa lớn nhất thế giới năm 2005 26
3.1 Tình hình sử dụng ñất ñai ở phường Vạn Phúc năm 2010 38
3.2 Cơ cấu dân số và lao ñộng ở phường Vạn Phúc năm 2009 40
3.3 Tốc ñộ tăng trưởng GDP phường Vạn Phúc năm 2005-2009 41
3.4 Cơ cấu kinh tế phường Vạn Phúc năm 2009 42
3.5 Phân bổ các hộ theo ngành nghề của phường Vạn Phúc năm 2005 43
3.6 Sản lượng lụa của phường Vạn Phúc 46
3.7 Số lượng hộ trong mẫu ñiều tra 61
4.1 Nhân khẩu, lao ñộng các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh dệt lụa theo mẫu ñiều tra 64
4.2 Các loại sản phẩm lụa hiện nay ở Vạn Phúc 68
4.3 Sản lượng bình quân và cơ cấu sản phẩm lụa s¶n xuÊt của các hộ gia ñình Vạn Phúc 69
4.4 Sản lượng lụa bán bình quân vµ c¬ cÊu s¶n phÈm b¸n của các hộ gia ñình ở Vạn Phúc năm 2009 71
4.5 Bảng giá một số mặt hàng lụa Vạn Phúc và lụa Bảo Lộc 72
4.6 Sè l−îng s¶n phÈm lôa ë c¸c thị trường năm 2009 73
4.7 Các kinh phí xây dựng ở các hộ gia ñình chuyên dệt lụa 75
4.8 Chi phí sản xuất b×nh qu©n trong năm của các hộ gia ñình kinh doanh lụa Vạn Phúc 76
4.9 Doanh thu b×nh qu©n và thu nhập trung bình năm của các loại hộ sản xuất kinh doanh lụa ở Vạn Phúc 77
Trang 9Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh viii
DANH MỤC đỒ THỊ
3.1 Số hộ sản xuất lụa ở Vạn Phúc năm 2001 - 2009 43 3.2 Số lao ựộng tham gia dệt lụa Vạn Phúc 44 3.3 Số máy dệt của làng nghề Vạn Phúc năm 2001- 2009 45
DANH MỤC BẢN đỒ
3.1 Phường Vạn Phúc - quận Hà đông - thành phố Hà Nội 35 3.2 Hiện trạng phát triển của làng nghề dệt lụa Vạn Phúc 50 3.3 Quy hoạch làng nghề dệt lụa Vạn Phúc ựến năm 2010 90
Trang 10Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 1
1 MỞ đẦU
1.1 Tắnh cấp thiết của ựề tài nghiên cứu
Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện ựại hoá nông nghiệp, nông thôn, phát triển các làng nghề truyền thống là một trong những chắnh sách quan trọng ựể giải quyết công ăn việc làm cho người lao ựộng, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc Phát triển các làng nghề truyền thống còn góp phần tạo ra bộ mặt ựô thị hoá mới cho nông thôn ựể nông dân thoát khỏi tình cảnh di dân ra các ựô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chắ Minh,
đà Nẵng và ựược làm giàu ngay trên mảnh ựất của quê hương mình, ựồng thời giúp cơ cấu kinh tế chuyển dịch một cách hiệu quả Chắnh vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất trong làng nghề truyền thống góp phần rất quan trọng trong việc duy trì, bảo tồn sự phát triển bền vững của làng nghề
Khi Hà Tây chưa sáp nhập về Hà Nội, cả tỉnh có tới 411 làng nghề truyền thống, chiếm 20% tổng số làng nghề trong cả nước, giá trị sản xuất từ các làng nghề mỗi năm ựem về cho Hà Tây khoảng 3000 tỷ ựồng Tại Hà đông (nay thuộc quận Hà đông, t
hành phố Hà Nội), làng nghề dệt lụa Vạn Phúc hiện có khoảng 1280 hộ dân thì có ựến 90% sản xuất và kinh doanh các mặt hàng dệt lụa tơ tằm, hàng năm giải quyết công ăn việc làm cho khoảng trên 2700 người, giá trị sản xuất kinh doanh của cả làng ựạt hơn 100 tỷ ựồng và sản lượng lụa ựạt hơn 2 triệu mét/năm Trong vài năm trở lại ựây, làng dệt lụa Vạn Phúc ựang có sự chuyển ựổi rất mạnh mẽ từ ựơn thuần chỉ là ngành dệt thủ công truyền thống phục vụ thị trường trong nước sang mở rộng cơ sở sản xuất, nâng cấp máy móc, cải tiến mẫu mã sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu, kết hợp phát triển làng nghề với thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế Theo thống kê của Hiệp
Trang 11Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 2
hội làng nghề Vạn Phúc, hàng năm Vạn Phúc xuất khẩu khoảng 50% sản lượng, thu hút từ 3.500 ựến 5.000 khách du lịch trong nước và quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công ựó, làng lụa Vạn Phúc ựang ựứng trước nhiều khó khăn, thách thức Do khả năng tiêu thụ còn thấp và phải cạnh tranh trực tiếp với hàng ngoại nhập (ựặc biệt là hàng Trung Quốc), số hộ gia ựình tham gia sản xuất lụa tơ tằm ựã giảm mạnh từ 785 hộ năm 2001 xuống còn 698 hộ năm 2004 và hiện nay chỉ còn khoảng 600 hộ năm 2010
Sự giảm sút các hộ sản xuất kinh doanh nghề lụa ở Vạn Phúc có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong ựó có nguyên nhân là hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp Bên cạnh ựó, tình trạng ô nhiễm của làng lụa hết sức ựáng lo ngại Nhiều hộ dân muốn nâng cấp chất lượng lụa nhưng còn gặp phải những khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn từ chắnh quyền ựịa phương và chắnh phủ Mặc dù
Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) ựã phê duyệt dự án quy hoạch làng nghề Vạn Phúc thành một ựịa ựiểm sản xuất thủ công truyền thống nổi tiếng và ựiểm du lịch hấp dẫn với số vốn ựầu tư lên tới 60 tỷ ựồng, nhưng cho ựến nay
Dự án này vẫn chưa ựược triển khai do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
ựó có những nguyên nhân vướng mắc từ chắnh những khó khăn bất cập của làng nghề Vạn Phúc
Từ những vấn ựề nêu trên, có thể thấy việc tìm những biện pháp ựể nâng cao hiệu quả kinh doanh của các hộ gia ựình làng nghề dệt lụa Vạn Phúc
là hết sức quan trọng Nó sẽ góp phần ựưa làng nghề Vạn Phúc phát triển ổn ựịnh, bền vững hơn, ựược thế giới biết ựến nhiều hơn và góp phần hiệu quả hơn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao thu nhập cho người lao ựộng Xuất phát từ yêu cầu thực tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài:
ỘBiện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các hộ sản xuất kinh doanh
nghề dệt lụa phường Vạn Phúc - quận Hà đông - thành phố Hà NộiỢ
Trang 12Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của ựề tài
1.3 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 đối tượng nghiên cứu
đối tượng nghiên cứu chắnh của ựề tài là các hộ gia ựình sản xuất kinh doanh lụa ở làng Vạn Phúc - quận Hà đông Ờ thành phố Hà Nội
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Về không gian
ậÒ tội tập trung nghiên cứu trên ựịa bàn ph−êng Vạn Phúc - quận Hà đông - thành phố Hà Nội
1.3.2.2 Về thời gian nghiên cứu
Luận văn ựược thực hiện trong năm 2010, do ựó số liệu phản ánh trong luận văn sẽ chủ yếu tập trung vào khoảng thời gian từ năm 2000 ựến năm
2010 ựể thấy rõ những thuận lợi, khó khăn hiện tại, tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh hộ gia ựình ở Vạn Phúc trong thời gian tới
1.3.2.3 Về nội dung
Luận văn tập trung nghiến cụu những nội dung chủ yếu sau:
Trang 13Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 4
- Thùc tr¹ng tình hình sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình dệt lụa làng Vạn Phúc, những khó khăn, tồn tại mà các hộ gia ñình ñã gặp phải trong thời gian qua
- Thùc tr¹ng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ dệt lụa năm 2009
- Nghiên cứu biÖn ph¸p nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
hộ sản xuất kinh doanh dệt lụa
Trang 14Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 5
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
ñã có từ lâu nên trong tiếng Việt có sự phân biệt rất rõ ràng giữa các hàng dệt bằng tơ, cụ thể là:
+ Hàng dệt bằng tơ kém chất lượng vì tơ sần hoặc nổi cục thì gọi là sồi
(chồi), ñũi và nái Hàng này thô nhưng bền
+ Lĩnh hay lãnh là lụa dệt dày rồi ñem phết hồ
+ ðoạn giống như lĩnh nhưng dày hơn
+ The còn gọi là sa, là hàng dệt dùng sợi mỏng và dệt thưa, có thể nhìn
Trang 15Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 6
+ Gấm là hàng dệt dày, có nhiều màu sắc, hoa văn tạo nên gấm các
loại như gấm lam, gấm hồng cánh chấu, gấm ñỏ, gấm vàng Hoa trên gấm thường có màu tươi, rực rỡ, ñựơc dệt cài nổi, tự như thêu chỉ các màu rất khéo léo trên nền sa tanh Một tấm gấm thường có nhiều màu, thường là có 5-7 màu nen thường gọi lag gấm ngũ hay gấm thất thể Gấm là một mặt hàng quý, khó tìm nhất trong tất cả các mặt hàng tơ lụa Người thợ dệt gấm phải ñạt ñến tay nghề rất cao, kỹ thuật ñiêu luyện, tinh xảo và có óc thẩm mỹ Từ xa xưa ñến nay có rất ít nghệ nhân có thể dệt ñược gấm Theo như truyền tụng cua dân gian thì vào thời nhà Lê chỉ có duy nhất làng Vạn Phúc có thể dệt gấm
+ Lụa: bao gồm lựa trơn, lụa hoa ðây là mặt hàng dệt theo kiểu ñan
lóng mốt, nhưng mặt lụa rất mịn màng, óng ả ðặc tính của lụa là mặt cắt ngang sợi tơ có hình dạng tam giác với các góc tròn, ánh sáng có thể rọi vào ở nhiều góc ñộ khác nhau, sợi tơ có vẻ óng ánh tự nhiên và người cầm có thể cảm nhận ñược vẻ mịn màng, mượt của lụa không giống như các loại vải dệt
từ sợi nhân tạo
b Nghề dệt lụa:
Nghề dệt lụa (making silk) xuất hiện ñầu tiên ở Trung Quốc, có thể từ rất sớm khoảng năm 6000 trước công nguyên, nhưng theo nhiều sách vở ghi lại thì nghề dệt lụa chắc chắn ñã xuất hiện ở Trung Quốc trong khoảng thời gian 2697-2597 TCN dưới thời Huang Ti (Lady Arianne, 2006) Ban ñầu, chỉ
có vua chúa mới ñược dùng lụa hoặc ban tặng lụa cho người khác Tuy nhiên sau ñó lụa dần dần ñược các tầng lớp xã hội Trung Quốc sử dụng, rồi lan sang các vùng khác ở châu Á Lụa nhanh chóng trở thành thứ hàng hoá cao cấp ở những nơi thương nhân Trung Quốc ñặt chân tới, bởi nó bền và ñẹp óng ánh Nhu cầu về lụa ngày càng nhiều và nó trở thành một ngành thương mại có tính xuyên quốc gia Con ñường tơ lụa (silk road) ñược hình thành từ thế kỷ thứ 2 TCN vào thời Hán Vũ ðế, bắt ñầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh
Trang 16Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 7
qua Mông Cổ, Ấn ðộ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, xung quanh vùng ðịa Trung Hải và ñến tận châu Âu Con ñường tơ lụa cũng ñi ñến cả Hàn Quốc và Nhật Bản Nó có chiều dài khoảng 7 ngàn cây số (nghĩa là hơn 1/3 nửa chu vi trái ñất) (Wikipedia)
Nghề dệt lụa (making silk) là một nghề thủ công, ñòi hỏi phải có tay nghề cao và thường do một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu ñời, kiểu cha truyền con nối, sau ñó mở rộng sự liên kết, hỗ trợ sản xuất, buôn bán sản phẩm theo kiểu phường hội, có cùng tổ nghề, các thành viên luôn ý thức tuân thủ những quy tắc của gia tộc và phường hội Trong nghề dệt lụa, có sự liên kết hỗ trợ nhau về kỹ thuật, ñào tạo thợ trẻ giữa các gia ñình cùng dòng tộc, cùng phường hội và làng nghề thường ñược hình thành ngay trong cùng ñơn
vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ
Nghề dệt lụa thường gắn với chiếc khung cửi Qua thời gian, chiếc khung cửi ñã ñược cải tiến và ngày càng mang tính hiện ñại Ngày xưa, khung cửi ñược làm hết sức ñơn giản Người thợ dệt ngồi vào khung cửi không ngừng ray ñưa, chân dận và khung cửi thời ñó chỉ có thể dệt ñược lụa với khổ vải 40 cm Khung cửi thời xưa thường ñược gọi là khung cửi “con cò” Sau này, các khung cửi “con cò” ñược thay thế bằng khung dệt “tay cày”, trong ñó người thợ dệt không cần phải liên tục dùng lao thoi kết hợp với chân dận ñạp máy như trước ñây, mà chỉ việc ñưa chân và tay bẩy cái tay cày, tay cày chuyển lực ñến bộ phận mở go là lao thoi tự ñộng Việc chuyển từ khung cửi
cổ truyền sang khung dệt tay cày là một bước chuyển biến quan trọng của nghề dệt lụa trong những năm ñầu thế kỷ XX Những máy dệt tay cày này có thể giúp người thợ dệt ñược những mảnh lụa có khổ rộng từ 0,8 m ñến 1,2 m Ngày nay ở Vạn Phúc, chỉ còn 1 vài hộ gia ñình còn lưu giữ những khung cửi
cổ truyền, còn lại là những máy dệt hiện ñại, tự ñộng Các công ñoạn thay thoi hay xuốt cũng ñược tự ñộng
Trang 17Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 8
Nghề dệt lụa ñược chia làm 4 công ñoạn chính: guồng, hồ, dệt và nhuộm Ở công ñoạn guồng, con tơ ñược quay thành sợi (Phạm Văn Vượng, 2001) Thiết bị ñể quay tơ gọi là xa quay Trong nghề dệt lụa, quay tơ không ñơn thuần là chỉ quấn sợi vào ống tơ thật ñều và liên tục như xe sợi, mà còn ñòi hỏi phải chọn sợi, mắc sợi nhằm chọn ra sợi dọc và sợi ngang Ở công ñoạn hồ, sợi trước khi dệt phải quan khâu hồ Hồ sợi ñược coi như là một kỹ thuật - nghệ thuật ðối với sợi ngang sau khi suốt xong, chỉ việc gài vào thoi ñem dệt Nhưng ñối với sợi dọc, sau khi chập ñôi xong phải hồ rồi mới dệt
Hồ nhằm cho sợi dệt không bị xơ xước, có ñô bền và ñộ bóng cao Hồ sợi là một nghệ thuật bởi người thợ hồ phải chọn ñược loại gạo tốt ñể nấu hồ ñể cho nứơc hồ sánh, sợi không bị gai Khi hồ gần xong, người ta thường cho một ít sáp ong vào làm cho sợi hồ vừa dẻo, vừa bóng Ở công ñoạn dệt, tuỳ từng loại sản phẩm tơ lụa mà kỹ thuật dệt khá phong phú và ña dạng ðể tạo nên nhiều mặt hàng khác nhau, người thợ dệt phải luôn luôn thay ñổi các kỹ thuật trong dệt, cụ thể là các yếu tố như số lượng sợi dọc nhiều hay ít; ñộ to của sợi ngang ra sao (chập ñôi, chập ba, chập bốn sợi hay chập sáu); cách thăm go (cách mắc sợi dọc qua go) như thế nào (thăm thuận, thăm nghịch, thăm một miệng hay thăm hai miệng go); cách dận chân ñòn (chân ñòn nào dận trước)…Cùng một khung cửi, chỉ cần thay ñổi một trong những kỹ thuật nói trên, người thợ dệt cũng có thể tạo ra các mặt hàng lụa khác nhau Ở công ñoạn nhuộm, trước kia người thợ dệt chủ yếu nhuộm lụa với hai màu: nâu và ñen Nguyên liệu nhuộm là lá bang hay lá sồi, cây nâu rừng ñem về cho vào nồi ñun thật kỹ cho ra hết nhựa rồi lọc sạch, lấy mảnh vải cần nhuộm nhúng qua nước lã rồi nhúng vào nồi nước lá ñó ñể nhuộm Nhuộm xong ñem vải ra phơi se và ngâm vào bùn trong 2 ngày 2 ñêm rồi giặt sạch, phơi khô Ngày nay, người thợ dệt sử dụng thuốc nhuộm hoá học theo nhiều màu khác nhau
ñể nhuộm lụa Người thợ nhuộm chỉ cần nhúng tấm vải mộc trong nước có xà
Trang 18Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 9
phòng rồi ñưa vào bể nhuộm, sau ñó giặt kỹ và phơi khô Nhờ thuốc nhuộm hóa học, các sản phẩm lụa ngày nay có nhiều màu khác nhau và người thợ nhuộm ñã nghiên cứu tạo ra các sản phẩm nhuộm màu không phai, ñem lại ñộ bền về màu cho sản phẩm lụa
2.1.1.2 Hộ sản xuất kinh doanh lụa
Giáo sư Mc.Lee (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: “Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm”
Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế ñộ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”
Nhóm “hệ thống thế giới” (các ñại biểu Wallertan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và Bell Hel (1987) cho rằng “Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ
là một ñơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”
Giáo sư Frank Ellis (Đại học tổng hợp Cambride, 1988) ñưa ra một số ñịnh nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông, các dặc ñiểm ñặc trưng của ñơn
vị kinh tế mà chúng phân biệt gia ñình nông dân với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường là:
Trang 19Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 10
- ðất ñai: người nông dân với ruộng ñất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó Nó là nguồn ñảm bảo lâu dài ñời sống của gia ñình nông dân trước những thiên tai
- Lao ñộng: Sự tín nhiệm ñối với lao ñộng của gia ñình là một ñặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người lao ñộng gia ñình là cơ sở của các nông trại, là yếu tố ñể phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
- Tiến vốn và sự tiêu dùng: người nông dân làm công việc của gia ñình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần tuý Nó khác với ñặc ñiểm chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn ñầu tư vào tích luỹ cũng như khái niệm hoàn vốn ñầu tư dưới dạng lợi nhuận
Từ những khái niệm về hộ của các học giả quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, chúng ta có thể khái quát lại như sau:
Hộ là những tập hợp người chủ yếu có quan hệ huyết thống và hôn nhân, cùng sinh sống và lao ñộng sản xuất, bên cạnh ñó cũng có một số ít thành viên khác tự nguyện và ñược gia ñình cho sống cùng
Hộ nhất thiết phải là một ñơn vị kinh tế tự chủ, có nguồn lao ñộng và phân công lao ñộng chung, có vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, có ngân quỹ chung và chi tiêu ñuợc thoả thuận có tính chất gia ñình Hộ không phải là một thành phần ñồng nhất, mà hộ có thể thuộc các thành phần kinh tế
cá thể, tư nhân, tập thể và nhà nước
Hộ không ñồng nhất với gia ñình mặc dù có chung huyết thống nhưng gia đình có thể là nhiều hộ cùng chung sống trong một mái nhà , và các hộ ñộc lập nhau về sinh sống và ngân sách
Hộ không chỉ là ñơn vị kinh tế mà còn là một ñơn vị cơ bản của xã hội, các thành viên trong hộ có quan hệ mật thiết với nhau Hộ có khả năng tái
Trang 20Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 11
sản xuất sức lao ñộng Hộ vừa sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, ñồng thời là nơi tiêu dùng sản phẩm và các hàng hoá khác của xã hội
Gia ñình (family) và Hộ (household) là hai khái niệm khác biệt Một hộ
có thể chỉ bao gồm một các nhân hay nhiều thành viên có hoặc không có quan
hệ huyết thống với nhau Hộ có thể là một gia ñình hạt nhân,một gia ñình mở rộng hay một ñại gia ñình Ngược lại, một gia ñình có thể trải rộng trong nhiều hộ Thông thường, gia ñình và hộ trùng tên nhau, tạo thành tên gọi “hộ gia ñình” Mỗi hộ gia ñình Việt Nam hiện nay ñều có chung sổ ñăng ký hộ khẩu, trong ñó có chủ hộ và các quan hệ giữa các thành viên với chủ hộ Kinh
tế gia ñình là lọai hình kinh tế tương đối phổ biến và ñược phát triển ở nhiều nước trên thế giới Sự trường tồn của hình thức sản xuất này ñang tự chuyển mình ñể trở thành một thành phần kinh tế của xã hội Kinh tế hộ gia ñình có vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với gần 80% dân số sống ở nông thôn với xuất phát ñiểm thấp
b Hộ gia ñình sản xuất kinh doanh
Với những ñịnh nghĩa về hộ, nông hộ, hộ gia ñình như trên, có thể
xem hộ gia ñình sản xuất kinh doanh là một cơ sở kinh tế có ñất ñai, các tư
liệu sản xuất thuộc về sở hữu của hộ gia ñình, sử dụng chủ yếu sức lao ñộng của gia ñình và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơ n, nhưng chủ yếu ñược ñặc trư ng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt ñộng với mức ñộ không hoàn hảo cao Hộ gia ñình sản xuất kinh doanh
có những ñặc trưng kinh tế như sau:
- Là loại hình kinh tế trong ñó các thành viên làm việc một cách tự chủ,
tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân, gia ñình và xã hội Các thành viên chính trong hộ là những người có cùng quan hệ huyết tọc và hôn nhân, là chủ thể ñích thực của hộ
Trang 21Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 12
- Là ñơn vị kinh tế cơ sở, vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, có sự thống nhất giữa ñơn vị kinh tế và ñơn vị xã hội Kinh tế hộ có khả năng tự ñiều chỉnh nhanh mối quan hệ giữa sản xuất – trao ñổi – tiêu dùng, vì vậy tính thích nghi của nó rất linh hoạt trong ñiều kiện và hoàn cảnh thay ñổi
- Kinh tế hộ gia ñình là hình thức kinh tế rất phù hợp với ñặc ñiểm sản xuất nông nghiệp, ñó là quy mô về ñất ñai, lao ñộng, ñối tượng lao ñộng luôn thay ñổi và không ñồng nhất giữa các vùng, miền cũng như ngay trong nội vùng
- Kinh tế hộ gia ñình mang tính phổ biến và ñặc thù với ñiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và trình ñộ sản xuất của mỗi nước, từng khu vực trên thế giới Cùng với thời gian, trình ñộ sản xuất của kinh tế hộ gia ñình ñã phát triển theo xu hướng từ trình ñộ sản xuất thấp lên trình ñộ sản xuất cao
- Kinh tế hộ gia ñình tuy là một ñơn vị kinh tế ñộc lập, nhưng nó có quan hệ gắn bó mật thiết và hữu cơ với các thành phần kinh tế khác, ñặc biệt
là kinh tế hợp tác xã, các nông lâm trường và các cơ sở chế biến trên ñịa bàn
Ở Việt Nam, hộ gia ñình sản xuất kinh doanh là một ñơn vị sản xuất phổ biến ðây là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển ñổi cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy ñộng mọi nguồn lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện ñại hoá ñất nước Hiện nay, kinh tế hộ gia ñình chưa phải là một thành phần kinh tế, nhưng lại là một loại hình ñể phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Một trong các thành việ trong kinh tế hộ gia ñình ñồng thời là chủ hộ Trong hoạt ñộng sản xuất kinh doanh, gia ñình
có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộ ñiều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt ñộng của mình Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia ñình chủ yếu phát triển ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia ñình nông dân; ở thành thị gọi
Trang 22Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 13
la các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh Kinh tế hộ gia ñình hiện nay phát triẻn trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nông nghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại, kinh doanh du lịch ñến tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh
c Hộ gia ñình sản xuất kinh doanh nghề lụa
Dựa theo những khái niệm về hộ gia ñình sản xuất kinh doanh và kinh
tế hộ gia ñình, cũng như qua việc thu thập số liệu và ñiều tra thực tế, chúng tôi có thể ñưa ra khái niệm về hộ gia ñình kinh doanh nghề lụa như sau: + Hộ gia ñình kinh doanh nghề lụa là một cơ sở kinh tế có ñất ñai, có tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia ñình, sử dụng chủ yếu sức lao ñộng của gia ñình, phần lớn các gia ñình có kiêm thêm nghề nông, ñồng thời thuê thêm thợ dệt
+ Chủ hộ là người cai quản, quán xuyến mọi công việc trong nhà, ñống thời là người ñi bán hàng, mua tơ và chi tiêu trong gia đình
+ Những người thợ học việc có thể là con cháu họ hàng trong gia ñình
do nhà không có khung cửi hoặc những người ở nơi khác đến Thợ làm thuê bao gồm từng nhóm từ 3 ñến 5 người, thường làm các công việc như thợ tơ, thợ cửi, sau 1 -2 năm sẽ ñược chính thức học nghề dệt lụa
+ Những hộ gia ñình vừa làm nghề dệt vừa làm nghề nông thì thời gian chính ñược tập trung cho nghề dệt Khi mùa màng ñến, toàn bộ công việc của nghề nông ñều thuê thợ nông làm và chỉ cần một người trong gia ñình cai quản nghề nông
+ Hình thức sản xuất chủ yếu là các xưởng sản xuất gia ñình Các hộ gia ñình vừa là một ñơn vị sản xuất, vừa là một ñơn vị kinh tế, vừa là một ñơn vị sinh hoạt Gia ñình cũng là một ñơn vị tổ chức lao ñộng, trong ñó chủ
hộ (thường là người thợ giỏi nhất) nắm quyền quản lý, quyết ñịnh và ñiều hành mọi công việc, từ phân công lao ñộng ñến ñầu vào, ñầu ra Xưởng sản
Trang 23Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 14
xuất gia ñình thuờng ñược ñặt tại nhà và chủ hộ có trách nhiệm dạy nghề cho các lao ñộng trong hộ kinh doanh
+ Vốn liếng của các xưởng sản xuất gia ñình thường nhỏ, thu hút ít lao ñộng
2.1.2 Vai trò của nghề sản xuất kinh doanh lụa
Ở các vùng nông thôn Việt Nam, ngoài nông nghiệp là ngành sản xuất chính, thủ công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu kinh tế, trong ñời sống và văn hoá làng xã Trong sự ñóng góp của các làng nghề truyền thống, nghề sản xuất kinh doanh lụa cũng có những vai trò to lớn ñối với sự phát triển của các miền quê Vai trò ñó ñược thể hiện qua các khía cạnh sau ñây:
Thứ nhất, nghề sản xuất kinh doanh lụa ñóng vai trò quan trọng trong phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt của các cộng ñồng dân cư
Với các phương thức trồng bông, nuôi tằm, kéo sợi, ươm tơ, nghề dệt lụa có mặt ở nhiều nơi ở Việt Nam và có lịch sử phát triển rất lâu ñời Theo tail liệu cổ học, với các dấu vết trên ñồ gốm, các hình dáng hoa văn trên ñồ ñồng chúng ra thấy nghề dệt lụa ñã có từ thời vua Hùng Những vùng ñất bãi phía Bắc dông Hồng là một trong những trung tâm nuôi tằm, ươm tơ dệt vải nổi tiếng của Việt Nam Thế kỷ 18-19 ñã hình thành các trung tâm dệt lớn với nhiều lọai sản phẩm ñặc sắc ở Việt Nam, một số làng xã về cơ bản ñã trở thành các làng nghề dệt truyền thống như La Khê, Vạn Phúc Phường hội dệt xuất hiện, kéo theo kinh tế hàng hoá bắt ñầu phát triển Nhiều sản phẩm dệt nổi tiếng như the, lụa, lĩnh, ñũi, gấm, vóc, lượt ñã ñuợc ưa chuộng trên thị trường thế giới và trong nước Có thể nói, nghề dệt lụa ñã hình thành nên nền kinh tế hàng hoá ở các vùng dân cư, ñem lại những sản phẩm tiêu dung cho người dân ñịa phương, ñồng thời nâng cao thu nhập cho các hộ sản xuất kinh doanh lụa Sản phẩm của làng nghề là nhân tố quan trọng góp phần phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn, tăng sức mua cho thị trường nông thôn, ñóng
Trang 24Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 15
góp quan trọng trong tổng sản phẩm quốc nội của khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, nghề sản xuất kinh doanh lụa góp phần vào việc bảo tồn văn hoá phi vật thể cho các miền quê Việt Nam
Những sản phẩm lụa ñạt tới trình ñộ kỹ thuật và nghệ thuật cao, nhất là trong bố cục và tạo dáng hoa văn, ña dạng về màu sắc ñã thể hiện sự giao lưu văn hoá mạnh mẽ trong ñời sống dân cư Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu
ñã coi hoa văn trên các sản phẩm dệt lụa là nguồn sử liệu quý nghiên cứu về lịch sử tộc người và quan hệ giữa các tộc người ðiều ñáng lưu ý là sự phong phú về cấu tạo các loại công cụ dệt, các công ñoạn dệt, kỹ thuật dệt lụa, kinh nghiệm dân gian về nhuộm màu, hồ sợi, phân bố màu sắc, tạo hoa văn trên các sản phẩm ñã tạo ra những giá trị văn hoá dân gian phong phú, trở thành niềm tự hào của mỗi dân tộc, làm nên bản sắc văn hoá của dân tộc
Thứ ba, nghề sản xuất kinh doanh lụa ñã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho các vùng nông thôn Việt Nam
Sự hình thành, mở rộng và phát triển các làng nghề dệt lụa có vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện ñại hoá, làm cho tỷ trọng của khu vực nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tăng dần tỷ trọng của khu vực tiểu thủ công nghiệp, công nghệp và dịch vụ Ngoài nghề nông là ngành nghề chi phối chủ ñoạ các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của các vùng nông thôn, nghề dệt lụa có một vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp ñi lên tiểu thủ công nghiệp ở các xã nông thôn truyền thống Nghề dệt lụa còn làm thay ñổi tập quán từ sản xuất nhỏ, mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, tiếp nhận các công nghệ mới có liên quan ñến nghề, hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các phường hội nghề Nghề sản xuất kinh doanh lụa góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người, giữ gìn và phát huy
Trang 25Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 16
truyền thống văn hoá, tạo ra bộ mặt ñô thị hoá mới cho nông thôn ðối với các làng nghề dệt lụa làm ăn có hiệu quả, nghề sản xuất kinh doanh lụa có tác dụng giống như một ñầu tàu chính kéo toàn bộ cơ cấu nông nghiệp nông thôn của làng quê ñi lên, mở rộng thị trường, phát triển kinh tế hàng hoá, ñô thị hoá các làng quê Một số làng nghề dệt lụa ñặc sắc như La Khê, Vạn Phúc còn ñóng vai trò chủ ñạo trong hoạt ñộng kinh tế, ñẩy lùi nông nghiệp xuống hàng thứ yếu, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường Có thể nói các làng nghề dệt lụa là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn
và thành thị, giữa truyền thống và hiện ñại và là nấc thang phát triển quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá nông thôn ở nước ta
Thứ tư , phát triển sản xuất kinh doanh lụa góp phần thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao ñộng nông thôn
Do ñặc tính của nghề lụa là cần nhiều lao ñộng, phải có ñức tính cần cù, không yêu cầu khắt khe về học vấn, bằng cấp, nên phát triển nghề lụa là rất phù hợp với trình ñộ học vấn của lực lượng lao ñộng ở các vùng nông thôn nước ta Nó không những giúp người dân ở làng có nghề nghiệp ổn ñịnh, có công ăn việc làm, mà còn giải quyết công ăn việc làm cho các vùng phụ cận ðặc biệt trong ñiều kiện hiện nay khi ñất ñai nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, thì việc phát triển nghề sản xuất kinh doanh lụa sẽ góp phần giảm sức ép của dân cư di dân lên thành phố, giúp nông dân Việt Nam có ñiều kiện “ly nông nhưng không ly hương” và tự làm giàu trên quê hương mình Nó góp phần giảm bới căn bệnh “ñầu to” ở các vùng ñô thị do nông dân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo những hậu quả xã hội nặng nề
2.1.3 ðặc ñiểm của hộ gia ñình sản xuất kinh doanh lụa
- ðặc ñiểm sản phẩm
Sản phẩm cuả các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh lụa là các mặt hàng lụa với mẫu mã, chủng loại ña dạng, phong phú Tại Việt Nam ngành dệt
Trang 26Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 17
bằng tơ lụa ựã có từ lâu nên trong tiếng Việt có sự phân biệt rõ ràng giữa các hàng dệt bằng tơ Phổ thông nhất là lụa với các sản phẩm như sồi, ựũi, lĩnh, ựoạn, the, xuyến, gấm, vócẦ Ngoài các sản phẩm là lụa tấm, lụa miếng, các làng nghề lụa ở Việt Nam hiện nay còn có các sản phẩm khác về lụa như quần
áo lụa, mành rèm trang trắ bằng lụa Ngoài dùng ựể may quần áo và làm thành các ựồ thủ công, lụa còn ựược dùng làm dù (ựể nhảy), lốp xe ựạp, chăn mền và túi ựựng thuốc súng Các thầy thuốc Trung Quốc ựã từng sử dụng lụa ựể làm mạch máu nhân tạo Lụa cũng dùng ựể viết trong những trường hợp ựặc biệt
- đặc ựiểm quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất lụa trải qua 4 công ựoạn và có thể tìm hiểu kỹ lưỡng
về quá trình sản xuất lụa theo phụ lục II
- đặc ựiểm thị trường tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ sản phẩm lụa chủ yếu là thị trường trong nước, ựồng thời còn phục vụ cho thị trường xuất khẩu, chủ yếu sang các nứơc như Nga,
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đài Loan, MỹẦ Hiện tại, thị trường trong nước là thị trường chủ yếu, nhưng về lâu dài thị trường xuất khẩu sẽ là thị trường quan trọng bởi sản phẩm của làng nghề dệt lụa có nhiều nét ựộc ựáo và có lợi thế so với các nước phát triển Ngoài ra, thị trường dịch vụ du lịch là thị trường có tiềm năng lớn với lượng khách nước ngoài vào Việt nam ngày càng nhiều, do ựó sản phẩm dệt lụa của các làng nghề bán cho khách du
lịch sẽ tiếp tục tăng cao, xuất khẩu tại chỗ sẽ ựược mở rộng
- đặc ựiểm về lao ựộng
Là nghề thủ công truyền thống, lao ựộng của các hộ kinh doanh sản xuất lụa chủ yếu là lao ựộng gia ựình Ngoài ra, các hộ gia ựình còn thuê lao ựộng theo tắnh chất thời vụ, trả công lao ựộng theo tháng Lao ựộng trong làng nghề dệt lụa thường có trình ựộ kỹ thuật cao, tay nghề tinh xảo, khéo léo, có ựầu óc thẩm mỹ, có tắnh sang tạo đây là những ựiều kiện thuận lợi ựể duy trì
Trang 27Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 18
và phát triển làng nghề, ñặc biệt là những nghệ nhân, những người thợ có tay nghề giỏi ñược truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm nòng cốt truyền dạy kinh nghiệm và kỹ năng cho các thế hệ sau
- ðặc ñiểm về tài sản, vốn cho sản xuất kinh doanh
Vốn là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh lụa ðể có vốn ñầu tư, các hộ sản xuất kinh doanh lụa thường huy ñộng vốn từ ba nguồn chính Một là, nguồn vốn tự có ðây là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt ñộng sản xuất kinh doanh lụa Hai là, vốn hỗ trợ từ các chương trình của nhà nước Nguồn vốn này ñến với làng nghề dưới nhiều hình thức gián tiếp như: hàng năm tỉnh hỗ trợ kinh phí cho ñầu tư xây dựng cơ bản, nhất là
hệ thống cơ sở hạ tầng như ñiện, ñường, trường, trạm Ngoài ra, làng nghề dệt lụa còn ñược chính quyền cấp tỉnh hỗ trợ trong chương trình xoá ñói giảm nghèo, chương trình quốc gia giải quyết việc làm, hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề Tuy nhiên, nguồn vốn này thường nhỏ, khó tiếp cận và không thường xuyên, ñối tượng trực tiếp hưởng nguồn vốn này chủ yếu là các làng nghề có hộ nghèo cần giải quyết việc làm, còn ñối với những làng nghề có nghề lụa phát triển thì nguồn vốn này không ñáng kể; Ba là, vốn ñi vay Nguồn vốn này ñang trở thành một nguồn vốn quan trọng ñối với sự phát triển của các làng nghề, trong ñó có nghề lụa Vốn tín dụng ñáp ứng ñựơc nhu cầu vốn lưu ñộng của các hộ gia ñình dệt lụa, phục vụ cho việc mua nguyên liệu, trả lương công nhân, tổ chức tiêu thụ sản phẩm
2.1.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình
2.1.4.1 Khái quát về hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả sản xuất kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa chi phí ñầu vào và kết quả nhận ñược ở ñầu ra của một quá trình sản xuất kinh doanh Hay nói cách khác, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình ñộ sử dụng các nguồn lực (nhân
Trang 28Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 19
lực, tài lực, vật lực) ñể ñạt ñược mục tiêu xác ñịnh Nếu gọi H là hiệu quả sản xuất kinh doanh thì:
Kết quả ñầu vào
H =
Chi phí ñầu ra Công thức này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn ñể thu ñược kết quả cao hơn, tức là ñã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với ñiều kiện H>1 H càng lớn chứng tỏ quá trình ñạt hiệu quả càng cao ðể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh (H), chúng ta có thể sử dụng các biện pháp như: giảm ñầu vào, ñầu ra không ñổi; hoặc giữ ñàu vào không ñổi, tăng ñầu ra; hoặc giảm ñầu vào, tăng ñầu ra
Chúng ta có thể cải tiến quản lý ñiều hành nhằm sử dụng hợp lý hơn các nguồn lực, giảm tổn thất, ñể tăng cường giá trị ñầu ra Nhưng nếu quá trình sản xuất, kinh doanh ñã hợp lý thì việc áp dụng các biện pháp trên sẽ bất hợp lý Bởi ta không thể giảm ñầu vào mà không làm giảm giá trị ñầu ra và ngược lại Thậm chí trong thực tế, ngay cả khi quá trình sản xuất, kinh doanh của chúng ta là còn bất hợp lý nhưng khi chúng ta áp dụng những biện pháp trên có thể làm cho hiệu quả giảm xuống Chính vì vậy, ñể có ñược một hiệu quả không ngừng tăng lên ñòi hỏi chúng ta chẳng những không giảm mà còn phải tăng chất lượng ñầu vào lên Với nguyên vật liệu tốt hơn, lao ñộng có tay nghề cao hơn, máy móc công nghệ hiện ñại hơn, ta sẽ giảm ñi lượng hao phí nguyên vật liệu, hao phí lao ñộng, hao phí năng lượng, thiết bị trên từng ñơn
vị sản phẩm, phế phẩm giảm ñó là ñiều kiện ñể có những sản phẩm với số lượng, chất lượng cao, giá thành hạ Như vậy ñể tăng hiệu quả kinh doanh chỉ
có con ñường duy nhất là không ngừng ñầu tư vào công nghệ, nguồn nhân lực, quản lý Qua ñó giá trị ñầu ra ngày càng tăng, ñồng thời càng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, của DN trên thương trường
Trang 29Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 20
Như vậy, từ sự phân tích trên có thể thấy: hiệu quả sản xuất kinh doanh
là một phạm trù kinh tế, nó phán ánh trình ñộ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp/hộ gia ñình ñể hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh ñạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất (Tạp chí thương mại, 2004) Hiệu quả phải gắn
liền với việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp/hộ gia ñình Với quan niệm trên, hiệu qủa sản xuất kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí cho ñầu vào và kết quả nhận ñược ở ñầu ra; hiệu quả kinh doanh ñược hiểu trước tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không ñạt ñược mục tiêu thì không thể có hiệu quả và ñể hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng nguồn lực như thế nào ðiều này thể hiện một quan ñiểm mới là không phải lúc nào
ñể ñạt hiệu quả cũng là giảm chi phí mà là sử dụng những chi phí như thế nào, có những chi phí không cần thiết ta phải giảm ñi, nhưng lại có những chi phí ta cần phải tăng lên vì chính việc tăng chi phí này sẽ giúp cho doanh nghiệp/hộ gia ñình hoàn thành mục tiêu tốt hơn, giữ ñược vị trí trên thương trường
2.1.4.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình phản ánh mặt chất lượng của các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh, phản ánh trình ñộ sử dụng các nguồn lực của hộ gia ñình ñể ñạt ñựơc mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận
Muốn ñạt hiệu quả kinh doanh, các hộ gia ñình không những chỉ có những biện pháp sử dụng nguồn lực bên trong hiệu quả mà còn phải thường xuyên phân tích sự biến ñộng của môi trường kinh doanh của hộ gia ñình, qua
ñó phát hiện và tìm kiếm các cơ hội trong kinh doanh của mình Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của hộ gia ñình thường là:
+) Quan tâm tới việc xây dựng và phát triển ñội ngũ lao ñộng;
+) Nâng cao hiệu quả huy ñộng và sử dụng vốn trong doanh nghiệp;
Trang 30Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 21
+) Nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh của hộ gia ñình;
+) Xây dựng hệ thống trao ñổi và xử lý thông tin;
+) Vận dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vận dụng vào sản xuất, kinh doanh;
+) Nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức của môi trường bên trong và bên ngoài
Hiệu quả sản xuất kinh doanh hộ gia ñình ñược hiểu là hiệu quả kinh doanh cá biệt ðây là hiệu quả tài chính thu ñược của từng hộ sản xuất kinh doanh Biểu hiện trực tiếp của loại hiệu quả này là lợi nhuận thu ñược của hộ sản xuất kinh doanh hoặc hộ sản xuất kinh doanh phải chịu lỗ Nó ñược tính bằng sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra
2.1.4.3 Các chỉ tiêu cơ bản dùng ñể phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ gia ñình dệt lụa
a Sản lượng lụa sản xuất trong năm của hộ gia ñình
- Sản lượng sản xuất của từng loại lụa
- Tổng sản lượng lụa sản xuất trong n¨m của hộ gia ñình
b Sản lượng lụa bán trong năm của các hộ gia ñình
Sản lượng lụa bán ra tính cho từng loại lụa, tổng sản lượng lụa ñã ñược bán ra trong các hộ gia ñình
c Chi phí sản xuất trong năm của hộ
Chi phí sản xuất trong năm của hộ là những chi phí mà hộ phải bỏ ra trong năm ñể sản xuất kinh doanh lụa Cụ thể:
- Chi phí thuê nhân công trong năm
- Chi phí ñiện nước trong năm
- Chi phí mua nguyên vật liệu hàng năm
- Chi phí thuê cửa hàng, nhà xưởng
- Các chi phí khác
Trang 31Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 22
d Doanh thu trong năm của hộ
Doanh thu = Sản lượng x Giá bán
Chỉ tiêu này cho biết trong 1 năm hộ thu ñược bao nhiêu tiền bán sản phẩm lụa
e.Thu nhập trong năm của hộ
Thu nhập = Doanh thu – Chi phí
Chỉ tiêu này cho biết trong 1 năm hộ thu nhập ñược bao nhiêu tiền từ sản xuất kinh doanh lụa
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ dệt lụa
+ Yếu tố ñầu vào
Các yếu tố ñầu vào ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ dệt lụa bao gồm: nguyên vật liệu, lao ñộng, vốn cho quá trình sản xuất Cụ thể
là như sau:
- Vốn: Vốn là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh hộ dệt lụa Hiện nay các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh lụa ñều thiếu vốn, vì vậy rất khó khăn trong việc ñầu tư sản xuất kinh doanh, rất khó ñể áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Lao ñộng: Lực lượng lao ñộng là người sang tạo ra sản phẩm, làm cho sản phẩm của hộ sản xuất kinh doanh có thể bán ñược trên thị trường, tạo ñiều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Lực lượng lao ñộng tác ñộng trực tiếp ñến năng suất lao ñộng, trình ñộ sử dụng các nguồn lực khác nên nó
có tác ñộng ñến quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Lực lượng lao ñộng bao gồm số lượng và chất lượng của lao ñộng Chất lượng lao ñộng thể hiện ở trình ñộ văn hoá, trình ñộ chuyên môn, nghề nghiệp, ý thức chấp hành pháp luật, trình ñộ tổ chức cuộc sống, sức khoẻ Nguồn lao ñộng là yếu
tố rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hộ gia ñình Nếu nguồn lao ñộng có tay nghề cao, họ có thể áp dụng công nghệ tiên
Trang 32Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 23
tiến vào sản xuất, chủ ñộng nâng cao lượng hàng hóa, năng suất lao ñộng, hạ giá thành sản phẩm, nhờ vậy có thể tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm lụa trên thị trường
- Nguyên vật liệu: yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh hộ dệt lụa Khi nguyên vật liệu ñược cung ứng ñầy ñủ, các hộ
có khả năng mở rộng quy mô sản xuất, chủ ñộng trong thiết kế sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm Khi nguyên vật liệu khan hiếm, giá thành ñầu vào tất yếu sẽ bị nâng cao, làm hạ thấp hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ gia ñình dệt lụa Hiện nay, các hộ gia ñình dệt lụa thường sử dụng hai nguồn nguyên liệu: sản xuất trong nước và nhập khẩu
+ Yếu tố ñầu ra
- Thị trường: Thị trường tiêu thụ là yếu tố quyết ñịnh ñến quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh hộ Thị trường ñầu vào tác ñộng trực tiếp ñến giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất Thị trường ñầu ra sẽ quyết ñịnh tốc ñộ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm, từ ñó tác ñộng ñến hiệu quả kinh doanh của hộ sản xuất kinh doanh
- ðối thủ cạnh tranh: ðối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn ñến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hộ, ñồng thời nó tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra ñộng lực phát triển cho làng nghề
- Tập quán dân cư và thu nhập bình quân của dân cư: nhóm yếu tố này quyết ñịnh mức ñộ chất lượng, số lượng, chủng loại hàng hoá, dịch vụ của hộ sản xuất kinh doanh
- Chủng loại mẫu mã sản phẩm: nhóm yếu tố này có ảnh hưởng ñến nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của người dân, từ ñó ảnh hưởng ñến sản lượng tiêu thụ và doanh thu bán hàng
+ Quá trình dệt lụa
- ðất ñai, cơ sở vật chất kỹ thuật của hộ dệt lụa: ðất ñai là tư liệu sản xuất không thể thay thế ñược Quy mô diện tích ñất ñai, tính chất nông hoá và
Trang 33Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 24
thổ nhưỡng cũng ảnh hưởng ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh hộ Bên cạnh
ñó, tư liệu máy móc cho sản xuất lụa cũng ảnh hưởng ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh lụa ðối với các hộ sản xuất ñược trang bị máy móc hiện ñại, chất lượng và năng suất lụa chắc chắn ñược nâng cao ðối với các hộ vẫn duy trì máy móc cổ truyền, năng suất sản lượng chắc chắn không thể nâng cao
- Quy mô hộ gia ñình dệt lụa: Các hộ gia ñình dệt lụa thường phân thành 3 loại quy mô: lớn, trung bình và nhỏ ðối với các hộ quy mô lớn, hiệu quả sản xuất kinh doanh có khả năng ñược nâng cao bởi họ áp dụng những công nghệ sản xuất hiện ñại, nhiều máy móc thiết bị, lao ñộng có tay nghề cao, bao tiêu toàn bộ quá trình sản xuất từ khâu nhập nguyên liệu, thiết kế sản phẩm, sản xuất sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm, tạo thương hiệu cho sản phẩm ðối với các hộ quy mô nhỏ, họ thường sản xuất cầm chừng, sản xuất theo ñơn ñặt hàng, các công ñoạn sản xuất thường không khép kín, do vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh thường thấp hơn
- Các yếu tố tự nhiên như vị trí ñịa lý, thời tiết…: Vị trí ñịa lý có ảnh hưởng trực tiếp ñến sản xuất kinh doanh hộ dệt lụa Những nơi có vị trí ñịa lý thuận lợi như gần chợ, gần ñường gia thông, gần các cơ sở chế biến, nhà máy, khu ñô thị… sẽ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm với số lượng lớn và giá bán cao ðây là ñiều kiện ñể hộ gia ñình phát triển sản xuất hàng hoá Ngược lại, những nơi có hệ thống giao thông không thuận lợi, sẽ có giá sản xuất và giá cước vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất ñến nơi tiêu dùng cao, không hiệu quả cho sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp ñến sản xuất kinh doanh hộ dệt lụa, ñặc biệt tới những sản phẩm liên quan trực tiếp ñến nắng, mưa, ñộ ẩm không khí Những nơi có ñiều kiện thời tiết thuận lợi thì có thể bố trí các loại cây trồng, vật nuôi, sản xuất kinh doanh một cách ña dạng, phong phú với chi phí thấp, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Ngược lại, ở những nơi có ñiều kiện thời tiết không thuận lợi, thời tiết thường nắng hạn, ngập úng… sẽ làm
Trang 34Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 25
cho sản xuất kinh doanh hộ gặp nhiều khó khăn, và người nông dân ở các vùng
có ñiều kiện thời tiết không thuận lợi thường rơi vào hoàn cảnh nghèo túng
+ Cơ chế quản lý và chính sách kinh tế
ðây là nhóm nhân tố rất nhạy cảm, tác ñộng trực tiếp ñến hoạt ñộng sản xuất kinh doanh hộ Các chính sách có các dụng khuyến khích các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh thông qua tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo hành lang pháp lý, các hỗ trợ vật chất khác nhau ñối với hộ gia ñình nhằm giảm chi phí kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Các chính sách tồi có tác ñộng ngược lại Hệ thống chính sách tác ñộng chủ yếu ñến các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh trong các làng nghề truyền thống là: chính sách giá cả, chính sách marketing, chính sách ñầu vào, chính sách tín dụng, chính sách ñất ñai, chính sách áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ…
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực tiễn phát triển nghề dệt lụa trên thế giới
Ngày nay, theo ước tính của Liên hợp quốc trên thế giới có khoảng trên
30 nước còn duy trì nghề dệt lụa, trong ñó Trung Quốc và Ấn ðộ là hai nứơc sản xuất lụa lớn nhất thế giới, Trung Quốc chiếm 54% sản xuất lụa của thế giới và Ấn ðộ chiếm 14%, năm 2005
Trang 35Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 26
Bảng 2.1 Mười nước sản xuất lụa lớn nhất thế giới năm 2005
Nguồn: Liên hợp quốc 2006
Sau ñây là một số nước sản xuất lụa ñiển hình ở châu Á:
a Trung Quốc
Nghề dệt lụa ở Trung Quốc có một bề dày lịch sử dạng bậc nhất trên thế giới Lịch sử của nghề dệt lụa bắt nguồn từ Trung Quốc khoảng 3.500 trước công nguyên, với mục ñích ban ñầu là phục vụ vua chúa Trung Quốc, nhưng sau ñó lan rộng trở thành văn hoá Trung Hoa và có giá trị kinh doanh thương mại rất lớn
Dệt lụa Trung Quốc nổi tiếng với các thương hiệu Hàng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh Những mảnh vải lụa dệt cổ xưa ở Trung Quốc ñược tìm thấy tại tỉnh Hồ Bắc có niên ñại từ 4.700 ñến 5.600 năm trước Mảnh lụa mảnh khai quật tại tỉnh Hồ Bắc cho thấy mức ñộ cao của công nghệ dệt trong thời
kỳ Chiến Quốc Trong thời nhà Hán, ngành dệt lụa Trung Quốc ñạt ñến ñỉnh cao về nghệ thuật Những mảnh vải lụa khai quật ở Trung Quốc thời Hán sau hơn 2000 năm vẫn bóng ñẹp khác thường Vào thời nhà ðường, nghệ thuật dệt lụa của Trung Quốc, ñặc biệt là ở Tân Cương cho thấy công nghệ in lụa
Trang 36Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 27
ñặc sắc của người Trung Quốc thời ñó Tất cả các phương pháp công nghệ in của Trung Quốc ngày nay ñều là sự phát huy công nghệ dệt lụa thời ñại nhà ðường Trong các triều ñại sau ñó, dệt lụa Trung Quốc tiếp tục phát triển phồn thịnh
Tại Trung Quốc ngày nay, lụa Hàng Châu, Dư Hàng là những loại lụa nổi tiếng nhất của Trung Quốc Theo hồ sơ lịch sử, dệt lụa Hàng Châu, Dư Hàng phát triển rất sớm từ thời nhà Tần và nhà Hán Hiện nay Dư Hàng có khoảng 100 doanh nghiệp dệt lụa, xuất khẩu khoảng 10 triệu USD/năm (Article Leader, 2010) Tại hội nghị thượng ñỉnh APEC (Thượng Hải) năm
2009, lụa Hàng Châu, Dư Hàng ñược thiết kế làm trang phục cho lãnh ñạo của các nước thành viên APEC
Vào năm 2005, Trung Quốc sản xuất ñược khoảng 290,003 tấn lụa, trị giá khoảng 978,013 triệu USD, là nhà sản xuất lụa lớn nhất thế giới chiếm khoảng 54% sản xuất lụa trên thế giới
b Thái Lan
Thái Lan từ lâu ñã có nghề dệt lụa Nghề lụa ở Thái Lan có nguồn gốc
từ vùng ñông bắc Thái Lan và ñược coi là một nghề truyền thống Ngành công nghiệp tơ tằm ở Thái Lan trong nửa cuối thế kỷ XIX bị khủng hoảng nghiêm trọng do có sự cạnh tranh của hàng lụa giá rẻ ở Trung Quốc và hàng lụa chất lượng cao của Nhật Bản Trong suốt triều ñại của Vua Chulalongkorn, chính quyền ñã nỗ lực phục hồi lại ngành dệt lụa truyền thống Nhà vua cho mời các chuyên gia Nhật Bản ñến Thái Lan ñể dạy người dân dệt lụa theo công nghệ mới và thành lập Sở dâu tơ tằm ñể thúc ñẩy nghề dệt lụa phát triển Tuy nhiên, ngành dệt lụa Thái Lan chỉ thực sự ñược phục hồi sau chiến tranh thế giới lần thứ Hai và ngành lụa Thái Lan ngày nay ñã phát triển phồn thịnh với các mặt hàng lụa nổi tiếng trên thị trường quốc tế Ngày nay, có nhiều công ty lụa ñược phát triển ở trong và xung quanh Bangkok Tuy nhiên, phía ñông bắc vẫn là khu vực chủ yếu còn duy trì nghề
Trang 37Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 28
dệt lụa ở Thái Lan Một ựặc sản của đông Bắc Thái Lan là Mudmee, ựó là dệt gấm với lụa và dát bạc Dệt Mudmee mất rất nhiều thời gian và kỹ năng, ựó cũng chắnh là lý do tại sao Mudmee là lụa ựắt tiền nhất thế giới Tại Thái Lan, Mudmee ựược sử dụng cho những dịp nghi lễ và lễ cưới Lụa Thái Lan hiện nay có mặt không những trong các cửa hàng ựịa phương mà còn trên nhiều nwocs trên thế giới Sản xuất tơ lụa là một trong những nghề phổ biến nhất trong các nghề thủ công mỹ nghệ tại Thái Lan (EzineArticles.com) Ngày nay Thái Lan có những nhà máy dệt lụa trên một quy mô lớn hơn, nhưng những sản phẩm lụa dệt thủ công bằng tay và mang tắnh gia truyền vẫn là những phẩm chất tốt nhất Nghề dệt lụa truỳên thống thủ công hiện nay ựang còn lưu giữ tại làng Phumriang Phumriang là một ngôi làng ở tỉnh Surat Thani, nơi một phụ nữ lớn tuổi tên là Bà Riam Wanmukda ựã nổi tiếng trong việc dệt ra những sản phẩm tinh tế Làng Phuriang trứoc ựây thường sử dụng thuốc nhuộm ựựơc chưng cất từ rễ, vỏ cây và lá, nhưng ngày nay thuốc nhuộm hóa chất ựược ưa thắch cho màu sắc tươi sáng của họ Cùng với những thiết kế theo mô hình truyền thống, lụa ở Phumriang còn xen lẫn những thiết kế hiện ựại, ựặc biệt là sử dụng sắc màu vàng trong những thiết kế phức tạp Kết quả là lụa Phumriang mang tắnh chất lụa thổ cẩm và ựây là một sản phẩm thủ công ựộc ựáo (Thailand Life, 9/2/2007)
Vào năm 2005, Thái Lan sản xuất khoảng 5000 tấn lụa, trị giá khoảng 16,863 triệu USD, là nhà sản xuất lụa lớn thứ 6 trên thế giới
c Ấn độ
Ấn độ cũng có một lịch sử lâu dài về nghề dệt lụa, trong ựó lụa ựược xem là một biểu tượng của hoàng gia , là một loại vải "tinh khiết" ựược sử dụng cho tất cả các tôn giáo, nghi lễ và các dịp nghi lễ Nghề sản xuất lụa của
Ấn độ ựược phỏng ựoán là ra ựời vào năm 1725 TCN Ngày nay, Ấn độ là nước sản xuất lụa lớn thứ hai trên thế giới Ấn độ cũng là nước có sức tiêu dùng lớn nhất về các sản phẩm lụa tơ tằm, và là nước nhập khẩu lớn nhất thế
Trang 38Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 29
giới về dâu tằm và tơ thô Tuy nhiên, nghề dệt lụa của Ấn ðộ ñang ñối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ hàng hoá Trung Quốc, và thị phần thương mại
về sản phẩm lụa của Ấn ðộ trong thương mại toàn cầu ñang có xu hướng giảm Trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ñang diễn ra vào năm 2008-
2009, Ấn ðộ mất khoảng 50% ñơn ñặt hàng hàng tơ lụa từ châu Âu và Mỹ do các nước này bị khủng hoảng kinh tế
Lụa của Ấn ðộ chủ yếu ñược dệt theo phương pháp thủ công truyền thống Ước tính có khoảng 90% sản phẩm lụa tơ tằm Ấn ðộ ñược thực hiện theo phương pháp thủ công, sử dụng thiết kế lâu ñời và phong cách ñặc biệt Trong số những cơ sở sản xuất lụa nổi tiếng của Ấn ðộ, có làng Pochampailli
và các vùng lân cận ở huyện Nalgonda của bang Andhra Pradesh Sản phẩm lụa của làng này có mặt ở khắp nơi trên ñất nước Ấn ðộ và trên thế giới Lụa của Ấn ðộ sản xuất không chỉ từ tơ tằm, mà còn từ các chiết xuất
từ kén tơ có trong tự nhiên, cụ thể là:
Lụa Tussah: ñược sản xuất từ kén bướm ñêm của Ấn ðộ
Lụa Oak Tussah: ñược sản xuất từ kén bướm ñêm có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc
Lụa Eri: ñựơc sản xuất từ kén bướm ñêm ở phía ñông bắc Ấn ðộ Lụa Muga: ñược sản xuất tại Assam từ kén bướm ñêm, có một màu vàng lung linh
Ngày nay, làng dệt Pochampalli ñã ñược tổ chức thành các nhóm, xây
dựng hợp tác xã, ñưa ra các khóa ñào tạo nâng cấp kỹ năng trong thiết kế, nhuộm, và dệt Làng này còn ñược tổ chức quốc tế Oxfam hỗ trợ tài chính và công nghệ ñể phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường tơ tằm cho khoảng
280 hộ gia ñình dệt lụa
ðể phục hồi và củng cố nghề dệt lụa của ngành công nghiệp, Ấn ðộ ñã tăng cường hợp tác công nghệ với Nhật Bản, nâng kế hoạch sản xuất tơ thô từ 18.000 tấn vào năm 2008 lên 26.000 tấn vào cuối năm 2012, và hình thành
Trang 39Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 30
thương hiệu tơ lụa nhằm ñảm bảo chất lượng cho các sản phẩm lụa tinh khiết của Ấn ðộ
Vào năm 2005, Ấn ðộ sản xuất khoảng 77.000 tấn lụa, trị giá khoangt 259,679 triệu USD, là nhà sản xuất lụa lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc, chiếm 14% giá trị sản xuất lụa trên toàn thế giới
d Nhật Bản
Trong nhiều thế kỷ, lụa là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Nhật Bản Trong thời kỳ hòa bình và thịnh vượng của thời Edo (1600-1868), lụa là thứ hàng hoá ñựơc các tầng lớp samurai và các thương gia giàu có sử dụng Dân thường thời kỳ này bị cấm mặc loại vải lụa tốt Họ chỉ ñược phép mặc các loại vải lụa tơ thô quay theo cách thức giống như bông hoặc len, hay còn gọi là tsumugi (tơ sống) Tuy nhiên, trong thời ñại hiện nay, tsumugi là một trong những sản phẩm quý giá nhất của lụa
Vào năm 2005, Nhật Bản là nhà sản xuất lụa ñứng thứ 10 trên thế giới với giá trị sản xuất là 2,023 triệu USD, sản lượng 600.000 kg
2.2.2 Thực tiễn phát triển nghề dệt lụa ở Việt Nam
Tại Việt Nam, nghề dệt lụa ñã tồn tại từ rất lâu Cho dù chưa tìm thấy tài liệu nào nói ñến thời ñiểm xuất hiện nghề tơ tằm ở Việt Nam nhưng ñã khá nhiều sử sách ghi chép (tuy sơ sài) rằng nghề tơ tằm ñã xuất hiện ở Việt Nam trong thời gian trước và sau công nguyên trên vùng ñất của người Việt cổ Sách Hán Thư ca ngời “Người Lạc Việt biết trồng dâu nuôi tằm, một năm hai
vụ lúa, tám lứa tằm” Nghề tằm tơ cũng ñược thể hiện trong câu ca dao xưa:
“Một nong tằm là năm nong kén Một nong kén là chín nén tơ”
Nhưng từ kén ñể thành tơ, còn phải qua công ñoạn ươm tơ Ở khâu quan trọng này, người thợ luộc kén (nấu kén tằm) và vừa kéo vừa xe, lại vừa phải chắp nối ñể tạo sợi mảnh, sợi ñậm theo ý muốn Từ kén rút ra ñược rất nhiều loại tơ khác nhau, phân thành hai loại chính là tơ nõn và tơ gốc dùng ñể
Trang 40Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh 31
dệt các sản phẩm rất khác nhau Hàng trăm loại hàng dệt tơ tằm ựã xuất hiện
ở Hà đông, cũng như khắp nơi trong cả nước kể từ thời Lý Trần cho ựến nay
Từ thế kỷ XI ựến thế kỷ XVI, các vua chúa Việt Nam ban hành nhiều chắnh sách khuyến nông, khuyến khắch dùng hàng nội hoá, hỗ trợ người sản xuất tiểu thủ công nghiệp, vì vậy ựã tạo thuận lợi cho việc phát triển các ngành nghề cổ truyền, trong ựó có nghề dệt lụa Triều Lý, nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa phát tiển mạnh và gấm vóc lụa là ựược sử dụng không những trong may mặc, trang trắ, mà còn ựược dùng trong trao ựổi, buôn bán, nộp thuế Số lượng gấm vóc của Việt Nam thời bấy giờ ựạt ựến mức có thể thay thế gấm vóc mua từ Trung Quốc Trong sách Ộđại Việt sử ký toàn thưỢ, quyển II, Ngô Sĩ Liên viết: ỘTháng hai, năm Canh Thìn (1040), vua Lý Thái Tông xuống chiếu phát hết gấm vóc của nhà Tống trong phủ làm y phục, ban cho quần thần, từ ngũ phẩm trở lên ựựơc mặc áo gấm, cửu phẩm trở lên ựược mặc áo vóc, ấy là ựể tỏ ra rằng không mặc gấm vóc của nhà Tống nữaỢ (NXB Thanh Niên, 2000)
Nghề dệt lụa ở Việt Nam tiếp tục phát triển trong những thời kỳ sau ựó Vào thời Pháp thuộc, tơ lụa Việt Nam ựã trở thành nguồn lợi to lớn cho xuất khẩu Trong giai ựoạn 1909-1913, Việt Nam xuất sang Pháp 183,3 tấn tơ lụa các loại (Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII) Trong thời kỳ Pháp thuộc, làng Vạn Phúc ựuợc Pháp chú ý ựặc biệt bởi nghề ươm tơ, nuôi tằm và dệt lụa Làng Vạn Phúc cuối thế kỷ XIX ựầu thế kỷ XX luôn dệt ựược những loại lụa khổ rộng, chất lượng ựẹp và ựược nhiều người ưa chuộng
Hiện nay, Việt Nam có rất nhiều làng nghề dệt lụa nổi tiếng ựã làm nên tên tuổi và thương hiệu của riêng mình như làng lụa Vạn Phúc (Hà đông, Hà Nội), thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Ninh Phước, Ninh Thuận), tơ lụa Nghĩa Hưng (Hoằng Hoá, Thanh Hoá), vải Phương Lịch (Diễn Châu, Nghệ An), lụa Vân Phương (Liên Phương, Hưng Yên), lụa Tân CHâu (Chợ Mới, An Giang), lụa