1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang

75 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 804,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua việc đóng tàu, chọn máy chính và chân vịt cho tàu ở nước ta nói chung và ở Kiên Giang nói riêng đều dựa vào kinh nghiệm dân gian do đó khó có thể đảm bảo sự phù hợp g

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Kiên Giang là tỉnh có ngành thủy sản phát triển nhất nước ta, có đội tàu khai thác phát triển cả về qui mô và mức độ trang bị máy móc thiết bị Số lượng tàu đóng mới ngày một tăng, bên cạnh đó việc trang bị máy móc, trang thiết bị hàng hải cũng từng bước được cải thiện

Trong hoạt động khai thác một yêu cầu đòi hỏi là làm sao được sản lượng cao nhất trong khi chi phí thấp nhất Để được điều này cần giải quyết từ khâu nghiên cứu, thiết kế, thi công, và tổ chức khai thác

Trong những năm qua việc đóng tàu, chọn máy chính và chân vịt cho tàu ở nước ta nói chung và ở Kiên Giang nói riêng đều dựa vào kinh nghiệm dân gian do

đó khó có thể đảm bảo sự phù hợp giữa các thành phần của tổ hợp Máy chính – Thân tàu – Chân vịt Đây là một tồn tại về mặt kỹ thuật cần phải nghiên cứu giải quyết ở tàu cá

Để tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với thực tế, tập giải quyết những vấn

đề cụ thể trong sản xuất và làm cơ sở đánh giá kết quả học tập cả khoá học, em

được nhà trường giao thực hiện luận văn tốt nghiệp: “Thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực Kiên Giang”

Luân văn được hoàn thành với các nội dung sau:

Trong suốt thời gian thực hiện luận văn, em được sự hướng dẫn tận tình của

thầy giáo Ths Nguyễn Đình Long, cùng sự giúp đỡ các chú, các anh ở Sở Thủy

Sản và Chi cục BVNLTS tỉnh Kiên Giang để em hoàn thành tốt nội dung luận văn

Qua đây tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quí thầy cô giáo, đặc biệt là thầy

giáo Ths Nguyễn Đình Long đã hướng dẫn tôi thực hiện đồ án Cho tôi gửi lời cám

ơn chân thành đến các ban ngành về sự giúp đỡ quí báu này

Nha Trang, tháng 06 năm 2006 Sinh viện thực hiện

Hà Thanh Tứ

Trang 2

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu chung về nghề cá và tàu cá ở Kiên Giang 1.1.1 Đặc điểm địa lý nghề cá

1.1.1.1 Khái quát vài nét chính về vị trí địa lý

Biển Kiên Giang là một bộ phận của biển Tây Nam Bộ Giới hạn của vùng Tây Nam Bộ được thể hiện như sau:

Phía Bắc giáp bờ biển Cà Mau và Kiên Giang Phía Đông giáp bờ biển Cà Mau và kinh tuyến 105032’ Phía Nam là vùng trống giữa Việt Nam và Malaysia Phía Tây là ranh giới giữa Việt Nam, Campuchia và Thái Lan

Bờ biển Kiên Giang dài 200 km từ Hà Tiên (giáp Campuchia) đến Tiểu Dừa (giáp Cà Mau) Vùng biển Kiên Giang có 105 hòn đảo lớn nhỏ, thuộc 5 quần đảo gồm : Hải Tặc, Bà Lụa, Nam Du, Thổ Châu, và An Thới, trong đó có 43 đảo có dân

cư sinh sống Đảo lớn nhất là Phú Quốc, đảo xa nhất là đảo Thổ Châu

Từ Hà Tiên đến Hòn Me: Bờ biển khúc khuỷu theo chiều núi nhưng không

có vực thẳm, bãi biển phần nhiều là đất đen ( bãi Mũi Nai, bãi Nò ), còn bãi cát trắng ( hòn Heo, hòn Trẹm)

Từ Hòn Me đến địa phận Cà Mau : Bờ biển phẳng, phần nhiều là bùn, có nguồn phù sa của hai cửa sông Cái Lớn và Cái Bé đổ ra biển

Diện tích biển Kiên Giang khoảng 63.290 km2 được phân bố theo độ sâu như sau:

Nhỏ hơn 20m nước : 15.440 km2 chiếm 24,40%

Từ (20 - 30)m nước : 5.613 km2 chiếm 8,87%

Từ (30 - 50) m nước: 28.347 km2 chiếm 44.97%

Trên 50 m nước: 13.890 km2 chiếm 21,95%

Với số liệu trên cho thấy vùng nước có độ sâu trên 30 m nước chiếm tới 66,92 % vùng biển Đây là điều kiện rất thuận lợi cho nghề khai thác thủy sản phát triển

Đặc điểm về địa lý toàn tỉnh Kiên Giang và vùng Tây Nam bộ được thể hiện

ở bản đồ dưới đây Qua bản đồ ta thấy vị trí địa lý ở Kiên Giang rất thuận lợi cho nghề khai thác thuỷ sản xa bờ phát triển

Trang 4

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên vùng biển

Ø Địa hình vùng biển

1 Độ sâu

Biển Kiên Giang thuộc khu vực biển Tây Nam Bộ, các đường đẳng sâu phân

bố rất xa nhau nên có độ sâu nhỏ Ở khu vực >30m nước, độ dốc nhỏ nhất là 0,2%o, lớn nhất là 1.04%o Với độ sâu và độ dốc như vậy nên không ảnh hưởng lớn đến nghề lưới kéo đáy ở đây

2 Chấy đáy

Chất đáy ảnh hưởng quan trọng trong hoạt động nghề lưới kéo tầng đáy Vùng biển Kiên Giang chất đáy chủ yếu là bùn, bùn cát có lẫn sỏi Chỉ riêng vùng đảo Nam Du có rạn đá tổ ong phân bố rải rác trên nền đáy làm ảnh hưởng đến hoạt động nghề lưới kéo tầng đáy

3 Chướng ngại vật

Phải nói rằng đây là điều đáng quan tâm nhất của nghề lưới kéo tầng đáy bởi

nó đã từng làm rách lưới và nhiều thiệt hại khác Ngoài những rạn đá tổ ong phân

bố còn có xác tàu đắm làm nguy cơ gây ra hư hỏng lưới trong quá trình khai thác

1.1.1.3 Đặc điểm về khí tượng - hải dương

1 Hải lưu

Dòng chảy vùng biển Kiên Giang có quỹ đạo tròn theo cấu trúc của đường vịnh Thái Lan Các dòng chảy theo chiều thuận nghịch kim đồng hồ theo hai mùa rõ rệt làm cho nước trong vịnh có sự thay đổi với nước biển Đông

Đối với gió mùa Tây Nam: Hải lưu chảy theo dọc theo bờ biển Kiên Giang tạo thành dòng chảy theo thuận chiều kim đồng hồ quanh vịnh Thái Lan từ đó hình thành vụ cá Tây Nam

Đối với gió mùa Đông Bắc thì ngược lại, dòng chảy theo chiều ngược kim đồng hồ tạo thành vụ cá Đông Bắc

2 Chế độ thủy triều

Vùng biển Kiên Giang chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều không đều của vịnh Thái Lan Biên độ triều trung bình là 01m [thấp nhất là (0,3 – 0,4)m, cao nhất

Trang 5

là (1,5- 1,6)m] Với biên độ này ảnh hưởng không lớn đến nghề lưới kéo xa bờ ở đây

6 (20- 25 )% và hầu như ít có ngày lặng gió

Mùa mưa về cùng với mùa Tây Nam, hướng gió chính chủ yếu là hướng Tây – Tây Nam, cường độ gió này thường yếu hơn gió Đông Bắc, tốc độ thường đạt cấp

3 (50- 55)% Vào các buổi chiều từ tháng 6 đến tháng 8 vùng biển thường xuất hiện mưa giông sức gió đạt đến cấp 6, cấp 7

4 Sóng biển

Do vùng biển Kiên Giang cạn nên sóng chủ yếu do gió gây ra Chỉ có các sóng của vụ Tây Nam – Tây Bắc ngoài khơi mới ảnh hưởng trực tiếp đến bờ biển Các sóng này chỉ tồn tại trong mùa mưa Độ cao sóng ngoài khơi chỉ đạt trung bình (01- 02) m Khi gió thật mạnh, sóng ngoài khơi chỉ cỡ 04m Tại vùng ven bờ, độ cao sóng trung bình cao nhất cũng chỉ (2- 2,5)m

5 Giông, tố

Ở Kiên Giang giông, tố xuất hiện nhiều hơn các tỉnh khác thuộc khu vực Tây Nam Bộ Số ngày giông, tố trung bình trong năm từ (25-30) ngày Giông thường kèm theo mưa rào và gió mạnh, trong một vài trường hợp có kèm theo mưa đá rất nguy hiểm cho tàu đánh cá xa bờ

6 Bão Nói chung vùng biển Kiên Giang ít xảy ra bão tố và áp thấp nhiệt đới so với các vùng miền Trung, miền Bắc Tuy nhiên vẫn có những cơn bão xuất hiện bất thường gây thiệt hại rất lớn cho ngư dân, ví dụ: Cơn bão số 05 tháng 11 năm 1997 gây thiệt hại rất lớn cho ngư dân

Điều đó cho thấy không được lơ là, cần phải đặc biệt quan tâm đến việc phòng chống thiệt hại do bão gây ra đối với hoạt động nghề cá ở đây

Trang 6

1.1.2 Nghề khai thác cá

Kiên Giang là một tỉnh trọng điểm nghề cá ở nước ta, ngành khai thác thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn ở Kiên Giang Sản lượng thuỷ sản tăng đều đặn trong những năm qua, quy mô nghề khai thác ngày càng mở rộng Theo báo cáo của Sở Thuỷ Sản Tỉnh Kiên Giang, sản lượng thuỷ sản khai thác toàn tỉnh năm 2001 là 256.200 tấn, đến năm 2005 thì sản lượng khai thác toàn tỉnh là 305.000 tấn, trong đó nghề khai thác có hiệu quả nhất là nghề khai thác bằng lưới kéo

Nghề khai thác cá ở Kiên Giang rất đa dạng nhưng tập trung vào một số nghề chủ yếu như: Nghề khai thác bằng lưới kéo, nghề lưới vây, nghề lưới rê, nghề câu, ngoài ra còn một số nghề khác nhưng không được phổ biến và có số lượng tàu thuyền không nhiều

Các nghề khai thác được thống kê theo bảng 1.1

Trang 8

Từ bảng thống kê đối với các nghề đánh bắt cá ta thấy tỷ trọng của các nghề như sau:

Hình 1.1 : Biểu đồ phần trăm số lượng tàu thuyền nghề lưới kéo tỉnh Kiên Giang Trong đó:

Số lượng tàu lưới kéo chiếm 53,82%

Số lượng tàu lưới rê thu chiếm 2%

Số lượng tàu lưới thưng chiếm 6,47%

Số lượng tàu lưới ghẹ chiếm 13,97%

Số lượng tàu vây cá lớn chiếm 3,16%

Số lượng tàu câu chiếm 9.33%

Các loại tàu làm nghề khác chiếm 11.25%

Nhận xét: Nhìn vào bảng thống kê ta có thể thấy được số lượng tàu thuyền tỉnh Kiên Giang rất lớn Trong đó số lượng tàu lưới kéo lớn nhất chiếm 53,82% số lượng tàu thuyền của toàn tỉnh

1.2 Thực trạng tàu thuyền tỉnh Kiên Giang 1.2.1 Đặc điểm tàu thuyền Kiên Giang 1.2.1.1 Đặc điểm đường hình tàu

Ø Đặc điểm hình dáng mũi tàu

- Đặc điểm hình dáng mũi tàu liên quan rất nhiều đến tính năng hàng hải của tàu Các tàu cá ở Kiên Giang nhìn chung có đặc điểm phần mũi gần giống nhau Hình dáng mặt cắt ngang dạng chữ V sống mũi thẳng hơi nghiêng về phía trước một

Trang 9

góc (hợp với mặt phẳng ngang) khoảng 650 đến 750, với sống mũi như vậy tạo dáng tàu khỏe

- Với mặt cắt ngang chữ V tạo điều kiện cắt sóng tốt, càng nên cao mặt bong được mở rộng thuận tiện cho việc thao tác khi tàu hoạt động, đồng thời tăng lực nổi

dự trữ

Ø Đặc điểm hình dáng đuôi tàu

- Các tàu ở Kiên Giang hầu hết hình dáng đuôi tàu giống nhau và có dạng đuôi vuông, mặt cắt ngang phần đuôi có dạng chữ U Kết cấu phần đuôi có ảnh hưởng đến các tính năng khác nhau của tàu, Vòm đuôi có độ nghiêng nhất định về phía sau, độ ngập nước không quá sâu để giảm sức cản cho tàu Với dạng vòm đuôi như vậy làm tăng diện tích sinh hoạt trên tàu, tàu giữ hướng tốt phù hợp với loại tàu đánh cá lưới kéo

- Tuy nhiên đuôi tàu thường quá béo, làm giảm tốc độ tàu, quay trở khó khăn

Ø Đặc điểm hình dáng mặt boong Boong thao tác tương đối rộng phù hợp với nghề cá kéo lưới, mặt boong có dạng mai rùa tạo điều kiện cho việc thoát nước nhanh khi sóng vỗ lên boong

Ø Đặc điểm hình dáng mạn tàu Thân tàu thuôn đều, phần mạn tàu kéo dài lên trên boong có tác dụng làm mạn chắn sóng, đảm bảo cho tàu khi hoạt động thao tác đánh bắt

Ø Đặc điểm hình dạng phần chìm dưới nước Phần thân tàu chìm dưới nước có dạng thuôn đều về phía mũi và phía đuôi tàu Hình dạng mặt cắt ngang giữa tàu có bán kính hông đáy tương đối lớn có tác dụng làm giảm lắc ngang và đảm bảo tính cơ động cho tàu

Ø Đặc điểm kết cấu tàu

- Khung xương đáy, khung sườn mạn, kết cấu vỏ và mặt boong có tiết diện

và kích thước hoàn toàn phụ thuộc vào từng khu vực, từng kích thước tàu, đảm bảo tàu đủ bền và đủ cứng vững khi tàu hoạt động khi khai thác

Trang 10

- Kết cấu thượng tầng: Các tàu đánh cá ở Kiên Giang đều có cabin bố trí ở phía lái

- Buồng máy bố trí phía đuôi tàu nhằm giảm chiều dài hệ trục, đồng thời thuận tiện thao tác thu và bảo quản sản phẩm khai thác

- Các khoang cá phụ thuộc vào kích thước con tàu

1.2.1.2 Đặc điểm về trang bị động lực trên tàu

- Các tàu đánh cá ở Kiên Giang được trang bị một động cơ chính cùng với hệ trục chân vịt và được truyền động gián tiếp thông qua hộp số

- Máy phát điện: Các tàu đánh cá đều được trang bị máy phát điện, công suất khoảng 10 (HP) để lai các thiết bị phục vụ khai thác

- Hệ thống điều khiển: Đa số sử dụng hệ thống lái tay, truyền động cơ khí

- Hệ thống khai thác: Các tàu đánh bắt xa bờ trang bị thiết bị thu thả lưới bằng các máy tời đặt phía trước cabin, phía mũi tàu còn trang bị cẩu chữ A để phục

vụ công việc nâng hạ

1.2.1.3 Thống kê một số cặp tàu đánh cá lưới kéo đôi khu vực Kiên Giang

Qua điều tra thực tế và số liệu tại phòng Đăng Kiểm thuộc Chi Cục BVNL Thủy Sản tỉnh Kiên Giang ta có số liệu thống kê một số cặp tàu lưới kéo đôi ở Kiên Giang được thể hiện ở bảng 1.2

Trang 13

Ø Mớn nước 1,4 £ T £ 3,2

Ø Các hệ số 0,89 £ b £ 0,93 0,83 £ a £ 0,87 0,62 £ d £ 0,67

Tứ bảng thống kê ta thấy: Trong các cặp tàu lưới kéo đôi đa phần đóng không cùng năm và kích thước hai tàu khác nhau, công suất máy cũng khác nhau

1.2.2 Hình thức tổ chức khai thác cá bằng lưới kéo khu vực Kiên Giang

Hình thức tổ chức khai thác ở Kiên Giang được chia ra theo từng dải công suất, tùy theo kích thước tàu mà ngư dân lắp đặt máy có công suất khác nhau

Trong những năm lại gần đây ở Kiên Giang ngư dân thường đóng tàu có kích thước: 17,65 £ Lmax £ 21,58(m), và công suất máy trong khoảng 321(HP) £ Ne £ 540(HP) Mỗi năm ở Kiên Giang đóng khoảng 300 chiếc tàu, các tàu đều được đóng theo kinh nghiệm dân gian và chủ yếu đóng tàu lưới kéo Khai thác bằng lưới kéo gồm lưới kéo đơn và lưới kéo đôi

Từ bảng 1.1 ta thấy nghề lưới kéo chiếm tới 53,82% so với các nghề khác,

trong đó số lượng tàu có công suất từ 321(HP) trở lên là chủ yếu, chiếm 48,19% số lượng tàu lưới kéo toàn tỉnh và chiếm 25,94% số tàu toàn tỉnh

Theo số liệu tại phòng Đăng Kiểm thuộc Chi Cục BVNL tỉnh Kiên Giang ta

có bảng thống kê số lượng tàu thuyền nghề lưới kéo công suất > 321HP biến động

qua các năm theo nghề kéo đơn, kéo đôi như sau:

Trang 14

Bảng 1.4: Số lượng tàu thuyền nghề cá công suất trên 321HP toàn tỉnh qua các

Đơn Đôi Đơn Đôi Đơn Đôi Đơn Đôi Đơn Đôi

Hình 1.2: Sự biến động tàu lưới kéo trên 321HP của toàn tỉnh

qua các năm (2001-31/12/2005) Nhận xét: Từ hai biểu đồ trên ta nhận thấy những năm gần đây nghề lưới kéo

ở Kiên Giang rất phát triển, đặc biệt là nghề lưới kéo đôi Lý do nghề lưới kéo đôi phát triển hơn nghề lưới kéo đơn cả về số lượng cũng như về công suất bình quân là

do thực tế cho thấy nghề lưới đôi làm ăn có hiệu quả hơn nhiều so với nghề kéo đơn Do vậy, bà con ngư dân khi đóng mới tàu thuyền thì tập trung đóng tàu kéo đôi

Trang 15

Cả tỉnh Kiên Giang có 12 huyện thị Riêng về thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang theo thống kê của phòng Đăng Kiểm thuộc Chi Cục BVNL tỉnh Kiên Giang, tính đến ngày 31/12/ 2005 tổng số tàu thuyền nghề lưới kéo toàn thành phố là 1484 chiếc, chiếm 37,4% tàu thuyền lưới kéo toàn tỉnh

Trong những năm gần đây nghề lưới kéo đánh bắt có hiệu quả nên ngư dân bắt đầu quan tâm đến kích thước tàu và công suất máy, từ năm 2001 đến năm 2005 các cặp tàu được đóng chủ yếu có kích thước gần bằng nhau và có công suất giống nhau

Điều này chứng tỏ rằng hiện nay nghề lưới kéo ở Rạch Giá so với toàn tỉnh

là rất phát triển, đặc biệt là nghề lưới kéo đôi có công suất trên 321(HP/chiếc)

1.2.3 Nhận xét

Trong quá trình đi khảo sát thực tế và dựa vào các thông số của các cặp tàu

em nhận thấy một số vấn đề còn tồn tại đối với trang bị động lực cho tổ hợp tàu như sau:

1 Tàu đóng không theo thiết kế nên máy chính và chân vịt cũng được chọn theo kinh nghiệm nên khó có thể đảm bảo sự phù hợp giữa các thành phần của tổ hợp Máy chính - Thân tàu - Chân vịt Đặc biệt ở Kiên Giang máy chính được cải tiến từ máy bộ và chọn máy cho tàu đã qua sử dụng

2 Thông thường đối với nghề lưới kéo đôi thì 2 tàu giống nhau cùng kéo một lưới, nhưng thực tế ở Kiên Giang hầu hết các cặp tàu kéo đôi có kích thước khác nhau, trong khi đóng không theo thiết kế và chọn máy áng chừng theo kích thước

Trang 16

tàu nên khi cùng kéo một lưới sẽ xuất hiện tình trạng ở tàu này máy chính làm việc nặng, còn máy chính ở tàu kia làm việc nhẹ hơn Chính những điều này cho thấy tồn tại vấn đề khi hai tàu trong cặp làm việc có thể máy chính của một trong hai tàu bị quá tải, ảnh hưởng đến độ bền, độ tin cậy; còn máy chính của tàu kia làm việc non tải nên tính kinh tế thấp Trường hợp hai tàu có cùng kích thước, cùng công suất máy nhưng vẫn xảy ra trường hợp hai tàu khi kéo lưới đều chạy non tải hoặc hai tàu khi kéo lưới đều chạy quá tải bởi vì chọn máy cho tàu không qua tính toán mà chọ máy chỉ áng chừng nên không đảm bảo độ chính xác

Do vậy để đảm bảo độ bền, độ tin cậy, tốc độ cho hai tàu kéo lưới và hiệu quả kinh tế thì vấn đề cần giải quyết đối với tàu kéo đôi là tính chọn tổ hợp máy chính và chân vịt cho các tàu đảm bảo sự phù hợp giữa Máy chính – Thân tàu – Chân vịt và phù hợp với yêu cầu khi hai tàu cùng kéo một lưới khi khai thác

1.2.4 Đối tượng, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu

1.2.4.1 Đối tượng: Tàu đánh cá lưới kéo đôi

1.2.4.2 Phạm vi nghiên cứu: Trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo

đôi ở khu vực Kiên Giang

1.2.4.3 Mục tiêu nghiên cứu: Tiếp cận tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ

hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi khu vực Kiên Giang

Trang 17

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÍNH PHÙ HỢP TRONG TRANG

BỊ ĐỘNG LỰC CHO TỔ HỢP TÀU ĐÁNH CÁ LƯỚI KÉO

ĐÔI KHU VỰC KIÊN GIANG

2.1 Tình hình đóng mới tàu và trang bị động lực trên tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực Kiên Giang

2.1.1 Tình hình đóng mới tàu ở Kiên Giang

Theo số liệu nhận được tại phòng đăng kiểm thuộc chi cục BVNL tỉnh Kiên Giang

ta có diễn biến số lượng tàu thuyền của Tỉnh được thể hiện như sau:

Bảng 2.1: Số lượng tàu thuyền nghề cá toàn tỉnh qua các năm (2000-31/12/2005)

Từ bảng số liệu trên cho ta đồ thị sau:

6606 6821 7030 7169 7447 7600

6000 6200 6400 6600 6800 7000 7200 7400 7600 7800

Số lượng (chiếc) 6606 6821 7030 7169 7447 7600 Tổng công suất (cv) 648603 701944 814570 879907 1041049 1170446 Trung bình

Trang 18

và máy chính được trang bị cho tàu có công suất ngày càng cao

Tàu đóng mới ở Kiên Giang được đóng theo kinh nghiệm dân gian, không qua thiết kế nên máy chính và chân vịt cũng được chọn theo kinh nghiệm Để phục vụ cho việc quản lý kỹ thuật, cơ quan chức năng quy định các tàu sau khi đóng mới đều phải lập hồ sơ hoàn công

Bình quân cả tỉnh đóng mỗi năm 200 chiếc tàu và chủ yếu phục vụ cho nghề lưới kéo đôi

Tàu KG90118TS được ngư dân gọi là tàu cái vì nó có chức năng chính trong quá trình khai thác là thu và thả lưới, còn tàu KG1439BTS gọi là tàu đực, nó chỉ có chức năng chở nhiên liệu, thực phẩm, đá và muối và kéo lưới cùng với tàu cái Tàu KG90118TS đóng năm 2002 và được đóng theo mẫu MTT-01-KG, Tàu KG1439BTS đóng năm 1998 và đóng theo mẫu MTT-02-KG Hai tàu đều được đóng tại Công ty TNHH Hoài Nam, cảng đậu Châu Thành – Kiên Giang, nơi đăng

ký Chi cục BVNLTS Kiên Giang Tàu KG1439BTS ban đầu làm nghề lưới kéo đơn,

Trang 19

sau đó nghề lưới kéo đôi phát triền mạnh và được ghép với tàu KG90118TS tạo thành cặp tàu lưới kéo đôi Và đa phần các cặp tàu ở Kiên Giang đều được ghép từ các tàu lưới kéo đơn với nhau

Hình 2.3: Cặp tàu khảo sát Trong quá trình khảo sát thực tế về hai tàu thì em nhận thấy bố trí chung trên hai tàu đều giống nhau Chỉ có khác nhau về các thông số kỹ thuật như về chiều dài, chiều rộng, chiều cao và các hệ số Cặp tàu có các kích thước cụ thể như sau:

Bảng 2.2: Các thông số về kích thước của cặp tàu nghiên cứu

Giá trị

hiện Đơn vị Tàu KG90118TS Tàu KG1439BTS

Trang 20

Hình 2.4: Bố trí chung trên tàu:KG90118TS

Với tàu KG90118TS thì ca bin nằm ở phía sau, buồng máy cũng được đặt ở phía sau (dưới cabin), trước cabin là boong chính,bên dưới bố trí các khoang cá, ở trên boong phía mũi bố trí cẩu chữ A, neo Trong ca bin của các thuỷ thủ được bố trí các trang thiết bị hàng hải và sàn ngủ ngồi ra cịn cĩ bình cứu hoả Trong buồng máy được bố trí rất đơn giản, chỉ cĩ máy chính, một bơm dùng chung, một máy

Cẩu Cọc bích

Máy HINO

Ca bin

Hầm cá, đá Sàn ngủ

Hầm dầu

Vô lăng

La bàn

Neo Máy định vị

Hầm ngư cụ

Trang 21

phát điện và một số két nhiên liệu Tàu KG1439BTS cũng được bố trí như vậy chỉ khác KG1439BTS trong buồng máy có bố trí vài két nước ngọt

2.1.2.1 Tình hình trang bị hệ động lực trên tàu KG90118TS

1 Bố trí trong buồng máy Buồng máy bố trí ở phía đuôi tàu từ sườn 18, việc bố trí buồng máy ở phía đuôi tàu cho phép nhận được hệ trục ngắn, thuận tiện cho việc bố trí các khoang cá

và các thao tác tháo dỡ Nhược điểm của việc bố trí buồng máy ở đuôi tàu là không đảm bảo độ nghiêng dọc khi tàu không đủ lượng cá hoặc khi kéo lưới

Hai bên mạn buồng máy bố trí 06 két dầu dự trữ, dung tích 3,5m2/két

Bố trí 01 bơm dùng chung phục vụ hút khô buồng máy, vệ sinh, phòng cháy

và các sinh hoạt trên tàu

Bơm dùng chung có lưu lượng Q= 20m3/h, chiều cao cột áp H =18 mcn

01 Bảng điện chính

01 cầu thang gỗ

Hệ thống tay ga, tay số được dẫn lên buồng lái để điều khiển

01 máy phát điện, 04 bình ắc qui

2 Máy chính

Động cơ chính HINO – V25C (Ne = 450 HP, tốc độ quay 2200(v/ph), nơi sản xuất: Nhật), được bố trí mặt cắt dọc giữa tàu từ sườn 9 đến sườn 13, máy được đặt trên bệ liên kết chặt với khung xương đáy của tàu Trong quá trình lắp đặt phải đảm bảo độ đồng tâm với trục chân vịt

Trang 22

Hình 2.5: Bố trí máy chính trên tàu Trên thực tế những tàu đóng mới đều lắp đặt máy cũ

3 Hệ trục chân vịt Trục chân vịt làm bằng Inox, có đường kính 90 mm Trục có hai ổ đỡ, bạc lót làm bằng cao su tổng hợp, bôi trơn bằng nước biển Chiều dài hệ trục l= 3000mm

Chân vịt 04 cánh, bước cố định, chế tạo từ hợp kim đồng, đường kính D=2,08m, tốc độ quay 314 vòng /phút

Hình 2.5: Trang bị chân vịt trên tàu

Trang 23

4 Máy phát điện

Tổ hợp máy phát điện đặt tại góc phải buồng máy để tạo không gian rộng cho buồng máy và tiện cho việc kiểm tra máy chính, có nhiệm vụ cung cấp điện cho các hộ tiêu dùng Nó có các thông số chính sau:

Hiệu máy : YANMAR – 2T75C Công suất : 13 (kW)

Tốc độ quay : 1600 (v/ph) Nơi chế tao : Nhật

2.1.2.2 Trang bị neo, lái, chằng buộc

1 Thiết bị lái

Hệ thống lái gồm:

01 bánh lái bằng thép 2,5cm, bố trí tại sườn số1

Chiều dài 1,9m Chiều rộng 1,54m

Hệ thống truyền động lái: Xích lái ( Cáp lái )

Hệ thống dẫn lái bao gồm: Hình quạt lái, các Puly ngang dẫn cáp lái, các Puly đứng dẫn cáp lái, cáp lái, vô lăng lái

2 Thiết bị neo Thiết bị neo được bố trí hai bên mạn ở mũi tàu, được thể hiện như hình 2.6

Hình 2.6: Trang bị neo và cáp neo trên tàu Neo : Dùng neo Hải Quân

Số lượng 02 cái

Trang 24

Khối lượng 150 kg Cáp :

Số lượng 02 sợi Đường kính cáp ф29 Chiều dài cáp neo 50m Vật liệu làm bằng sợi tổng hợp (PP)

3 Thiết bị chằng buộc Nhiệm vụ của thiết bị chằng buộc là dùng để buộc tàu vào tàu hay tàu vào cầu cảng, vào các cơng trình nổi để giữ cho tàu đứng yên, được bố trí ở hai bên mạn

và giữa tàu ở phía mũi, như hình 2.7

Trên tàu trang bị như sau:

Cọc bích :

Số lượng 05 cái Mỗi mạn 0 2cái, ở giữa mũi 01 cái

Kích thước (20x20) cm

Cọc bích mạn

Cọc bích giữa mũi

Hình 2.7: Trang bị cọc bính trên tàu Dây chằng buộc là dây cáp nilon

Trên tàu các cọc bích, dây chằng buộc tương đối chắc chắn

2.1.2.3 Trang bị an tồn

1 Thiết bị cứu sinh Trên tàu thiết bị cứu sinh được trang bị ở trên tầng 2 của ca bin, gắn ở thành trước và thành sau của ca bin, thể hiện như hình 2.8 và 2.9

Trang 25

Hình 2.8: Trang bị hệ thống phao trên tàu Phao bè: số lượng 01 cái, sức chở 06 người

Hình dạng : hình chữ nhật Chiều dài 1,8m

Chiều rộng 0,8m

Bề dầy phao: 0,2m Phao tròn: số lượng 04 cái

Đường kính phao là 0,65m

Áo phao: Số lượng 10 cái

Hình 2.9: Trang bị hên thống phao trên tàu

2 Phương tín hiệu Phương tiện tín hiệu âm thanh

Còi: 01 cái

Trang 26

Đèn tín hiệu:

Hình 2.10: Trang bị hệ thống đèn trên tàu Đèn ống: Chiều dài 1,2m, ánh sáng trắng, dùng trong quá trình thu, thả lưới và dắt lưới

Đèn tròn: 01 chiếc, góc chiếu 3600, dùng khi neo tàu

Đèn cao áp: 06 chiếc, dùng trong quá trình thu, thả lưới và dắt lưới

3 Trang bị hàng hải

La bàn từ lái 01 cái Máy định vị kết hợp dò cá 02 cái Máy đàm thoại : 03 cái

Hình 2.11: Trang bị máy định vị trên tàu

Trang 27

Hình 2.12: Trang bị la bàn trên tàu

Hình 2.13: Trang bị đàm thoại trên tàu

4 Thiết bị chữa cháy Bơm dùng chung: số lượng 01 bơm

Xô xách nước: 01 chiếc, vị trí để trong buồng máy

Bình bọt: số lượng 02 bình đặt ngay trước cửa kính cabin buồng lái, chỗ gần

vô lăng lái Còn tàu chính thì cất trong hầm đồ Các bình đó được trang bị từ lúc đóng tàu đến giờ, không thay thế, không kiểm tra bảo dưỡng, vỏ bình đã bị han rỉ toàn bộ Chỗ nguy hiểm dễ phát sinh ra cháy nhất như buồng máy thì không đặt, khi hỏi thợ máy thì được biết là khi nào có cháy thì chạy lên buồng lái lấy

Trang 28

2.1.2.4 Thiết bị khai thác ( cẩu, tời, )

1 Thiết bị cẩu

Hình 2.14: Trang bị cẩu trên tàu Vật liệu : Thép ống

Kết cấu : Chữ A Móc cẩu : 02 móc, 01 ròng rọc Dây cẩu: Là dây cáp tổng hợp (PP)

2 Thiết bị tời

Vị trí tời: Được gắn vào bên hông cabin

Hình 2.15: Trang bị tời và tang trên tàu

Trang 29

Trong đó:

1 Động cơ Máy chính 10 Bộ gạt cáp

2 Bánh đà động cơ 11 Dây cáp

3 Ly hợp ma sát 12 Trục vít

4 Khớp nối 13 Phanh băng

5 Hộp giảm tốc sơ cấp 14 Tay gạt ly hợp

6 Trục các đăng 15 Tay quay

7 Hộp giảm tốc thứ cấp 16 Tang ma sát

8 Khớp nối 17 Hộp số cơ cấu gạt cáp

9 Ly hợp vấu 18 Tang thu và chứa cáp Tàu KG1439BTS được bố trí như tàu KG90118TS

2.2 Đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực Kiên Giang

2.2.1 Về mặt định tính

v Sự phù hợp giữa máy vỏ, chân vịt ở từng tàu

- Máy chính và chân vịt lựa chọn cho tàu không qua tính toán mà chỉ áng chừng theo kinh nghiệm nên không đảm bảo sự phù hợp giữa máy - vỏ và chân vịt, đặc biệt là tàu đánh cá lưới kéo thời gian hoạt động chủ yếu ở chế độ kéo lưới nên khi

Hình 2.16: Hệ thống tời trên tàu

Trang 30

chọn máy và chân vịt ở chế độ hàng hải tự do thì khi kéo lưới mức độ không phù hợp sẽ tăng lên, chính vì sự lựa chọn không được qua tính toán nên khả năng phù hợp giữa máy vỏ, chân vịt là rất khó

- Bản thân từng tàu trong cặp kéo đôi đã có sự không phù hợp Máy - vỏ - chân vịt, như vậy thì khi cùng kéo một lưới sẽ xuất hiện tình trạng tải của máy chính trên hai tàu khác nhau

v Sự phù hợp giữa hai tàu khi cùng kéo một lưới

- Do hai tàu có kích thước khác nhau, việc lựa chọn máy chính và chân vịt theo áng chừng nên khi xẩy ra tình trạng ở tàu này máy chính mang tải nặng, còn tàu kia máy chính mang tải nhẹ (do có công suất lớn) Đối với cặp tàu lưới kéo đôi khi cùng kéo một lưới hai tàu luôn có sự liên lạc với nhau nhờ bộ đàm để đảm bảo tàu chạy với cùng tốc độ và hướng di chuyển của tàu khi kéo lưới, trong trường hợp này để máy chính của tàu này không bị quá tải thì cả hai tàu cùng giảm tốc độ Điều này ảnh hưởng đến hoạt động khai thác Chính vì vậy, các chủ tàu thường chọn máy chính

có công suất lớn hơn nhiều, chấp nhận thừa công suất nghĩa là làm việc không kinh

tế, còn hơn là bị quá tải

- Chính sự không phù hợp này dẫn đến sự tăng chi phí nhiên liệu do máy chạy non tải trong quá trình khai thác

C

V D Ne

3 3 /

2

=

Trong đó:

Ne - Công suất định mức của tàu (HP)

D - Lượng chiếm nước (Tấn)

Trang 31

V - Vận tốc tàu chạy ở chế độ tự do (Hl/h) Trên thực tế tàu thường chạy với vận tốc ³ 8(Hl/h), lấy V = 9(Hl/h)

1 3 / 2 1 1

C

V D

2 3 / 2 2 2

C

V D

sự phù hợp máy - vỏ - chân vịt

- Đảo bảo công suất máy chính phát ra không bị quá tải trong quá trình khai thác

- Hiệu suất sử dụng máy cao

- Đảo bảo tốc độ giữa hai tàu khi kéo lưới

Để giải quyết những vấn đề trên ta đi tiến hành thiết kế chọn máy, chân vịt để đảm bảo tính phù hợp

Trang 32

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KỸ THUẬT – THIẾT KẾ

CHỌN MÁY, CHÂN VỊT CHO TỪNG TÀU

TRONG MỖI CẶP

3.1 Giải pháp kỹ thuật

Đối với tàu lưới kéo thì lực cản của lưới lớn hơn rất nhiều so với lực cản vỏ,

mà hai tàu khi kéo lưới luôn phải đảm bảo hai tàu chạy cùng tốc độ và hướng Để đảm bảo được điều này thì công suất của máy ở hai tàu phải đủ lớn trong điều kiện không bị quá tải theo yêu cầu tốc độ kéo lưới Đối với ngư dân làm nghề lưới kéo, ngư dân rất quan tâm đến công suất của tàu để đảm bảo tàu chạy không bị quá tải bởi vì nếu tàu chạy quá tải dẫn đến hư hỏng máy đột ngột trong quá trình khai thác, làm thiệt hại lớn khi phải sửa máy, giảm hiệu quả đánh bắt Chính vì thế khi chọn máy cho tàu ngư dân thường chọn máy có công suât lớn để đảm bảo cho tàu, việc chọn máy không được thông qua tính toán nên nhiều tàu sẽ dư công suất lớn gây ra lãng phí phiên liệu

Trên thực tế hầu hết các cặp tàu lưới kéo đôi ở Kiên Giang đều được ghép hai chiếc tàu lưới kéo đơn với nhau, quá trình lắp ghép hai tàu với nhau thông qua kinh nghiệm chính vì thế rất khó để đảm bảo hai tàu hoạt động thống nhất

Do ngư dân đóng tàu theo kinh nghiệm dân gian và lắp đặt máy chính, chân vịt dựa vào kinh nghiệm nên nhiều tàu có công suất máy nhỏ, lắp đặt chân vịt có đường kính lớn làm cho máy chạy nặng Để đảm bảo những vấn đề ở trên là một điều rất khó đối với ngư dân

Nhằm giải quyết những bất cập trên ta tiến hành tính thiết kế chon máy chính và chân vịt cho các cặp tàu để đảm bảo sự phù hợp giữa Máy chính – Thân tàu – Chân vịt ở chế độ kéo lưới (đó là chế độ hoạt động chính của tàu lưới kéo) ứng với từng tàu

3.2 Dữ kiện và nhiệm vụ tính toán 3.2.1 Thông số cặp tàu

Để thực hiện các tính toán thiết kế chọn máy và chân vịt cho cặp tàu, em chọn cặp tàu có đầy đủ các thông số thân tàu từ hồ sơ hoàn công

Trang 33

Trong quá trình đi khảo sát thực tế em đã tham khảo nhiều cặp tàu khác nhau nhưng do thời gian có hạn em tính toán thiết kế chọn máy cho một cặp tàu Cặp tàu

có các thông số cơ bản ở dưới bảng sau:

Bảng 3.1: Các thông số về kích thước của cặp tàu nghiên cứu

Tàu KG 90118 TS (Tàu cái)

Thông số kỹ thuật tàu

Tàu KG 1439B TS (Tàu đực)

Thông số kỹ thuật tàu Chiều dài lớn nhất Lmax= 21,35m Chiều dài lớn nhất Lmax=18,10m Chiều dài thiết kế Ltk = 18,6m Chiều dài thiết kế Ltk = 15,10m Chiều rộng lớn nhất Bmax = 5,64m Chiều rộng lớn nhất Bmax = 4,70m Chiều rộng thiết kế Btt = 5,02m Chiều rộng thiết kế Btt = 4,12m Chiều cao mạn H = 3,12m Chiều cao mạn H = 2,6m Chiều chìm trung bình T = 2,4m Chiều chìm trung bình T = 2m Lượng chiếm nước D = 145,6tấn Lượng chiếm nước D = 79,1tấn

Hệ số đầy chung d = 0,650 Hệ số đầy chung d = 0,640

Số lượng chân vịt X = 1 Số lượng chân vịt X = 1

Tốc độ hàng hải tự do V ³ 8(Hl/h) Tốc độ hàng hải tự do V ³ 8(Hl/h) Hình thức bảo quản

Tốc độ quay ne =2200(v/p) Tốc độ quay ne =2200(v/p) Thời gian chuyến biển 20(ngày) Thời gian chuyến biển 20(ngày) Khoảng cánh cảng trú-

ngư trường

200(Hl) Khoảng cánh cảng

trú-ngư trường

200(Hl)

Trang 34

ξ : Hệ số lực cản ma sát đối với tàu gỗ ξ = 0.17

V : Vận tốc của tàu (m/s)

L : Chiều dài thiết kế (m)

B : Chiều rộng đường nước thiết kế (m)

δ : Hệ số béo

D : Lượng chiếm nước của tàu(Tấn)

Ω : Diện tích mặt tiếp nước(m2) Tính diện tích mặt tiếp nước(Ω):

Ω = L.[2.T + 1,37.(δ-0,274).B]

Với T là chiều chìm trung bình (m)

Theo kinh nghiệm của “ Trung tâm nghiên cứu tàu cá và thiết bị” trường Đại Học Thuỷ Sản, để đảm bảo độ chính xác khi áp dụng công thức tính sức cản của viện thiết kế tàu Lêningad thì kết quả tìm được tăng thêm một lượng qua hệ số

k = 1,15 Vậy ta có công thức tính sức cản vỏ tàu như sau:

Trang 35

3.2.2.1 Tính sức cản vỏ tàu đối với tàu cái (KG 90118 TS):

6 , 145 6 ,

RC = 1,15.[0,17.135,1.V1,825 +1,45(24 -

02 , 5

6 , 18

).0,6325/2 2

6 , 18

05 , 142

.V4]

RC = 26,412.V1,825 + 4,532.V4

Từ đó ta có sức cản của tàu theo bảng 3.2:

Trang 36

Bảng 3.2: Bảng tính sức cản vỏ tàu KG 90118 TS (tàu cái)

V (Hl/h) (m/s)

26,412.V1,825 (kG)

4,532.V4(kG)

RC (kG)

Trang 37

R (k G )

Hình 3.1: Đồ thị sức cản vỏ tàu KG90118TS (tàu cái)

V = 1 ¸12 (Hl/h) vận tốc tàu

L = 15,10(m)

B = 4,12(m)

δ = 0,62

Ngày đăng: 31/08/2014, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thống kê số lượng tàu thuyền toàn tỉnh Kiên Giang theo các nghề (tính đến ngày 31/12/2005) - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Bảng 1.1 Thống kê số lượng tàu thuyền toàn tỉnh Kiên Giang theo các nghề (tính đến ngày 31/12/2005) (Trang 7)
Hình 1.1 : Biểu đồ phần trăm s ố lượng tàu thuy ền nghề lưới kéo tỉnh Kiên Giang  Trong đó: - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 1.1 Biểu đồ phần trăm s ố lượng tàu thuy ền nghề lưới kéo tỉnh Kiên Giang Trong đó: (Trang 8)
Bảng 1.2: Bảng thống kê các cặp tàu lưới kéođôiở Kiên Giang - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Bảng 1.2 Bảng thống kê các cặp tàu lưới kéođôiở Kiên Giang (Trang 11)
Bảng 1.3: Bảng thống kê các cặp tàu lưới kéođôiở Kiên giang - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Bảng 1.3 Bảng thống kê các cặp tàu lưới kéođôiở Kiên giang (Trang 12)
Hình 1.2: Sự biến động tàu lưới kéo trên 321HP của toàn tỉnh  qua các năm (2001-31/12/2005) - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 1.2 Sự biến động tàu lưới kéo trên 321HP của toàn tỉnh qua các năm (2001-31/12/2005) (Trang 14)
Bảng 1.4: Số lượng tàu thuyền nghề cá công suất trên 321HP toàn tỉnh qua các  năm(2001-31/12/2005) - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Bảng 1.4 Số lượng tàu thuyền nghề cá công suất trên 321HP toàn tỉnh qua các năm(2001-31/12/2005) (Trang 14)
Hình 2.2: Sự biến đổi công suất trung bình tàu cá toàn tỉnh  qua các năm(2000-31/12/2005) - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.2 Sự biến đổi công suất trung bình tàu cá toàn tỉnh qua các năm(2000-31/12/2005) (Trang 18)
Bảng 2.2: Các thông số về kích thước của cặp tàu nghiên cứu. - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Bảng 2.2 Các thông số về kích thước của cặp tàu nghiên cứu (Trang 19)
Hình 2.4: Bố trí chung trên tàu:KG90118TS - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.4 Bố trí chung trên tàu:KG90118TS (Trang 20)
Hình 2.5: Bố trí máy chính trên tàu  Trên thực tế những tàu đóng mới đều lắp đặt máy cũ - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.5 Bố trí máy chính trên tàu Trên thực tế những tàu đóng mới đều lắp đặt máy cũ (Trang 22)
Hình 2.8: Trang bị hệ thống phao trên tàu  Phao bè: số lượng 01 cái, sức chở 06 người - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.8 Trang bị hệ thống phao trên tàu Phao bè: số lượng 01 cái, sức chở 06 người (Trang 25)
Hình 2.9: Trang bị hên thống phao trên tàu  2. Phương tín hiệu - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.9 Trang bị hên thống phao trên tàu 2. Phương tín hiệu (Trang 25)
Hình 2.10: Trang bị hệ thống đèn trên tàu - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.10 Trang bị hệ thống đèn trên tàu (Trang 26)
Hình 2.11: Trang bị máy định vị trên tàu - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.11 Trang bị máy định vị trên tàu (Trang 26)
Hình 2.15: Trang bị tời và tang trên tàu - thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực kiên giang
Hình 2.15 Trang bị tời và tang trên tàu (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w