1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên

63 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để nghề nuôi tôm hùm phát triển ổn định, trước mắt vấn đề cần được giải quyết là cải tiến lồng nuôi, tìm ra loại vật liệu phù hợp để thiết kế khung lồng đáp ứng được yêu cầu t

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ở Việt Nam, phong trào nuôi tôm hùm bắt đầu được định hình vào năm 1992 khi các kết quả nghiên cứu về nuôi nâng cấp tôm hùm từ nguồn giống tự nhiên của các nhà khoa học được công bố Dọc ven biển Miền Trung, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa đã có những bước tiến đáng kể trong nghề nuôi tôm hùm bằng lồng và lồng cố định Từ khoảng 400 lồng nuôi năm 1992, đến năm 2000 đã có trên 15.000 lồng nuôi với mật độ từ 100 đến 200 con/lồng và sản lượng đạt khoảng 200-250 tấn/năm

Song song với sự phát triển mạnh mẽ đó, đã có nhiều vấn đề gây bức xúc đặt

ra như cải tiến khung lồng nuôi tôm, lắp đặt hệ thống thiết bị quan sát, thiết bị cơ giới hóa đảm bảo an toàn cho tôm đồng thời giảm công sức cho ngư dân, thiết bị xử

lý chất thải tránh ô nhiễm nền đáy, quy hoạch vùng nuôi và nghiên cứu thức ăn công nghiệp phù hợp với tôm hùm, và xa hơn nữa là tập trung nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo

Tuy nhiên, để nghề nuôi tôm hùm phát triển ổn định, trước mắt vấn đề cần được giải quyết là cải tiến lồng nuôi, tìm ra loại vật liệu phù hợp để thiết kế khung lồng đáp ứng được yêu cầu thực tế: Chịu được môi trường biển, sử dụng trong thời gian dài, giá thành rẻ, lắp đặt được các thiết bị phụ trợ đảm bảo cho nghề nuôi tôm hùm lồng đi vào ổn định và trở thành một trong những ngành mũi nhọn của cả nước

Do vậy, tôi đã chọn đề tài: “Thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện Sông Cầu - Phú Yên”

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài bản thân đã có nhiều cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu nhưng thời gian và kiến thức còn hạn chế, do đó chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp bổ sung, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, các bạn sinh viên để nội dung đề tài được hoàn chỉnh và có sức thuyết phục hơn

Trang 2

Qua đây, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến quí thầy cô Trường Đại học Thủy Sản, Phòng Kinh Tế huyện Sông Cầu, Trung tâm nghiên cứu chế tạo tàu cá và thiết

bị, đặc biệt là ThS Phạm Thanh Nhựt đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Nha Trang, ngày 04 tháng 06 năm 2006 Sinh viên thực hiện:

Bùi Văn Tuyên

Trang 3

CHƯƠNG 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1.Qúa trình phát triển nghề nuôi tôm hùm ở huyện Sông Cầu-Phú Yên 1.1.1.Đặc điểm tự nhiên-điều kiện kinh tế xã hội huyện Sông Cầu

1.1.1.1.Khái quát đặc điểm tự nhiên huyện Sông Cầu

Sông Cầu là huyện nằm ở cực bắc của tỉnh Phú Yên có vị trí địa lý ở vĩ độ bắc từ

13020’-13040’ và kinh độ đông từ 109005’-109020’ Được thiên nhiên ưu đãi với hơn 80 km bờ biển, địa hình có nhiều dãy núi ăn sâu

ra biển đông, tạo nên nhiều vùng vịnh kín gió nên sinh vật biển ở đây phát triển khá phong phú về chủng loại và số lượng Đầm Cù Mông có diện tích 2.655 ha chạy dọc ven biển từ Bắc vào Nam kéo dài 17 km và vịnh Xuân Đài có diện tích 13.000 ha, là nơi sinh sống của rất nhiều loại hải đặc sản có giá trị kinh tế cao như tôm sú, tôm hùm, cá mú, ốc nhảy, cua, ghẹ,…

Huyện Sông Cầu bao gồm có 10/11 xã, thị trấn nằm ven biển, trong đó có 6 xã nằm ven đầm Cù Mông (Xuân Đài, Xuân Hòa, Xuân Lộc, Xuân Bình, Xuân Cảnh, Xuân Thịnh) và 4 xã, thị trấn nằm ven vịnh Xuân Đài (Xuân Phương, thị trấn Sông Cầu, Xuân Thọ 1 và Xuân Thọ 2) Đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn vì phụ thuộc vào nền nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp

1.1.1.2.Điều kiện kinh tế-xã hội huyện Sông Cầu

Kinh tế-xã hội huyện Sông Cầu từ những năm 1990 chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh múm với diện tích sản xuất đất nông nghiệp rất ít và vẫn chủ yếu phát triển nghề khai thác thủy sản ven bờ, phương tiện tàu thuyền có công suất nhỏ Việc chuyển dịch ngành nghề từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản, từ khai thác thủy sản sang nuôi trồng thủy sản được các ngành, các cấp đặt lên hàng đầu Xuất phát từ đặc điểm kinh tế-xã hội như vậy, ngay từ những năm 1990 trong cơ cấu kinh tế của huyện Sông Cầu đã xác định “Kinh tế thủy sản mà trong đó đặc biệt

là nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện với đối tượng nuôi chính là tôm sú Từ năm 1990 với khoảng vài chục ha ao, đìa tôm sú, đến năm 2000

Trang 4

Hình 1.1 BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NĂM 2003

HUYỆN SÔNG CẦU-TỈNH PHÚ YÊN

Trang 5

diện tích ao, đìa nuôi tôm sú tăng lên 750 ha (hình 1.1) Tuy nhiên, nghề nuôi tôm

sú gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh xảy ra thường xuyên đã làm cho nuôi trồng

ở một số xã như Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Thọ 1…gần như xóa trắng, nhiều

hộ nuôi thất bát hoặc bỏ đìa hoang hoặc chuyển sang nuôi một số đối tượng khác trong đó có tôm hùm

1.1.2.Quá trình phát triển nghề nuôi tôm hùm ở huyện Sông Cầu-Phú Yên 1.1.2.1.Quá trình hình thành nghề nuôi tôm hùm

Từ những năm 1988-1990, nghề nuôi tôm hùm khởi đầu rất tình cờ do một

số ngư dân ở thôn Hòa Lợi (xã Xuân Cảnh) khi đi đánh bắt hải sản thu được những con tôm hùm nhỏ Lúc này do giá trị loại tôm hùm nhỏ không cao nên những ngư dân ở đây nhốt lại trong những lồng làm bằng tre, nứa và qua một thời gian những con tôm này không những không chết mà còn lột xác, sinh trưởng được

Từ năm 1992, toàn huyện chỉ có vỏn vẹn vài chục lồng nhỏ, vật liệu làm đơn giản như tre, gỗ thì đến năm 1999 đã có 3.500 lồng và năm 2000 là 7.500 lồng với vật liệu làm lồng bằng sắt được hàn thành khung bọc lưới và thả nuôi sát đáy Giai đoạn này do nghề nuôi tôm hùm lồng còn đơn giản và thời gian nuôi dài (18 tháng) nên vào mùa mưa lũ việc di chuyển lông ra khỏi những vùng bị ảnh hưởng bởi nước ngọt là rất khó khăn Mặt khác, lúc này kỹ thuật nuôi chưa cao đã làm tăng mức độ

ô nhiễm ở các vùng nuôi tập trung trọng điểm như Hòa Lợi, Phú Dương, Vịnh Hòa, Vũng Chào, Vũng La, Phú Mỹ, Phước Lý,…

Năm 2000 bệnh tôm hùm đã phát sinh ở các vùng nuôi tập trung làm năng suất giảm đi rất lớn từ 30-40% dẫn đến hiệu quả nuôi tôm hùm giảm đi rõ rệt Quá trình phát triển nghề nuôi trồng thủy sản của huyện được thể hiện ở bảng 1.1

Trang 6

Bảng 1.1: Quá trình phát triển nghề nuôi trồng Thủy sản qua các năm từ 2000 đến 2004

Hạng mục ĐVT 2000 Năm Năm 2001 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm

Hình 1.2 Quang cảnh vùng nuôi tôm

1.1.2.2.Định hướng phát triển

Theo định hướng phát triển Kinh tế-Xã hội chung của huyện thì nghề nuôi thủy sản được phát triển theo hướng:

Trang 7

Hình 1.3.BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020

HUYỆN SÔNG CẦU-TỈNH PHÚ YÊN

Trang 8

+ Ổn định và bền vững, đa dạng hóa vật nuôi, khai thác hợp lý và tối đa theo quy hoạch mặt nước đầm Cù Mông và vịnh Xuân Đài đưa vào nuôi tôm hùm, rong sụn,

cá mú, vẹm xanh,…

+ Đẩy mạnh công tác khuyến nông về nuôi trồng thủy sản theo công nghệ mới như: nuôi tôm trên cát, nuôi kết hợp với vẹm xanh, công nghệ sinh học, xử lý nước sạch + Chuyển mạnh nuôi trồng thủy sản theo hướng luân canh, xen canh phù hợp với từng đối tượng nuôi nhằm tạo ra sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường và phát triển nuôi trồng bền vững

1.1.2.3.Hình thức nuôi trồng

Trên địa bàn huyện Sông Cầu hiện nay nuôi tôm theo hình thức bán thâm canh và quảng canh cải tiến Theo xu hướng chung và đặc điểm riêng của huyện Sông Cầu,

dự kiến từng giai đoạn phát triển nuôi trồng như sau:

Giai đọan 2005-2010: 15% diện tích nuôi tôm công nghiệp, 70% diện tích nuôi bán thâm canh, 15% nuôi quảng canh cải tiến

Giai đoạn 2010-2015: 20% diện tích nuôi công nghiệp, 50% diện tích nuôi tôm thâm canh và 30% diện tích nuôi bán thâm canh

Giai đoạn 2015-2020: 20% nuôi công nghiệp và 80% nuôi thâm canh

1.1.3.Ảnh hưởng của nghành nuôi tôm hùm đến tình hình Kinh tế-Chính trị của địa phương

1.1.3.1.Kết quả phát triển ngành Kinh tế nuôi tôm hùm ở Sông Cầu giai đoạn 2000-2005

1.Về số lượng lồng, bè

Năm 2000 toàn huyện có 7.500 lồng với hình thức nuôi đơn giản (nuôi lồng sát đáy) thì đến năm 2005 toàn huyện đã có 15.000 lồng, bè với hình thức nuôi chuyển dần sang nuôi bè nổi (trên 500 bè tương ứng 5000 lồng) Số lồng tăng hơn 200% trong 5 năm Nghề nuôi tôm hùm ở huyện Sông Cầu phát triển rất mạnh, trình độ kỹ thuật của người nuôi được nâng cao, mật độ nuôi phù hợp 50-70 con/lồng (12 m3) Nhiều hộ sử dụng hình thức nuôi bè, dễ dàng di chuyển và chăm sóc vệ sinh môi trường lồng nuôi

Trang 9

Người nuôi tôm hùm ở huyện Sông Cầu phân làm hai nhóm:

Nhóm nuôi tôm hùm ươm: Thời gian ươm từ 4-5 tháng, từ tháng 11 dương lịch đến tháng 4 năm sau Mỗi năm người ươm nuôi tôm hùm mua giống từ những người khai thác ở những vùng biển Sông Cầu, Bình Định, Quảng Ngãi…về ươm nuôi và cung cấp cho người nuôi tôm hùm thương phẩm

Nhóm nuôi tôm hùm thương phẩm: Thời gian nuôi 12 tháng

2.Về sản lượng thu hoạch

Năm 2000 sản lượng tôm hùm thương phẩm chỉ đạt 102 tấn, năm 2001 đạt 150 tấn, năm 2002 đạt 160 tấn, năm 2003 đạt 375 tấn, năm 2004 đạt 600 tấn Đến năm

2005, sản lượng tôm hùm đạt 725 tấn Sản lượng tăng trưởng 710% trong vòng 5 năm

Hàng năm người nuôi tôm hùm đã ươm trên 1 triệu con giống tôm hùm để cung cấp cho người nuôi tôm hùm thương phẩm và xuất bán cho các địa phương bạn Năm 2000-2002 ươm số lượng 800.000 con/năm; năm 2003 ươm 1.000.000 con và năm 2004-2005 ươm số lượng 1.200.000 con/năm Số lượng tôm ươm hàng năm có 65% được cung cấp trực tiếp cho nghề nuôi tôm hùm huyện và khỏang 35% cung cấp cho các địa phương bạn

3.Về hiệu qủa Kinh tế-Xã hội

Từ năm 2000, số hộ tham gia nuôi tôm hùm khoảng 2.500 hộ đến năm 2005 tăng lên 5.000 hộ nuôi tôm hùm và giải quyết việc làm cho hơn 15.000 lao động

Năm 2000 chỉ có khoảng 70% số hộ nuôi có lãi thì đến năm 2005 trên 95% số hộ nuôi có lãi Đa số hộ đã thoát nghèo và khoảng 10% số hộ trở nên giàu có, thành những tỷ phú vùng quê

Những thôn ven biển như Hòa Hiệp, Phú Dương, Vịnh Hòa, Từ Nham (xã Xuân Thịnh); Phú Mỹ, Dân Phú 1, Dân Phú 2 (xã Xuân Phương); Hòa Lợi (xã Xuân Cảnh); Mỹ Thành (Xuân Thọ 1)…trước đây vốn rất nghèo với kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh bắt nhỏ ven đầm thì nay nhờ nghề nuôi tôm hùm đã thực sự thoát ra khỏi cảnh đói, nghèo và nay trở thành những vùng sầm uất, buôn bán tấp

Trang 10

nập Rất nhiều hộ đã vươn lên làm giàu, trở thành tỷ phú như hộ Trần Văn Tới, Nguyễn Văn Danh, Nguyễn Văn Hổ…

Trong bối cảnh nghề nuôi tôm sú ao, đìa gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nghề nuôi tôm hùm huyện Sông Cầu đã có những bước phát triển ổn định, phát huy được tiềm năng và lợi thế sẵn có ở địa phương và góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu của một bộ phận người dân sống ven biển

1.1.3.2.Đánh giá những hoạt động của nghề nuôi tôm hùm giai đoạn 2000-2005

Để có được kết quả như ngày nay, tập thể cán bộ và nhân dân huyện Sông Cầu đã

ra sức khắc phục khó khăn, vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phát huy được các tiềm năng, lợi thế của địa phương và đặc biệt có được

sự quan tâm tạo điều kiện của các ban ngành của tỉnh, trực tiếp là Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Thủy sản Phú Yên

Trong giai đoạn từ năm 2000-2005, kinh tế mũi nhọn là nuôi trồng Thủy sản có

sự tăng trưởng mạnh, giá trị sản suất hàng năm tăng 16,2% và chiếm 34,3% trong tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế, trong đó nghề nuôi tôm hùm lồng đã đóng góp với tỷ trọng cao

Năm 2000, tổng giá trị sản phẩm tôm hùm là 30 tỷ, đóng góp 15% tổng giá trị sản phẩm toàn huyện Năm 2001 đạt 50 tỷ và tỷ lệ tương ứng 15,8% Năm 2002 là

64 tỷ và tỷ lệ là 15,9% Năm 2003 là 150 tỷ và tỷ lệ 33% Năm 2004 là 240 tỷ và tỷ

lệ là 46%

Riêng trong năm 2005, tổng giá trị sản phẩm tôm hùm ước đạt trên 280 tỷ đồng, đóng góp 48,6% tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn toàn huyện (GDP 2005 toàn huyện ước đạt 575 tỷ đồng)

Huyện Sông Cầu có 8/11 xã, thị trấn có nghề nuôi tôm hùm Nghề nuôi tôm hùm

đã tham gia giải quyết công ăn, việc làm đáng kể cho người lao động trong cơ cấu ngành kinh tế của địa phương Tổng số lao động trong độ tuổi lao động của toàn huyện hiện nay là 50.800 lao động, trong đó về nông-lâm-ngư là 32.800 lao động, riêng số lao động tham gia trong nghề nuôi tôm hùm ước trên 15.000 lao động (chiếm 30% lao động toàn huyện)

Trang 11

Nghề nuôi tôm hùm cũng góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo của huyện Số hộ nghèo năm 2001 là 2.826 hộ chiếm tỷ lệ 16,1%, năm 2004 số hộ nghèo giảm còn 1.150 hộ chiếm tỷ lệ 5,66% và ước năm 2005 số hộ nghèo giảm còn 756 hộ chiếm tỷ lệ 3,8%

Đối với những xã, thị trấn có nghề nuôi tôm hùm, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt trong giai đoạn 2000-2005, chỉ tính riêng xã Xuân Thịnh với 4 thôn của xã đều nuôi tôm hùm, năm 2001 có 130 hộ nghèo thì đến năm 2005 chỉ còn 60 hộ; xã Xuân Phương có 4/5 thôn nuôi tôm hùm, số hộ nghèo năm 2001 có 266 hộ đến năm 2005 chỉ còn 70 hộ; xã Xuân Cảnh năm 2001có 200 hộ nghèo đến năm 2005 còn khoảng

40 hộ nghèo,…

Hàng năm huyện Sông Cầu đã tạo điều kiện thuận lợi và đón tiếp nhiều địa phương đến thăm quan học tập nuôi tôm hùm như Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Ninh, Long An, Kiên Giang,…

Trang 12

- Giá trị sản xuất nông nghiệp Tr đồng 48.941 52.003 55.284 65.097 67.263 60.394 4,3 + Trồng trọt “ 29.513 29.730 29.522 41.988 43.385 39.050 5,8 + Chăn nuôi “ 19.428 22.273 25.762 23.109 23.878 21.344 1,9

- Giá trị sản xuất lâm nghiệp Tr đồng 1.900 3.759 3.351 5.299 8.260 7.321 31 + Trồng và ch.sóc rừng “ 1.900 2.297 3.351 4.626 7.855 7.003 29,8 + Khai thác gỗ và lâm sản “ - 1.462 - 673 405 318 -

Trang 14

Bảng 1.3: Dự kiến phát triển Thủy Sản huyện Sông Cầu năm 2006

Chính thức Ước tính % so cùng kỳ Đơn vị

tính Tháng

02/06 Từ đầu

năm đến cuối tháng 02/06

Thán

g 03/06

Từ đầu năm đến cuối tháng 03/06

Ước thực hiện năm

06

Tháng 03/06 Cùng kỳ

d Nuôi tôm thẻ chân trắng

e Nuôi thủy sản khác (R câu) Trong đó: Rong câu sụn

f Nuôi vẹm xanh

v Diện tích thu hoạch cá mú

v Diện tích thu hoạch tôm sú

v Diện tích thu hoạch ốc hương

v D.T thu hoạch tôm thẻ chân trắng

v Diện tích thu hoạch thủy sản khác

Trong đó: Rong câu sụn

v Diện tích mất trắng

2 Nuôi bằng lồng bè

v Nuôi cá mú lồng, bè Trong đó: CTTNHH Đài Loan

v Nuôi ốc hương (chắn, lồng)

v Nuôi tôm hùm thịt

v Nuôi tôm hùm ươm

v Thu hoạch tôm hùm thịt

v Thủy sản khác (R câu) Trong đó rong (câu sụn)

Tr.con

1000c Tấn Tấn Tấn Tấn

Tấn

Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn

-

-

-

- 1.000

100

-

20

- 1.300 1.130

-

-

-

- 3.000

100

-

40 50,46 2.300 1.550

51

1

- 1.000

51

1

- 1.000 3.500

200

-

80 50,46 3.900 2.941

-

- 2,1L 2,4L

102

-

- 166,7

- 33,3

- 2L

- 106,7

107

-

104 11,3

-

- 33,3

- 91,2

102

-

- 166,7 8,8L 33,3L

- 266,7

- 105,4

105

- 106,2 11,8

-

- 33,3

Trang 15

1.2 Mục tiêu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Hiện nay, trên địa bàn Tỉnh Phú Yên nói riêng và các tỉnh ven biển nói chung,

nghề nuôi tôm hùm đang gặp rất nhiều khó khăn do môi trường bị ô nhiễm làm cho dịch bệnh tôm thường xuyên xuất hiện Một trong những nguyên nhân làm cho môi trường bị ô nhiễm đó là do chất thải của tôm Do lồng nuôi không có thiết bị xử lý chất thải, vì vậy vấn đề cấp bách hiện nay đối với nghề nuôi tôm hùm lồng là phải thiết kế kiểu lồng không những có khả năng xử lý chất thải của tôm mà khung lồng còn có thể sử dụng được trong thời gian dài, chịu được trong môi trường nước biển

mà không bị ô xy hóa

Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó Tôi được trường Đại học Thủy sản giao cho

thực hiện đề tài: “Thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện Sông Cầu-Phú Yên” Song song với đề tài này cũng đang có một đề tài khác nghiên cứu

về xử lý chất thải trên lồng nuôi tôm hùm và do thời gian hạn chế nên tôi chỉ thiết

kế sơ bộ khung lồng nuôi tôm hùm

Trang 16

CHƯƠNG 2 YÊU CẦU KINH TẾ-KỸ THUẬT VỚI LỒNG NUÔI TÔM

2.1.Yêu cầu về mật độ tôm/lồng, số lượng lồng 2.1.1.Về mật độ tôm/lồng

Sông Cầu có bờ biển dài, đặc biệt là đầm Cù Mông và vịnh Xuân Đài, có diện

tích, tiềm năng rất lớn để nuôi trồng thủy sản Quy mô khai thác có hiệu quả cả về kinh tế và bảo vệ môi trường.Tuy nhiên, mấy năm gần đây kỹ thuật nuôi tôm trên cát, nuôi cá lồng, nuôi tôm hùm, nuôi vẹm xanh, rong sụn phát triển mạnh, diện tích này dự kiến khả năng mở rộng được khoảng 700 ha ở khu vực đầm và các vũng vịnh, như khu vực Vũng La, Vũng Chào,…

Như đã viết ở chương 1 và qua thời gian thực tập tại huyện Sông Cầu, tôi đã tìm hiểu được kinh nghiệm của những người nuôi tôm đạt được năng suất cao trong huyện Để đảm bảo cho tôm phát triển tốt, thu được hiệu quả kinh tế cao thì tùy theo tháng tuổi và kích thước của tôm để chọn kích thước lồng, kích thước mắt lưới cho phù hợp và thả với mật độ tôm/lồng theo kinh nghiệm thực tế để thu được hiệu quả kinh tế cao Cụ thể như sau:

- Đối với tôm từ 2,5-6 tháng tuổi, mật độ nuôi khoảng 180- 200 con/lồng ứng với lồng có kích thước:1,5´1,5´0,8 m

- Đối với tôm từ 6-8 tháng tuổi, mật độ nuôi khoảng 80-100 con/lồng ứng với lồng có kích thước: 2´2´1 m

- Đối với tôm từ 8-12 tháng tuổi, mật độ nuôi khoảng 50-60 con/lồng ứng với lồng có kích thước: 3´3´1,6 m

2.1.2.Về số lượng lồng Hiện nay, số lồng nuôi tôm hùm là khá lớn, tốc độ phát triển các lồng nuôi tôm

hùm rất nhanh, tuy nhiên chỉ tập trung ở một số khu vực trong vịnh Xuân Đài nên mật độ nuôi khá cao, đồng thời với hình thức nuôi đơn giản là chủ yếu

Theo thống kê của phòng Kinh tế huyện Sông Cầu,năm 2005 số lồng tôm hùm ươm là 12.160 lồng, lồng nuôi tôm thịt là 12.310 lồng, bè nuôi tôm thịt là 201 bè Khu vực dự phòng có thể thả nuôi được 1.000 lồng và 40 bè

Trang 17

Yêu cầu của huyện đặt ra là: Quy hoạch, phân chia vùng nuôi theo các ô, điều chỉnh lại khoảng cách giữa các lồng nuôi để thuận tiện cho việc vận chuyển và xử lý

ô nhiễm môi trường, trong thời gian tới huyện sẽ mở rộng vùng nuôi ra các vũng khác như: Vũng Chùa, Vũng Sứ, Vũng La, Vũng Me, Vũng Mô, Vũng Quan Như vậy, trong những năm tới số lượng lồng nuôi tôm sẽ tăng lên rất nhiều

2.2.Yêu cầu về quy cách cho ăn, theo dõi, thả, thu 2.2.1.Quy cách cho ăn

Sau khoảng 4 tháng ương, thường tôm con đạt tới 30-50 g/con Chọn những con tôm khỏe, phát triển cân đối và có kích cỡ đều nhau đưa vào các lồng nuôi với mật

độ khoảng 5-7 con/m3 lồng nuôi

Thức ăn cho tôm là thức ăn tươi sống gồm các loại tôm, cua, cá hoặc con sút, sò, ngao, sao biển,…Lượng thức ăn cho tôm nên xác định dựa vào loại thức ăn, được tính theo những phần mà tôm có thể ăn được, ví dụ như vỏ sò là phần tôm không thể ăn được, mà tôm chỉ ăn được thịt sò, do đó lượng thức ăn cho tôm ăn hàng ngày khoảng 15-17% khối lượng tôm Định kỳ 3 tháng nên kiểm tra tôm một lần để điều chỉnh lượng thức ăn

Hình 2.1 Thức ăn cho tôm

Trang 18

Qua tìm hiểu về cách cho tôm hùm thương phẩm ăn thì hầu hết các hộ nuôi ở đây đều cho ăn hai lần/ngày vào buổi sáng và chiều Đối với tôm cỡ nhỏ từ 100-200 g/con thì khi cho ăn thức ăn được băm nhỏ, đối với tôm cỡ 300-500 g/con trở lên thì cho ăn nguyên con không cần băm nhỏ

Trước khi cho ăn người ta lặn xuống để kiểm tra thức ăn thừa hay thiếu vào buổi sáng sớm hôm sau trước khi cho ăn thức ăn mới Nếu thiếu thì tăng thức ăn, thừa giảm lại Đồng thời kiểm tra xung quanh lồng nếu thấy lưới bị hư hỏng thì phải nhấc lồng lên để vá lại ngay tránh thất thoát tôm

Thức ăn được bỏ vào trong ống, sau đó dùng xô múc nước dội vào trong ống để thức ăn trôi xuống lồng, lượng thức ăn này được điều chỉnh khi kiểm tra để tránh thức ăn dư thừa gây ô nhiễm môi trường

Vì hầu hết thức ăn cho tôm phải được băm ra cho nên yêu cầu đặt ra hiện nay là phải có máy móc thiết bị băm thức ăn cho tôm để giảm bớt sức lao động của con người hoặc có thể chế tạo hẳn loại thức ăn công nghiệp để thay thế thức ăn tươi sống

2.2.2.Theo dõi

Hàng ngày nên kiểm tra, theo dõi tình trạng sức khỏe của tôm, kiểm tra hoạt động, bắt mồi, lột xác của tôm Thường xuyên dọn sạch đáy lồng, chà rong tảo bám quanh lồng để lồng thông thoáng Đặc biệt là theo dõi lượng thức ăn trong lồng trong quá trình cho ăn và sau khi tôm ăn xong Tất cả việc theo dõi kiểm tra đều được thực hiện bằng cách người nuôi dùng loại kính lặn thô sơ để lặn xuống quan sát nên sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ và có thể gây nguy hiểm Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần nghiên cứu bố trí thiết bị quan sát mọi sự việc diễn ra hàng ngày trong lồng và truyền tín hiệu bằng hình ảnh lên trên để tiện theo dõi, kiểm tra

2.2.3.Xu hướng thả và bố trí lồng nuôi

Từ những năm 1990 bắt đầu nghề nuôi tôm hùm với hình thức đơn giản như làm

rộng, chắn đăng nuôi trực tiếp trên đầm

Đến nay đã hình thành nhiều hình thức nuôi phong phú, từ nuôi ở sát bờ chuyển sang nuôi ở mực nước có độ sâu trên 3m Người nuôi tôm hùm ở huyện Sông Cầu

Trang 19

rất chịu khó học hỏi những tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng, cải tiến nghề nuôi của mình Từ năm 2000 trở về trước hầu như rất ít mô hình nuôi tôm hùm bằng bè nổi Tuy nhiên đến năm 2005 số lượng bè tăng 500 bè nuôi tôm hùm tương đương

5000 lồng, chiếm hơn 30% số lồng hiện có Việc chuyển hình thức từ nuôi thả lồng sát đáy sang nuôi bè nổi tạo điều kiện cho người nuôi dễ dàng trong quá trình chăm sóc, cho ăn và vệ sinh lồng nuôi hoặc dễ dàng di chuyển lồng, bè khi vào mùa mưa bão Đồng thời cải tạo môi trường nuôi, bảo đảm sự phát triển ổn định Với phương pháp nuôi này, sản lượng, năng suất nuôi tôm hùm của những hộ nuôi bè đã tăng

lên đáng kể

Diện tích để thả lồng, bè còn nhiều lãng phí chỉ đạt khoảng 4.000-6.000 lồng trong tổng diện tích 96,0 ha Việc bố trí lồng, bè trong khu vực chưa hợp lý, khoảng cách thả lồng chưa đồng nhất, không tuân thủ một quy tắc sắp xếp nhất định Có nơi thả lồng cách lồng 3-4 m, có nơi thả lồng cách lồng 20-35 m

Khoảng cách giữa lồng với lồng được thiết kế 7m như vậy với một lồng có kích thước chuẩn 3´3´1,6m thì trung bình 50 m2 mặt nước đặt một lồng Vị trí đặt lồng

sẽ được luân chuyển sau mỗi vụ nuôi nhằm hạn chế sự ô nhiễm nền đáy

2.2.4.Thu hoạch Đối với nuôi tôm hùm thương phẩm, nếu ươm từ con giống trắng hồng để đạt cỡ

1kg/con thì mất khoảng 18-20 tháng mới thu hoạch được, nếu nuôi từ tôm có trọng lượng 100-200g/con trở lên (lúc này tôm có sắc đen) thì mất khoảng 12 tháng Sau một thời gian nuôi khi con tôm đạt cỡ 700 g/con trở lên ta có thể tiến hành thu tỉa những con có trọng lượng lớn, vỏ cứng không mang trứng, khỏe mạnh Tuy nhiên thời điểm thu hoạch tùy thuộc vào nhu cầu thị trường, điều kiện kinh tế từng

hộ nuôi, giá trị thương phẩm để quyết định thu tỉa hay thu toàn bộ Qua tìm hiểu thì hầu hết các hộ nuôi ở đây đều tiến hành thu tỉa và thu trước mùa mưa để tránh sự hao hụt do độ mặn giảm xuống đột ngột trong những ngày mưa lớn và tránh sóng gió lớn

Tiến hành thu hoạch bằng cách: Đối với lồng treo bè thì nhấc lồng lên sau đó người chui vào lồng qua cửa lồng để chọn bắt từng con một cho vào vợt, còn bè

Trang 20

nuôi thì lặn xuống dùng vợt bắt từng con cho vào rọ hay vào thùng nhựa sau đó đưa đến nơi tiêu thụ Ở đây hầu hết vận chuyển tôm bằng xe ô tô và phương pháp vận chuyển hở có sục khí ôxy Thị trường tiêu thụ tôm thương phẩm thường là: Nha Trang, Tuy Hòa, TP Hồ Chí Minh, Phan Rang, Trung Quốc,…

Có thể thu hoạch toàn bộ tôm nuôi hoặc thu hoạch một phần tôm nuôi Thu hoạch toàn bộ thường được áp dụng khi kích cỡ tôm đồng đều và giá thu mua tôm cao hoặc sắp tới mùa mua bão lớn Thu hoạch một phần khi kích cỡ tôm không đồng đều Dùng vợt chọn bắt tôm lớn, để lại những con tôm nhỏ hoặc tôm sắp lột

vỏ hay vừa mới lột vỏ để nuôi tiếp

2.3.Yêu cầu về vật liệu chế tạo lồng và bố trí kết cấu

Từ năm 1992, toàn huyện chỉ có vỏn vẹn vài chục lồng nhỏ, vật liệu làm đơn

giản như tre, gỗ thì đến năm 1999 đã có 3.500 lồng và năm 2000 là 7.500 lồng với vật liệu làm lồng bằng sắt được hàn thành khung bọc lưới và thả nuôi sát đáy Giai đoạn này do nghề nuôi tôm hùm lồng còn đơn giản và thời gian nuôi dài (18 tháng) nên vào mùa mưa lũ việc di chuyển lồng ra khỏi những vùng bị ảnh hưởng bởi nước ngọt là rất khó khăn Mặt khác, lúc này kỹ thuật nuôi chưa cao đã làm tăng mức độ

ô nhiễm ở các vùng nuôi tập trung trọng điểm như Hòa Lợi, Phú Dương, Vịnh Hòa, Vũng Chào, Vũng La, Phú Mỹ, Phước Lý,…

Ngày nay, để phù hợp cho sự phát triển của tôm cũng như nghề nuôi tôm, người

ta chế tạo lồng có nắp để thuận lợi khi vệ sinh và thu hoạch, lồng có gắn ống nhựa

để thả thức ăn cho tôm, đường kính ống từ 100-150 mm tùy thuộc vào kích thước lồng và trọng lượng tôm Khung lồng được làm từ các thanh thép có đường kính từ 14-16 mm, trong lồng có hàn thanh chống và góc có gắn mã liên kết để tăng độ cứng vững cho lồng

Tuy nhiên, theo tìm hiểu thực tế, kết cấu lồng như vậy cũng chưa hợp lý Xu hướng hiện nay, người ta chế tạo lồng có cây chống bên trong ít nhất để tăng không gian hoạt động của tôm gần tương đương với không gian bên ngoài

Trang 21

Xung quanh lồng được bao bọc bởi hai lớp lưới Tùy theo kích thước tôm mà chọn kích thước mắt lưới phù hợp Lớp bên trong ngăn cản sự thất thoát tôm còn lớp bên ngoài đảm bảo tôm không bị các loài khác tấn công (chủ yếu là cá lóc)

2.3.1.Lồng cố định

Có hình khối chữ nhật hoặc vuông nhưng có kết cấu bằng gỗ với 4 mặt được bọc lưới xung quanh và một mặt lưới bọc đáy lồng Lồng cố định thường chỉ sử dụng để nuôi tôm hùm thương phẩm và kích cỡ từ 100-180 m3 Dạng lồng này được sử dụng phổ biến do giá thành thấp, dễ làm Tuy nhiên do không di chuyển được nên khi gặp

sự cố về môi trường không thể di dời lồng được Sau vài năm nuôi, chất đáy phía dưới lồng bị nhiễm bẩn dễ tạo nên điều kiện bất lợi cho tôm, người nuôi phải bỏ vị trí cũ, làm lại ở vị trí mới thuận lợi hơn

Lồng cố định thường được làm ngay tại vị trí chọn để nuôi tôm hùm Nuôi tôm hùm bằng lồng cố định tốn nhiều chi phí lao động hơn so với làm lồng chìm nhưng việc quản lý và chăm sóc tôm nuôi lại dễ dàng hơn Nguyên vật liệu và cách làm lồng cố định như sau:

Kích cỡ lồng cố định: (4x5x5) m; (5x5x5) m hoặc (6x6x5) m Gỗ làm khung lồng

cố định thường là các loại cây có đường kính khoảng 6-10 cm, các cây gỗ lớn dùng làm trụ chính được vát nhọn một đầu để đóng sâu xuống nền đáy ít nhất là 1-1,2 m; các cây gỗ sườn được đóng xuống đáy nông hơn, tối đa 0,5 m

Khung lưới đã chuẩn bị sẵn được căng bên trong khung gỗ sao cho mặt lưới thẳng, lưới được cố định chăc chắn bằng dây cước lớn, lưới không tiếp xúc sát khung lồng

Trang 22

lớp sơn chống rỉ, sau đó quét một lớp hắc ín (nhựa đường) và quấn toàn bộ khung bằng lớp nilon, lớp nilon này sẽ bám chắc vào lớp hắc ín và giữ cho khung sắt không bị rỉ trong suốt thời gian nuôi dưới biển

Tiếp đến, lưới bọc khung sắt là loại lưới mắt nhỏ, 2a = 0,5-0,6 cm Lưới này được đan ráp căng phẳng xung quanh 6 mặt của lồng ương Lồng ương tôm nên bọc

2 lớp lưới chồng nên nhau, lớp lưới bọc ngoài là loại lưới mắt lớn, một cạnh khoảng 1-1,5 cm để tránh các loại cá chình biển có thể cắn làm thủng lớp lưới bên trong Mặt trên cùng của lồng nên có nắp lồng để có thể dễ dàng kiểm tra và vệ sinh lồng Đồng thời, kết buộc một ống nhựa đường kính 10-12cm ở giữa lồng để đưa thức ăn vào trong lồng hàng ngày Chiều dài của ống phụ thuộc vào độ sâu đặt lồng nuôi, để có thể dễ dàng đứng trên thuyền, thúng chai hoặc trên ghe máy cho tôm ăn qua ống

Hình 2.2 Kết cấu nắp lồng Sau khi đã hoàn chỉnh, lồng được chuyển ra vị trí nuôi đã chọn và lắp đặt Lồng ương tôm con không nên đặt sát đáy mà nên neo lồng cách nền đáy một khoảng thích hợp sao cho khi nước thủy triều xuống thấp nhất mà lồng ương không bị ảnh hưởng của lớp bùn đáy

Trang 23

2.3.2.2.Đối với lồng chìm nuôi tôm hùm thương phẩm

Kích cỡ lồng: (3x3x1,5) m hoặc (3x3,5x1,5) m; (2x3x1,2) m hoặc (3x2,5x1,2) m Sắt làm khung có Æ = 12 hoặc 14 mm và cũng được hàn với nhau tạo thành khung chữ nhật chắc chắn và cứng Bảo vệ khung sắt cũng bằng sơn chống rỉ, hắc ín và cuốn một lớp nilon như đối với khung ương tôm hùm con

Lưới bọc khung là loại lưới mắt lơn hơn, 2a =3-4 cm Và lưới cũng được đan ráp căng phẳng xung quanh 6 mặt của lồng nuôi Tiếp đến làm nắp lồng và gắn kết ống đưa thức ăn xuống lồng tương tự như đối với lồng ương tôm hùm con Sau đó, vận chuyển lồng nuôi ra vị trí đã chọn và đặt lồng lên trên nền đáy đã được dọn sạch và bằng phẳng

2.3.3.Lồng bè nổi

Lồng bè bao gồm khung gỗ chia làm 4 ô, được đặt trên hệ thống phao, mỗi ô được treo một khung lưới kích thước: 4x4x4 m Tùy theo quy mô của bè nuôi, người ta có thể liên kết nhiều khung gỗ trên thành bè rộng theo ý muốn Dạng lồng này thường được đặt nuôi ở vùng nước sâu, dễ dàng tháo rời từng khung lồng, kéo

cả bè đi nơi khác nếu cần thiết Do dạng nuôi bằng lồng ghăm cố định đang gặp nhiều bất lợi về môi trường nên hiện nay nuôi tôm hùm đang có xu hướng chuyển sang nuôi lồng bè nổi

Hình 2.3 Khung lưới treo bè nổi

Trang 24

2.3.4.Yêu cầu đặt ra

Ở huyện Sông Cầu cũng đã có một vài hộ nuôi áp dụng nuôi tôm hùm bằng các khung lưới treo bè nổi để giảm chi phí, nhưng hình thức nuôi này đã bộc lộ những nhược điểm trong vệ sinh lồng nuôi, thu hoạch và vấn đề cơ bản là tường lưới không được căng phẳng nên khi có loài khác (cá Chình) tấn công sẽ gây nguy hiểm cho tôm Do ưu điểm của hình thức nuôi kết hợp lồng chìm treo bè nổi là có thể nâng hạ lồng ở độ sâu phù hợp với độ tuổi của tôm và thay đổi chiều sâu trong mùa mưa lũ nên hình thức nuôi này được sử dụng rất rộng rãi Vì vậy yêu cầu đặt ra hiện nay là thiết kế lồng chìm bằng vật liệu mới đảm bảo độ bền kết hợp với bè nổi được đặt lên hàng đầu

Hình 2.4 Lồng treo bè nổi

2.4.Yêu cầu về thời gian sử dụng

Trên thực tế hiện nay, khung lồng nuôi tôm hùm chủ yếu sử dụng sắt, tùy theo kích thước lồng để cắt vật liệu sau đó hàn lại, tiếp đến sẽ quét lớp nhựa đường phủ kín toàn bộ lớp sắt, khi lớp nhựa nay chưa khô cuốn tiếp lớp nilon nhằm mục đích tăng độ kết dính giữa lớp nilon với bề mặt các cây sắt và ngoài cùng là lớp lưới nhũ

Trang 25

để đảm bảo cho khung sắt không bị ô xi hóa trong suốt quá trình nuôi Với kết cấu như vậy thời gian sử dụng lồng khoảng 3-4 vụ tương ứng 2,5-3 năm

Yêu cầu đặt ra là tìm ra loại vật liệu chế tạo khung lồng sử dụng được trong thời gian dài thay thế vật liệu thép đảm bảo trong vụ nuôi lồng sử dụng được liên tục

2.5.Yêu cầu về đảm bảo môi trường

Do mật độ nuôi tôm hùm ở Sông Cầu là khá lớn nên thức ăn thừa và chất thải của

tôm làm cho môi trường nước trong các đầm và vịnh cũng như nền đáy bị ô nhiễm Nếu thức ăn thừa sẽ làm cho thành phần các chất đạm, nitơ, canxy…trong nước tăng cao làm nảy sinh các sinh vật và thực vật phù du như rong tảo gây ảnh hưởng cho tôm và lồng Riêng chất thải của tôm cũng làm đáy đầm bị ô nhiễm

Để duy trì và đảm bảo nghề nuôi có hiệu quả, ổn định lâu dài, ngày nay huyện Sông Cầu đưa một số đối tượng khác nuôi xen với tôm hùm để cải tạo nguồn nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường như: rong sụn, hải sâm, vẹm xanh Mỗi ngày một con vẹm xanh có thể lọc từ 70-80 lít nước UBND tỉnh và Sở Thủy sản Phú Yên đã trực tiếp lập quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản vùng ven bờ đầm Cù Mông-Xuân Đài giai đoạn 2001-2010 Trên cơ sở đó, được sự chỉ đạo của UBND tỉnh và

Sở Thủy sản, UBND huyện Sông Cầu đã và đang từng bước tiến hành lập quy hoạch chi tiết mặt nước nuôi trồng thủy sản cho từng vùng nuôi cụ thể nhằm chủ động trong công tác giao cấp mặt nước cho nhân dân Mục đích sắp xếp lại lồng, bè

nuôi tôm hùm hiện có, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Tại huyện Sông Cầu, tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải của tôm sinh ra hiện nay chưa có biện pháp xử lý hiệu quả Thức ăn thừa do tôm thải ra người nuôi tôm phải xử lý mất rất nhiều công sức, trước tiên phải nhấc lồng lên sau đó người chui vào trong lồng nhặt tôm ra các chậu đã chứa sẵn nước mới có thể gom thức ăn thừa Với những người nuôi có ý thức về môi trường họ sẽ mang thức ăn thừa nay vào bờ và chôn Còn chất thải do tôm sinh ra thì đành chấp nhận biện pháp duy nhất

là sau một khoảng thời gian nào đó sẽ kéo lồng bè sang vị trí khác

Trang 26

Như vậy yêu cầu đặt ra hiện nay là người nuôi tôm nơi đây đang rất cần có loại lồng có thể xử lý được chất thải do thức ăn thừa và do tôm sinh ra để giảm thiểu sự

ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa được dịch bệnh cho tôm

2.6.Yêu cầu về vệ sinh lồng và cách bảo dưỡng

Trong một vụ nuôi tôm, tùy theo điều kiện môi trường người ta tiến hành vệ sinh

lồng nhưng thông thường khoảng 15 ngày tiến hành vệ sinh một lần

Nhằm hạn chế sự ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho sự lưu thông nước trong lồng và môi trường bên ngoài, bảo đảm lượng oxy hòa tan trong nước Môi trường sạch là yếu tố quyết định hiệu của quá trình nuôi Vì vậy thức ăn trước khi cho ăn người nuôi phải kiểm tra thức ăn thừa hay thiếu, từ đó điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp cho lần ăn sau

Khi vệ sinh lồng, người ta kéo lồng lên sau đó chui vào lồng để nhặt tôm, thu dọn thức ăn và đưa lồng vào bờ để khô rồi cạy vỏ sò, hầu hà Đối với lồng nhỏ, mắt lưới nhỏ bị rong rêu bám thì dùng gậy đập để làm sạch rong rêu

Hình 2.5 Vệ sinh lồng nuôi

Trang 27

Hình 2.6.Hầu hà bám vào lồng

Sau khi hàn các thanh thép thành khung lồng, người ta quét một lớp nhựa hắc, khi lớp nhựa này chưa khô người ta quấn một lớp nilon mục đích để tăng sự kết dính giữa lớp nilon với khung sắt và ngoài cùng quấn lớp lưới nhũ để tránh khung sắt bị ô xy hóa

Hình 2.7 Bảo dưỡng khung lồng

Trang 28

Khi lưới bị hỏng thì cắt bỏ lớp lưới đó và thay vào một lớp lưới khác

Hình 2.8 Thay lớp lưới bị hỏng

2.7.Điều kiện sóng gió, dòng chảy

Như đã trình bày ở chương 1, do có điều kiện địa hình đặc biệt nên ở các khu vực nuôi tôm hùm, vào vụ nuôi sóng gió cũng như dòng chảy là không đáng kể chỉ khoảng 0,4-0,5 m/s và đến cuối vụ thu hoạch mới xuất hiện gió bão, khi bão đi từ ngoài biển vào, nhờ có các dãy núi ngăn cách giữa biển và vịnh nên sóng gió giảm

đi đáng kể Khi bão vào tới vịnh thì sóng gió lớn nhất cũng chỉ còn khoảng cấp 6-7 Khi vào mùa bão, người ta di chuyển tôm vào những lồng đặt ở chỗ kín gió sát chân núi để tránh gió bão và chiều sâu thả lồng vẫn không thay đổi

2.8.Giá thành chế tạo lồng

Đối với lồng có kích thước 1,5x1,5x0,8 m thì tổng giá thành khoảng từ 600.000 đồng/lồng, trong đó phần khung 300.000-350.000 đồng, lưới 250.000-300.000 đồng

Đối với lồng có kích thước 3x3x1,6 m thì tổng giá thành khoảng từ 1,8-2,0 triệu đồng/lồng, trong đó phần khung 1,2-1,45 triệu đồng, lưới 550.000-600.000 đồng

Trang 29

2.9.Phương pháp nghiên cứu và giới hạn nội dung 2.9.1.Phương pháp nghiên cứu

Từ kết quả điều tra thực tế và những yêu cầu Kinh tế-Kỹ thuật đặt ra đối với lồng nuôi tôm hùm, kết hợp với những kiến thức lý thuyết đã học như: Sức bền vật liệu,

Cơ học kết cấu,…và những kiến thức liên quan: Cơ sở thiết kế ngư cụ, tiến hành thiết kế sơ bộ khung lồng nuôi tôm

2.9.2.Giới hạn nội dung

Vì nghề nuôi tôm hùm ở nước ta mới bắt đầu phát triển, nên có rất nhiều vấn đề cần giải quyết như: Cải tiến khung lồng nuôi tôm, lắp đặt hệ thống thiết bị quan sát, thiết bị cơ giới hóa đảm bảo an toàn cho tôm đồng thời giảm công sức cho ngư dân, thiết bị xử lý chất thải tránh ô nhiễm nền đáy, quy hoạch vùng nuôi và nghiên cứu thức ăn công nghiệp phù hợp với tôm hùm, và xa hơn nữa là tập trung nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo Do thời gian hạn chế, hơn nữa đây là vấn đề rất rộng, nên tôi dự kiến sẽ thực hiện các nội dung sau: Sử dụng loại vật liệu phù hợp để thiết kế

sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên cơ sở đảm bảo độ bền và một số yêu cầu đặt ra như thời gian sử dụng lồng, yêu cầu vệ sinh, bảo dưỡng

Trang 30

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ SƠ BỘ LỒNG NUÔI TÔM HÙM LỒNG TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG CẦU-PHÚ YÊN

3.1.Xác định vật liệu 3.1.1.Giới thiệu chung Trước đây, khi nghề nuôi tôm hùm mới bắt đầu hình thành, thì lồng nuôi tôm

được đóng cố định tại một chỗ và được chế tạo bằng gỗ, loại lồng này có ưu điểm là

dễ làm, giá thành thấp, nhưng có nhược điểm là: thời gian sử dụng lồng ngắn, gỗ nhanh bị phá huỷ trong môi trường nước biển, không di chuyển được nên khi gặp sự

cố về môi trường không thể di dời lồng được Vì vậy, khi đáy phía dưới lồng bị nhiễm bẩn dễ tạo nên điều kiện bất lợi cho tôm, người nuôi phải bỏ vị trí cũ, làm lại

ở vị trí mới thuận lợi hơn

Mấy năm gần đây do nghề nuôi tôm hùm phát triển mạnh mẽ, để tăng mức an toàn và đảm bảo tính kinh tế, người nuôi tôm đã chuyển vật liệu chế tạo khung lồng

từ gỗ sang thép, mức độ an toàn trong quá trình nuôi tăng lên rõ rệt và thời gian sử dụng lồng cũng tăng lên đáng kể từ 1-2 vụ, tăng lên từ 3-4 vụ.Tuy nhiên, vật liệu chế tạo khung lồng bằng thép cũng chưa phải là loại vật liệu có thể đảm bảo được yêu cầu thực tế hiện nay, đó là: Phải chịu được môi trường nước biển Khi sử dụng thép để chế tạo khung lồng thì cần phải có các loại vật liệu khác bảo vệ như: hắc ín, nilon, lưới, nhưng những lớp bảo vệ này cũng không phải bền vĩnh cửu trong nước biển, chỉ sau vài vụ nuôi những lớp bảo vệ này bị phá huỷ, nước biển sẽ làm cho khung lồng bị ôxy hoá Do vậy, hiện nay nghề nuôi tôm đang rất cần có một loại vật liệu mới thay thế vật liệu bằng thép để chế tạo khung lồng

Từ yêu cầu thực tế đối với độ bền của khung lồng nuôi tôm và qua thời gian học tập tại Trường Đại học Thủy sản, tôi đã có điều kiện tìm hiểu về vật liệu Composite Vật liệu Composite là một tổ hợp giữa cốt sợi thủy tinh với cốt nhựa Polyester không no Tỷ lệ trọng lượng nhựa trong thành phần vật liệu từ 50-70% và sợi thủy tinh chiếm tỷ lệ trọng lượng từ 30-50%, khác với các vật liệu khác, Composite

Trang 31

không bị lão hóa, những tấm vật liệu Composite hơn 40 năm tuổi thọ vẫn giữ được các đặc tính cơ học tốt, xấp xỉ lúc mới chế tạo

Đây là loại vật liệu ra đời cách đây hơn 50 năm và được ứng dụng rất rộng rãi trong ngành đóng tàu, những vỏ tàu đầu tiên bằng vật liệu Composite (FRP) trong những năm 1940-1950 trên cơ sở công nghệ chưa tiên tiến vẫn còn bền vững cho đến ngày nay Từ thực tế đó cho thấy vật liệu Composite (FRP) phù hợp trong việc chế tạo khung lồng nuôi tôm, Composite không bị thẩm thấu, không bị lão hóa nhanh, sinh vật biển không có khả năng xâm thực và phá hoại vật liệu này Do vậy, tôi chọn vật liệu Composite để thay thế vật liệu thép chế tạo khung lồng nuôi tôm hùm

3.1.1.1.Ưu điểm của vật liệu Composite

- Có độ bền cao, trọng lượng riêng nhẹ (nhẹ hơn 4-5 lần vật liệu thép)

- Có độ cứng hóa học tốt, tính cơ học cao

- Chịu được biến dạng uốn

- Bị giòn khi nhiệt độ thay đổi cao

- Giá thành tương đối cao

- Chất thải chưa có cách xử lý

Ngày đăng: 31/08/2014, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NĂM 2003 HUYỆN SÔNG CẦU-TỈNH PHÚ YÊN - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 1.1. BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NĂM 2003 HUYỆN SÔNG CẦU-TỈNH PHÚ YÊN (Trang 4)
Bảng 1.1: Quá trình phát triển nghề nuôi trồng Thủy sản qua các năm từ 2000 đến 2004 - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Bảng 1.1 Quá trình phát triển nghề nuôi trồng Thủy sản qua các năm từ 2000 đến 2004 (Trang 6)
Hình 1.3. BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 HUYỆN SÔNG CẦU-TỈNH PHÚ YÊN - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 1.3. BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 HUYỆN SÔNG CẦU-TỈNH PHÚ YÊN (Trang 7)
Bảng 1.3: Dự kiến phát triển Thủy Sản huyện Sông Cầu năm 2006 - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Bảng 1.3 Dự kiến phát triển Thủy Sản huyện Sông Cầu năm 2006 (Trang 14)
Hình 2.1. Thức ăn cho tôm - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 2.1. Thức ăn cho tôm (Trang 17)
Hình 2.2. Kết cấu nắp lồng - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 2.2. Kết cấu nắp lồng (Trang 22)
Hình 2.3. Khung lưới treo bè nổi - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 2.3. Khung lưới treo bè nổi (Trang 23)
Hình 2.4. Lồng treo bè nổi - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 2.4. Lồng treo bè nổi (Trang 24)
Hình 2.5. Vệ sinh lồng nuôi - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 2.5. Vệ sinh lồng nuôi (Trang 26)
Hình 2.7. Bảo dưỡng khung lồng - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 2.7. Bảo dưỡng khung lồng (Trang 27)
Hình 2.8. Thay lớp lưới bị hỏng - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 2.8. Thay lớp lưới bị hỏng (Trang 28)
Bảng 3.2. Các loại mẫu thử - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Bảng 3.2. Các loại mẫu thử (Trang 33)
Hình 3.5. Mẫu vật liệu chế tạo - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 3.5. Mẫu vật liệu chế tạo (Trang 36)
Hình 3.6. Mẫu vât liệu bọc 3 lớp - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 3.6. Mẫu vât liệu bọc 3 lớp (Trang 36)
Hình 3.7. Mẫu vật liệu bọc 4 lớp - thiết kế sơ bộ lồng nuôi tôm hùm trên địa bàn huyện sông cầu - phú yên
Hình 3.7. Mẫu vật liệu bọc 4 lớp (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w