Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế Với vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng, Ngân hàng là cầu nối trung gian cung cấp vốn cho mọi hoạt động đầu tư phát triển của toàn bộ nền kinh tế Có thể khẳng định một điều rằng, nếu một nền kinh tế không có hệ thống ngân hàng,
nó sẽ không thể phát triển nhanh và rực rỡ như hiện nay
Việt Nam đã gia nhập ngôi nhà lớn, WTO được hơn 2 năm, con tàu kinh tế Việt Nam đang chịu những đợt sóng lớn thử thách đầu tiên Những áp lực của quá trình hội nhập đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính đã đặt các ngân hàng Việt Nam trước những thách thức to lớn Trong điều kiện phải cạnh tranh mạnh mẽ với các ngân hàng nước ngoài ngay trên sân nhà, vấn đề hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng ngày càng được chú trọng, và công tác quản trị rủi ro tín dụng luôn là một trong những vấn đề thời sự của các cấp quản lý ngân hàng Qua thời gian thực tập tại Sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam,
tôi rất hứng thú với công tác này, do vậy tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam”
để hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình, hy vọng qua đó có thể làm rõ phần nào một số vấn đề tồn tại trong quản trị rủi ro tín dụng, và góp một phần nhỏ bé giúp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng thương mại Trong chuyên đề tốt nghiệp này, tôi giới thiệu về công tác quản trị rủi ro tín dụng
và thực trạng vấn đề này hiện nay tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam
Trang 2Chuyên đề của tôi gồm 3 phần:
Chương I - Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
Chương II - Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại SGD NHNT VN
Chương III - Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại SGD
NHNT VN
Do kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, chắc chắn chuyên đề của tôi không tránh khỏi còn nhiều sơ sót, kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn để chuyên đề này hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 3Chương I : Những vấn đề cơ bản về hoạt động quản lý rủi ro tín
dụng của ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trung gian tài chính có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Song, người ta vẫn gặp khó khăn trong việc đặt ra khái niệm ngân hàng và phân biệt nó với các tổ chức tài chính khác Vấn đề này đã gây ra nhiều tranh cãi, ở đây, tôi xin đưa ra một định nghĩa trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán –
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Peter S.Rose – Quản trị ngân hàng thương mại – NXB
Tài chính 2004 – Trang 7 dòng thứ 4)
Như vậy, ngân hàng thương mại hiện đại được hiểu như một tổ chức tài chính cung cấp đầy đủ các dịch vụ liên quan đến tài chính Ở Việt Nam, theo điều 20 sửa đổi bổ sung của Luật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 về sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật các tổ chức tín dụng, ngân hàng được định nghĩa là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Phân loại theo tính chất và mục tiêu hoạt động, ta có các loại hình ngân hàng như sau: Ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính
Trang 4sách, ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp tác và các loại hình khác… Ngân hàng thương mại là một loại hình ngân hàng hoạt động với mục tiêu lợi nhuận.
Hệ thống các ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia Vai trò này thể hiện ở nhiều khía cạnh, thứ nhất ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, ngân hàng là cầu nối của doanh nghiệp và những nhà đầu tư, thông qua hoạt động tín dụng thu hút vốn và cung cấp vốn, đồng thời thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, các ngân hàng thương mại điều tiết tài chính trong nước theo sự vận động của nền tài chính quốc tế, thúc đẩy ngoại thương và nội thương, giúp đẩy mạnh phát triển kinh tế Hệ thống các ngân hàng thương mại còn là một kênh quan trọng giúp Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở
1.1.2 Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng theo một định nghĩa đơn giản nhất là sự vay mượn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự tín nhiệm Tín dụng bao gồm 6 loại hình quan hệ: tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong các hoạt động của ngân
hàng Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho các tổ chức cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính, và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước, dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời.
Trang 5Các nguyên tắc tín dụng của NHTM
- Khách hàng phải cam kết sẽ hoàn trả vốn gốc và lãi vay trong thời gian xác định đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là từ các khoản tiền gửi và các khoản vay mượn của ngân hàng, nên người nhận tín dụng cũng phải thực hiện đúng theo cam kết, đây là điều kiện tiên quyết để ngân hàng tồn tại và hoạt động kinh doanh
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích đã thỏa thuận với ngân hàng, không trái quy định của pháp luật và thỏa thuận của ngân hàng cấp trên
Các loại tín dụng ngân hàng : Tùy theo tiêu thức phân loại ta có:
- Theo hình thức cấp tín dụng ta có cho vay, bao gồm cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp…, ngoài ra còn có chiết khấu thương phiếu, cho thuê tài sản, bảo lãnh…
- Theo thời gian ta có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn
- Theo sự đảm bảo ta có tín dụng không cần tài sản đảm bảo và tín dụng
từ hoạt động này là một vấn đề thời sự tại bất cứ ngân hàng nào
Trang 61.2 Tổng quan về rủi ro trong NHTM
1.2.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro là những tổn thất có thể xảy ra ngoài dự kiến, là những bất trắc không thể lường trước được, có khả năng làm các chủ thể không đạt được mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động
Ngân hàng ra đời đồng thời với nền kinh tế hàng hóa, giải quyết nhu cầu phân phối điều tiết nguồn vốn trong xã hội, phục vụ cho sản xuất và phát triển Hoạt động của ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro, do hoạt động kinh doanh nhạy cảm, liên quan nhiều ngành nghề đối tượng, nhiều lĩnh vực khác nhau, và có ảnh hưởng sâu rộng khắp nền kinh tế
Rủi ro luôn song hành cùng hoạt động của ngân hàng Bản chất của rủi ro
là khách quan, không thể tránh khỏi.Chúng ta không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro
độ kinh doanh kém, nên thua lỗ không thể trả nợ gốc và lãi, hay khách hàng có
Trang 7mục đích lừa đảo từ đầu, chây ỳ không trả nợ, khách hàng do chạy theo ngành kinh doanh lợi nhuận cao nên chịu rủi ro cuối cùng không thể trả nợ… Những rủi ro này đều có thể dự đoán nếu công tác thẩm định tín dụng làm tốt đạt chất lượng, công tác quản lý tín dụng sâu sát theo đúng yêu cầu đề ra.
1.2.2.2 Do ngân hàng
Ngân hàng cũng thường tự gây ra rủi ro, phần nhiều là do nguyên nhân chủ quan Đó là sự kém cỏi trong công tác quản lý, kiểm tra giám sát các hoạt động của ngân hàng, cùng với đó là do nhân viên kém trình độ nghiệp vụ, hoặc không tuân thủ quy trình nghiệp vụ, những nhân viên này vì mưu lợi cá nhân nên móc ngoặc với khách hàng, ví dụ như giúp khách hàng đảo nợ, để khách hàng có thể trả món vay cũ, vay món mới, còn mình thì đạt khối lượng mục tiêu đề ra
1.2.2.3 Những nguyên nhân khách quan khác
Đây là nhóm nguyên nhân mà ngân hàng ít khả năng khắc phục nhất, do việc đánh giá xu hướng của nó và vấn đề dự báo là rất khó khăn Vấn đề đầu tiên
là nền kinh tế luôn biến động theo chu kỳ, và những thay đổi trên thị trường, đặc biệt là những thay đổi ngắn hạn, về lãi suất và tỷ giá vượt quá khả năng phán đoán của ngân hàng, ngân hàng sẽ phải chịu nhiều rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá nếu xảy ra phán đoán sai lầm
Những vấn đề chung của cả hệ thống tài chính như khủng hoảng nợ dây chuyền, hay những thay đổi trong quyết định của chính phủ thường gây áp lực và thay đổi hoàn toàn hoạt động thường kỳ của ngân hàng Những rủi ro này thường xảy ra khi nền kinh tế tài chính thế giới rơi vào khủng hoảng, và gây ra những thiệt hại vô cùng lớn
Trang 8Ngoài ra còn có một nhóm các rủi ro mà bất kỳ cá nhân tổ chức nào cũng gặp như thiên tai, hỏa hoạn, hay rủi ro bị cướp tiền, thậm chí chỉ bị mất điện cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng với ngân hàng,…
Cuối cùng là những rủi ro nhầm lẫn trong xử lý giấy tờ tài liệu, vấn đề lỗi công nghệ, phần mềm cũng là những nguyên nhân thường gặp
1.2.3 Các loại rủi ro
1.2.3.1 Phân loại theo nguyên nhân
Phân loại theo nguyên nhân ta có bốn loại chính Thứ nhất là rủi ro tín dụng, xảy ra khi người vay không trả đủ gốc và lãi cho ngân hàng, hay đã trả không đúng thời hạn đề ra Rủi ro thứ hai là rủi ro lãi suất, xảy ra khi lãi suất thay đổi không đúng dự đoán của ngân hàng, gây thiệt hại cho ngân hàng Tương
tự đó là rủi ro tỷ giá, khi tỷ giá thay đổi không theo dự báo của ngân hàng, những hoạt động thanh toán và kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng lớn,
có thể dẫn tới thiệt hại lớn về lợi nhuận Cuối cùng là rủi ro do các nguyên nhân khác như do thiên tai hỏa hoạn, do bị cướp,…
1.2.3.2 Phân loại theo tài sản
+ Rủi ro trong quản lý và kinh doanh ngân quỹ
Ngân hàng có thể gặp rủi ro thậm chí khi tiền ở tại quỹ Trên thế giới những
vụ cướp ngân hàng không phải hiếm, ở VN vừa xảy ra 1 vụ tại tp HCM Song quản lý ở đây không chỉ hiểu theo nghĩa đen Tiền tại quỹ của ngân hàng không bao giờ cố định, nó luôn vận động để sinh lợi trong ngắn hạn, một mặt vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng, như nghiệp vụ cho vay qua đêm… Song những nghiệp vụ này không phải không bao hàm rủi ro Đơn cử một ví dụ
Trang 9dễ thấy, đó là kinh doanh ngoại tệ, sử dụng khe hở tỷ giá để thu lợi nhuận Acbit, một nghiệp vụ rất rủi ro
+ Rủi ro tín dụng : sẽ trình bày chi tiết ở phần sau
+ Rủi ro trong quản lý và kinh doanh chứng khoán
Chứng khoán là một lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro rất lớn Tuy ngân hàng chủ yếu chỉ kinh doanh những chứng khoán ít rủi ro như trái phiếu và tín phiếu song không phải không chịu rủi ro từ đây, điển hình là cho vay đầu tư chứng khoán và cầm cố bằng cổ phiếu
+ Rủi ro đối với các tài sản khác của ngân hàng: ngân hàng còn có những tài sản khác như tài sản cố định, tài sản đi thuê, tài sản cầm cố, …
1.2.3.3 Một số rủi ro thường gặp
+ Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng được chấp nhận như một thực tế mà ngân hàng phải đối mặt, bởi rủi ro tín dụng đến từ mọi phía và ta không thể lường trước hết Do vậy, ngân hàng luôn xác định tỷ lệ tổn thất dự kiến và trích lập quỹ dự phòng rủi ro,
và nếu thực tế đạt dưới mức này thì có nghĩa ngân hàng đã làm tốt công tác quản trị rủi ro tín dụng
+ Rủi ro hối đoái
Tỷ giá luôn luôn thay đổi hàng ngày hàng giờ do nhiều nguyên nhân, bởi tỷ giá định theo quan hệ cung cầu trên thị trường Khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá dự tính, ngân hàng có thể bị thặng dư hay thâm hụt tạm thời, và cũng có thể ngân hàng sẽ chịu tổn thất Đây là rủi ro hối đoái
+ Rủi ro lãi suất
Trang 10Lãi suất, cũng như tỷ giá, luôn biến động trên thị trường Khi lãi suất thay đổi, ngân hàng luôn phải đối mặt với tình trạng giá trị hiện tại của các khoản mục tài sản và nguồn vốn đều thay đổi, thậm chí thay đổi toàn bộ bảng cân đối
kế toán Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến chi phí và thu nhập của ngân hàng
+ Rủi ro thanh khoản
Nhu cầu thanh khoản lớn hơn hay nhỏ hơn dự kiến làm gia tăng chi phí, thậm chí làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán Đây là một loại rủi ro không thể xem nhẹ bởi nó có thể gây mất tín nhiệm cho ngân hàng
1.3 Rủi ro tín dụng của NHTM
1.3.1 Khái niệm và bản chất của rủi ro tín dụng
Ngân hàng thương mại từ khi ra đời luôn gắn với một nghiệp vụ cơ bản có quy mô lớn nhất, đó là nghiệp vụ tín dụng.Nghiệp vụ tín dụng luôn đi liền với rủi
Trang 11Ngân hàng không thể loại trừ rủi ro tín dụng, song có thể hạn chế nó bằng nhiều cách, và tỉ lệ rủi ro dự kiến luôn được đưa ra trong các kế hoạch, đồng thời trích lập các quỹ dự phòng rủi ro Nếu thực tế ít hơn con số này, thì ngân hàng đã đạt thành công trong quản trị rủi ro.
1.3.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng đến từ rất nhiều nguyên nhân:
+ Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng
Trong thời gian vay, người vay có thể gặp một số trở ngại khách quan dẫn đến việc sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, bị đình trệ, dẫn đến trả chậm hoặc không thể trả nợ : Thiên tai, chiến tranh, vấn đề chính trị tôn giáo, những chính sách của chính phủ, an ninh, môi trường pháp lý …
Những nguyên nhân này khó có thể phòng tránh hay dự báo, vượt quá tầm kiểm soát của người vay và cho vay Do vây, ngân hàng và khách hàng thường cùng nhau giải quyết hậu quả những rủi ro này, và thường đi đến sự nhất trí.+ Rủi ro do nguyên nhân chủ quan người vay
Khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vay không đúng mục đích, chủ định lừa đảo, chây ỳ không trả nợ ngân hàng Đây là một thực tế, và loại khách hàng này không phải là hiếm, nhưng nếu làm tốt công tác thẩm định và kiểm tra giám sát từ khâu đầu tiên, số lượng khách hàng này có thể được nhận thấy và ngăn ngừa Ngoài ra, còn có khách hàng yếu kém trong quản lý, khả năng dự báo bất trắc kém, dẫn đến kinh doanh thua lỗ, không thể trả nợ, và khách hàng ưa thích mạo hiểm,kinh doanh những ngành rủi ro cao, có nguy cơ phá sản Những
Trang 12loại khách hàng trên cần phải được nhận biết và ngăn chặn ngay trong những quan hệ tiếp xúc đầu tiên với ngân hàng.
+ Rủi ro do nguyên nhân từ phía ngân hàng
Ngân hàng quản lý nội bộ lỏng lẻo, hệ thống kiểm tra giám sát không hiệu quả, trong khi đó nhân viên kém đạo đức, thiếu tinh thần trách nhiệm, mưu lợi riêng, gây tổn hại cho ngân hàng bằng nhiều cách như bắt tay với khách hàng lừa đảo ngân hàng, giúp khách hàng đảo nợ, cho vay mà không tuân thủ quy trình nghiệp vụ Ngoài ra còn có nhân viên kém về trình độ nghiệp vụ, không tuân thủ quy trình, khả năng đánh giá kém
1.3.3 Chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
+ Chỉ tiêu nợ quá hạn
Ngân hàng phân chia dư nợ tín dụng làm 5 loại, trong đó có 3 loại nợ xấu,
đó là nợ có vấn đề (nợ có nguy cơ, có dấu hiệu kém lành mạnh), nợ khó đòi (nợ
đã qua 1 lần gia hạn, hay không có tài sản đảm bảo ) và nợ quá hạn (nợ không trả được) Chỉ tiêu này có thể bị biến dạng vì nhiều nguyên nhân như định kỳ hạn
nợ không đúng, không phù hợp chu kỳ thu nhập của người vay, hay khoản nợ bị đảo nợ, giãn nợ, và cũng có thể do chính sách, ngân hàng cho vay theo chỉ thị của chính phủ, nên trở thành khoản nợ khó thu hồi
+ Chỉ tiêu tính đa dạng tài sản : đa dạng hóa khách hàng, lĩnh vực và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cung cấp sẽ hạn chế rủi ro
+ Độ tín nhiệm của khách hàng: Chỉ tiêu này bao gồm tình hình tài chính và phương án sử dụng vốn của người vay, đảm bảo tiền vay, và lịch sử quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Đây là những nhân tố cơ bản để chấm điểm
Trang 13tín dụng và xếp hạng cho khách hàng, giúp xác định rủi ro tiềm ẩn, qua đó tính giới hạn tín dụng và thẩm định rủi ro món vay, ra quyết định cho vay.
+ Ngoài ra còn 1 chỉ tiêu nữa đó là những vấn đề khách quan ảnh hưởng tới món vay như môi trường hoạt động của người vay, nền kinh tế vĩ mô mất ổn định, chính sách hay thay đổi, lạm phát
1.4 Quản lý rủi ro tín dụng trong NHTM
1.4.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là một hoạt động chiếm vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng thương mại, do vậy, vấn đề quản
lý rủi ro tín dụng luôn được quan tâm chú ý và đặt lên hàng đầu, bởi hậu quả của rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh thường kỳ của ngân hàng, gây thiệt hại cho ngân hàng
Vậy, quản lý rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất cho ngân hàng
1.4.2 Các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng
1.4.2.1 Hạn chế các khoản nợ có vấn đề, nợ quá hạn, nợ khó đòi
Các ngân hàng đều thực hiện nhiều biện pháp để hạn chế các khoản nợ có vấn đề, và thực tế ngân hàng nhà nước đã đưa ra nhiều quy định về an toàn tín dụng trong luật các tổ chức tín dụng (1997) và trong các nghị định của ngân hàng nhà nước : QĐ 457/2005/QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD (19/4/2004) và QĐ 03/2007/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung một số điều trong quyết định 457 (19/1/2007)
Trang 14Ngân hàng xác định danh mục các khoản tín dụng với mức độ rủi ro khác nhau, dựa trên điểm của khách hàng Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng tìm kiếm thông tin về khách hàng và dự án kinh doanh, cả trong quá khứ và định hướng kế hoạch phát triển trong tương lai Ngân hàng sử dụng các chỉ tiêu định tính và định lượng để tính điểm rồi xếp loại mức độ rủi ro cho khách hàng Tương tự như vậy, đối với khách hàng cá nhân, cho vay tiêu dùng, ngân hàng cũng sử dụng phương pháp này để sắp xếp định lượng thông tin về người vay như thu nhập, chi tiêu, qua đó ra quyết định về khoản tín dụng Ngoài ra, đối với các trung gian tài chính khác, ngân hàng dùng độ tín nhiệm để xếp hạng tổ chức đi vay, cuối cùng là cho vay đối với Nhà nước, tuy rất an toàn song lợi nhuận thu được không đáng kể.
Ta có thể lượng hóa rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng nhiều mô hình, ở đây tôi chỉ xin giới thiệu một số mô hình đang được sử dụng
* Mô hình định tính: Tiêu chuẩn chất lượng 6C
Character Tư cách khách hàng
Tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự trung thực, mục đích vay
và thiện chí trả nợ của người vay Vấn đề cán bộ thẩm định phải đánh giá đó là mục đích xin vay của khách hàng có đơn thuần hợp lý và đúng theo thỏa thuận hay không, đồng thời xem xét hồ sơ lịch sử vay và trả nợ của khách hàng Tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin và quá trình đánh giá kiểm nghiệm của bản thân, nhân viên thẩm định sẽ đưa ra kết luận về tư cách khách hàng, đây là điều kiện
cơ bản đầu tiên, cơ sở cho mọi quyết định cũng như thỏa thuận sau này, do vậy cần được những nhân viên có kinh nghiệm, trung thực đảm nhận, và quá trình kiểm tra giám sát cũng cần bắt đầu từ khâu đầu tiên này
Trang 15Capacity Năng lực khách hàng
Cán bộ thẩm định cần đảm bảo người xin vay có đủ năng lực hành vi cũng như năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng Người đó phải được ủy quyền, có thể đại diện doanh nghiệp, Khách hàng là doanh nghiệp cần đủ giấy tờ hợp lệ để hoạt động Đó là bề nổi, ngoài ra, cán bộ thẩm định cũng cần chú ý năng lực kinh doanh và quản lý của khách hàng, tránh rủi ro do khả năng kém cỏi mà kinh doanh thua lỗ không thể trả nợ
Cash Thu nhập của khách hàng
Thu nhập của khách hàng cá nhân cần được bảo đảm xác nhận bởi công ty người đó làm việc hoặc hợp đồng lao động, giấy sức khỏe,… Thu nhập của khách hàng doanh nghiệp cũng cần xác định trước, bằng nhiều phương pháp như
từ định hướng kinh doanh, những dự án và những kế hoạch tương lai, từ đó đưa
ra dự báo về thu nhập của khách hàng, và đánh giá khả năng trả nợ đúng hạn trong tương lai
Collateral Bảo đảm tiền vay
Những tài sản đảm bảo cho khoản vay thường không được bỏ qua và là một trong những điều kiện đầu tiên của khoản vay Bởi, tài sản bảo đảm không chỉ là một vật dùng để thanh lý thu hồi vốn khi cần thiết mà nó còn là một biện pháp gắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của người đi vay Khi xảy ra rủi ro tín dụng, đây sẽ là nguồn thu hồi tài sản của ngân hàng, do vậy cán bộ thẩm định cần chú ý tới những yếu tố như tuổi thọ, điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản, đặc biệt là những khía cạnh nhạy cảm như vấn đề lạc hậu về công nghệ, cũng như tình hình thị trường của tài sản bảo đảm, ví dụ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường vàng…
Trang 16Conditions Các điều kiện khác
Các điều kiện này bao gồm những điều kiện bên trong như chính sách tín dụng từng thời kỳ của ngân hàng, việc mua sắm, đầu tư, chính sách lương thưởng, những điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng Ngoài ra còn có những điều kiện bên ngoài như định hướng phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, chính sách thuế, và tiêu chuẩn về công nghệ môi trường
Control Kiểm soát
Ngân hàng cho vay đối với khách hàng nhưng không có nghĩa là ngân hàng
từ bỏ hoàn toàn các quyền đối với khoản tiền đó Ngân hàng vẫn có những cơ chế kiểm tra kiểm soát nhất định để có thể phát hiện những dấu hiệu làm cho khoản vay trở thành khoản vay có vấn đề để có những điều chỉnh phù hợp Đồng thời, nếu phát hiện khách hàng có những vi phạm với hợp đồng tín dụng, ngân hàng có thể hủy hợp đồng và thu hồi khoản tín dụng Đây là một cơ chế và là một điều kiện mà ngân hàng sử dụng để quản trị rủi ro tín dụng
* Mô hình định lượng: Mô hình điểm số Z - sử dụng với các doanh nghiệp
Mô hình này do E.I.Alman dùng đo điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp qua đó phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay, Z phụ thuộc vào trị số các chỉ số tài chính của người vay
và tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ Mô hình này như sau
Z = 1,2 X1 +1,4X2 +3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó X1 là hệ số Vốn lưu động / Tổng tài sản
X2 là hệ số Lãi chưa phân phối / Tổng tài sản
Trang 17X3 là hệ số Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Tổng tài sản X4 là hệ số Giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/ Giá trị hạch toán của tổng nợ
X5 là hệ số Doanh thu / Tổng tài sản
Trị số Z càng cao người có xác suất vỡ nợ càng thấp Vậy khi trị số Z thấp hay đạt giá trị âm thì khách hàng sẽ có nguy cơ vỡ nợ cao Mô hình cho điểm của Alman như sau:
+ Một nội dung trong quản trị tín dụng đó là xây dựng chính sách tín dụng
và quy trình phân tích tín dụng hợp lý chất lượng: chia thành những thời kỳ như trước trong và sau khi cho vay…Đồng thời ngân hàng cần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát nội bộ đối với hoạt động tín dụng Hiệu quả của vấn đề này quyết định lớn đến vấn đề rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, do vậy
nó cần luôn được chú trọng hoàn chỉnh và quan tâm đúng mức
Trang 18+ Một công tác cần được hoàn thành đó là xác định dấu hiệu các khoản cho vay có vấn đề, giới hạn các khoản tín dụng và đa dạng hóa khách hàng, sản phẩm, thị trường Đây là một vấn đề có tính định hướng chiến lược với hoạt động của ngân hàng, và có thể hạn chế rủi ro tín dụng ở mức tối đa có thể, cùng với các hoạt động như mua bảo hiểm tiền gửi, tiền vay và tham gia trung tâm thông tin tín dụng (CIC), ngân hàng có thể tối thiểu hóa các khoản nợ có vấn đề.
1.4.2.2 Quản lý nợ quá hạn – nợ khó đòi, các khoản nợ có vấn đề
Dù các ngân hàng có đạt hiệu quả cao trong vấn đề hạn chế nợ có vấn đề, thì nợ quá hạn vẫn sẽ là một thực tế tồn tại khách quan, luôn luôn đi kèm với hoạt động của ngân hàng Do vậy, chúng ta không chỉ cần tìm cách hạn chế nó,
mà cần quản lý và xử lý nó một cách có hiệu quả
+ Công việc đầu tiên cần phải làm đó là phân loại nợ vay có vấn đề, phân tích nguyên nhân của tình trạng này và tìm phương án giải quyết Mỗi khoản nợ
có vấn đề đều có nguyên nhân riêng và do vậy cũng cần có phương án xử lý phù hợp Nếu vấn đề là do khách quan, ngân hàng và khách hàng sẽ cùng bàn bạc và đưa ra biện pháp tốt nhất cho cả hai bên, đảm bảo lợi ích của ngân hàng song cũng có những nhượng bộ hợp tình hợp lý với khách hàng, giữ được một mối quan hệ tốt Song nếu nguyên nhân là do chủ quan, thì vấn đề lại khác hẳn Dù cho khách hàng do thiếu khả năng hay thiếu đạo đức thì xử lý triệt để khoản vay luôn là sự lựa chọn chính xác nhất Như vậy từ nguyên nhân của khoản nợ có vấn đề ta sẽ đưa ra hai biện pháp giải quyết Thứ nhất là ngân hàng sử dụng chính sách hỗ trợ khách hàng đang gặp khó khăn để giúp khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn, còn nếu khách hàng lừa đảo chây ỳ, ngân hàng sẽ lập tức kết thúc hợp đồng tín dụng, thanh lý tài sản, và thu hồi khoản nợ vay
Trang 19+ Cùng với các biện pháp trên, việc xây dựng quỹ dự phòng bù đắp tổn thất, dựa trên tỷ lệ rủi ro chấp nhận và danh mục các khoản cho vay rủi ro, theo quy định của luật pháp và các quyết định của Ngân hàng Nhà nước là vấn đề ngân hàng nào cũng tuân thủ, đây là công cụ tự bảo vệ hữu hiệu và an toàn nhất với chi phí thấp nhất của ngân hàng.
1.4.2.3 Sử dụng các nghiệp vụ ngoài bảng cân đối kế toán
+ Chứng khoán hóa các khoản cho vay
Ngân hàng có thể chứng khoán hóa các khoản cho vay của mình, bán ra thị trường để thu hồi vốn, khi đến hạn ngân hàng có thể chuyển gốc và lãi cho những người chủ thực sự của khoản vay này
Ngân hàng, những người khởi tạo chuyển những khoản cho vay cho tổ chức phát hành Tổ chức này là người bảo lãnh và cam kết hoàn trả nợ, do vậy trong trường hợp ngân hàng phá sản, các chứng khoán này vẫn được thanh toán
Một tổ chức được ủy thác sẽ giám sát tổ chức phát hành hoàn thành các dịch vụ đã cam kết, bảo lãnh và quản lý các khoản thế chấp đề phòng không thu hồi được nợ
Người mua có quyền bán lại các khoản này cho ngân hàng phát hành trong trường hợp không thu hồi được nợ
Một ví dụ: Trái phiếu có bảo đảm bằng các khoản cho vay thế chấp(CMO), trái phiếu được đảm bảo bằng nợ
Trang 20+ Bán các khoản cho vay
Khi ngân hàng cần thu hồi vốn, hay ngân hàng muốn “rũ bỏ” các khoản nợ quá hạn, ngân hàng không muốn tốn chi phí và thời gian cho công việc thanh lý tài sản…
Ngân hàng sẽ chọn lựa giải pháp bán các khoản cho vay này Những công
ty chuyên thu hồi nợ sẽ mua những khoản này với một giá hợp lý, làm sao có lợi nhuận Công việc này có lợi cho cả hai bên
Nghiệp vụ này không những giải quyết được vấn đề rủi ro tín dụng, mà còn tăng khả năng thanh khoản cho tài sản của ngân hàng, ngân hàng có thể đa dạng hóa các khoản cho vay
1.4.2.4 Sử dụng những hợp đồng tín dụng phái sinh để quản lý rủi ro tín dụng
+ Hợp đồng trao đổi tín dụng (Credit SWAP)
Hai ngân hàng thông qua một tổ chức tín dụng trung gian, ký một hợp đồng trao đổi toàn bộ thu nhập từ một danh mục các khoản cho vay có giá trị như nhau Hợp đồng này cho phép ngân hàng đa dạng hóa danh mục đầu tư, ngành hàng, giảm sự phụ thuộc vào một thị trường truyền thống duy nhất
+ Hợp đồng quyền tín dụng (Credit OPTIONS)
Ngân hàng ký hợp đồng với một tổ chức kinh doanh quyền, đảm bảo thanh toán toàn bộ khoản cho vay nếu khoản cho vay giảm giá đáng kể hoặc không thể được thanh toán Nếu rủi ro không xảy ra, ngân hàng chỉ mất phí mua quyền
Trang 21+ Hợp đồng trao đổi các khoản tín dụng rủi ro
Thông qua môi giới, ngân hàng mua một hợp đồng quyền bán với một bộ phận của danh mục đầu tư hay cho vay Nếu xảy ra rủi ro, ngân hàng có tiền bán này trừ đi trị giá thanh lý của tài sản thế chấp
+ Trái phiếu ràng buộc
Đây là một công cụ kết hợp một khoản nợ và hợp đồng quyền tín dụng Trái phiếu phát hành trên cơ sở tài trợ cho một hay một nhóm các khoản cho vay của ngân hàng Công cụ này cho phép tổ chức phát hành có đặc quyền trong việc giảm mức thanh toán, nếu các khoản cho vay từ trái phiếu này có tỷ lệ tổn thất tín dụng là quá lớn
Các công cụ phái sinh tuy để dự phòng rủi ro song cũng hàm chứa không ít rủi ro Thị trường này còn nhỏ hẹp và mới ra đời nên hệ thống pháp lý chưa rõ ràng, có khả năng một bên ký hợp đồng không muốn thực hiện hợp đồng Thị trường này chưa phát triển bằng thị trường các công cụ phái sinh của tiền tệ và lãi suất
Trang 22Chương II : Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại
Sở giao dịch Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
2.1 Khái quát về sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam
lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ) Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN
về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước
và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT theo mô hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 23Trải qua gần 45 năm xây dựng và trưởng thành, tính đến thời điểm cuối năm 2006, NHNT đã phát triển lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với
58 Chi nhánh, 1 Sở Giao dịch, 87 Phòng Giao dịch và 4 Công ty con trực thuộc trên toàn quốc; 2 Văn phòng đại diện và 1 Công ty con tại nước ngoài, với đội ngũ cán bộ gần 6.500 người Ngoài ra, NHNT còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư Tổng tài sản của NHNT tại thời điểm cuối năm 2006 lên tới xấp xỉ 170 nghìn tỷ VND (tương đương 10,4 tỷ USD), tổng dư nợ đạt gần 68 nghìn tỷ VND (4,25 tỷ USD), vốn chủ sở hữu đạt hơn 11.127 tỷ VND, đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% theo chuẩn quốc tế
Trong định hướng phát triển của Vietcombank, để trở thành một tập đoàn tài chính mạnh có nhiều công ty con, chiếm thị phần lớn trên thị trường tài chính, kinh doanh ngày càng hiệu quả, thì vấn đề cơ cấu lại tổ chức là cấp thiết Hệ thống Vietcombank liên tục phát triển, số chi nhánh càng ngày càng lớn, chỉ riêng năm 2007 số chi nhánh đã tăng lên gấp đôi so với 2006 (lên 59 chi nhánh), nguồn vốn huy động và cho vay tăng mạnh từng năm, VCB lại vừa cổ phần hóa
và thực hiện đợt IPO đầu tiên, tạo điều kiện thuận lợi để tăng vốn chủ sở hữu Cùng lúc đó, các công ty con của VCB liên tục ra đời và phát triển, như công ty chứng khoán VCB, công ty cho thuê tài chính VCB, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản VCB, công ty TNHH cao ốc VCB 198… Trong điều kiện đó, việc để Hội sở chính vừa thực hiện chức năng kinh doanh và chức năng quản lý là không còn phù hợp nữa, VCB đã tách bộ phận kinh doanh của HSC và thành lập sở
Trang 24giao dịch NHNT VN với chức năng hoạt động như một chi nhánh cấp 1, từ đầu năm 2006.
Năm 2007, SGD đã chuyển địa điểm từ 198 Trần Quang Khải sang đóng tại 31-33 Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội SGD có phạm vi hoạt động lớn, bao gồm cả thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận Sau khi tách khỏi HSC, và đặc biệt từ khi chuyển địa điểm, SGD đã rất cố gắng mở rộng phạm vi, thâm nhập tìm kiếm khách hàng, và có được những thành công nhất định, đặc biệt huy động vốn của SGD chiếm khoảng 16% địa bàn Hà Nội, là mũi nhọn phát triển cho NHNT phía Bắc
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Bảng 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức các phòng ban trong SGD
Trang 25SGD NHNT VN xây dựng theo mô hình hiện đại, có những đổi mới tiên tiến với quy mô phù hợp.
Lãnh đạo cấp cao nhất của SGD là Ban giám đốc gồm 4 người, 1 giám đốc
và 3 phó giám đốc Phía dưới là các phòng nghiệp vụ, mỗi phòng có chức năng
và nhiệm vụ riêng:
- Phòng quan hệ khách hàng: phòng này là đầu mối quan hệ với khách hàng, có nhiệm vụ duy trì và không ngừng mở rộng mối quan hệ với các khách hàng, sâu sát trong tất cả các quy trình các giai đoạn hoạt động, các sản phẩm kinh doanh…
- Phòng đầu tư dự án: phòng đáp ứng những nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của khách hàng, chức năng bao gồm cả phân tích rủi ro, thẩm định dự án, đánh giá tính khả thi, tính hiệu quả của các dự án
- Phòng quản lý rủi ro tín dụng: chức năng ngiên cứu và phân tích, đồng thời quản lý rủi ro, cả rủi ro chung (rủi ro hệ thống, rủi ro thị trường) và rủi ro riêng (rủi ro của từng khách hàng, từng dự án kinh doanh) nhằm đảm bảo mở rộng phát triển tín dụng an toàn hiệu quả, giảm thiểu rủi ro
- Phòng quản lý nợ: phòng quản lý nợ quản lý trực tiếp các tác nghiệp liên quan đến các nghiệp vụ giải ngân, thu hồi nợ, đảm bảo số liệu trên hệ thống khớp số liệu trên hồ sơ và trên thực tế, lưu giữ hồ sơ vay an toàn và đầy đủ, đảm bảo tuân thủ quy trình tín dụng
- Phòng doanh nghiệp vừa và nhỏ: phụ trách quan hệ với khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những món vay không lớn, phòng có thể tự đánh
Trang 26giá, thẩm định và cho vay Được thành lập từ tháng 10/2007 để khắc phục nhược điểm của quy trình 90.
- Phòng tín dụng tiêu dùng: toàn quyền với các khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp vay vốn để tiêu dùng hàng hóa dịch vụ chất lượng cao, như mua nhà, ôtô trả góp, vay du học,
- Phòng thanh toán quốc tế: do số lượng giao dịch lớn nên được chia nhỏ thành 2 phòng là thanh toán xuất khẩu và thanh toán nhập khẩu, thực hiện các nghiệp vụ bao gồm tài trợ thương mại, thực hiện thanh toán L/C xuất nhập khẩu, các nghiệp vụ khác như nhờ thu, chiết khấu chứng từ, bảo lãnh thanh toán…
- Phòng bảo lãnh:thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh:bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh bảo đảm tham gia dự thầu, bảo lãnh đảm bảo khả năng thanh toán…
- Phòng vay nợ viện trợ: thực hiện công tác quản lý các khoản vay có tính viện trợ của nước ngoài, như các tổ chức quốc tế nhằm mục đích phát triển kinh
tế xã hội, cải thiện môi trường…
- Phòng kế toán giao dịch : Phòng trực tiếp thực hiện giao dịch với khách hàng và tổ chức hạch toán kế toán cho SGD
- Phòng thanh toán thẻ : phòng thực hiện quản lý quá trình thanh toán thẻ của NHNT VN, kiểm soát các giao dịch, các nghiệp vụ như chuyển tiền rút tiền, mua hàng
- Phòng kho quỹ: quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt và tổ chức điều chuyển tiền giữa quỹ nghiệp vụ của SGD và NHNN, các chi nhánh cùng hệ thống trên địa bàn, các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong ngoài quầy, thu chi tiền mặt giao dịch với giá trị lớn
Trang 27Ngoài ra còn có phòng hối đoái, phòng dịch vụ tài khoản khách hàng, phòng khách hàng đặc biệt, phòng quản lý nhân sự, phòng hành chính quản trị, phòng kinh doanh ngoại tệ và 24 phòng giao dịch khác trên địa bàn Hà Nội.
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh
Do mới tách ra từ hội sở chính và hoạt động độc lập, nên dù vẫn có lợi thế
về thương hiệu và những ưu thế khác, song SGD đã gặp nhiều khó khăn về tổ chức và những nghiệp vụ mới áp dụng Những khách hàng lớn trước đây chuyển lên HSC quản lý khiến cho SGD gần như phải xây lại từ nền Tuy vậy, SGD đã đạt được nhiều kết quả trong 2 năm 2006 và 2007
- Ổn định tổ chức và hoạt động kinh doanh bình thường
- Kế thừa hệ thống phòng giao dịch trước đây nên đã hoàn thành chỉ tiêu huy động vốn
- Các mảng dịch vụ bán lẻ, dịch vụ thanh toán, tài trợ thương mại vẫn duy trì ổn định như trước
Song, hoạt động tín dụng chưa hiệu quả, tỷ lệ dư nợ so tổng nguồn vốn thấp (khoảng 6.96% -2006) trong khi tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phải là 8%
Về huy động vốn:
Nghiệp vụ huy động vốn đã duy trì được hiệu quả sau khi SGD tách ra và hoạt động độc lập Đến cuối năm 2007, nguồn vốn huy động được từ nền kinh tế của SGD quy VNĐ đạt xấp xỉ 39.408,36 tỷ VND, tăng 4646,55 tỷ VND, xấp xỷ 13,36% so với năm 2006
Thị phần vốn huy động quy VND tại SGD trên địa bàn Hà Nội là 16,23% trong đó thị phần huy động vốn VND là 10,86% và ngoại tệ quy USD là 28,19%
Trang 28Bảng 2.2 : Nguồn vốn huy động của SGD năm 2007
Đơn vị : tỷ đồng, triệu USD
-II Huy động từ nền kinh tế 14947,10 1.231,42 34.761,81 25,03 16,77 21,13
1 Tiền gửi của tổ chức kt 11.124,89 439,71 18.200,31 30,29 46,12 36,68
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh các năm 2006, 2007
Tính tổng nguồn vốn quy VND năm 2007, huy động từ nguồn tiền gửi của
tổ chức chiếm 54% tổng nguồn vốn, huy động từ tiền tiết kiệm của dân cư là 44%, còn lại là từ các tổ chức tín dụng khác và kho bạc Nhà nước
Huy động vốn ngoại tệ đóng góp tỷ lệ cao nhưng thấp hơn 2006 Kết quả này là do đồng USD bị yếu đi và cuộc chạy đua lãi suất huy động VND trong
Trang 29năm 2007 Mặt khác, SGD cũng mất đi một số khách hàng lớn được giữ lại ở HSC nên lượng huy động ngoại tệ có chiều hướng giảm này.
- Về sử dụng vốn:
Công tác quản lý và sử dụng vốn của SGD được thực hiện theo phương châm an toàn và hiệu quả nhất, để vừa đảm bảo khả năng sinh lời cao vừa giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho Ngân hàng
Cho vay trực tiếp: Cuối năm 2007 dư nợ tín dụng của SGD quy VND đạt khoảng 3509,73 tỷ đồng, trong đó tín dụng ngắn hạn đạt 2561,48 tỷ đồng, tín dụng trung và dài hạn đạt 948,25 tỷ đồng Dư nợ tín dụng chiếm 7,26% trên nguồn vốn của SGD
Số tiền Tỷ trọng
%
So sánh 06/07 (%) Tổng dư nợ 8795,0 100,00 2449,08 100,00 -259,00 3509,73 100,00 -1060,65
Trang 30hạn cảu SGD tập trung vào kinh doanh thương mại do 80% doanh số cho vay tổ chức kinh tế để hoạt động kinh doanh hàng nhập khẩu nên khách hàng chủ yếu vay bằng ngoại tệ, SGD vẫn cố gắng thâm nhập thị trường tìm nguồn khách hàng vay VND mới.
Đối với dư nợ tín dụng ngắn hạn bằng ngoại tệ đến 31/12/2007 đạt 96,42 triệu USD do giá cả nhiều mặt hàng trên thế giới tăng mạnh, nên nhu cầu vay ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu của các doanh nghiệp đều tăng Lãi suất USD tuy tăng song tỷ giá vẫn được duy trì, lãi suất VND lại cao hơn nhiều nên dư nợ ngoại tệ càng chiếm tỷ trọng lớn
+ Tín dụng trung dài hạn
Sau khi tách khỏi HSC, phần lớn dư nợ cho vay có kỳ hạn dài đều chuyển lên trung ương, tại SGD chỉ còn các khoản dư nợ nhỏ và hoạt động đầu tư bắt đầu lại từ con số không Dư nợ tín dụng trung và dài hạn bằng VND năm 2007 đạt 340,46 tỷ VND, tăng 41,66% so năm 2006 Cùng lúc đó, nhiều hợp đồng cho vay trung và dài hạn chưa thể giải ngân năm 2006 đã giải ngân năm 2007 làm cho số dư nợ tăng mạnh (dự án ximang Bỉm Sơn, thủy điện Sesan 4,…)
SGD cũng có tiếp nhận khoang 30 dự án từ HSC chuyển xuống, cùng với
số dự án mới của sở, tuy vậy, sự phát triển của nghiệp vụ này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
Trong năm 2006, SGD bắt đầu triển khai hoạt động theo mô hình quản lý tín dụng mới, hiện đại hơn, nhằm tăng khả năng quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Quy trình mới này áp dụng cho khách hàng là doanh nghiệp, phân tách chức năng của công tác quan hệ khách hàng, công tác quản trị rủi ro và công tác quản lý nợ Do quy trình mới áp dụng hơn 1 năm nên đã nảy sinh nhiều bất cập