Một trong những vấn đề đó là định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòao1 Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh sẽ tạo điều k
Trang 1- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn này chỉ do cá nhân tôi thu thập, điều tra số liệu và tham khảo các tài liệu liên quan để viết hoàn chỉnh bản luận văn
Trang 2- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
2
LỜI CÁM ƠN
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra cho Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hoà nói riêng những thời cơ và thách thức mới Để tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý công nghiệp phải có những chiến lược, những định hướng phát triển công nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường, với sự phát triển của thời đại Một trong những vấn đề đó là định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòao1
Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh sẽ tạo điều kiện cho ngành công nghiệp phát huy tối đa những tiềm năng, lợi thế của mình, tận dụng được những cơ hội, vượt qua những khó khăn, thách thức, hiểu và biết cách sử dụng một cách tối ưu, có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm với một chi phí nhỏ nhất, từ đó đề ra và thực hiện các chính sách đúng đắn, có hiệu quả cao nhất Vì vậy, việc định hướng và tìm ra các giải pháp để chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà là một trong những công việc vô cùng quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển đúng hướng
Mặc dù nhận được sự giảng dạy tận tình của quý thầy cô, sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy GS-TS Nguyễn Kế Tuấn, cho dù bản thân đã có nhiều nỗ lực, song do thời gian và kiến thức có hạn cho nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong quá trình hoàn thiện luận văn
Nhân đây tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô, nhất là GS-TS Nguyễn Kế Tuấn, cám ơn lãnh đạo các Sở: Công nghiệp; Kế hoạch và Đầu tư;
Thuỷ sản; Du lịch và Thương mại; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Khoa học công nghệ; Cục Thống kê và các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp tỉnh Khánh Hoà đã nhiệt tình cung cấp tư liệu để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3
- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
3
Nha Trang, tháng 9 năm 2007
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước DNQD: Doanh nghiệp Quốc doanh DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh FDI: đầu tư trực tiếp nước ngoài
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 4- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
4
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu
Khánh Hòa là tỉnh thuộc vùng Duyên hải miền Trung, với diện tích 5.197km2, trong đó đất nông nghiệp tương đối phì nhiêu thích hợp cho sự phát triển lâm nghiệp và trồng cây công nghiệp như mía, thuốc lá, điều…
Khánh Hòa với bờ biển dài trên 385 km, điều kiện tự nhiên thuận lợi, có nguồn tài nguyên biển phong phú, tạo điều kiện cho họat động nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản xuất khẩu
Khánh Hòa cũng có nhiều lọai khóang sản có trữ lượng lớn tạo điều kiện thuận lợi cho ngành khai thác, chế biến khóang sản phát triển
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế Khánh Hòa đã có những bước tăng trưởng đáng kể Từ một trung tâm tiêu thụ và dịch vụ với một nền công nghiệp nhỏ bé, lạc hậu, Khánh Hòa đã trở thành một trung tâm sản xuất hàng hóa, tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng một phần nhu cầu trong nước và tham gia xuất khẩu
Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, công nghiệp Khánh Hòa ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế Giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng bình quân trên 20%/năm đưa công nghiệp Khánh Hòa đứng hàng thứ
10 trong 64 tỉnh, thành của cả nước về gía trị sản xuất công nghiệp Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong GDP của tỉnh tăng từ 30% năm 1990 lên 42.24% năm
2006, đóng góp gần 1/2 tổng thu ngân sách của tỉnh, giải quyết việc làm cho hơn
130 nghìn lao động
Tuy nhiên trong những năm gần đây, tốc độ phát triển công nghiệp có phần chậm lại Năm 2001, tốc độ tăng trưởng đạt 28,9% đã giảm dần còn 25,5% vào năm 2002, 20,1% năm 2003, 20% năm 2004, 19% năm 2005 và 15,3% năm
Trang 5- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
5
2006 Điều đó làm cho các nhà lãnh đạo của tỉnh trăn trở và các nhà quản lý công nghiệp lo lắng
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã khẳng định định hướng phát triển công
nghiệp trong giai đọan 2001 – 2010: “tập trung phát triển mạnh ngành chế biến
nông, lâm, thủy sản gắn với việc hình thành các vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung kết hợp với khai thác, chế biến khóang sản như cát, đá ốp lát, gạch ngói,
nước khóang ” Việc thực hiện định hướng đó trong những năm 2001-2003 đã
phát huy tác dụng tốt, nhưng từ năm 2004 đến nay cho thấy định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp như thế không thể bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của công nghiệp Khánh Hòa cũng như quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Thật vậy, do tập trung phát triển ngành chế biến nông sản, nhất là công nghiệp chế biến mía đường, tỉnh đã tập trung xây dựng các nhà máy đường có quy mô công suất lớn như nhà máy đường Cam Ranh, công suất 6.000 tấn mía/ngày, nâng tổng công suất chế biến đường tòan tỉnh lên 7.500 tấn mía/ngày ( chưa kể năng lực chế biến của các lò đường thủ công) Trong khi đó, nguồn nguyên liệu không đủ đáp ứng, do đó công ty Đường Khánh Hòa liên tục bị thua lỗ
Ngành sản xuất chế biến thuốc lá, do khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới về ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe con người, Chính phủ đã hạn chế và không cho gia tăng sản lượng Vì thế, nhà máy thuốc lá của Tổng Công ty Khánh Việt không thể đầu tư mở rộng nâng cao công suất, trong khi đó ngành sản xuất này đóng 1/3 ngân sách tỉnh, chiếm hơn 80% thu ngân sách của công nghiệp Khánh Hòa
Ngành sản xuất, chế biến thuỷ sản tuy có phát triển mạnh và hiện là ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cho tỉnh Năm 2006 đạt 260 triệu USD
Trang 6- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
6
trong tổng số 530 triệu USD kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh Nhưng do nguồn nguyên liệu hải sản gần bờ ngày càng khan hiếm và cạn kiệt, trong khi đó các chủ phương tiện tàu thuyền đánh bắt xa bờ liên tục bị thua lỗ không có khả năng trả nợ vay cho ngân hàng, cho nên các nhà máy chế biến thuỷ sản thường xuyên thiếu nguyên liệu để sản xuất Tốc độ tăng trưởng của ngành này bình quân tăng 13-15%/năm Mặt khác, do cạnh tranh và tranh mua nguyên liệu của các nhà máy chế biến thuỷ sản trong cả nước, vì vậy việc thiếu hụt nguyên liệu để sản xuất ngày càng trầm trọng hơn
Trước thực tế nêu trên, Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ Khánh Hòa nhiệm kỳ XV định hướng phát triển công nghiệp theo 8 ngành chủ lực như sau: (1) đóng mới, sữa chữa tàu thuyền-cơ khí, điện tử; (2) chế biến hải sản; (3) chế biến nông sản; (4) khai thác chế biến khoáng sản-sản xuất vật liệu xây dựng; (5) chế biến lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; (6) dệt, may, phụ liệu may; (7) sản xuất nước giải khát; (8) công nghệ thông tin
Tuy nhiên, định hướng này chưa được kiểm chứng bởi những luận cứ khoa học nhằm bảo đảm cho công nghiệp Khánh Hòa tận dụng tối đa lợi thế so sánh của tỉnh để phát triển một cách bền vững trong giai đoạn 2006-2015 góp phần đưa tỉnh Khánh Hoà trở thành tỉnh công nghiệp
Xuất phát từ thực tiễn nói trên, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu luận cứ khoa học định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 và những giải pháp thúc đẩy thực hiện định hướng đó
Đây là đề tài có ý nghĩa thực tiễn thiết thực
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những luận cứ khoa học của việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu Điển hình như: tác giả Lê Xuân Hiền nghiên
cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp của tỉnh Đồng Nai; tác giả Hồng
Trang 7- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
7
Thanh Liêm nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp vùng kinh
tế trọng điểm Miền trung; hoặc trong tập sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân, do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
xuất bản năm 1994; tác giả Nguyễn Vĩnh Thanh, Phạm Minh Tâm, Phan Thế Sáo và Đặng Trần Đường nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của tỉnh
Vĩnh Phúc, Quảng Bình, Bắc Giang và Bắc Ninh…
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu luận cứ khoa học chuyển dịch
cơ cấu ngành công nghiệp và đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Vì thế, đây là vấn đề khá mới và cũng rất cần thiết giúp cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý công nghiệp tỉnh Khánh Hoà có cơ sở khoa học để xác định được chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh trong thời gian tới một cách hợp lý nhất nhằm chỉ đạo điều hành nền kinh tế tỉnh Khánh Hòa nói chung và ngành công nghiệp Khánh Hòa nói riêng đạt được kết quả tốt nhất, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Khánh Hòa
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về cơ cấu ngành công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp, đánh gía thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà trong thời gian vừa qua, luận văn đề xuất những luận cứ khoa học chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp, những định hướng và những giải pháp cơ bản thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Trong đó, luận văn đặc biệt chú trọng những vấn đề liên quan đến xác định những luận cứ khoa học để chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
8
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp luận chung nghiên cứu luận văn Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích thống kê, phương pháp tổng hợp
so sánh, phương pháp điều tra khảo sát thực tế…
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp giai đọan 2001-2006, định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015
Các số liệu sơ cấp được điều tra cụ thể từ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Các số liệu thứ cấp được cung cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước như:
Cục thống kê, các Sở, Ban, Ngành liên quan…
6 Những đóng góp của luận văn
Xác định rõ những luận cứ khoa học về chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Làm rõ định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nhằm đáp ứng yêu cầu đưa tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 trở thành một tỉnh công nghiệp
Kiến nghị các giải pháp đồng bộ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 9- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
9
CHƯƠNG MỘT
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1.1 Quan niệm chung về công nghiệp, cơ cấu công nghiệp và cơ cấu ngành công nghiệp
1.1.1 Công nghiệp – một bộ phận quan trọng cấu thành cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh
Công nghiệp tỉnh gồm tổng hợp các bộ phận công nghiệp do tỉnh quản lý và bộ phận công nghiệp của Trung ương đặt trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài cùng với các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp hình thành hệ thống công nghiệp mang tính chất đặc thù vùng Như vậy, công nghiệp trên địa bàn tỉnh là tất cả các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có trên địa bàn tỉnh; là một bộ phận cấu thành và có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế tỉnh
Nhiệm vụ chủ yếu của ngành cơng nghiệp là khai thác sản phẩm từ tự nhiên;
tiếp tục chế biến những sản phẩm được khai thác từ tự nhiên do ngành nơng nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản, ngành cơng nghiệp khai thác thực hiện; đồng thời cịn bao gồm những hoạt động vừa mang tính sản xuất vừa mang tính lưu thơng, dịch vụ như: hoạt động sản xuất và phân phối điện, nước, hơi đốt
Ngành cơng nghiệp bao gồm những hoạt động cụ thể như sau:
Cơng nghiệp khai thác: bao gồm khai thác than; khai thác dầu thơ, khí tự
nhiên cùng các hoạt động dịch vụ phục vụ khai thác dầu khí; khai thác quặng các loại; khai thác đá, cát sỏi, đất, muối, khống chất, phân bĩn…
Cơng nghiệp chế biến: là họat động làm thay đổi hình dáng, kích thước và
tính chất của nguyên liệu nhằm tạo ra các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và dân sinh
Sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt
Trang 10- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
10
- Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước, nước máy
- Khai thác, lọc và phân phối nước máy…
Do nội dung và phạm vi hoạt động của ngành công nghiệp rộng, nên sản phẩm của nó rất đa dạng, vừa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình dân cư, tiêu dùng cho sản xuất ( chi phí trung gian ) của tất cả các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân; cho xuất khẩu ra nước ngoài, cho dự trữ chiến lược của Nhà nước… Công nghiệp còn sản xuất ra nhiều loại tài sản cố định để trang bị cho các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân dưới hình thức là: máy móc thiết bị, các phương tiện vận tải, phương tiện truyền dẫn, dụng cụ chính xác
Sản phẩm công nghiệp do tính chất đa dạng, trước khi sử dụng phần lớn phải qua công đoạn chế biến, vì vậy nó có khả năng để tiếp nhận những quy trình công nghệ hiện đại, giải phóng lao động chân tay thay thế vào đó là máy móc tự động hóa Trong mỗi sản phẩm có khả năng tăng dần hàm lượng hao phí trí thức khoa học thay vì hàm lượng hao phí lao động cơ bắp, tạo ra năng suất lao động cao đó là điều kiện tốt tham gia vào quá trình cạnh tranh và hiện đại hóa
1.1.2 Vai trò của công nghiệp
Vai trò của công nghiệp đối với quá trình phát triển nền kinh tế tỉnh được thể hiện ở các mặt sau :
Thứ nhất: công nghiệp khai thác và sử dụng các nguồn lực trong tỉnh, đáp
ứng nhu cầu nhân dân và thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế
Nếu như nông nghiệp chỉ sử dụng các nguồn lực vào hai lĩnh vực: chăn nuôi và trồng trọt, thì công nghiệp, ngoài việc sử dụng ngay các sản phẩm của nông nghiệp, còn khai thác và sử dụng các nguồn lực khác mà nông nghiệp không có khả năng khai thác Đặc biệt là nguồn tài nguyên khoáng sản, là nguồn nguyên liệu quan trọng trong quá trình phát triển công nghiệp, đáp ứng nhu cầu của sản xuất
Trang 11- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
11
Công nghiệp còn có khả năng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng nhờ vào việc sử dụng các lợi thế của mình nhằm phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn
Thứ hai : Công nghiệp thúc đẩy các ngành kinh tế khác trong tỉnh cùng phát
triển
Với nông nghiệp, công nghiệp là nơi tiêu thụ các sản phẩm Cụ thể là các ngành công nghiệp chế biến sẽ sử dụng các sản phẩm nông nghiệp làm nguyên liệu Mặt khác, công nghiệp là nơi cung cấp tư liệu lao động cho sản xuất nông nghiệp, các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, hoá chất, sinh học … sẽ cung cấp máy móc, phân bón, giống mới cho sản xuất nông nghiệp
Đối với các ngành dịch vụ, khi công nghiệp phát triển đòi hỏi các hoạt động thương mại cũng như các hoạt động dịch vụ khác như: giao thông, thông tin – liên lạc, ngân hàng – tài chính … cũng phát triển theo Công nghiệp còn tạo ra thu nhập cao, dẫn đến các nhu cầu về dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, du lịch … cũng ngày càng phát triển
Như vậy, công nghiệp có khả năng thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển Mặt khác, các ngành kinh tế khác phát triển có tác động trở lại, tạo đà cho công nghiệp phát triển Đây là mối quan hệ khăng khít lẫn nhau, cùng tồn tại và phát triển
Thứ ba : công nghiệp thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh tế tỉnh
Thực chất của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa là sự ứng dụng khoa học - công nghệ vào phát triển các ngành kinh tế quốc dân nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực Vì vậy, phát triển công nghiệp, đặc biệt là các ngành sản xuất ra tư liệu lao động, sẽ tạo khả năng ứng dụng vào phát triển các ngành kinh tế
Trang 12- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
12
Trong nền kinh tế tỉnh, phát triển công nghiệp tạo điều kiện cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế là một trong những biện pháp nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống nhân dân
Thứ tư : công nghiệp thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế đang là xu hướng mà mọi quốc gia đều hướng tới Đối với các nước đang phát triển như nước ta hiện nay, hợp tác quốc tế tạo điều kiện tận dụng các lợi thế và khả năng thu hút vốn đầu tư, khả năng áp dụng khoa học – công nghệ của thế giới phát triển nền kinh tế đất nước
Đối với mỗi tỉnh, cần phải xem xét các điều kiện của tỉnh mình để tìm ra các ngành công nghiệp có lợi thế, có khả năng tham gia vào quá trình hợp tác quốc tế
Tóm lại, công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển
nền kinh tế tỉnh Vì vậy, phát triển công nghiệp nhằm nâng cao vai trò của nó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tỉnh Để đạt được điều này, cần phải xác định một cơ cấu công nghiệp hợp lý nhất
1.1.3 Cơ cấu công nghiệp
Cơ cấu: Cơ cấu là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng
để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng
Cơ cấu công nghiệp: Cơ cấu công nghiệp trên địa bàn tỉnh là tổng thể
các mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Trong cơ cấu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, ngoài việc phản ánh số lượng, tỉ trọng giữa các bộ phận trong cơ cấu, nó còn thể hiện mối quan hệ giữa các bộ
Trang 13- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
13
phận với nhau Các quan hệ này có thể là trực tiếp hay gián tiếp; độc lập hay phụ thuộc nhưng nó đều được tồn tại và cấu thành trên nền kinh tế tỉnh
1.1.4 Cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh là tổng hợp các ngành công nghiệp chuyên môn hóa được hình thành trên địa bàn tỉnh Cơ cấu đó phải hình thành và phát triển dựa vào tiềm năng, thế mạnh ngay tại địa phương mình (chẳng hạn, tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, về nguồn cung cấp nguyên liệu, về năng lực khoa học kỹ thuật, công nghệ, về tay nghề truyền thống, sức lao động) và mối quan hệ giữa các ngành với nhau biểu thị bằng tỉ trọng của mỗi ngành so với tổng thể ngành công nghiệp của tỉnh Nhìn vào cơ cấu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có thể thấy ngay được những nét đặc thù của địa phương Cơ cấu này không đồng nhất với cơ cấu công nghiệp của toàn quốc – bởi cơ cấu của toàn quốc mang nặng tính toàn diện, tổng thể, bổ trợ Còn cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh mang nặng những nét đặc trưng của tỉnh
Bên cạnh tính độc lập tương đối, do tính đặc thù của địa phương quy định –
cơ cấu công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng chịu tác động của sự phân công lao động trong toàn quốc và ảnh hưởng của hệ thống công nghiệp trong vùng lãnh thổ
Cơ cấu ngành công nghiệp chuyên môn hóa trên địa bàn tỉnh phải phù hợp với sự phát triển của các ngành kinh tế khác ở tỉnh (như ngành nông nghiệp, dịch vụ, du lịch…) để có tác dụng tốt nhất thúc đẩy các ngành cùng phát triển một cách đồng bộ
Cơ cấu ngành công nghiệp luôn có sự biến đổi bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố : tự nhiên – kinh tế – xã hội trong và ngoài tỉnh Cho nên, một cơ cấu có thể là hợp lý trong giai đoạn phát triển này nhưng lại là không hợp lý trong giai đoạn phát triển khác Yêu cầu đặt ra là phải luôn luôn điều chỉnh cơ cấu đó cho
Trang 14- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
14
phù hợp với điều kiện phát triển của từng giai đoạn cụ thể và ta gọi đó là quá trình “Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp”
1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh là quá trình thay đổi tỷ trọng giữa các ngành công nghiệp trong tỉnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám cao, những ngành mũi nhọn, ngành xuất khẩu, ngành kỹ thuật cao … và giảm dần các ngành sử dụng nhiều lao động, nhất là lao động thủ công
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh là sự thay đổi có mục đích, có định hướng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển dịch
cơ cấu ngành công nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý và hiệu quả hơn
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự thay đổi cả về lượng lẫn về chất, nó chỉ xảy ra sau một khoảng thời gian nhất định và là kết quả của quá trình:
- Xuất hiện thêm những ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là có sự thay đổi về số lượng cũng như loại ngành trong ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
- Mối tương quan tốc độ phát triển nội bộ ngành công nghiệp dẫn tới sự thay đổi cơ cấu Trong trường hợp này sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là kết quả của sự phát triển không đồng đều nội bộ ngành công nghiệp Để đánh giá đúng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trong mỗi thời kỳ phải xem xét đồng thời cả tốc độ tăng trưởng và quy mô phát triển ở điểm xuất phát
Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là do vị trí và vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân quyết định Do những đặc điểm
Trang 15- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
15
vốn có của nó trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó Để có một cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là một tất yếu khách quan
Xác định và thực hiện phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là một vấn đề mang tính chiến lược của quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp của đất nước Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp phải khai thác một cách đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực, lợi thế của đất nước, đảm bảo công nghiệp phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tham gia tích cực vào sự phân công lao động và hợp tác lao động quốc tế Đó cũng là yêu cầu của việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp phải đạt được Trong mỗi giai đoạn của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp, yêu cầu chung đó sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp với khả năng và điều kiện của giai đoạn đó
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế tỉnh Bởi vì:
- Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực về lợi thế trong tỉnh Đặc biệt, nó tìm ra các ngành công nghiệp mũi nhọn tạo khả năng tăng trưởng mạnh mẽ cho nền kinh tế tỉnh
- Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp nhằm nâng cao vai trò và thiết
lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp với các ngành nông nghiệp – dịch vụ, tạo đà cho các ngành cùng nhau phát triển
- Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp nhằm nâng cao tính hiệu quả và
mở rộng quá trình hợp tác quốc tế
1.3 Một số quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
Trang 16- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
16
Việc phân tích một số quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp có vai trò rất quan trọng, nếu lựa chọn và vận dụng các quan điểm chuyển dịch hợp lý sẽ đem lại một cơ cấu ngành công nghiệp hợp lý nhất
Thật vậy, các ngành công nghiệp luôn luôn có xu hướng chuyển dịch từ các ngành công nghiệp thủ công truyền thống, sử dụng và tận dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có, kỹ thuật đơn giản sang các ngành công nghiệp hiện đại, sử dụng trình độ kỹ thuật cao
Việc phát triển các ngành công nghiệp truyền thống, kỹ thuật đơn giản, sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu trong nước, đồng thời từng bước phát triển các ngành công nghiệp sử dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại, sẽ đem lại hiệu quả cho quá trình chuyển dịch do vừa phát huy những tiềm năng, lợi thế so sánh của tỉnh vừa tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ của thế giới
1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo quan điểm thay thế hàng nhập khẩu
Theo quan điểm này, mỗi quốc gia sẽ phát triển mạnh việc sản xuất các sản phẩm, đặc biệt là hàng tiêu dùng, để thay thế các sản phẩm nhập ngoại Sự chuyển dịch ấy về lý thuyết sẽ mang lại tác dụng nhiều mặt: tiết kiệm ngoại tệ;
tạo thêm việc làm, khai thác nguồn lực trong nước… Để thực hiện chuyển dịch có hiệu quả, Nhà nước cần có nhiều chính sách hỗ trợ và khuyến khích sản xuất trong nước
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, quan điểm này chỉ phát huy tác dụng trong những giai đoạn nhất định của quá trình công nghiệp hóa Sự nhấn mạnh thái quá làm cho sản xuất lâm vào trạng thái bế tắc do thị trường trong nước dần dần được bảo hòa sẽ kìm hãm phát triển sản xuất, căng thẳng ngoại tệ có nguy cơ gia tăng,
do người sản xuất chuộng những điều kiện sản xuất nhập khẩu hơn; sức cạnh
tranh của sản phẩm sản xuất trong nước kém
Trang 17- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
Tuy nhiên theo quan điểm này sẽ gặp một số trở ngại như: cầu sản phẩm thô tăng chậm; điều kiện mậu dịch bất lợi cho các nước chậm phát triển; sự phát triển một số ngành công nghiệp trong nhiều trường hợp lại phụ thuộc vào sự đầu
tư của các nước đang phát triển
Trên thế giới đã có một số nước theo đuổi quan điểm phát triển này điển hình là các nước khai thác dầu thô ở Trung Đông Trong điều kiện hiện nay, mô hình này không thể coi là phổ biến và có hiệu quả Song trong giai đoạn chuẩn bị cất cánh, cần chú ý thỏa đáng đến quan điểm này trong việc kết hợp với các quan điểm chuyển dịch khác
1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo quan điểm gia tăng xuất khẩu
Quan điểm này được xây dựng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của mỗi quốc gia để xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, trọng tâm là phát triển các ngành hướng về xuất khẩu Mỗi quốc gia theo đuổi quan điểm này đều có bước đi cụ thể riêng Tuy nhiên cũng có những điểm chung đó là: giai đoạn đầu đặc biệt chú ý đến phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động như công nghiệp nhẹ, công nghiệp khai thác, công nghiệp sửa chữa dưới nhiều hình thức như gia công, chế biến xuất khẩu; liên doanh liên kết với nước ngoài hoặc kêu gọi nước ngoài đầu tư…sau đó vươn lên sản xuất, xuất khẩu sản phẩm tinh, có hàm lượng khoa học cao Một số nước thực hiện thành công việc nâng cao trình
Trang 18- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
1.3.4 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo quan điểm kết hợp
Đó là quan điểm kết hợp tất cả các quan điểm trên: vừa phát triển các sản phẩm xuất khẩu, vừa coi trọng thị trường nội địa
Qua các quan điểm chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp nêu trên và từ thực tiễn của nhiều nước, có thể thấy rằng giữa các quan điểm đó không có ranh giới tuyệt đối Quan điểm này có thể bao hàm nội dung của quan điểm khác
Chẳng hạn như quan điểm hướng thay thế nhập khẩu không phủ định thương mại quốc tế Để có ngoại tệ nhập các điều kiện sản xuất thay thế hàng nhập khẩu luôn đòi hỏi phải có sản phẩm xuất khẩu Sự phân định các mô hình đó trong thực tiễn chủ yếu là trọng tâm của chiến lược công nghiệp hóa ở mỗi thời kỳ của quốc gia Điều đó liên quan trực tiếp đến mức độ mở cửa của mỗi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa
Thực tế cho thấy, phần lớn các nước bắt đầu quá trình công nghiệp hóa bằng chiến lược thay thế nhập khẩu Song chiến lược này không kéo dài Khi đã tạo được những tiền đề nhất định cần thiết cho phát triển, mô hình cũ bắt đầu bộc lộ những nhược điểm, họ đã nhanh chóng chuyển sang chiến lược hướng về xuất khẩu Ví dụ như Nam Triều Tiên và Đài Loan chuyển sang chiến lược hướng về xuất khẩu vào những năm 1960; Inđônêxia, Malaixia vào cuối những năm 1960;
Thái lan vào những năm 1970 Chính đây là điều đã giúp cho các nước nàu khắc phục được thời gian trì trệ khá lâu Các nước này thường bắt đầu từ phát triển sản xuất và xuất khẩu sản phẩm truyền thống, sử dụng nhiều lao động, đồng thời phát
Trang 19- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
19
triển công nghiệp chế biến nhằm phát huy thế mạnh và lợi thế so sánh Chẳng hạn như Thái Lan bắt đầu sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, đồ trang sức Malaixia sản xuất dầu cọ, cao su Inđônêxia sản xuất chế biến gỗ, dầu khí Ngoài ra, họ còn tìm chỗ trống trên thị trường thế giới để chen chân vào bằng những sản phẩm độc đáo như: đồ chơi trẻ em, đồ lót … Sự phát triển các ngành này đã tạo tích lũy ban đầu dùng làm cơ sở để chuyển dần sang các ngành có hàm lượng khoa học – kỹ thuật cao, như sản xuất ô tô, tàu biển, giàn khoan, điện tử… Thực hiện đa dạng hóa sản xuất, đa phương hóa xuất khẩu để tránh sự lệ thuộc quá lớn vào một vài ngành, một số nước Thực hiện chuyển dần các ngành sử dụng nhiều lao động sang các nước kém phát triển hơn
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch đó Có nhân tố bên trong, nhân tố bên ngoài; có nhân tố trực tiếp, có nhân tố gián tiếp …
Tuy nhiên, xét theo đặc điểm của các nhân tố ta có thể chia ra thành các nhóm nhân tố sau :
1.4.1 Nhóm các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là nhân tố có tính chất quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh, vì mỗi tỉnh phải dựa vào điều kiện tự nhiên của mình để tìm ra các ngành có lợi thế trong quá trình phát triển
Điều kiện tự nhiên bao gồm :
Trang 20- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
20
một vùng với nhau Sự giao lưu này không chỉ dừng lại ở việc trao đổi hàng hóa sản phẩm mà còn ở khả năng trao đổi các nguồn lực như lao động, vốn, tài nguyên … giữa các tỉnh với nhau
Vì vậy, vị trí địa lý đem lại các cơ hội và có ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở mỗi tỉnh Trên cơ sở về tiềm năng và thế mạnh của vị trí địa lý sẽ định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp một cách hợp lý nhằm phát huy lợi thế so sánh của tỉnh
1.4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm : khí hậu, đất đai, nước, khoáng sản … tài nguyên thiên nhiên là nguồn nguyên liệu quan trọng cho quá trình sản xuất công nghiệp của tỉnh Vì vậy, một tỉnh có tài nguyên phong phú sẽ có khả năng phát triển mạnh ngành công nghiệp sử dụng các nguồn tài nguyên đó mà ít bị lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài Chẳng hạn, nếu có vị trí địa lý, đất đai thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp nhiệt điện, ngành lọc hóa dầu nhưng không có các hồ chứa nước để đáp ứng nhu cầu nước cho các ngành này thì cũng rất khó khăn cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Vì thế trong quá trình định hướng chuyển dịch cần nghiên cứu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên một cách kỹ lưỡng nhằm bảo đảm định hướng đó có khả thi
Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh còn phụ thuộc rất nhiều nhân tố khác, trong đó còn có các nhân tố về kinh tế – xã hội
1.4.2 Nhóm các nhân tố thuộc điều kiện kinh tế – xã hội
Các nhân tố chủ yếu thuộc nhóm này có ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh là :
1.4.2.1 Nhân tố thị trường
Nhân tố thị trường, đặc biệt là nhu cầu và tính cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu ngành công nghiệp sẽ hình thành
Trang 21- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
21
trong tỉnh Vì cơ cấu tiêu dùng và xu thế vận động của nó sẽ giúp ta tìm được một
cơ cấu ngành công nghiệp hợp lý, đảm bảo tính thực thi cao
Trong quá trình lựa chọn cơ cấu ngành công nghiệp của tỉnh, cần phải nghiên cứu kỹ nhu cầu để tận dụng các lợi thế của mình tìm ra các mặt hàng phù hợp với nhu cầu thị trường Đây là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường, nó quyết định đến việc sản xuất ra những sản phẩm
gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai? Việc xác định đúng thị trường tiêu thụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch phù hợp và khả thi hơn Có những thị trường trước mắt, nhưng cũng có những thị trường tiềm năng, vì thế cần nghiên cứu kỹ nhân tố thị trường trong quá trình chuyển dịch
1.4.2.2 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của tỉnh cũng có ảnh hưởng rất lớn tới chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Một cơ sở hạ tầng vững chắc sẽ tạo khả năng thu hút vốn đầu
tư, nhất là đối với ngành công nghiệp có vốn lớn, kỹ thuật cao Thật vậy, một tỉnh có đầy đủ cơ sở hạ tầng như đường, điện, nước, mặt bằng sản xuất… sẽ rất thuận lợi để phát triển công nghiệp và kêu gọi đầu tư Trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để khai thác và phát huy các tiềm năng và lợi thế của tỉnh một cách nhanh chóng Ngược lại một tỉnh có điều kiện về cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ không hấp dẫn các nhà đầu tư do đó sẽ rất khó khăn cho quá trình chuyển dịch Vì thế cần quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng một cách thích hợp để thực hiện tốt định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
1.4.2.3 Khoa học – công nghệ
Chính sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã làm thay đổi năng suất và chất lượng sản phẩm trong ngành công nghiệp Vì vậy, ngành nào được áp dụng khoa học công nghệ sẽ càng phát huy được các lợi thế của mình nhờ vào sản xuất chuyên môn hóa và tự động hoá, tăng khả năng cạnh
Trang 22- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
22
tranh trên thị trường Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sẽ tạo điều kiện để thu hút và tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoài để tạo ra những sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên cần phải thận trọng để tránh nhập những công nghệ lạc hậu, tránh trở thành “ bải rác thải về công nghệ “ của nước ngoài Điều đó sẽ phản tác dụng trong quá trình chuyển dịch, đồng thời chi phí để khắc phục ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh không phải nhỏ
1.4.2.4 Dân số và nguồn lao động
Do đặc điểm của các tỉnh nước ta là : dân số đông, nguồn lao động dồi dào và chủ yếu là sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, nên nhu cầu tìm việc ở khu vực công nghiệp là rất lớn Vì vậy ta cần tranh thủ lợi thế về lao động – với số lượng nhiều, giá nhân công rẻ – bằng cách phát triển các ngành công nghiệp có khả năng thu hút nhiều lao động
Trong giai đoạn hiện nay, nhân tố chi phí nhân công rẽ đang là nhân tố hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư So với các nước trong khu vực, chi phí nhân công của Việt Nam đang là một lợi thế để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào các ngành nghề sử dụng nhiều lao động như dệt, may, da giày, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ…
Việc phát triển các ngành nghề tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động là một yêu cầu cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng cần đặc biệt lưu ý đến các ngành nghề này
1.4.3 Nhóm nhân tố thuộc chính sách – pháp luật
Các định hướng, các mục tiêu cũng như các chính sách quản lý kinh tế – xã hội nói chung và quản lý công nghiệp nói riêng của đất nước có ảnh hưởng chung đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp của mỗi tỉnh Mục tiêu phát
Trang 23- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
23
triển công nghiệp của nước ta là tận dụng các nguồn lực trong nước và khuyến khích đầu tư nước ngoài nhằm khai thác các lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong các nước và tăng cường khả năng xuất khẩu Đồng thời hình thành lên một số ngành công nghiệp mũi nhọn trong các lĩnh vực: chế biến lương thực – thực phẩm ; khai thác và chế biến dầu khí; cơ khí chế tạo và sản xuất vật liệu; công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin
Vì vậy, cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh cũng phải tuỳ vào điều kiện của tỉnh mình mà chuyển dịch theo xu hướng đó để phù hợp với mục tiêu của đất nước
Các chính sách, các giải pháp thực hiện cụ thể của từng tỉnh cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Mỗi tỉnh phải đề ra các chính sách các giải pháp phù hợp tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
1.4.4 Nhóm nhân tố quan hệ và liên kết vùng
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh không thể quan tâm tới quan hệ vùng và liên kết vùng Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển dịch Việc nghiên cứu tổng thể tiềm năng, thế mạnh những thuận lợi, khó khăn của các tỉnh lân cận và của cả vùng sẽ tạo mối quan hệ, liên kết vùng tốt nhất trong quá trình chuyển dịch Tạo điều kiện để phát huy tiềm năng và thế mạnh của từng tỉnh có sự bổ sung cho nhau, giảm thiểu những mặt còn hạn chế để cùng nhau hợp tác phát triển
1.4.5 Nhóm nhân tố dựa vào toàn cầu hóa
Ngoài các nhóm nhân tố được nêu trên, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới thì việc chuyển dịch cơ cấu của ngành công nghiệp cả nước nói chung và của từng tỉnh nói riêng không thể tách rời hoặc không quan tâm tới vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề toàn cầu hóa Bởi vì với một thị trường vô vùng rộng
Trang 24- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
24
lớn của 150 nước thành viên, với những cam kết song phương và đa phương của Việt Nam với các nước thành viên, với việc tuân thủ những quy định và thông lệ quốc tế thì việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp của tỉnh không thể không quan tâm tới nhóm nhân tố này Đây là nhóm nhân tố mới nhưng nó vô cùng quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và của ngành công nghiệp nói riêng
1.5 Yêu cầu chung của chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển công nghiệp của tỉnh
Vì vậy việc xác định và thực hiện phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là một vấn đề mang tính chiến lược của quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp của tỉnh Cơ cấu công nghiệp phải khai thác một cách đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực, lợi thế của tỉnh, đảm bảo công nghiệp có thể phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Đó chính là yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp phải đạt được Trong mỗi giai đoạn của quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành công nghiệp yêu cầu chung đó sẽ được cụ thể hoá cho phù hợp với khả năng và điều kiện của giai đoạn đó
Việc chuyển dịch từ cơ cấu cũ, không hợp lý sang cơ cấu mới, hợp lý sẽ tận dụng và phát huy được các nguồn lực của tỉnh để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường, xã hội, là phương tiện quan trọng để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngoài ra nó còn giải quyết tốt các vấn đề trọng yếu của phát triển công nghiệp như : đầu tư, đào tạo cán bộ, công nhân lành nghề, hợp tác quốc tế, cơ chế quản lý … Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp phải theo hướng công nghiệp hóa,
Trang 25- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
Tính triệt để và hiệu quả trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực được thể hiện ở việc: không có tình trạng thiếu việc làm, năng suất lao động thấp; tài nguyên khoáng sản bị bỏ hoang, khai thác vô kỷ luật; tiền vốn bị ứ đọng, các tài sản nhà xưởng, máy móc thiết bị không sử dụng hết công suất; các kinh nghiệm, công nghệ truyền thống không được phát huy …
Để đánh giá về mặt này, có thể dùng một số chỉ tiêu sau :
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp: là tỉ lệ giữa lợi nhuận thu được so với số vốn bỏ ra
- Năng suất lao động của ngành công nghiệp: là tỉ lệ giữa giá trị sản lượng sản xuất (quy ra tiền hoặc hiện vật) trên một đơn vị thời gian
- Mức độ sử dụng tài nguyên khoáng sản: là tỉ lệ giữa khối lượng tài nguyên được khai thác trên tổng trữ lượng dự kiến
- Khả năng thu hút lao động của ngành công nghiệp từ ngành nông nghiệp: biểu hiện thông qua sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai ngành công nghiệp và nông nghiệp
1.5.2 Cơ cấu đó phải có mối quan hệ gắn bó với nhau cũng như đối với các
ngành kinh tế khác
Việc thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp với nhau cũng như giữa các ngành công nghiệp với các ngành kinh tế khác sẽ tạo điều kiện
Trang 26- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
26
cho các ngành cùng nhau phát triển, phát huy được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế tỉnh Một cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh hợp lý phải tạo ra được các liên kết đó
Các ngành công nghiệp mũi nhọn phải là động lực để các ngành bổ trợ phát triển theo Chẳng hạn, để phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng thì cần phát triển các ngành công nghiệp khai thác (như khai thác cát, đất đá, than…);
để phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản – thực phẩm thì cần phát triển ngành sản xuất nông nghiệp và các ngành cơ khí – chế tạo; phân bón – hóa chất … cũng phải phát triển để phục vụ sản xuất nông nghiệp
1.5.3 Cơ cấu đó phải có tính hướng vào hội nhập kinh tế quốc tế
Trong thời đại hiện nay, phát triển công nghiệp theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang là mục tiêu của đất nước ta Nó tận dụng được các lợi thế so sánh nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước, tạo điều kiện để phát triển bền vững
Ngoài ra, cơ cấu công nghiệp tỉnh hợp lý còn thể hiện ở một số mặt sau :
- Khả năng thu hút vốn đầu tư : là tỉ lệ giữa số vốn đầu tư từ bên ngoài so với tổng đầu tư (tính cho từng ngành hoặc toàn ngành công nghiệp tỉnh) Chỉ tiêu này phản ánh cơ cấu ngành công nghiệp đó có được sử ủng hộ của các nhà đầu tư bên ngoài hay không
- Khả năng sản xuất chuyên môn hóa : là tỉ lệ giữa số lao động sản xuất chuyên môn hoá so với tổng số lao động (tính cho từng ngành hoặc toàn ngành công nghiệp tỉnh) Nó phản ánh trình độ sản xuất cũng như khả năng áp dụng khoa học – công nghệ vào các ngành công nghiệp tỉnh
1.6 Kinh nghiệm của một số nước Châu Á về phát triển công nghiệp địa phương và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp địa phương – các vấn đề về
cơ sở thực tiễn
Trang 27- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
27
Để có được những định hướng đúng đắn cho phương án chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh, một trong những cơ sở thực tiễn rất quan trọng là nghiên cứu những kinh nghiệm, những mô hình phát triển công nghiệp địa phương, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp địa phương của những quốc gia thành công đặc biệt là một số nước Châu Á, nơi có những đặc điểm về kinh tế, xã hội, tự nhiên tương đồng với Việt Nam đặc biệt là các khía cạnh về kinh tế địa phương
1.6.1Nhật Bản Quá trình phát triển công nghiệp của Nhật được bắt đầu từ
cuối thế kỷ XIX, và được đẩy mạnh trong nửa đầu thế kỷ XX và quá trình này bắt đầu từ một nền nông nghiệp cổ truyền từ cấp, tự túc, manh mún Thành công của sự phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp địa phương nói riêng của Nhật là điều mà nhiều nước Châu Á phải quan tâm tìm hiểu vì các nước này có nhiều điểm tương đồng và xuất phát điểm tương tự như Nhật
Quá trình hình thành và phát triển cơ cấu công nghiệp địa phương của Nhật Bản có nhiều sáng tạo mới và theo hướng: đi đôi với việc xây dựng các xí nghiệp công nghiệp lớn ở đô thị Nhật Bản đã chú trọng thích đáng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa và nhỏ ở các thị xã, thị trấn và đặc biệt là việc mở rộng mạng lưới công nghiệp gia đình phân tán ở nông thôn, làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn
ở đô thị Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp địa phương ở Nhật Bản không chỉ dừng lại ở mức độ duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ra các ngành nghề mới, đặc biệt là các dịch vụ kinh tế – kỹ thuật nhằm tận dụng lao động dư thừa, nâng cao thu nhập và thúc đẩy công nghiệp phát triển
Đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp địa phương Nhật Bản quan tâm đến phát triển hàng loạt các ngành công nghiệp có liên quan mật thiết đến nông nghiệp và nông thôn như :
Duy trì các làng nghề tiểu thủ công nghiệp cổ truyền ở nông thôn
Trang 28- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
1.6.2 Trung Quốc Từ đầu những năm 50 sau khi thành lập Nhà nước Cộng
hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, đồng thời với đường lối phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, Trung Quốc đã quan tâm đến vấn đề phát triển và hình thành cơ cấu ngành công nghiệp địa phương một các hợp lý
Nét nổi bật trong việc phát triển công nghiệp địa phương của Trung Quốc sau thời kỳ cải cách kinh tế (bắt đầu từ 1978) là xuất hiện mô hình xí nghiệp Hương Trấn đã tạo ra cho Trung Quốc một con đường phát triển công nghiệp địa phương Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung các xí nghiệp công – thương nghiệp xây dựng và hoạt động ở các vùng địa phương đặc biệt là khu vực nông thôn Xí nghiệp Hương Trấn phát triển đem lại hiệu quả cao, đã góp phần quyết định vào việc thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội của địa phương, đặc biệt là nông thôn Tạo cơ sở cho sự chuyển dịch cơ cấu từ thuần nông, sản xuất tự túc tự cấp sang kinh tế hàng hóa, sử dụng lao động dư thừa của nông dân các vùng địa phương trong nước Nghị quyết Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 8 (khoá XIII) năm 1991 đã khẳng định : “Phát triển xí nghiệp Hương Trấn là con đường tất yếu làm phồn vinh kinh tế các địa phương, đặc biệt là kinh tế nông thôn” Mô hình tổ chức các xí nghiệp Hương Trấn ở các tỉnh, các địa phương Trung Quốc là : “Coi xí nghiệp cốt cán ở xã, thôn là chỗ dựa, lấy xí nghiệp liên hộ và cá thể làm trọng điểm” Xí nghiệp Hương Trấn đã tạo điều kiện mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh với nhiều ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ
Trang 29- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
29
1.6.3 Đài Loan Quá trình phát triển công nghiệp địa phương ở Đài Loan
được thực hiện theo mô hình công nghiệp không tập trung ở đô thị mà phân tán ở cả đô thị và các vùng nông thôn Cơ cấu ngành công nghiệp địa phương được thực hiện trên cơ sở sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong từng thời kỳ, phát triển cả công nghiệp đô thị và công nghiệp nông thôn, với những nội dung và hình thức thích hợp, đan xen nhau, cụ thể là :
Các xí nghiệp lớn thuộc các ngành hoá dầu, điện, luyện kim, đóng tàu, chế tạo ô tô … được xây dựng tập trung ở các đô thị lớn, phần lớn các xí nghiệp công nghiệp nhẹ như dệt sợi, đồ chơi trẻ em, chế biến nông sản thực phẩm … được bố trí ở các vùng huyện lỵ, thị trấn rải rác ở các vùng nông thôn, gần địa bàn nguyên liệu
Công nghiệp địa phương quản lý ở Đài Loan chủ yếu được tổ chức dưới dạng quy mô vừa và nhỏ Cơ cấu ngành của công nghiệp địa phương chủ yếu đi vào các ngành nghề thủ công, các ngành nghề, làng nghề truyền thống, cổ truyền, các xí nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch và xuất khẩu Ngành công nghiệp của tỉnh, huyện còn đi vào sản xuất các mặt hàng tiêu dùng, vật tư kỹ thuật và tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, sản xuất kinh doanh độc lập
Mô hình tổ chức công nghiệp được hình thành theo dạng liên doanh liên kết giữa các xí nghiệp nhỏ, vệ tinh với các xí nghiệp lớn ở đô thị
1.6.4 Thái Lan Công nghiệp địa phương của Thái Lan được đặt vấn đề
phát triển từ sau những năm 1960 Theo hướng chuyển từ chiến lược công nghiệp hóa đơn thuần từ tập trung vào công nghiệp đô thị sang chiến lược đa dạng hoá kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá cả đô thị và cả nông thôn, cả nông nghiệp và công nghiệp hướng về xuất khẩu
Trang 30- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
30
Phát huy ưu thế sẵn có về đất đai và nguồn lao động dồi dào, cơ cấu ngành công nghiệp các tỉnh các địa phương của Thái Lan đều xuất phát từ nông nghiệp và lấy nông nghiệp làm điểm tựa, đẩy mạnh sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng truyền thống, nông, lâm, thuỷ sản, đồng thời xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, có trọng điểm về sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao
Trong các kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp của các vùng, địa phương, Thái Lan đều có những nội dung và biện pháp cụ thể về khuyến khích, như cung cấp tín dụng, bồi dưỡng tay nghề, tiếp thị tạo ra mối quan hệ hợp đồng kinh tế gia công giữa công nghiệp nhỏ và công nghiệp lớn Các ngành mà Thái Lan quan tâm phát triển ở các địa phương là :
Các ngành nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ như chế tác vàng bạc đá quý, đồ trang sức
Nghề gốm sứ cổ truyền được phát triển theo hướng trở thành ngành xuất khẩu thu ngoại tệ thứ hai sau gạo
Ngành công nghiệp cơ khí chế tạo máy móc nông nghiệp và sửa chữa máy nông nghiệp ở nông thôn đem lại hiệu quả cao …
1.6.5 Những kết luận về kinh nghiệm phát triển công nghiệp địa phương và hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở một số nước Châu Á
Từ những phân tích cụ thể về phát triển công nghiệp địa phương của các nước Châu Á, mà thành công nhất là ở Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, có thể rút ra những kinh nghiệm sau đây :
Phát triển công nghiệp địa phương thường phải gắn liền với phát triển nông nghiệp, xuất phát từ nông nghiệp, theo mục đích công nghiệp hoá cả thành thị lẫn nông thôn
Trang 31- Người thực hiện: Trần Văn Ngọan - Thầy hướng dẫn: GS – TS Nguyễn Kế Tuấn
31
Cơ cấu ngành công nghiệp địa phương đều hình thành một cách rất đa dạng, từ sản xuất dịch vụ, nghề cổ truyền và nghề mới, với công nghệ kết hợp thủ công – nửa cơ khí và cơ khí
Một trong những hướng cần quan tâm trong phát triển công nghiệp địa phương là phát triển công nghiệp nông thôn Công nghiệp nông thôn thường bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau trong đó đặc biệt ưu tiên là công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản và các ngành thủ công mỹ nghệ cổ truyền, những ngành đặc sản ở từng địa phương
Hình thức tổ chức, qui mô cũng như trình độ khoa học – công nghệ của các
cơ sở sản xuất công nghiệp ở các địa phương cần phải được hình thành một cách
đa dạng trong đó nhấn mạnh nhiều đến các ngành nghề dựa vào lao động thủ công, sử dụng công cụ thô sơ, công nghệ đơn giản, dễ học, dễ làm Những ngành nghề đòi hỏi đôi bàn tay điêu luyện và óc sáng tạo của các nghệ nhân Trang bị dần máy móc thiết bị nửa cơ khí, cơ khí để tăng năng suất lao động của các ngành công nghiệp địa phương
Nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng đối với công nghiệp địa phương Ở những nước mà Chính phủ quan tâm đúng mức đến công nghiệp địa phương, công nghiệp nông thôn, đề ra các quyết sách đúng đắn thì công nghiệp địa phương, nông thôn sẽ phát triển thuận lợi và đem lại hiệu quả rõ rệt Ví dụ như: Trung Quốc coi phát triển xí nghiệp Hương Trấn là nội dung quan trọng của cải cách công nghiệp địa phương Chính phủ Thái Lan đã có chính sách chuyển hướng công nghiệp hoá tập trung từ đô thị sang chiến lược phân tán không gian công nghiệp, chú trọng phát triển công nghiệp địa phương, công nghiệp nông thôn
Trang 32- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
31
CHƯƠNG HAI ẹAÙNH GIAÙ THệẽC TRAẽNG CHUYEÅN DềCH Cễ CAÁU NGAỉNH COÂNG NGHIEÄP TREÂN ẹềA BAỉN TặNH KHAÙNH HOỉA 2.1 Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngμnh công nghiệp trên địa bμn tỉnh Khánh Hòa
2.1.1 Các yếu tố về vị trí địa lý vμ điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Khánh Hòa lμ tỉnh ven biển có điểm cực Đông của đất nước, thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, giáp với tỉnh Phú Yên ở phía bắc, Ninh Thuận ở phía nam,
Đăk Lăk vμ Lâm Đồng ở phía tây Phía đông của Khánh Hòa lμ biển Đông với đường
bờ biển dμi khỏang 385 km Diện tích tự nhiên toμn tỉnh lμ 5.197 km2 với dân số 1.134 nghìn người, chiếm 1,58% về diện tích vμ 1,35% về dân số của cả nước; đứng hμng thứ 24 về diện tích vμ thứ 32 về dân số trong 64 tỉnh, thμnh phố nước ta
Nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước, quốc lộ 1A vμ đường sắt chạy từ phía Bắc đến phía Nam tỉnh, nối liền Khánh Hòa với các tỉnh phía bắc, phía nam Quốc lộ 26 nối Khánh Hòa với Đăk Lăk, quốc lộ 27 vμ tuyến quốc lộ mới nối vùng du lịch Đμ Lạt
Vị trí địa lý nêu trên lμ điều kiện thuận lợi để tỉnh Khánh Hòa liên kết với các tỉnh Miền Trung vμ Tây nguyên phát triển mạnh về kinh tế - xã hội nói chung vμ công nghiệp nói riêng
2.1.1.2 Các điều kiện tự nhiên
Địa hình: Khánh Hoμ có địa hình bờ biển khúc khuỷu, có nhiều vũng, vịnh
kín gió có thể xây dựng nhiều hải cảng lớn có tầm cở quốc tế như vịnh Cam Ranh, Vân Phong Đây lμ điều kiện lý tưởng để hình thμnh các nhμ máy đóng tμu cở lớn, nhμ máy sản xuất xi măng, nhiệt điện, sản xuất thép
Khí hậu: Khí hậu Khánh Hoμ vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió
mùa, vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hoμ Nhiệt độ trung bình hμng năm lμ 260C, nhiệt độ trung bình cao nhất vμ thấp nhất chỉ chênh lệch nhau
40C, mùa hè không oi bức, mùa đông không quá lạnh Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Trang 33- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
32
Khánh Hoμ tạo điều kiện tốt để hình thμnh các vùng nguyên liệu như mía, xòai, thuốc lá, cây công nghiệp phục vụ cho phát triển công nghiệp chế biến
Thuỷ văn: Sông ngòi của Khánh Hòa ngắn, dốc, lại nằm trong vùng mưa vừa,
trong khi đó tổn thất do bốc hơi lớn, lượng mưa lại tập trung chủ yếu vμo 3 tháng mùa mưa (tới 70- 80%) cho nên mùa khô thiếu nước Do vậy, việc hình thμnh các công trình hồ chứa nước, đập dâng, trạm bơm để tận dụng tối đa nguồn nước tự nhiên phục
vụ sản xuất phát triển công nghiệp lμ một yêu cầu bức thiết
2.1.2 Các yếu tố về tμi nguyên thiên nhiên vμ nguồn nguyên liệu
2.1.2.1 Tμi nguyên khoáng sản
Khánh Hòa có nhiều loại khoáng sản như than bùn, môlípđen, cao lanh, sét,
vμng sa khoáng, nước khoáng, sét chịu lửa, cát, san hô, đá granít v.v Tuy nhiên, các loại khoáng sản nμy chưa được khai thác vμ chế biến theo quy mô công nghiệp, mμ
còn ở dạng thủ công quy mô nhỏ
Khoáng sản sử dụng lμm vật liệu xây dựng, bao gồm nhiều chủng loại Đến nay có 14 mỏ đá vật liệu xây dựng các loại đang được khai thác, trong đó đá ốp lát với trữ lượng dự báo khoảng 170 triệu m3, mới được khai thác vμ xuất khẩu thô, chưa qua chế biến tinh Do vậy gía trị kim ngạch xuất khẩu không cao cho dù số lượng xuất khẩu lớn
Cát xây dựng với 3 điểm, tập trung ở hạ nguồn sông Cái Tổng trữ lượng 3 mỏ nμy lμ 3.253 triệu m3
Sét gạch ngói: Phân bố chủ yếu trong khu vực Ninh Hoμ (4 điểm), Nha Trang (2 điểm); Vạn Giã (2 điểm) Tất cả đều đã thăm dò từ quy mô mỏ nhỏ đến trung bình
Các mỏ chính lμ Bình Trung, Tân Lạc, Đại Cát, Xuân Ngọc, Phước Lương, Lạc Lợi, Diên An vμ Suối Dầu Trong tất cả các điểm trên chỉ có điểm sét gạch ngói Suối Dầu
đạt quy mô mỏ vừa, các điểm còn lại chỉ mỏ nhỏ
Đá vôi, san hô: dọc theo bờ biển của tỉnh có nhiều dải san hô (8 điểm) lμ nguyên liệu đá vôi cho sản xuất xi măng Đó lμ các điểm: Xuân Vinh, Xuân Tự, Ninh Phước, Hòn Khói, Hòn Hèo, Suối Vinh, Cam Ranh vμ Đường Đò Tuy có tiềm năng
đá vôi san hô lớn (6 mỏ đạt 17.614.500 tấn), song việc khai thác ảnh hưởng tiêu cực
đến môi trường, nhất lμ môi trường biển Vì thế cần hạn chế việc khai thác nguồn nguyên liệu nμy
Trang 34- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
33
Cát thuỷ tinh: Dọc ven biển tỉnh Khánh Hòa có 3 mỏ cát lμ Hòn Gốm ở Đầm
Môn, Thuỷ Triều, Cam Hải Trong đó mỏ Thuỷ Triều lμ mỏ cát trắng có chất lượng tốt nhất Tổng trữ lượng 64,3 triệu tấn; Cát thuỷ tinh Cam Hải (Cam Ranh) có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sản xuất thuỷ tinh quang học, pha lê trữ lượng 52,2 triệu m3; cát ở bán đảo Hòn Gốm (Vạn Ninh) khoảng 555 triệu m3 Hiện nay nguồn nguyên liệu nμy chỉ được khai thác, tuyển rửa vμ xuất khẩu thô, chưa có các cơ sở chế biến ra các sản phẩm thủy tinh cao cấp Vì thế cần chuyển dịch sang chế biến tinh, hạn chế xuất khẩu thô nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao
Than bùn trữ lượng khoảng 1 triệu tấn nhưng lμ loại than ít có khả năng đáp ứng tiêu chuẩn nhiên liệu, chỉ có khả năng sản xuất phân vi sinh phục vụ cải tạo đất nông nghiệp
Nước khoáng với tổng lưu lượng khoảng 40 lít/s, khả năng khai thác 3.500 m3/ngμy Đến nay đã đăng ký được 10 điểm nước khoáng nóng lμ: Tu Bông,
3.400-Đảnh Thạnh, Cμ Giang, Phước Trung, Suối Dầu, Ba Ngòi, Buôn Ma Dung (Trường Xuân), Hóc Chim, Vạn Lương Ma Pích, Khánh Bình Một số nơi đã đưa vμo khai thác công nghiệp như nước khoáng Đảnh Thạnh, Tu Bông, Trường Xuân Tuy vậy sản lượng khai thác còn rất hạn chế, tổng sản lượng hμng năm khỏang 35 triệu lít vμ xuất khẩu ra nước ngòai không đáng kể
2.1.2.2 Tμi nguyên biển
Biển Khánh Hòa có trữ lượng hải sản lớn tạo điều kiện cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản Tổng trữ lượng hải sản thuộc vùng biển Khánh Hòa khoảng 150 nghìn tấn/năm, trong đó chủ yếu lμ cá nổi (70%) Khả năng khai thác cho phép hμng năm khoảng 70 nghìn tấn Ngư trường ven bờ vμ rộng đã tập trung khai thác đến trữ lượng cho phép, chỉ còn khả năng mở rộng đánh bắt ra ngư
trường ngoμi khơi vμ ngoμi tỉnh bằng phương tiện tμu lớn, có phương tiện bảo quản dμi ngμy
Biển Khánh Hòa còn cung cấp các nguồn rong, tảo thực vật, nếu được khai thác vμ nuôi trồng theo khoa học thì đây lμ nguồn nguyên liệu quý cho ngμnh công nghiệp thực phẩm
Ngoμi các hải sản như cá, mực vμ các loại ốc, biển Khánh Hòa còn lμ nơi trú ngụ của loμi chim yến, hμng năm cho phép khai thác khoảng 2.000 kg yến sμo Đây
Trang 35- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
34
lμ một đặc sản quý mμ không phải tỉnh nμo trong cả nước cũng có thể có được Nó không chỉ góp phần cho xuất khẩu, mμ còn lμ nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp
Với khỏang 385 km bờ biển vμ khí hậu nắng nóng quanh năm, nước biển có nồng độ muối tương đối cao đã tạo điều kiện tốt cho việc sản xuất muối tập trung vμ các sản phẩm sau muối, nhất lμ muối công nghiệp, hóa chất Sản lượng muối toμn tỉnh khoảng 80.000 tấn/năm
2.1.2.3 Tμi nguyên đất
Đất sử dụng cho sản xuất phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2005 có
6.416,7ha Diện tích sử dụng cho công nghiệp lớn nhất lμ ở Cam Ranh, chủ yếu lμ đất khoanh vùng bảo vệ mỏ cát Cam Ranh chiếm 8,5% diện tích đất chuyên dùng khác của tỉnh vμ 1,23% diện tích tự nhiên của tỉnh Sau đó lμ Ninh Hòa, Vạn Ninh, thμnh phố Nha Trang
2.1.2.4 Khả năng khai thác nguồn nguyên liệu từ nông, lâm nghiệp cho phát triển công nghiệp
Khánh Hòa có một số cây lương thực vμ cây công nghiệp như: lúa, ngô, sắn, mía, cây ăn quả cùng với chăn nuôi được phát triển, cung cấp nguyên liệu cho các ngμnh công nghiệp chế biến của tỉnh Diện tích vμ sản lượng dự kiến một số cây
trồng có thể cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp của tỉnh theo bảng sau
Bảng 2.1: Diện tích, sản lượng một số cây trồng chính của Khánh Hòa
Sản lượng (Tấn) Hạng mục
Trang 36- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
Nguồn: Quy họach phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020
2.1.2.5 Về tμi nguyên vμ nguyên liệu từ rừng
Theo tμi liệu thống kê, diện tích rừng hiện có 186,5 nghìn ha, trữ l−ợng gỗ
18,5 triệu m3, trong đó 64,8% lμ rừng sản xuất, 34% rừng phòng hộ vμ 1,2% rừng đặc dụng
Rừng lμ một thế mạnh của Khánh Hòa, song việc khai thác bừa bãi những năm qua đã lμm tμi nguyên rừng ngμy cμng cạn kiệt Chỉ tính riêng từ năm 1976 đến 1996, diện tích rừng Khánh Hòa giảm 12,1 nghìn ha vμ 2,9 triệu m3 gỗ, bình quân mỗi năm giảm 740 ha vμ 0,145 triệu m3 gỗ Cùng với việc mất rừng lμ sự suy giảm các cây lâm
đặc sản quý nh−: pơ mu, cây gió, nhựa thông, song mây, lá buông v.v Đến năm
2005, khai thác gỗ đạt 25.786 m3, chủ yếu lμ rừng tự nhiên Khai thác nguyên liệu giấy đạt 3.000 tấn Chế biến gỗ đạt 3.500 m3 Trong thời gian tới cần khôi phục các khu rừng lá buông lμm nguyên liệu cho ngμnh công nghiệp sản xuất hμng thủ công
Trang 37- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
36
Mật độ dân số trung bình toμn tỉnh lμ 216 người/km2 Dân số phân bố không
đều, tập trung chủ yếu ở thμnh phố Nha Trang (1.387 người/km2), các huyện, thị xã
có trục giao thông Quốc lộ IA chạy qua như Cam Ranh (303 người/km2), Diên Khánh (267 người/km2), Vạn Ninh (225 người/km2), Ninh Hoμ (187 người/km2), hai huyện miền núi của tỉnh lμ Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, mật độ dân cư dưới 50 người/km2
Tỷ lệ tăng dân số chung toμn tỉnh đã giảm từ 2,1% năm 1995 xuống còn 1,7%
do tỷ lệ tăng tự nhiên trung bình hμng năm giảm từ 21%o xuống còn 12,6%o năm
2005 Tỷ lệ tăng cơ học của dân số chỉ khoảng 2,4- 2,5%o
Trong tương lai, nếu khống chế mức giảm sinh từ 17,5%o năm 2005 xuống còn 14%o năm 2010 vμ 11- 12%o năm 2020 vμ tăng cơ học khoảng 0,3- 0,4%, tỷ lệ
tăng dân số bình quân 1,7% thời kỳ 2006- 2010 vμ 1,5% thời kỳ 2011- 2020 thì quy mô dân số Khánh Hòa đến năm 2010 khoảng 1.222 nghìn người, năm 2020 khoảng 1.408 nghìn người Trong đó, dân số đô thị chiếm 59,9% vμo năm 2010 vμ 70% dân
số toμn tỉnh vμo năm 2020
2.1.3.2 Lao động: Năm 2006, tổng dân số trong độ tuổi lao động có 680,9
nghìn người, chiếm 60,6% dân số toμn tỉnh Nguồn lao động của tỉnh đến năm 2006
có 650,3 nghìn người chiếm tỷ lệ 95% tổng dân số trong độ tuổi lao động Hμng năm giải quyết việc lμm được cho 15- 20 nghìn lao động Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thμnh thị đến năm 2005 lμ 4,8%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn đạt 80%
Khánh Hòa lμ một trong số các tỉnh có đội ngũ khoa học mạnh của cả nước
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong tổng nguồn lao động từ 12% năm
1995 tăng lên 19- 20% năm 2004 Số cán bộ khoa học nμy chủ yếu lμm việc trong các doanh nghiệp nhμ nước, Viện nghiên cứu vμ các trường học, các công ty cổ phần
Trong những năm gần đây, họ đã từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường về tổ chức quản lý vμ áp dụng công nghệ mới trong lĩnh vực công nghiệp, du lịch vμ dịch vụ
2.1.4 Thực trạng kết cấu hạ tầng ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngμnh công nghiệp tỉnh Khánh Hòa
2.1.4.1 Giao thông vận tải: Mạng lưới giao thông trong tỉnh Khánh Hòa
có cả 5 loại hình giao thông: đường hμng không, đường sắt, đường sông, đường biển
vμ đường bộ Đó lμ lợi thế để Khánh Hòa có thể phát triển, giao lưu trong nước vμ
Trang 38- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
37
quốc tế về các lĩnh vực thương mại, du lịch, sản xuất kinh doanh vμ trao đổi hμng hoá, nhất lμ hμng công nghiệp của tỉnh
Đường hμng không
Giao thông hμng không của tỉnh Khánh Hòa qua cảng hμng không Cam Ranh
Sân bay Nha Trang có một đường băng rộng 45m, dμi 1.850m, lμ sân bay nhỏ, chỉ phục vụ huấn luyện quân sự, chưa có trang thiết bị hiện đại quy mô chưa đủ lớn
Tháng 6/2004, sân bay Cam Ranh với 4 đường băng dμi 4.000m được đưa vμo sử dụng vận chuyển hμnh khách thay thế cho sân bay Nha Trang Hiện đang được đầu tư
nâng cấp để trở thμnh sân bay quốc tế có thể đón các máy bay Boeing vμ Airbus tải trọng lớn cất vμ hạ cánh
đi thμnh phố Hồ Chí Minh, rút ngắn thời gian di chuyển, tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội nói chung vμ chuyển dịch cơ cấu ngμnh công nghiệp nói riêng
được bao bọc được bởi các hòn núi cao, thuận tiện cho tμu thuyền ẩn náu, tránh bão
Đường ra vμo bến của tμu thuyền dμi 15 km, sâu trung bình 25m, hướng ra vμo tương
đối thẳng Hiện nay, cảng có chiều dμi cập tμu lμ 35m trong tổng số 215m dự kiến xây dựng với độ sâu trước bến trung bình 12m Công suất hiện tại 3.000 tấn/ngμy, cho phép tμu 10.000 tấn ra vμo cảng
Trang 39- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
38
Cảng Hòn Khói ở trên bán đảo Hòn Khói, phía Nam vịnh Vân Phong, thuộc huyện Ninh Hoμ, cách Quốc lộ 1A khoảng 12m, lμ cảng chuyên dùng xuất muối kết hợp với cảng hμng hoá, công suất cảng khoảng 10 vạn tấn/năm, hiện nay cảng có một cầu tμu 70m x10m, độ sâu trước bến 3,2m, chỉ cho phép các tμu nhỏ (<1.000T) như
sμ lan, tμu Lash cập bến
Cảng của Nhμ máy đóng tμu Hyundai- Vinashin phục vụ cho việc vận chuyển hạt Nix vμ các thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho việc sửa chữa tμu thuyền
Cảng Nha Trang hiện được sử dụng lμ cảng đa chức năng phục vụ vận tải hμnh khách vμ chuyển tải hμng hoá các loại Cảng có chiều dμi cầu tμu 172m, rộng 20m,
độ sâu trước bến của cảng 8,5m Công suất bình quân hμng năm lμ 6.000 hμnh khách
vμ 420.000 tấn hμng hoá/năm Gần cảng Nha Trang có cảng Hải Quân do Học viện Hải quân quản lý, lμ cảng có quy mô nhỏ, chỉ cho phép tμu có trọng tải dưới 2.000 tấn cập bến Cảng chủ yếu phục vụ cho Trường Sa vμ một phần tham gia kinh doanh với các cơ quan kinh tế trong vμ ngoμi tỉnh
Cảng Ba Ngòi nằm trong vịnh Cam Ranh, cảng có cầu tμu dμi 110m, rộng 15m, độ sâu trung bình trước bến lμ 8,5m, cho phép tμu tải trọng 1 vạn tấn có thể cập bến, riêng khu vực vùng nước trước cảng có độ sâu 10,5m, tμu 3 vạn tấn có thể ra vμo
được Cảng đảm nhận xếp dỡ, vận chuyển các loại hμng hoá với công suất 30 vạn tấn/năm Trong thời gian tới cần nâng cấp để trở thμnh cảng vận chuyển container của khu vực Nam Trung bộ vμ Tây nguyên
Đường sông
Đường thuỷ nội địa có hệ thống bến đò ở hai huyện Vạn Ninh vμ Ninh Hoμ nối các điểm du lịch vμ các khu dân cư vừng ven biển vμ các đảo trong khu vực vịnh Vân Phong
Trang 40- Ngửụứi thửùc hieọn: Traàn Vaờn Ngoùan - Thaày hửụựng daón: GS – TS Nguyeón Keỏ Tuaỏn
39
2.1.4.2 Hiện trạng các công trình cấp nước
Các công trình phục vụ nước sinh hoạt vμ sản xuất công nghiệp: Lượng nước
sử dụng hiện nay khoảng 10 x 106 m3 từ các nguồn chủ yếu sau: sử dụng kết hợp với các công trình thuỷ nông vμ sử dụng kết hợp với hệ thống nước sinh hoạt Khu vực Hòn Khói có công trình riêng phục vụ cho ngμnh xi măng Lấy trực tiếp từ sông suối, hoặc giếng khoan
Nhμ máy nước Võ Cạnh (công suất: 25.000 m3/ngμy đêm; nguồn từ Sông Cái Nha Trang); trạm cấp nước Xuân Phong (công suất: 2.000 m3/ngμyđêm; nguồn nước ngầm mạch nông); Trạm Mã Vòng (công suất: 2.000 m3/ngμyđêm; nguồn từ Sông Cầu Dứa) hiện chỉ đáp ứng khoảng 50% dân số thμnh phố Nha Trang vμ một phần nhỏ dân cư các điểm lân cận với tiêu chuẩn cấp nước khoảng 60- 70 lít/người/ngμy
đêm
Các nhμ máy nước Ninh Hoμ (công suất: 2500 m3/ngμy đêm, nguồn: Sông Cái) vμ Vạn Giã (công suất: 2000 m3/ngμyđêm, nguồn: Sông Hữu) đều mới được xây dựng nên chất lượng rất tốt, công suất đảm bảo cho nhu cầu nước lâu dμi
2.1.4.3 Hiện trạng cấp điện
Từ nhμ máy thuỷ điện Đa Nhim, có công suất đặt máy lμ 160MW Điện được phát lên lưới 110KV vμ được hoμ vμo lưới 220KV thông qua trạm biến áp 220/110KV- 1 x 63 MVA Đa Nhim Thông qua tuyến đường dây 220kV (lộ 272) Đa Nhim - Nha Trang vμ hai tuyến đường dây 110kV (lộ 172, 173) Đa Nhim - Cam Ranh (cấp điện cho tỉnh Khánh Hoμ 30 MW)
Từ nhμ máy thủy điện Sông Hinh có công suất 70MW, cấp điện cho tỉnh Khánh Hoμ thông qua tuyến dây 110kV Sông Hinh - Tuy Hoμ - Ninh Hoμ
Lưới điện
Trạm 220kV vμ đường dây 220kV cấp điện cho trạm: