Tuy nhiên, theo Báo cáo định hướng phát triển đội tàu Việt Nam trình Chính Phủ, Tổng Công ty hàng hải Việt Nam đã nhận định “ Thị phần vận tải biển Quốc tế của đội tàu nước ta quá thấp,
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vận tải biển là một hoạt động quan trọng trong cơ cấu kinh tế đối với tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Theo số liệu thống kê, hơn 80% khối lượng hàng hoá lưu thông trong nước được thực hiện bằng tàu biển Không chỉ riêng các quốc gia có biển mới được hưởng thụ lợi ích từ ngành này mà ngay cả các quốc gia không có biển như Lào, Mông Cổ cũng thấy được sự hấp dẫn và cũng tham gia phát triển ngành vận tải biển của mình Trên thế giới, khối lượng hàng hoá lưu chuyển bằng đường biển chiếm hơn 90% tổng khối lượng hàng hoá được lưu chuyển giữa các quốc gia qua các hoạt động thương mại quốc tế
Việt Nam là quốc gia có chiều dài dọc theo bờ biển với hơn 3.200 km Với hình dáng dài và hẹp thì ngành vận tải biển là ngành thích hợp nhất để thực hiện việc lưu thông hàng hoá với khối lượng lớn Do lợi thế của việc vận chuyển bằng đường biển là vận chuyển được hàng hoá với một khối lượng rất lớn trong một lần vận chuyển Tuỳ theo yêu cầu, khả năng tiếp nhận của cảng mà khối lượng hàng hoá vận chuyển có thể lên đến hàng chục ngàn tấn, nếu hàng hoá là hàng rời hoặc dầu thô, khối lượng vận chuyển có thể lên đến 200.000 – 300.000 tấn/chuyến Do vậy, so với các loại hình vận chuyển khác, giá cước vận tải đường biển được xem là cạnh tranh nhất Mặt khác, vị trí địa lý của đất nước ta rất thuận lợi trong việc giao thương với các nước Đông Nam Á cũng như các quốc gia châu Aù khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Trung Quốc Đây là những quốc gia trong khu vực được xem là có nền kinh tế phát triển năng động và sôi nổi nhất thế giới Năm 2004, lượng hàng hoá trao đổi của khu vực Đông và Nam Á này với các khu vực còn lại chiếm khoảng 34% hàng hoá trao đổi thương mại trên toàn cầu Ngành vận tải đường biển hàng năm đảm nhận vận chuyển xấp xỉ 80% tổng khối lượng hàng hoá lưu
Trang 2chuyển trong nước và khoảng 94% khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của nước ta Do vậy, đây là ngành được xác định là lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế
Với sự hội nhập sâu thông qua việc tham gia các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế, lượng hàng hoá trao đổi thể hiện qua kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng lớn, ngành vận tải biển vẫn tiếp tục đóng vai trò mũi nhọn trong việc lưu chuyển hàng hoá nội địa và quốc tế trong những năm tới
Tuy nhiên, theo Báo cáo định hướng phát triển đội tàu Việt Nam trình Chính Phủ, Tổng Công ty hàng hải Việt Nam đã nhận định “ Thị phần vận tải biển Quốc tế của đội tàu nước ta quá thấp, đội tàu biển của nước ta thua ngay trên sân nhà “ là hiện trạng của ngành vận tải biển nước ta hiện nay
Tính đến tháng 10/2005 đội tàu biển Quốc gia có 1.057 tàu với tổng trọng tải xấp xỉ 3 triệu tấn trọng tải ( DWT ) thuộc quyền sở hữu của 450 chủ tàu, xếp thứ 60/152 các quốc gia có tàu mang cờ quốc tịch và xếp thứ 5/11 trong các nước ASEAN Con số 1.057 tàu không phải là quá ít nhưng theo ông Nguyễn Hoàng Tiệm trưởng ban vận tải và dịch vụ hàng hải - Cục hàng hải Việt Nam thì hầu hết các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam đang quản lý một đội tàu già cỗi, sức chở không lớn, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường hàng hoá dẫn đến việc khai thác hàng hoá kém hiệu quả Mặc dù khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu do đội tàu biển Việt Nam chuyên chở năm 2004 đã tăng hơn 50% so vơi năm 2000 nhưng tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển phục vụ xuất nhập khẩu của năm 2004 cũng chỉ đạt xấp xỉ 15% Tuy nhiên, theo tập quán 40/40/20 thì ít nhất thị phần vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam phải là 40%
Theo Qui hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến 2020 đã được Chính phủ phê duyệt thì mục tiêu phát triển sẽ là nâng cao
Trang 3thị phần vận chuyển hàng hoá quốc tế đến năm 2010 là 25%, đến năm 2020 là 35% và 100% vận tải biển nội địa Với các chỉ tiêu này, chúng ta mới chỉ tiệm cận đạt đến được tỉ lệ theo thông lệ quốc tế vào năm 2020.1
Công ty vận tải biển Việt Nam hiện đang là doanh nghiệp VTB dẫn đầu trong ngành vận tải biển Việt Nam với qui mô 26 tàu có trọng tải trên 420.000 DWT Với sự hội nhập sâu của nền kinh tế Việt Nam với thế giới, chúng ta đang dần phải mở cửa cho các hãng tàu nước ngoài được phép hoạt động kinh doanh vận tải biển trên lãnh thổ Việt Nam Đồng thời các hãng tàu khác trong và ngoài Tổng công ty cũng đang tìm kiếm sự đầu tư mới để tồn tại và phát triển trong sự phát triển chung của ngành Do vậy, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vận tải biển trong nước cũng ngày càng khốc liệt hơn, vị trí dẫn đầu của Công ty có thể bị đe doạ
Thực tế cho thấy, Công ty đã có sự phát triển và lớn mạnh đáng kể trong thời gian qua Bằng chứng hiện Công ty đang là doanh nghiệp vận tải biển dẫn đầu trong Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam Tuy nhiên, trong thời gian qua, Công
ty chưa xây dựng cho mình một chiến lược phát triển rõ ràng, hợp lý Sự đầu tư phát triển của Công ty theo hướng đa dạng hoá tức là vừa phát triển đội tàu, vừa phát triển các dịch vụ hàng hải khác như : Giao nhận đa phương thức, đại lý cho các Hãng sơn dầu, dịch vụ sửa chữa tàu biển… Đối với đội tàu là xương sống trụ cột của Công ty thì chưa có định hướng rõ ràng trong sự đầu tư phát triển theo hướng có chiều sâu và chuyên môn hoá
Do thiếu một chiến lược phát triển cụ thể nên Công ty còn thụ động với các thay đổi bên ngoài, thiếu các nguồn lực để phát triển dự án của mình Tuyến vận tải trong nước gần như bị bỏ ngỏ và ít mang lại hiệu quả Các dịch vụ hàng hải đang phải đối mặt với sự cạnh tranh hết sức khốc liệt do sự xâm nhập của các công ty nước ngoài
1 Theo Bộ Giao Thơng Vận Tải
Trang 4Về khách quan, giá nhiên liệu, chi phí chủ yếu của ngành biến động không ngừng theo hướng tăng cao Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào môi trường kinh doanh quốc tế nên sự cạnh tranh sẽ không chỉ dừng lại ở các công
ty vận tải biển trong nước như hiện nay Do vậy, đội tàu cần được phải đổi mới và trẻ hoá, Công ty cần phải tìm cho mình hướng phát triển mới Tại đại hội Đảng bộ Công ty vận tải biển Việt Nam tháng 10/2005, Ông Dương Chí Dũng- Tổng Giám đốc – Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam đã chỉ đạo “ Công ty Vận tải Biển Việt Nam phải tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu của mình trong thời gian tới, chú trong trọng nâng cấp đội tàu của Công ty lên đến từ 700.000 – 1.000.000 DWT vào năm 2010 “
Tìm hướng đi đúng cho Công ty vận tải biển Việt Nam phát triển trong giai đoạn từ nay đến 2010, xây dựng các mục tiêu này, qua đó thực hiện sứ mạng của Công ty là liên tục phát triển, giữ vững vị thế là Công ty dẫn đầu trong ngành ngay cả khi có sự xâm nhập của các tập đoàn vận tải biển hùng mạnh của nước ngoài Đó là mục tiêu của đề tài này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu hướng vào những mục tiêu cơ bản sau:
- Thông qua các số liệu của ngành và các số liệu thu thập được , tiến hành phân tích các ảnh hưởng vĩ mô ( môi trường bên ngoài ) tác động đến ngành vận tải biển và doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển từ đĩ xây dựng, phân tích ma trận hình ảnh môi trường bên ngoài doanh nghiệp ( EFE );
- Tiến hành phân tích trên góc độ của người quản trị doanh nghiệp tới các khía cạnh hoạt động của Công ty vận tải biển Việt Nam từ đó xây dựng và phân tích ma trận các yếu tố bên trong doanh nghiệp ( IFE );
Trang 5- Kết hợp các ma trận EFE và IFE để tạo ra ma trận điểm mạnh – yếu – cơ hội – thách thức cho Công ty ( SWOT ) Dựa vào kết quả phân tích này đưa
ra các chiến lược chung cho sự phát triển Công ty vận tải biển Việt Nam đến năm 2010 Sử dụng ma trận QSPM để lựa chọn chiến lược hợp lý nhất cho Công ty
- Thiết kế phác thảo các chiến lược phát triển của Công ty vận tải biển Việt Nam đến năm 2010 cũng như các giải pháp thực hiện chiến lược
3 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu khác nhau, đề tài dựa trên sự vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp có được kết hợp với việc sử dụng số liệu sơ cấp (Bảng điều tra các doanh nghiệp trong ngành) để phân tích các tác động Vận dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter để phân tích các áp lực cạnh tranh lên ngành
- Phương pháp phân tích định tính và định lượng dựa trên các số liệu thu thập được
- Vận dụng các ma trận BCG, SWOT, QSPM để thiết lập và lựa chọn chiến lược phát triển Công ty đến năm 2010
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Về đối tượng nghiên cứu :
- Phân tích đánh giá các tác động của môi trường vĩ mô và môi trường ngành ảnh hưởng đến các doanh nghiệp vận tải biển nói chung và Công
ty vận tải biển Việt Nam nói riêng
- Phân tích đánh giá các tác động bên trong của Công ty vận tải biển Việt Nam đến chiến lược phát triển Công ty
Trang 6- Xây dựng chiến lược phát triển Công ty mà cụ thể là chiến lược phát triển đội tàu vận tải biển
+ Phạm vi nghiên cứu:
- Trong nước : Nghiên cứu được tiến hành tại một số Doanh nghiệp trong ngành vận tải biển Việt Nam, tập trung vào khu vực phía Nam
- Nước ngoài : Các thông tin có được thông qua các nhà môi giới vận tải, Hiệp hội chủ tàu quốc tế, Hiệp hội chủ tàu các nước ASEAN, Hãng đăng kiểm quốc tế Loyld
- Thông tin, dữ liệu từ năm 2001 đến 2006
5 Những đóng góp của luận văn
+ Về mặt khoa học :
- Đề tài nghiên cứu giúp chúng ta hệ thống hóa được các phương pháp cơ bản trong nghiên cứu và quản trị chiến lược
- Xây dựng được các luận cứ cho sự hình hình chiến lược
- Các nghiên cứu cho chúng ta kết quả khách quan giúp cho quá trình đánh giá và đề ra các biện pháp chính xác, phù hợp
+ Về mặt thực tiễn :
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng một cách có hiệu quả trong các doanh nghiệp trong ngành vận tải biển Việt Nam Bằng cách xác định đúng vị trí, các điểm yếu, điểm mạnh, các cơ hội và thách thức, các doanh nghiệp VTB Việt Nam có thể sử dụng mô hình chiến lược nghiên cứu này để vận dụng cho mình
- Thông qua các số liệu về sự phát triển của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới sẽ giúp các doanh nghiệp VTB Việt Nam đang tham gia vận tải ngoại thương có được cái nhìn tổng quát hơn về tình hình phát triển của ngành VTB quốc tế, từ đó có thể đưa ra các chiến lược phát triển phù hợp cho riêng mình trong lĩnh vực VTB quốc tế
Trang 7- Xây dựng chiến lược cho Công ty BTV Việt Nam mà cụ thể là chiến lược cho phát triển đội tàu đến năm 2010
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đề cập đến 4 vấn đề chủ yếu:
1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp
2 Phân tích môi trường hoạt động của Công ty VTB Việt Nam
3 Phân tích môi trường bên trong của Công ty VTB Việt Nam
4 Vận dụng các ma trận các ma trận EFE, IFE, BCG, SWOT, QSPM để tổng hợp và lựa chọn chiến lược phát triển Công ty
Các nội dung trên được tóm tắt qua sơ đồ :
Một số vấn đề lý luận cơ bản về chiến lược phát triển doanh nghiệp
Một số vấn đề lý luận cơ bản về chiến lược phát triển doanh nghiệp
Các ma trận hình ảnh cạnh tranh, ma trận BCG, IFE, EFE
Phân tích môi trường bên trong Công ty VTB Việt
Phân tích môi trường hoạt
động của Công ty VTB
Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP 1.1 Chiến lược phát triển doanh nghiệp và quá trình hình thành chiến lược
Quản trị chiến lược có thể định nghĩa như một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra Quản trị chiến lược liên quan tới các khía cạnh của tổ chức như tiếp thị, tài chính, quản trị sản xuất, nghiên cứu phát triển theo một định hướng nhất định đã được xác định2
Quá trình quản trị chiến lược gồm có 3 giai đoạn: Thiết lập chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược Trong đó giai đoạn thiết lập chiến lược được xem là quan trọng nhất
Sơ đồ 1 : Mô hình quản trị chiến lược tổng quát
Thực thi chiến lược
Nguồn : Khái luận về Quản trị chiến lược - Fred R David,
Thông tin phản hồi
Thông tin phản hồi
Thực hiện việc kiểm soát bên ngoài để nhận diện các cơ hội và các mối nguy cơ chủ yếu
Xác định các nhiệm vụ kinh doanh
Xác định nhiệm
vụ, mục tiêu,
chiến lược hiện
tại
Thực hiện việc kiểm soát nội bộ để nhận diện ra những ưu nhược điểm
Lựa chọn các chiến lược để theo đuổi
Thiết lập các mục tiêu dài hạn
Đưa ra các chính sách
Thiết lập các mục tiêu hàng năm
Phân phồi nguồn tài nguyên
Đo lường và đánh giá việc thực hiện
Trang 9Nhìn sơ đồ trên ta thấy để hình thành chiến lược việc đầu tiên là phải xác định được mục tiêu, nhiệm vụ mà mỗi tổ chức, doanh nghiệp cần phải đạt được Các yếu tố bên trong và bên ngoài thường xuyên được kiểm soát để xác định hướng
đi của doanh nghiệp có còn đúng trước những thay đổi để có những điều chỉnh kịp thời Trên cơ sở đó tiếp tục đặt ra cho tổ chức các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các chiến lược để theo đuổi Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn thực thi chiến lược Ở giai đoạn này các mục tiêu được cụ thể hóa và các biện pháp, chính sách được áp dụng để đảm bảo rằng mục tiêu sẽ được thực hiện với một kết quả tốt nhất Và cuối cùng là công tác đánh giá những nhiệm vụ đã được thực hiện Các thay đổi ở tất cả các khâu của 3 giai đoạn này thường xuyên được cập nhật và phản hồi đến hệ thống và nhà quản trị để có những thay đổi Khi đó các chiến lược phát triển chung, chiến lược bộ phận, chiến lược chức năng hay chiến lược tổ chức được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp tùy thuộc vào thực tế những thay đổi nhằm đảm bảo sự hoạt động của tổ chức là tốt nhất dể hướng tới đạt được mục tiêu
Theo quan điểm của P.Druker thì chiến lược chính là “Việc đặt ra các mục tiêu, phát triển và đưa ra các quyết định hôm nay vì kết quả của ngày mai”3
Ở một phương diện khác chiến lược được coi như một dự án, phải thực hiện việc hoạch định và phân tích trước khi xây dựng
Trong những giai đoạn cuối thập niên 60, người ta chưa có nhiều khái niệm về xây dựng chiến lược Lúc đó chiến lược chủ yếu là các hoạch định dài hạn mang nặng tính phân tích trong đó các công ty cố gắng sử dụng các phép ngoại suy, phân tích xu hướng qua các số liệu quá khứ để dự đoán tương lai Điển hình là ma trận Ansoff Đầu thập niên 70 các lý thuyết về quản trị chiến lược mới bắt đầu được hình thành với các phương pháp tổ hợp kinh doanh như BCG, Mc.Kensey Tới cuối thập kỷ 70 đã được bổ sung và hoàn thiện bằng các phương pháp nghiên cứu chuyên sâu của Andrew với “bánh xe chiến lược cạnh
3 Fred R.David(2003), Khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống kê, Tr10
Trang 10tranh” và Michael E.Porter với “Chiến lược cạnh tranh”4 Tới thập niên 80, thuật ngữ “quản lý chiến lược” ngày càng được ưa chuộng hơn thuật ngữ
“hoạch định” Tới năm 1991, với phát hiện của Barney và của Michael E.Porter về chuỗi giá trị đã tạo ra những tiêu chí để nhận dạng nguồn lực rất có giá trị khi xây dựng chiến lược5
Người ta nhận thấy rằng, có sự tăng lên về số các Công ty và các định chế đang sử dụng quản trị chiến lược để đưa ra các quyết định có hiệu quả Tạp chí Kế Hoạch tường trình rằng có trên 70% các công ty hiện đang sử dụng các kỹ thuật quản trị chiến lược, so với con số dưới 25% trong năm 19796 Quản trị chiến lược cho phép một tổ chức năng động hơn là phản ứng lại trong việc định hình tương lai Nó cho phép một tổ chức sáng tạo ra và ảnh hưởng (hơn là chỉ phản ứng) với môi trường và do đó kiểm soát được số phận của chính mình Do đó, cách thức thực hiện quản trị chiến lược đặc biệt quan trọng Một mục tiêu chính yếu của quá trình là đạt được sự hiểu biết và gắn bó từ tất cả các quản trị viên và nhân viên sự hiểu biết lẫn nhau có lẽ đó là lợi ích quan trọng nhất của quản trị chiến lược, kế đến là sự gắn bó Khi các quản trị viên và nhân viên hiểu được công ty đang làm gì và tại sao, họ thường cảm thấy họ là một phần của tổ chức và trở nên gắn bó để hỗ trợ nó Các quản trị viên và nhân viên sẽ có óc sáng tạo và đổi mới một cách đáng ngạc nhiên khi họ đã hiểu và hỗ trợ nhiệm vụ, các mục tiêu và chiến lược của công ty Khi đó một ích lợi lớn của quản trị chiến lược là cơ hội để cho quá trình trao quyền cho các cá nhân
Các nghiên cứu cho thấy rằng các công ty sử dụng khái niệm quản trị chiến lược có nhiều lợi nhuận và thành công hơn là các công ty không sử dụng Chẳng hạn một nghiên cứu theo chiều dọc đối với 101 công ty sản xuất, dịch vụ và bán lẻ trong thời gian 3 năm đã kết luận rằng các doanh nghiệp sử dụng các
4 Michael E.Porter(2006), Chiến lược cạnh tranh, NXB TH TP HCM, Tr16
5 Rudolf Griinig & Richard Kiinn(2003), Hoạch định chiến lược theo quá trình,NXB KH&KT, Tr217
Trang 11khái niệm quản trị chiến lược đã tỏ ra có sự cải tiến vượt bậc trong doanh số, lợi nhuận và năng suất so với các công ty không có những hoạt động kế hoạch hệ thống Một nghiên cứu khác cũng cho thấy có đến 80% sự cải thiện khả dĩ trong lợi nhuận của một công ty được đạt đến bằng những thay đổi trong chiều hướng chiến lược của nó
1.2 Quá trình phân tích chiến lược
Hình thành chiến lược là quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh, thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các yếu tố khuyết điểm bên trong và bên ngoài, đề ra các mục tiêu dài hạn và lựa chọn giữa những chiến lược thay thế Đôi khi giai đoạn hình thành chiến lược còn được gọi là “lập kế hoạch chiến lược”
Ba hoạt động cơ bản trong hình thành chiến lược là tiến hành nghiên cứu, hòa hợp trực giác và phân tích, đưa ra quyết định Tiến hành nghiên cứu liên quan đến việc thu thập và xử lý các thông tin về các thị trường và ngành kinh doanh của công ty Quá trình này đôi khi được gọi là “xem xét lướt qua môi trường kinh doanh”7 Về bản chất, tiến hành nghiên cứu là để xác định các điểm mạnh quan trọng và các điểm yếu trong các lĩnh vực kinh doanh chức năng Phương pháp xác định theo những cách như tính toán các tỉ lệ, đo lường thành tích và so sánh với các giai đoạn trước, với trung bình ngành
Các cơ hội và nguy cơ từ bên ngoài
Hoạch định được chiến lược, một tổ chức phải căn cứ rất nhiều vào sự hiểu biết về môi trường mà nó đang đối diện Thông thường môi trường một tổ chức phải đối diện được chia làm hai cấp: Môi trường vĩ mô – ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực, nhưng không nhất thiết ảnh hưởng theo cùng một hướng và môi trường
7 Fred R David (2003), Khái luận về Quản trị chiến lược, NXB Thống kê, tr.11
Trang 12vi mô – là môi trường ngành sản xuất nhất định mà công ty hay tổ chức chịu ảnh hưởng Môi trường vĩ mô ám chỉ đến những khuynh hướng và sự kiện kinh tế, xã hội, chính trị, công nghệ và cạnh tranh có thể làm lợi hoặc gây hại đến một tổ chức trong tương lai Những cơ hội và đe dọa ngoài tầm kiểm soát của một tổ chức đơn lẻ, vì vậy mới gọi là những yếu tố bên ngoài Cuộc cách mạng
vi tính, công nghệ sinh học, những biến động về dân số, những thái độ và giá trị công việc đang thay đổi, sự khám phá không gian và sự cạnh tranh tăng lên từ các công ty nước ngoài là những ví dụ của những cơ hội và nguy cơ cho các công ty
Những thay đổi này tạo ra một loại khách hàng mới và do đó sẽ tạo ra nhu cầu cho các loại sản phẩm, dịch vụ và chiến lược khác Khi phân tích môi trường vĩ mô thường để cho trả lời câu hỏi: tổ chức cần phải đối phó với những cái gì ?
Tổ chức hay doanh nghiệp ngoài nằm trong môi trường vĩ mô còn phụ thuộc vào các hoạt động trong môi trường vi mô, đó là hoạt động trong ngành bao gồm các doanh nghiệp hay tổ chức sản xuất kinh doanh các loại hàng hoá, dịch vụ tương đồng Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E.Porter được ứng dụng để phân tích môi trường ngành:
Sơ đồ 2 : Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E Porter
Người mới nhập ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Những sản phẩm thay thế
Sự đe doạ của gia nhập
Aùp lực Người mua
Aùp lực người bán
Sự đe doạ của sản phẩm
Trang 13Một điều cơ bản của quản trị chiến lược là các công ty cần hình thành các chiến lược tận dụng các cơ hội bên ngoài và giảm bớt tác động các nguy cơ từ phía đó
Các điểm mạnh yếu bên trong của tổ chức:
Ưu điểm và yếu điểm bên trong là từ những hoạt động có thể kiểm soát được trong một tổ chức được thực hiện đặc biệt tốt hay xấu Việc quản lý, tiếp thị, tài chính, kế toán, sản xuất/ điều hành, nghiên cứu phát triển và các hoạt động hỗ trợ khác của Doanh nghiệp là những lĩnh vực mà các ưu điểm và yếu điểm xuất hiện Quá trình xác định và đánh giá các ưu khuyết điểm của tổ chức trong các lĩnh vực chức năng của một công ty là hoạt động quản trị chiến lược cần thiết Các tổ chức nỗ lực theo đuổi những chiến lược tận dụng những điểm mạnh bên trong và cải thiện những điểm yếu
Những điểm mạnh và điểm yếu được quyết định liên hệ với các đối thủ cạnh tranh Sự yếu kém hay vượt trội “tương đối” là thông tin quan trọng Ngoài ra, các ưu điểm và yếu điểm có thể được xác định bằng những yếu tố “tồn tại hơn là thành tích” Việc phân tích nội bộ một tổ chức có thể dựa trên 04 nhóm yếu tố chính sau:
- Vị thế chiến trường của tổ chức
- Phối thức thị trường của tổ chức
- Nguồn lực của tổ chức
- Ma trận hình ảnh 8
8 Rudolf Griinig & Richard Kiihn(2003), Hoạch định chiến lược theo quá trình, NXB KH&KT,Tr.83
Trang 14Việc xem xét, đánh giá các nhóm yếu tố này trên cơ sở phân tích nó với các đối thủ cạnh tranh đại diện ngành mà tổ chức đang hoạt động Hoặc có thể phân tích nó theo các tiêu chí chức năng của quản trị, chuỗi giá trị của Michael E.Porter9 Tuy nhiên cần phải xem xét yếu tố văn hóa tổ chức khi hình thành các chiến lược Mỗi một tổ chức đều có những nét văn hóa riêng của mình, chính là mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức và môi trường tạo dựng các mối quan hệ đó Một môi trường văn hóa tổ chức mạnh sẽ khuyến khích nhân viên, nội bộ hóa những thái độ tích cực và những hành vi cần thiết cho hoạt động bình thường, làm cho khả năng thích ứng với môi trường của nhân viên trở nên dễ dàng và hiệu quả
Sơ đồ 3 : Nguyên lý chuỗi giá trị công ty
Lợi
nhuận
biên
tế
Nguồn : Michael E Porter, Comprehensive Advantage, The Free Press, 1995
Chuỗi giá trị công ty ( value chain ) theo Michael E Porter là tổng hợp các hoạt động chủ yếu và các hoạt động hỗ trợ có liên quan của doanh nghiệp tạo và làm tăng giá trị cho khách hàng
Các hoạt động chủ yếu
Dịch vụ
( Lắp đặt, sửa chữa, bảo hành)
Marketing và bán hàng
(quảng cáo,khuyến mại, định giá, kênh phân phối )
Các hoạt động đầu ra
( Xếp hàng vào kho và phân loại sản phẩm )
thô và xếp
hàng vào kho)
Quản trị nguồn nhân lực ( Tuyển chọn, huấn luyện phát triển )
Cấu trúc hạ tầng Công ty
( Quản trị tổng quát, kế toán, tài chính, hoạch định chiến lược )
Trang 151.3 Xác định sứ mạng và mục tiêu của doanh nghiệp
Xác định sứ mạng:
Sứ mạng là một phát biểu có giá trị lâu dài về mục đích Nó phân biệt công ty này với những Công ty khác, là triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh Sứ mạng chứa đựng tổng quan thành tích mong muốn tuyên bố với bên ngoài công ty như là một hình ảnh mong ước và một cách thức tổng quản trong đó Công ty tự mình điều khiển
Hệ thống mục tiêu dài hạn và ngắn hạn:
Những mục tiêu có thể được định nghĩa là những thành quả xác định mà một tổ chức tìm cách đạt được khi theo đuổi nhiệm vụ chính của mình Dài hạn có nghĩa là trên 1 năm Mục tiêu dài hạn thường đặt ra các vấn đề chính như: khả năng tìm kiếm lợi nhuận, năng suất, vị thế cạnh tranh, phát triển nhân viên, quan hệ nhân viên, cải tiến hay đầu tư các quy trình công nghệ mới … và thường kéo dài không quá 10 năm Mục tiêu ngắn hạn lại nhằm đưa ra như những kết quả cần đạt tới như tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, sản lượng hay một mục tiêu cụ thể nào đó có thể so sánh được bằng cách lượng hóa Mục tiêu ngắn hạn là cái mốc mà các tổ chức phải đạt được để đạt đến các mục tiêu dài hạn, các mục tiêu hàng năm phải đo lường được, có định lượng, có tính thách thức, thực tế, phù hợp và được ưu tiên Các mục tiêu này được đề ra ở cấp công ty, cấp bộ phận và chức năng trong một công ty lớn Các mục tiêu hàng năm nên được đưa ra dưới hình thức các thành tựu về quản lý, tiếp thị, tài chính, kế toán, sản xuất/điều hành, nghiên cứu phát triển và hệ thống thông tin
Trang 16Các mục tiêu hàng năm đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện chiến lược trong khi các mục tiêu dài hạn lại quan trọng trong việc hình thành chiến lược Các mục tiêu hàng năm biểu hiện cơ sở cho việc phân phối các nguồn tài nguyên
1.4 Qui trình hình thành và lựa chọn chiến lược
Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chỉ tiêu, thanh lý và liên doanh
Sau khi phân tích xong hoàn cảnh và môi trường của tổ chức, phân tích và lựa chọn chiến lược là nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra qua việc sử dụng ma trận SWOT trong giai đoạn kết hợp này10
Một trong những công cụ dùng để chọn chiến lược là sự phân tích danh mục vốn đầu tư Lĩnh vực này đã mang lại nhiều kỹ thuật phân tích và giúp ích rất nhiều cho các nhà quản trị chiến lược khi lựa chọn chiến lược thực thi
Trong thực tế người ta thường áp dụng ma trận BCG (Boston Consulting Group)
do nhóm tư vấn của Đại học Boston đề xuất và ma trận GE của công ty General Electric Mục đích của các ma trận này dùng để định vị các SBU (Strategic Business Unit) / SBF (Strategic Business Field)11 qua hình ảnh của thị phần của nó trong thị trường và sự hấp dẫn của thị trường nó đang tham gia Kết quả cho
ra được hình ảnh của SBU và cho phép ban quản trị Công ty quyết định về phát triển cho các SBU nào, định ra chiến lược cụ thể cho SBU đó
Một công cụ khác là ma trận SWOT giúp cho ban quản trị Công ty xác định được các điểm mạnh điểm yếu của chính mình, các cơ hội, thách thức và nguy
10 Fred R David (2003), Khái luận về quản trị chiến lược,NXB Thống kê, Tr.259
Trang 17cơ đến từ môi trường bên ngoài Kết hợp với các phân tích trên và việc sử dụng
ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM) sẽ được sử dụng để chọn lựa các chiến lược tối ưu
Sơ đồ 4 : Nguyên lý ma trận BCG
Nguồn : Khái luận về Quản trị chiến lược - Fred R David, 2003
Mỗi vòng tròn đại diện cho 1 SBU riêng biệt Độ lớn của các vòng tròn tương đương với phần thu nhập của của đơn vị kinh doanh đó và góc tròn cho thấy phần lợi nhuận của đơn vị kinh doanh đó
- Question Marks: Các bộ phận nằm ở góc tư này có mức thị phần tương đối
thấp nhưng lại có sự cạnh tranh trong ngành cao
- Star : Các bộ phận nằm ở góc tư II biểu thị những cơ hội lâu dài và tốt nhất
cho sự tăng trưởng và doanh lợi của đơn vị kinh doanh đó
Trang 18- Cash Cows : Các bộ phận thuộc góc tư này có mức thị phần tương đối cao
nhưng sự tăng trưởng của ngành lại thấp
- Dogs : Bộ phận kinh doanh nằm ở góc tư này có mức thị phần thấp và tăng trưởng của ngành cũng là thấp
Lợi ích lớn nhất của ma trận BCG là nó thu hút sự quan tâm đặc điểm đầu tư và nhu cầu của nhiều bộ phận khác nhau của tổ chức 12
Điểm mạnh
( TRENGTH )
Điểm yếu
( WEAKNESS )
Sơ đồ 5 : Nguyên lý ma trận SWOT
1 Ô chữ S : Được liệt kế những điểm
mạnh bên trong của tổ chức
2 Ô chữ O : Là nơi để liệt kê các cơ
hội lớn bên ngoài tổ chức
3 Ô chữ W : Liệt kê những điểm yếu
bên trong tổ chức
4 Ô chữ T : Liệt kê những mối đe dọa
quan trọng bên ngoài tổ chức
Nguồn : Khái luận về Quản trị chiến lược - Fred R David, 2003
Ma trận SWOT sẽ vận hành theo cách :
- Kết hợp SO ta có được các lựa chọn khi sử dụng các điểm mạnh bên trong để tận dụng các cơ hội bên ngoài
- Kết hợp WO sẽ cho phép tổ chức vượt qua những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng các cơ hội lớn bên ngoài
Trang 19
- Kết hợp ST cho phép tổ chức sử dụng những điểm mạnh bên trong để tránh các mối đe dọa từ bên ngoài
- Kết hợp WT tổ chức sẽ tối thiểu hóa những điểm yếu và tránh khỏi các mối
đe dọa quan trọng bên ngoài tổ chức 13
Bảng 1 : Mô hình cơ bản của ma trận QSPM
Các chiến lược có thể thay thế
Chiến lược 1
Chiến lược 2
Chiến lược 3
Chiến lược 4
Cơ sở của điểm hấp
dẫn Các yếu tố quan trọng Phân
loại Điểm
hấp dẫn
Điểm hấp dẫn
Điểm hấp dẫn
Điểm hấp dẫn
Các yếu tố bên
trong
Các yếu tố bên
ngoài
Nguồn : Khái luận về Quản trị chiến lược - Fred R David, 2003
Ma trận QSPM được thiết lập trên cơ sở kết quả của các ma trên EFE, IFE, BCG, … Ma trận QSPM là công cụ cho các chiến lược gia đánh giá khách quan các chiến lược có thể thay thế, trước tiên dựa vào các yếu tố thành công chủ yếu bên trong và bên ngoài đã được xác định Ma trận QSPM đòi hỏi sự phán đoán tốt bằng trực giác 14
Tóm lại, các giai đoạn của quá trình hình thành chiến lược có thể được tóm tắt và trình bày qua sơ đồ sau :
13 Fred R David, Khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống kê, 2003, tr.266-267
14 Fred R David, Khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống kê, 2003, tr.286-287
Trang 20Sơ đồ 6 : Khung phân tích quá trình hình thành chiến lược
Giai đoạn 1 : Giai đoạn nhập vào
Ma trận đánh giá các yếu tố
bên ngoài ( EFE ) Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong ( IFE )
Giai đoạn 2 : Giai đoạn kết hợp
Ma trận bên trong – bên ngoài IFE – EFE
Giai đoạn 3 : Giai đoạn quyết định
Ma trận hoạch định chiến lược có khả năng định lượng QSPM
Nguồn : Khái luận về Quản trị chiến lược - Fred R David, 2003
1.5 Giai đoạn thực thi chiến lược đối với việc hình thành chiến lược
Thực thi chiến lược thường được gọi là giai đoạn hành động của quản trị chiến lược Thực thi có nghĩa là huy động quản trị viên và nhân viên để thực hiện các chiến lược đã được lập ra Ba hoạt động cơ bản của thực thi chiến lược là thiết lập các mục tiêu hàng năm, phân phối các nguồn tài nguyên và đưa ra các chính sách Đây chính là phương tiện để đạt được các mục tiêu Các chính sách bao gồm các lời hướng dẫn, các quy tắc và thủ tục được thiết lập để hậu thuẫn cho các nỗ lực đạt được các mục tiêu đã đề ra, thường được đề ra dưới hình thức các hoạt động quản lý, tiếp thị tài chính / kế toán, sản xuất / điều
Trang 21hành, nghiên cứu phát triển và hệ thống thông tin Các chính sách cho phép sự hợp tác và đồng bộ bên trong và giữa các phòng ban của tổ chức
Giai đoạn cuối của quản trị chiến lược là đánh giá chiến lược Tất cả các chiến lược tuỳ thuộc vào thay đổi tương lai vì các yếu tố bên trong và bên ngoài thay đổi đều đặn Ba hoạt động chính yếu của giai đoạn này là: (1) xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại, (2) Đo lường thành tích và (3) thực hiện các hoạt động điều chỉnh và định hướng cho các chiến lược phát triển trong dài hạn Kết quả thực thi chiến lược và đánh giá chiến lược là căn cứ thực tiễn rất quan trọng để điều chỉnh chiến lược hoặc hình thành chiến lược cho giai đoạn tiếp theo
Trang 22CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM
2.1 Phân tích hiện trạng và xu hướng môi trường hoạt động của Công ty vận
tải biển Việt Nam
2.1.1 Aûnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới và nước ta
Nhìn vào kết quả của các năm gần đây, kinh tế nước ta phát triển tương đối vững chắc và liên tục đạt mức cao
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta qua một số giai đoạn
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nước ta đứng vào các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới Nhờ thực hiện đường lối mới, mở cửa và đặc biệt sau khi thực hiện Luật doanh nghiệp kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước Năm 2001 tăng 6,89%, năm 2002 tăng 7,08%, năm 2003 tăng 7,35%, năm 2004 tăng 7,69% và năm 2005 là 7,94% Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, trung bình chung đạt 6,3%/năm Năm 2005 GDP bình quân theo đầu người
Trang 23đạt khoảng 600 USD đứng thứ 7 trong khu vực, đứng 36 ở Châu Á và thứ 113
trên thế giới Tuy nhiên GDP bình quân của nước ta vẫn chỉ bằng 60% mức
trung bình trong khu vực và mục tiêu ngang bằng với mức trung bình này vào
năm 201015 Đặc biệt nước ta đã có bước đột sản xuất lương thực vào năm
1989, từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, đến nay không những tự chủ hoàn toàn
về lương thực mà còn có những bước đột phá trong các sản phẩm xuất khẩu
Theo Thứ Trưởng thương mại Lê Danh Vĩnh, kim ngạch xuất khẩu nước ta đã
tăng 46 lần từ 699 triệu USD năm 1986 lên 32,2 tỷ USD năm 2005 Tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu năm 2005 dự kiến tăng 23 lần so với năm 1986 Hiện có
khoảng trên 35.700 doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp, gấp 1000 lần năm
1986 Nhịp độ tăng trưởng về xuất khẩu riêng trong năm 2004 vừa qua đã đạt
31,36% với kim ngạch 26,5 tỷ USD, góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy tốc độ
tăng trưởng kinh tế ngoạn mục 7,69% trong năm Với 10 thị trường buôn bán
lớn nhất của nước ta là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, Singapore, Anh,
Đức, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan đã nhập tổng cộng 18 tỷ USD hàng hoá
của chúng ta, chiếm trên 70% kim ngạch Riêng Trung Quốc năm 2004 đã tăng
kim ngạch nhập khẩu hàng hoá nước ta hơn 1 tỷ USD và đạt quy mô 2,7 tỷ
USD
Bảng 3 : Tình hình xuất – nhập khẩu năm 2004 của nước ta 16
Đơn vị tính : Triệu USD
Trang 24Bên cạnh 10 thị trường truyền thống này, 10 thị trường tiếp theo cũng đã đóng
góp thêm trên 800 triệu USD và 13,3% trong mức tăng trưởng xuất khẩu Các
loại mặt hàng xuất khẩu của ta chủ yếu dưới dạng thô là dầu thô, than, gạo và
các sản phẩm như da giầy, dệt may phù hợp với các tàu hàng lỏng, tàu hàng
rời, tàu container Ngược lại nhập khẩu là máy móc, thiết bị, xi măng … phù
hợp với các loại tàu hàng rời, tàu container và tàu chuyên dụng Tuy vậy nhập
siêu đối với một số bạn hàng đã lên tới con số kỷ lục Riêng đối với 5 thị
trường gồm Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và Thái Lan chúng ta
đã nhập siêu một khối luợng hàng hoá trị giá 10,85 tỷ USD chủ yếu là nguyên
liệu và hàng tiêu dùng Năm 2005, thâm hụt tài khoản vãng lai của nước ta sẽ
dao động trong khoảng 5 – 5,7% GDP
Tuy tốc độ tăng trưởng cao, hiện nay chúng ta cũng đang phải đương đầu với tỷ
lệ lạm phát bất thường Tốc độ tăng CPI thường xuyên vượt qua kế hoạch đề
ra Một bất lợi nữa tác động không nhỏ đến nền kinh tế là giá dầu biến động
không ngừng theo chiều hướng tăng do sự cầu mạnh mẽ của các nền kinh tế lớn
đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ Giá dầu đã lên tới 70.1 USD/thùng vào
tháng 8/2005 và đạt mức kỷ lục 78 USD/thùng vào tháng 6 năm 2006 và ổn
định ở mức cao khoảng 68 – 70 USD/thùng vào những tháng cuối năm 2006
Điều này tác động bất lợi rất lớn nhiều nền kinh tế lớn và cả kinh tế nước ta,
Nguồn : Báo đầu tư chứng khoán số 273
Trang 25đặc biệt là ngành VTB khi chi phí nhiên liệu thường chiếm 35 – 40% trong giá
thành
Môi truờng kinh doanh cũng đang có những chuyển động tích cực Trong báo
cáo hoạt động kinh doanh năm 2005 do Ngân hàng thế giới (WB) và Công ty
tài chính quốc tế (IFC) thực hiện đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 3 trong 12
quốc gia cải cách hàng đầu sau Serbia – Montenergro và Georgia Chúng ta đã
được ghi nhận là nền kinh tế đã cải thiện chính sách nhằm bảo vệ các nhà đầu
tư, các doanh nghiệp Mới đây nhất, sau chuyến thăm chính thức nước ta, Tổng
thống hợp chủng quốc Hoa kỳ đã nhận xét “ Đang có những thay đổi kỳ diệu
tại Việt Nam”
Bảng 4 : Đánh giá một số chỉ tiêu nước ta giai đoạn 2001 – 2005 17
Đơn vị tính: %
Tổng đầu tư trong nước /GDP 25.9 31.3 33.7 35.3 35
Tăng trưởng nhập khẩu 6.0 19.5 27.0 14.0 11.0
Cán cân tài khoản vãng lai/GDP 1.5 -2.8 -5.8 -5.7 -5.7
Nguồn : Báo cáo đánh giá của ADB về nền kinh tế Việt Nam năm 2005
Song song với các thành tựu về kinh tế là các thành tựu chính trị Nước ta đã
giữ được ổn định chính trị là “Điểm đến an toàn và thú vị”18 của các du khách
cũng như các nhà đầu tư Nước ta đã giải quyết tốt các mối quan hệ với các
17 Nguồn : Báo cáo đánh giá của ADB về nền kinh tế Việt nam năm 2005
18 Báo nước Mỹ ngày nay – 10/12/2004
Trang 26nước láng giềng với phương châm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, giải quyết mối quan hệ với Trung Quốc trên tinh thần “hợp tác – hữu nghị – thân thiện” và đặc biệt làm tốt công tác với đồng bào sống xa Tổ Quốc, Việt kiều coi họ là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam19 Trong nước chúng ta thực hiện mạnh các chiến dịch chống tội phạm, chống tham nhũng, cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, thực hiện tốt công tác dân tộc Vì thế mà tình hình an ninh, trật tự trong giai đoạn 2000 – 2005 rất ổn định, không có biến động lớn tạo được môi trường an toàn cho các nhà đầu tư
Trong những năm qua, kinh tế thế giới đã qua thời kỳ khủng hoảng và bắt đầu tăng trưởng trở lại dao động từ 1,7 – 3% (giai đoạn 2001 – 2005) Châu Á và đặc biệt là các nước Đông Á, Đông Nam Á và Trung Quốc đang thể hiện mình là tâm điểm của nền kinh tế thế giới qua tốc độ tăng trưởng thần kỳ 9,5% trong năm 2004 và 8,5% trong năm 2005 Các nước châu Á khác cũng giữ được nhịp độ tăng trưởng cao như Singapore 7,5%, Thái Lan 5,4%, Indonesia 4,5% cùng các nước khác như Hàn Quốc 5,4%, Nhật Bản đã qua thời gian trì trệ với mức tăng trưởng cao trong năm 2005 Kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng bất chấp giá dầu cao đã tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển và qua đó ngành vận tải biển cũng không ngừng phát triển 20
Tóm lại, bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế Việt Nam và thế giới là kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh với mức 7,5%/năm Chính trị ổn định Kinh tế Thế giới ổn định và hồi phục Hàng hoá XNK tăng trung bình 16%/năm
Tỷ lệ lạm phát đang có xu hướng tăng mạnh Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới liên tục biến động tăng
2.1.2 Môi trường pháp lý nói chung và ngành VTB nói riêng
19 Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính Trị
Trang 27Cải cách bộ máy công quyền, hoàn thiện hệ thống luật pháp là ưu tiên hàng đầu trong cải cách hành chính hiện nay Song song với các Bộ luật khác góp phần khơi dậy các nguồn lực trong nền kinh tế, Bộ luật hàng hải Việt Nam được Quốc Hội thông qua năm 1989, có hiệu lực năm 1990 cho tới nay không còn phù hợp với tình hình thực tiễn phát triển ngành hàng hải Việt Nam Vì thế, Bộ luật Hàng Hải năm 2005 đã được Quốc Hội nước CHXH CN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7 khóa XI và có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 Ngành Hàng Hải là ngành mới phát triển ở nước ta nên còn thiếu nhiều khung pháp lý cho ngành hoạt động Các văn bản dưới luật hướng dẫn ngành rất thiếu, mâu thuẫn với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hay chưa tham gia nhưng đội tàu biển lại hoạt động trong khu vực các quốc gia này Điển hình chủ yếu là về quy trình đăng ký và mang cờ tàu Hiện nay Luật chỉ cho phép các doanh nghiệp có đăng ký tại Việt Nam mới được mang cờ Việt Nam Các tàu trên 15 tuổi không được nhập khẩu vào Việt Nam Việc này đã hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp VTB nước ta
Một trong những quy định cần sửa đổi là giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu đối với hàng hoá Theo luật hiện hành, chủ tàu được giới hạn bồi thường hàng hoá tổn thất nếu không khai báo theo đơn vị tính bằng Frăng, vàng hay quyền rút vốn đặc biệt SDR (Special Drawing Right) do IMF quy định Thực tế hiện nay, khả năng tính toán theo SDR hay Frăng vàng là không thực hiện được khi giá trị hàng hoá thực tế tính theo các ngoại tệ hay bản tệ21 Trong thời gian tới tiếp tục xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật Hàng Hải dự kiến gồm 1 pháp lệnh, 9 nghị định, 25 quyết định cấp Bộ trưởng, dịch sang tiếng Anh bộ luật hàng hải từ năm 2006 – 2010 Cho tới nay, nước ta là thành viên của 12 công ước quốc tế và Nghị định thư do Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) thông qua Ngoài ra tuy chưa chính thức phê chuẩn, nhưng nước ta vẫn đang mặc định
21 PGS-TS Đinh Ngọc Viện(2004), Tạp chí Hàng Hải Việt nam –số 155,tr.5-8
Trang 28áp dụng thêm các quy tắc tránh va trên biển (COLREG 72), quy ước về tổ chức lao động ILO của nghiệp đoàn các người đi biển, công ước về vận tải đơn (Hague – Visby) …
Năm 2004 vừa qua, chúng ta đã ký hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và hợp tác nghề cá với Trung Quốc Đây là cột mốc lớn đảm bảo cho việc an toàn Hàng Hải đặc biệt từ khu vực miền Bắc qua eo Hải Nam của Trung Quốc đi các nước Đông Bắc Á là thị trường buôn bán chủ chốt của Việt Nam Trong thời gian tới, chúng ta sẽ tiếp tục ký kết công ước về tạo điều kiện thuận lợi trong giao thông hàng hải quốc tế (FAL 1965), cứu nạn quốc tế (SAR 1979), các hiệp định song phương về hàng hải với Hoa Kỳ, Singapore, Myamar và Lào Vì những cải cách này mà năm 2004 đã có 74.527 lượt tàu thuyền ra vào cảng Việt Nam, tăng 3,61% so với năm 2003, sản lượng hàng qua cảng biển đạt 127,67 triệu tấn, tăng 11,96% so với năm 200322
Tuy nhiên đối với các tàu hoạt động trên tuyến quốc tế thì hiện nay vẫn phải đối mặt với hàng loạt các quy định, các Bộ Luật quốc tế ra đời như Bộ Luật quản lý an toàn (ISM Code), Bộ Luật an ninh (ISPS Code) Ngoài ra các tàu hoạt động chuyên chở hàng lỏng, hàng hoá chất hay hàng nguy hiểm còn phải đáp ứng là đáy đôi mạn kép, CAP … Các hãng dầu lớn trên thế giới như Exxon-Mobile, Dutch-Shell, BP hay Total là những người thuê vận chuyển hàng lỏng cũng như hoá chất lớn nhất thế giới còn đặt ra các cuộc kiểm tra gắt gao về tình trạng kỹ thuật, tay nghề thuyền viên theo tiêu chuẩn của riêng từng hãng Điều này cản trở rất nhiều khả năng xâm nhập của các công ty chúng ta nói riêng so với các công ty của các quốc gia khác phát triển Công tác cải cách hành chính cũng đang được xúc tiến mạnh mẽ tại các cảng biển Việt Nam đã được Thủ tướng cho phép thí điểm là TP.HCM, Bà Rịa Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, đơn giản hoá công tác đăng ký tàu và thuyền viên
Trang 29Song song với việc hoàn chỉnh luật Hàng Hải chuyên ngành, việc sửa đổi đi đến thống nhất Luật doanh nghiệp đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của mọi người Luật doanh nghiệp ra đời đã tạo điều kiện phát triển của tất cả các loại hình doanh nghiệp từ sản xuất đến dịch vụ, cho phép mọi thành phần kinh tế đều có quyền xuất khẩu Chính vì vậy mà hiện nay cả nước đã có 450 các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực VTB trong đó có 188 doanh nghiệp Nhà nước, 48 công ty cổ phần, tăng 500%, 167 công ty TNHH, tăng 69.35%, 28 hợp tác xã, tăng 57.14% và 19 DNTN tăng 191% so với cùng kỳ năm 2000
Qua xem xét đánh giá các yếu tố về môi trường hoạt động của ngành ta thấy môi trường pháp lý cho hoạt động VTB ngày được hoàn thiện, tiến gần tới hội nhập chung với các quy định của Quốc tế
Các quy định với các tàu chuyên dụng như tàu hàng rời, tàu hàng lỏng, tàu hoá chất, tàu khách ngày càng gắt gao
2.1.3 Ảnh hưởng của cơ cấu dân số lên ngành VTB
Ngành VTB là ngành cần có nguồn nhân lực trẻ, có sức khoẻ và chủ yếu là nam giới Về đặc điểm chung nước ta đã có rất nhiều tiến bộ giảm tỷ lệ hộ đói nghèo so với năm 1993, đạt mục tiêu giảm nghèo trước 10 năm từ 60% năm
1990 xuống 32% năm 200023 Tuy nhiên một số đặc điểm chính cùng xu hướng biến động của các quá trình dân số như sau:
Xu hướng tăng cơ học biến động về nam giới: Theo dự kiến, vào năm 2015 dân
số Việt Nam sẽ tăng đến 100 triệu người và giữ ở mức trên dưới 140 triệu người vào năm 2025 Cơ cấu giới tính nghiêng về phía nam giới
Cơ cấu dân số trẻ có xu hướng già hoá:
23 Báo cáo của Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc 2005
Trang 30Theo số liệu tổng điều tra dân số ở nước ta năm 1998 tuổi thọ trung bình của nam là 63 tuổi và nữ là 67,5 tuổi; năm 1990 – 1995 tỷ lệ ấy là 63,74 và 68,36 Dự báo đến năm 2010 sẽ có 8,67 triệu người già, chiếm tỷ lệ 8,6%
Biến động về nghề nghiệp:
Hiện nay, vẫn có sự mất cân đối lớn giữa lao động phổ thông và lao động có trình độ, giữa các ngành nghề được đào tạo Tuy nhiên một yếu điểm chính về trình độ lao động của chúng ta là ngoại ngữ kém và tính kỷ luật không cao dẫn đến xuất khẩu lao động trong ngành VTB còn khá hạn chế
Vì thế thứ hạng chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI) của nước ta đã được cải thiện lớn xếp 108/177 quốc gia phân loại
Khi xem xét yếu tố dân số tác động lên ngành VTB ta thấy dân số Việt Nam trẻ, lực lượng lao động dồi dào, thu nhập còn thấp dưới 640USD/năm phù hợp với việc phát triển nguồn nhân lực cho ngành VTB
Tính kỷ luật, sức khoẻ yếu, ngoại ngữ kém là hạn chế lớn nhất của lao động Việt Nam hiện nay
2.1.4 Quá trình hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới của Việt Nam
Ban Chấp hành TW khoá VIII đã thảo luận về một vấn đề rất hệ trọng là xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn liền với hội nhập quốc tế Sau khi trở thành thành viên ASEAN (1995); APEC (1998) và ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO - Tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh Kể từ ngày 28/7/1995, Việt Nam được kết nạp là thành viên, chúng ta đã hội nhập nhanh chóng vào các hoạt động của ASEAN qua ASEM, ARF, AFTA, AIA hay hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) Năm 2003 Việt Nam xuất khẩu sang các nước ASEAN dầu thô trị giá 1,186 tỷ USD, gạo: 338
Trang 31triệu USD, máy tính và linh kiện (172 triệu USD), dệt may: 82 triệu USD, thủy sản: 81 triệu USD, cao su 38 triệu USD, cà phê: 31 triệu USD, ngược lại nhập khẩu nhiều loại mặt hàng từ ASEAN như máy móc, nguyên vật liệu, sản phẩm điện, điện tử gia dụng, ô tô và phụ tùng ô tô … Mười năm qua xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN tăng 3 lần từ 1 tỷ USD năm 1995 đến 3 tỷ USD năm
2005 và nhập khẩu cũng tăng từ 2,3 tỷ USD đến 6 tỷ USD cùng năm so sánh24
Song song với kim ngạch buôn bán là dòng đầu tư mạnh từ ASEAN và đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong đó có rất nhiều các dự án về ngành VTB Singapore là cường quốc VTB trong Châu Á và là điểm trung chuyển lớn nhất tại Đông Nam Á Cho tới nay, tất cả các hãng tàu lớn của Singapore đều đã có đại diện hay hoạt động tại Việt Nam dưới dạng hợp tác
Sơ đồ 7: Tình hình xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam đến 2005
33%
America China 8%
24 Tạp chí Sổ tay xây dựng Đảng, sô 1/2005,tr.11
Nguồn :
Trang 32VITRANCHART, FALCON … cũng đang xúc tiến việc mở các văn phòng đại diện ở nước ngoài
Với việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại Thế giới , chắc chắn rằng nền kinh tế của chúng ta sẽ có nhiều cơ hội để tăng trưởng khi mà làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng lên, nền kinh tế sẽ năng động hơn, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và các nền kinh tế khác sẽ tăng lên đáng kể Cơ hội và thách thức đối với ngành vận tải biển nước ta sẽ là rất lớn và rõ rệt
Như vậy hội nhập sẽ dẫn tới:
• Trao đổi buôn bán hàng hoá tăng rất mạnh dẫn tới ngành VTB phát triển mạnh, đặc biệt là hàng container và hàng lỏng ( dầu thô và dầu sản phẩm các loại )
• Các doanh nghiệp VTB Việt Nam sẽ xâm nhập được vào thị trường các nước bạn hàng mở rộng thị phần, thu hút được đầu tư chuyển giao công nghệ
• Thế và lực trong thương mại của Việt Nam không cao dẫn đến các chủ hàng nước ta bị động trong việc giành quyền vận tải (chỉ mua CIF bán FOB) cho các doanh nghiệp trong nước
• Các tập đoàn VTB nước ngoài sẽ xâm nhập rất mạnh và cạnh tranh gay gắt với các công ty VTB nước ta
2.1.5 Aûnh hưởng của các chính sách khuyến khích ưu đãi phát triển ngành VTB của Chính phủ Việt Nam
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 149/2003/QĐ-TTg, theo đó các doanh nghiệp VTB Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi thuế để phát triển vận tải biển Kể từ ngày 6/8/2003 hàng hoá chỉ có các doanh nghiệp vận tải Việt Nam
Trang 33mới được quyền tham gia vận tải các hàng hoá XNK có vốn từ ngân sách Nhà nước, miễn thuế thu nhập đối với phương thức thuê tàu trần định hạn, miễn thuế thu nhập 2 năm đầu, giảm 50% cho 2 năm tiếp theo cho các tàu được đầu tư bằng phương pháp vay mua, thuê mua Ngoài ra sẽ xem xét giảm thuế XNK cho các chủ lô hàng mua FOB và bán CIF có sử dụng phương tiện vận chuyển là các tàu Việt Nam Chủ lô hàng xuất khẩu có thuế suất 0% hiện nay sẽ được hỗ trợ tiền cước vận chuyển từ Qũy hỗ trợ phát triển, không cấp giấy phép liên doanh hoặc hợp tác liên doanh cho các đối tác đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực VTB khi mà phía Việt Nam có vốn góp dưới 51% Mặt khác các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư mua tàu sẽ được vay vốn từ quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển để phát triển đội tàu Việc khuyến khích này tác động khá tích cực tới ngành chủ yếu là tàu hàng khô, tàu hàng rời, tàu container
Với các chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển Việt nam sẽ có được nhiều thuận lợi khi được giữ lại thuế thu nhập doanh nghiệp, được miễn thuế VAT, được vay vốn ưu đãi đầu tư tàu biển
2.2 Phân tích môi trường ngành VTB nước ta
2.2.1 Xu hướng phát triển ngành VTB thế giới và Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương vươn ra biển Đội tàu VTB là mũi nhọn của ngành Hàng Hải – một ngành có vị trí quan trọng không chỉ đối với kinh tế biển mà còn đối với công cuộc đổi mới nền kinh tế xã hội của cả nước25
Đội tàu biển thế giới nói chung vẫn tiếp tục tăng trưởng, nhưng mức tăng không đều theo cơ cấu loại tàu Trong giai đoạn 2000 – 2005 năm qua, tốc độ tăng bình quân tấn trọng tải (DWT) khoảng 2,9% trong đó tàu hàng khô 3%, hàng rời 3% và hàng lỏng là 2,5% Riêng về vận tải Container thì có tập trung chủ
25 Nghị quyết TW 3
Trang 34yếu vào 20 hãng tàu lớn của Nhật bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Đan Mạch
Bảng 5 : Phát triển đội tàu một số nước trên thế giới giai đoạn 1980 –
Trang 35Crude oil 28%
Chemical 2%
General cargo 20%
Other dry bulk 16%
Đối với tàu hàng rời thì chủ yếu lượng hàng hoá vận chuyển là than, quặng, ngũ cốc, gạo, sắn lát … Lượng hàng này phát triển ổn định phù hợp với các cỡ tàu 25 – 30 ngàn tấn DWT, chủ yếu ở các nước châu Á và Bắc Mỹ Nhóm tàu có cỡ 50 – 80 ngàn tấn phát triển nhanh ở các nước công nghiệp phát triển vận chuyển quặng đi các tuyến từ Úc, Canada đi Bắc Âu, Nhật Bản
Vận tải bằng Container:
Quá trình Container hoá đã bước sang giai đoạn phát triển hoàn toàn ở Châu Âu và Bắc Mỹ, Nhật Bản Xu hướng này đang tiếp tục tiến dần tới các khu vực khác trên thế giới Theo thống kê vào đầu những năm 90, số lượng Container quốc tế có khoảng 3,6 triệu TEU Năm 2000 đã lên tới con số 8,5 triệu TEU và dự kiến năm 2005 con số này sẽ là 17 triệu TEU trong đó Châu Á chiếm 75% sản lượng Container của thế giới Chủ yếu phát triển tàu Container có trọng tải thích hợp để vận chuyển các tuyến trong khu vực Châu Á và ASEAN, liên kết với các khu trung chuyển lớn trong khu vực như Singapore, HongKong, Kaoshung (Đài Loan) Các tuyến chính chủ yếu là Hải Phòng/Sài Gòn – Singapore/Malaysia/HongKong/Đài Loan/Nhật Bản/Hàn Quốc đồng thời qua
Nguồn : Fearlays Reseach 2005
Trang 36các nơi trung chuyển này tới các nơi khác trên thế giới như Mỹ, Châu Âu, Trung Đông hay Bắc Á
Sơ đồ 9: Lượng container giao dịch năm 2005 (TEU) 27
EXPORT ( MILION TEU )
IMPORT ( MILION TEU )
Vận tải bằng tàu hàng rời:
Dự báo giai đoạn 2005 – 2010, tốc độ tăng trưởng tấn tàu hàng rời và hàng khô sẽ là vào khoảng 5 – 6,5%/năm tập trung chủ yếu vào khu vực châu Á
Sơ đồ 10 : Phân bố việc vận chuyển hàng rời theo cỡ tàu 28
27 Nguồn : Fearlays Reseach
Nguồn : Fearlays Reseach 2005
Nguồn : Fearlays Reseach 2005
Trang 37Tàu hàng rời cỡ nhỏ ngày càng khan hiếm Cước sẽ tiếp tục tăng đảm bảo lợi nhuận cho loại tàu này cao Số lượng tàu cỡ 10.000 – 25.000 DWT được đóng mới ít hơn rất nhiều so với số lượng tàu cần phá dỡ Riêng trong năm 2004 chỉ có khoảng 9 tàu đóng mới cỡ 10.000 – 15.000 DWT và một tàu cỡ 15 – 20.000 DWT được bàn giao
Tàu cỡ 30 – 35.000 DWT đang được các công ty vận tải ưa thích hơn với gần 80 tàu được đặt đóng trong đó 30 tàu được giao trong năm, còn lại giao vào các năm tiếp theo Số lượng tàu cỡ lớn hơn có xu hướng giảm với 12 tàu cỡ 35 – 40.000 DWT và 31 tàu cỡ 40 – 50.000 DWT (loại Handymax) được đặt đóng
Cỡ tàu Supermax 50 – 55.000 DWT được đặt đóng mới với số lượng gần 170 tàu trong đó 56 tàu được giao trong năm 2004, 66 tàu trong năm 2005 Số còn lại trong năm 2006 Một lý do chủ yếu mà các chủ tàu muốn đóng tàu cỡ lớn là
do nhu cầu vận chuyển nguyên liệu thô cho các nhà sản xuất Trung Quốc đang tăng rất mạnh Lượng hàng rời trên thị trường thế giới chủ yếu là gạo, quặng,
xi măng rời và hạt ngũ cốc Đối với đội tàu hàng rời nước ta, chủ yếu là gạo xuất từ Việt Nam và Thái Lan
Sơ đồ 11 : Sản lượng gạo mậu dịch của nước ta từ 2001 – 2005
Trang 38Số liệu thống kê đều dự kiến sản lượng gạo xuất khẩu trong năm 2003 tăng hơn
những năm trước đây trung bình từ 9% - 10% và dự báo sẽ còn tăng hơn nữa
trong những năm tiếp theo Việt Nam được xem là nước xuất khẩu gạo đứng
thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) với sản lượng gạo xuất khẩu trung bình
trong các năm từ 2004 – 2006 đạt trên 4,5 triệu tấn/năm, chiếm khoảng 18%
tổng sản lượng gạo xuất khẩu trên thế giới Hầu hết gạo Việt Nam được xuất
khẩu thông qua hai cảng TP.HCM và Cần Thơ
Bảng 6 : Sản lượng và kim ngạch gạo Việt Nam XK giai đoạn 2001 – 2005 29
Khối lượng Năm
Ngàn tấn Thay đổi (%)
Kim ngạch ( Triệu USD )
Nguồn : Báo đầu tư chứng khoán số 10/2005
Sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Phi năm 2005 lên đến
trên 1 triệu tấn bên cạnh thị trường truyền thống như: Indonesia, Philippines và
Malaysia
Trang 39
Thực tế cũng cho thấy năng lực vận chuyển của đội tàu hàng rời trong nước thực sự không đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu đặc biệt là gạo Hiện tại chỉ có hai đơn vị sở hữu đội tàu vận chuyển gạo nhiều nhất là Công ty VTB Việt Nam (Vosco) và Công ty VTB III (Vinaship) Trong đó, Vosco có 16 tàu tham gia vận chuyển gạo với tổng trọng tải là 174.884 DWT; Vinaship có 6 tàu với 40.325 DWT, số ít còn lại là tàu của các công ty tư nhân Tàu Việt Nam có trọng tải tương đối nhỏ, tuổi tàu trung bình cao nên chỉ có thể vận chuyển những lô hàng nhỏ khoảng 5.000 – 10.000 tấn đi các tuyến ngắn như: Indonesia, Philippines và Malaysia … Còn lại lô hàng lớn khoảng trên 20.000 tấn đi Iraq, Cuba phần lớn đều do tàu nước ngoài vận chuyển
Sơ đồ 12 : Thị trường các nước nhập khẩu gạo của Việt nam
Afirica 12%
Cuba 8,50%
Indonesia 13,80%
Nguồn : Báo đầu tư chứng khoán số 10/2005
Trang 40OIL CONSUMPTION BY AREA
Nam chưa có thể đảm nhận được việc vận chuyển những lô hàng lớn đi tuyến dài như Châu Phi hoặc Iraq
Vận tải hàng lỏng:
Sơ đồ 13 : Mức tiêu thụ nhiên liệu ở các khu vực 30
MILION TONNES
Xu hướng tiêu thụ dầu mỏ trên toàn thế giới đang tăng lên (theo đồ thị trên) với tốc độ trung bình khoảng 6%/năm Đối với nước ta, là nước đang xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu dầu sản phẩm thì theo dự báo tới năm 2010 chúng ta sẽ khai thác 18 triệu tấn dầu thô Năm 2006 nhà máy lọc dầu số 1 đã đi vào hoạt động giai đoạn đầu, với tỷ lệ tham gia vận chuyển tăng dần và đạt 30% thì trọng tải đội tàu dầu thô cần có 180.000 DWT Đối với tàu dầu sản phẩm: lượng xăng dầu tiêu thụ trong nước tăng nhanh, năm 2000 đạt mức 8,3 triệu tấn và tăng khoảng 11,2% hàng năm Hiện nay đội tàu VTB của ta vận chuyển được 14% Mục tiêu giành được mức 40% thị phần
Như vậy, ta có thể tóm tắt về xu hướng phát triển của ngành VTB thế giới và Việt Nam như sau :
• Đội tàu biển thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng, chủ yếu là tàu container, tàu hàng rời, tàu dầu
Nguồn : Fearlays Reseach 2005