Được sự đồng ý của Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, luận văn tốt nghiệp chương trình cao học với nội dung “Đánh giá khả năng kiêm nghề chụp mực đại dương trên tàu câu cá ngừ” được phép
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
BÙI VĂN TÙNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KIÊM NGHỀ CHỤP MỰC
ĐẠI DƯƠNG TRÊN TÀU CÂU CÁ NGỪ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Khai thác Thuỷ sản
Mã số: 60.62.80 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Động
Nha Trang, tháng 9 năm 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn từ đề tài cấp Bộ
“Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” Số liệu hoàn toàn trung thực và được xử lý theo các phương pháp khoa học đảm bảo độ tin cậy
Số liệu sử dụng đã được Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai thác và Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ nói trên cho phép Kết quả nghiên cứu của luận văn mang tính mới và không trùng lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào đã có trước đây
Nha Trang, ngày 20 tháng 8 năm 2008
Tác giả
Bùi Văn Tùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Văn Động là
người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Long, ThS Nguyễn Văn Kháng và ThS Nguyễn Phi Toàn đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn Cảm ơn
KS Phạm Văn Tuyển, KS Đoàn Văn Phụ, KS Lê Văn Bôn, KS Phan Đăng Liêm, KS Lại Huy Toản, KS Trần Ngọc Khánh, KS Phạm Văn Tuấn và KS
Phạm Văn Long đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu thực địa và số
liệu thực nghiệm trên biển
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản và Ban Chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” đã cho phép và
tạo mọi điều kiện để tôi sử dụng số liệu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: Ban giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Khai thác Thuỷ sản, Phòng Đào tạo sau Đại học, các Thầy giáo Trường Đại học Nha Trang và các đồng nghiệp đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn
thành luận văn này
Nha Trang, ngày 20 tháng 8 năm 2008
Tác giả
Bùi Văn Tùng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC viii
CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC CÁC BẢNG xii
DANH MỤC CÁC HÌNH xiii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu ngoài nước 3
1.1.1 Nguồn lợi cá ngừ đại dương 3
1.1.2 Tình hình khai thác cá ngừ đại dương 3
1.1.3 Công nghệ khai thác cá ngừ trên thế giới 7
1.1.3.1 Nghề lưới vây 7
1.1.3.2 Nghề câu vàng 8
1.1.3.3 Nghề câu tay 8
1.1.4 Nghiên cứu về mồi câu 9
1.1.4.1 Tình hình sử dụng mồi câu 9
1.1.4.2 Khai thác mồi câu trong nghề câu cá ngừ 10
1.1.4.3 Nghiên cứu hiệu quả của các loại mồi câu 12
1.1.4.4 Nghiên cứu đặc trưng của mồi câu 14
1.1.5 Nguồn lợi mực và hiện trạng khai thác trên thế giới 16
1.2 Nghiên cứu trong nước 18
1.2.1 Nguồn lợi cá ngừ đại dương ở biển Việt Nam 18
1.2.1.1 Các loài cá ngừ đại dương khai thác chính 18
1.2.1.2 Trữ lượng, khả năng khai thác và năng suất khai thác 19
1.2.1.3 Ngư trường và mùa vụ khai thác 21
1.2.2 Hiện trạng nghề câu cá ngừ đại dương 21
1.2.3 Nghiên cứu về nghề câu cá ngừ đại dương 22
Trang 51.2.4 Tình hình sử dụng và khai thác mồi câu trong nghề câu cá ngừ 23
1.2.5 Tình hình nghiên cứu và khai thác mực đại dương ở Việt Nam 24
1.2.6 Hiện trạng nghề chụp mực ở Việt Nam 25
1.2.7 Khả năng kiêm nghề của lưới chụp mực 26
1.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu các nội dung của đề tài 26
CHƯƠNG 2: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Tài liệu và phương tiện nghiên cứu 28
2.1.1 Tài liệu sử dụng 28
2.1.2 Phương tiện nghiên cứu 28
2.1.2.1 Tàu thuyền 28
2.1.2.2 Các trang thiết bị và ngư cụ 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Cơ sở lựa chọn phương pháp kiêm nghề 29
2.2.2 Cơ sở lựa chọn ngư trường nghiên cứu 30
2.2.3 Cơ sở lựa chọn mồi câu 31
2.2.4 Cơ sở lựa chọn ngư cụ khai thác mực đại dương 31
2.2.5 Cơ sở thiết kế lưới chụp mực 32
2.2.6 Bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu 33
2.2.6.1 Cách bố trí thí nghiệm 33
2.2.6.2 Thu thập số liệu 33
2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 33
2.2.7.1 Tính năng suất khai thác 34
2.2.7.2 Tính hiệu quả kinh tế của mô hình 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Kết quả nghiên cứu 35
3.1.1 Ngư trường nghiên cứu 35
3.1.2 Ngư cụ khai thác mực đại dương 36
3.1.3 Phân tích khả năng kiêm nghề chụp mực trên tàu câu cá ngừ 37
3.1.3.1 Khả năng hoạt động kiêm nghề của tàu 37
3.1.3.2 Trang thiết bị khai thác và mặt boong thao tác trên tàu kiêm nghề 37
Trang 63.1.3.3 Thời gian hoạt động khai thác kiêm nghề 39
3.1.3.4 An toàn lao động trong khai thác 41
3.1.3.5 Mức trang bị vốn ngư cụ phụ 41
3.1.4 Thiết kế lưới chụp mực bốn tăng gông trên tàu kiêm nghề 43
3.1.5 Sản lượng khai thác mực của mô hình nghiên cứu 48
3.1.6 Sản lượng khai thác mực của mô hình truyền thống 49
3.1.7 Khả năng đáp ứng mồi mực của mô hình nghiên cứu 50
3.1.8 Hiệu quả đánh bắt cá ngừ đại dương của mồi mực 50
3.1.9 Hiệu quả khai thác cá ngừ của hai mô hình 52
3.1.10 Hiệu quả kinh tế của hai mô hình khai thác cá ngừ 53
3.1.11 Qui trình khai thác lưới chụp mực bốn tăng gông trên tàu kiêm nghề 55
3.1.11.1 Kỹ thuật thắp sáng tập trung mực đại dương 55
3.1.11.2 Chuẩn bị lưới và nhân lực 57
3.1.11.3 Thả lưới chụp mực 58
3.1.11.4 Thu lưới chụp mực 59
3.1.11.5 Kỹ thuật bảo quản mực 60
3.2 Những ưu nhược điểm của mô hình khai thác cá ngừ kiêm lưới chụp mực 60
3.3 Đề xuất mô hình khai thác kiêm lưới chụp mực trên tàu câu cá ngừ 61
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 67
4.1 Kết luận 67
4.2 Đề xuất 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 72
Phụ lục 1 Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương (2000 - 2004) 72
Phụ lục 2 Ngư trường phân bố mực đại dương và cá ngừ đại dương 74
Phụ lục 3 Kết quả đánh bắt của lưới chụp mực 75
Phụ lục 4 Một số hình ảnh trong hoạt động thử nghiệm lưới chụp mực trên tàu câu vàng 79
Phụ lục 5 Một số hình ảnh hoạt động câu vàng cá ngừ đại dương 80
Trang 7of the Living Marine Resources in Vietnam)
Fisheries Development Center)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sản lượng đánh bắt các loài cá ngừ giai đoạn 1987 - 2004 5
Bảng 1.2 Mức độ đánh bắt cá ngừ ở các đại dương 6
Bảng 1.3 Sản lượng đánh bắt cá ngừ của các loại ngư cụ ở các đại dương 7
Bảng 1.4 Năng suất đánh bắt cá ngừ đại dương của các loại mồi 13
Bảng 1.5 Năng suất đánh bắt (CPUE) của các loại mồi câu 14
Bảng 1.6 Năng suất khai thác cá ngừ đại dương ( 2000 – 2004) 20
Bảng 1.7 Sản lượng khai thác cá ngừ qua các năm (2001 - 2004) 21
Bảng 3.1 Thời gian khai thác của nghề câu cá ngừ đại dương 39
Bảng 3.2 Thời gian hoạt động khai thác trên tàu kiêm nghề 40
Bảng 3.3 Mức trang bị vốn ngư cụ phụ của mô hình truyền thống 42
Bảng 3.4 Mức trang bị vốn cho vàng lưới chụp mực bốn tăng gông 42
Bảng 3.5 Mức trang bị vốn cho các loại vật tư khác 43
Bảng 3.6 Thống kê trang bị toàn bộ vàng lưới cải tiến 47
Bảng 3.7 Sản lượng mực đại dương đánh bắt bằng lưới chụp mực 48
Bảng 3.8 Sản lượng mực đại dương đánh bắt bằng câu tay 49
Bảng 3.9 Sản lượng đánh bắt cá ngừ đại dương theo loại mồi 51
Bảng 3.10 Năng suất đánh bắt cá ngừ đại dương theo loại mồi 51
Bảng 3.11 Năng suất đánh bắt cá ngừ đại dương năm 2000 – 2004 52
Bảng 3.12 Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương của hai mô hình 53
Bảng 3.13 Chi phí chuyến biển của các đội tàu câu cá ngừ ở miền Trung 53
Bảng 3.14 Doanh thu chuyến biển của hai mô hình khai thác 54
Bảng 3.15 Lợi nhuận chuyến biển của hai mô hình khai thác cá ngừ 55
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sản lượng đánh bắt cá ngừ của một số nước trên thế giới 4
Hình 1.2: Sản lượng khai thác mực ống trên thế giới (1990 – 2005) 17
Hình 1.3 Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) 19
Hình 1.4 Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) 19
Hình 2.1 Tàu sử dụng trong nghiên cứu 28
Hình 3.1 Phạm vi nghiên cứu kiêm nghề chụp mực trên tàu câu cá ngừ 35
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí mặt boong thao tác của tàu 38
Hình 3.3 Bản vẽ khai triển mẫu lưới thiết kế 45
Hình 3.4 Bản vẽ khai triển mẫu lưới cải tiến 46
Hình 3.5 Bản vẽ tổng thể lưới chụp mực 4 tăng gông trên tàu kiêm nghề 46
Hình 3.6 Bản vẽ lắp ráp giềng chì, chì và vòng khuyên 47
Hình 3.7 Sơ đồ bố trí nguồn sáng trên tàu nghiên cứu 56
Hình 3.8 Sơ đồ định hình lưới chụp mực trên các tăng gông 57
Hình 3.9 Quá trình rơi chìm của lưới chụp mực bốn tăng gông 58
Hình 3.10 Sơ đồ thu giềng rút lưới chụp mực bốn tăng gông 59
Hình 3.11 Bố trí thiết bị khai thác trên tàu câu kiêm nghề 62
Hình 3.12 Sơ đồ thả câu vàng cá ngừ đại dương 64
Hình 3.13 Sơ đồ thu câu vàng theo hình thức tàu câu công nghiệp 65
Trang 10MỞ ĐẦU
Cá ngừ thuộc họ Scombridea, là đối tượng khai thác rất quan trọng của
nghề cá thế giới và có giá trị kinh tế cao Cá thường được khai thác bằng lưới vây,
lượng khai thác của lưới vây chiếm tỉ trọng cao nhất Nghề câu vàng được phát triển trên phạm vị rộng hơn, có mặt ở hầu hết các nước có cá ngừ đại dương phân bố
Nghề câu cá ngừ đại dương xuất hiện ở Việt Nam vào đầu những năm
1990 Trong những năm gần đây, nghề này đã được phát triển mạnh ở cả qui mô công nghiệp của các doanh nghiệp và qui mô nhỏ của các hộ ngư dân thuộc 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa Nhận thức được vai trò quan trọng của nghề câu
cá ngừ đại dương, Bộ Thủy sản đã chọn cá ngừ đại dương là đối tượng mục tiêu ưu tiên để phát triển nghề cá xa bờ
Tuy nhiên, từ năm 2005 đến nay nghề câu cá ngừ đại dương ở nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn Nguyên nhân là do nguồn lợi cá ngừ đang có chiều hướng suy giảm, mô hình khai thác hiện tại không còn phù hợp với tình hình nguồn lợi, đồng thời chi phí sản xuất ngày càng cao và giá sản phẩm thấp đã dẫn đến nhiều tàu hoạt động không hiệu quả Trước thực trạng này, nhiều tàu câu cá ngừ đang tìm hướng chuyển sang nghề khai thác khác Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu tìm ra một mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhằm nâng cao năng suất khai thác và hiệu quả kinh tế của nghề câu cá ngừ đại dương
Trong nghề câu cá ngừ, mồi câu có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng cá đánh bắt Chi phí mồi câu chiếm khoảng 30% tổng chi phí chuyến biển Như vậy, việc lựa chọn loại mồi phù hợp và tìm kiếm các giải pháp giảm chi phí mồi câu sẽ góp phần nâng cao năng suất khai thác và hiệu quả kinh tế của nghề
Năm 2005, Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành thực hiện đề tài cấp bộ
“Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương
ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” Trong đó, nội dung sử dụng lưới chụp
Trang 11mực bốn tăng gông trên tàu câu cá ngừ để đánh bắt mực đại dương làm mồi câu cũng đã được nghiên cứu
Được sự đồng ý của Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, luận văn tốt
nghiệp chương trình cao học với nội dung “Đánh giá khả năng kiêm nghề chụp mực đại dương trên tàu câu cá ngừ” được phép sử dụng một phần kết quả
nghiên cứu của đề tài cấp bộ kể trên làm nguồn số liệu để xử lý và đánh giá kết quả nghiên cứu theo đề cương đã được Hiệu trưởng trường Đại học Nha Trang phê duyệt
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
- Thành công của mô hình kiêm nghề chụp mực đại dương trên tàu câu cá ngừ sẽ giải quyết được tính bền vững của mồi câu cho nghề câu cá ngừ đại dương nhằm nâng cao năng suất khai thác và hiệu quả kinh tế của nghề
- Góp phần làm giảm thiểu những tai nạn cho thủy thủ trên các tàu câu cá ngừ khi tham gia khai thác mực làm mồi câu bằng câu tay trên thúng
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Nguồn lợi cá ngừ đại dương
Mặc dù đã có nhiều chương trình nghiên cứu lớn mang tầm cỡ quốc tế về nguồn lợi cá ngừ, nhưng cho đến nay theo đánh giá của các chuyên gia tại “Hội nghị cá ngừ thế giới năm 2006” vẫn cho rằng sự hiểu biết về nguồn lợi cá ngừ còn rất ít, cần phải có những chương trình lớn tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này
Trong hai thập kỷ gần đây, Chương trình Nghề cá Đại dương (Oceanic Fisheries Programme - OFP) thuộc Ban Thư kí Tiểu ban cá ngừ Thái Bình Dương
đã tiến hành nhiều đề tài, dự án điều tra đánh giá nguồn lợi cá ngừ ở vùng biển này
Các phương pháp nghiên cứu chính là sử dụng mô hình phân tích chủng quần ảo (VPA) và gần đây Fournier et al (1998) và Hampton and Fournier (2001) ứng dụng
mô hình MULTIFANCL dựa vào cấu trúc tuổi, nhóm chiều dài, các tham số sinh trưởng, sản lượng và cường lực khai thác để đánh giá nguồn lợi
Theo ước tính của Adam Langley et al (2003), trữ lượng cá ngừ vằn ở vùng giữa và Tây Thái Bình Dương khoảng 6.000.000 tấn; cá ngừ vây vàng 2.000.000 tấn; cá ngừ mắt to 280.000 tấn và cá ngừ vây ngực dài 3.000.000 tấn [15]
Trong chương trình nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ, các nhà khoa học đã đưa
ra khái niệm “Sản lượng khai thác tối đa trung bình” – AMSY Theo đó, tổng sản lượng khai thác ở mỗi vùng biển phải nằm dưới hạn mức của AMSY này mới đảm bảo cho nghề khai thác cá ngừ phát triển ổn định và mang lợi nhuận bền vững tối đa
1.1.2 Tình hình khai thác cá ngừ đại dương
Khoảng 4 triệu tấn cá ngừ đại dương được đánh bắt trên toàn thế giới mỗi năm Trong đó, sản lượng đánh bắt ở vùng Thái Bình Dương chiếm khoảng 65%, Ấn Độ Dương 21%, và Đại Tây Dương 14% Trong cơ cấu sản lượng, cá ngừ vằn là đối tượng quan trong nhất, chiếm 50% tổng sản lượng đánh bắt, tiếp đến là cá
Trang 13ngừ vây vàng 30%, cá ngừ mắt to 10% và cá ngừ vây dài chiếm 5% tổng sản lượng
cá ngừ thế giới [28]
Hiện tại, ngư dân của gần 80 quốc gia khai thác cá ngừ từ các đại dương trên thế giới Các nhà khai thác cá ngừ chính trên thế giới là Nhật Bản, Đài Loan, Tây Ban Nha, Indonexia, Mỹ, Hàn Quốc, Diễn biến sản lượng khai thác cá ngừ của một số nước trong giai đoạn 1988 - 2004 như sau [19]:
Nguồn: FAO (GLOBEFISH 2006)
Hình 1.1 Sản lượng đánh bắt cá ngừ của một số nước trên thế giới
Kết quả trên cho thấy, trong giai đoạn 1988 - 2003 tổng sản lượng khai thác
cá ngừ của thế giới tăng trung bình hàng năm 4,4%, đến năm 2004 sản lượng khai thác cá ngừ có xu hướng giảm
Nhật là nước đứng đầu về sản lượng khai thác cá ngừ đại dương, tiếp đến là các nước Đài Loan, Inđônêxia, Mỹ, Tây Ban Nha, Hàn Quốc
Theo kết quả thống kê của Globefish, sản lượng khai thác của một số loài
cá ngừ thương mại như sau [19]:
0 500 1.000 1.500 2.000 2.500 3.000 3.500 4.000 4.500
(1.000 tÊn)
Others Korea Rep USA Indonesia Spain Taiwan Japan
Trang 14Bảng 1.1 Sản lượng đánh bắt các loài cá ngừ giai đoạn 1987 - 2004
Nguồn: GLOBEFISH (Global World Tuna Markets 2006)
Bảng 1.1 cho thấy, cá ngừ vằn bị đánh bắt nhiều nhất, chiếm 45,7% tổng sản lượng cá ngừ trên toàn thế giới; ngừ vây vàng đứng thứ hai (35,1%); ngừ mắt to đứng thứ ba (11,1%); ngừ vây ngực dài đứng thứ tư (6,4%) và sản lượng đạt thấp nhất là ngừ vây xanh (1,7%) Nhìn chung, từ năm 2003 đến nay sản lượng khai thác của các loài cá ngừ đại dương trên thế giới đều có xu hương suy giảm
Về mức độ khai thác cá ngừ ở các đại dương, kết quả thống kê cho thấy, tình trạng khai thác cá ngừ ở các đại dương trên thế giới phần lớn đã đạt đến ngưỡng hoặc quá ngưỡng cho phép khai thác [14]:
Trang 15S.lượng khai thác cực đại (1.000tấn)(năm)
Đại Tây
Ngừ vằn
Thái Bình
Ngừ vây
Ngừ vây ngực dài
Thái Bình
Đại Tây
Ngừ vây xanh
Từ bảng 1.2 cho thấy, các loài cá ngừ vây xanh, ngừ vây ngực dài, ngừ mắt
to và ngừ vây vàng đã được khai thác tới mức hoặc quá mức ở hầu hết các đại dương Trong khi đó, trữ lượng cá ngừ vằn vẫn còn rất phong phú và chưa được khai thác đúng mức ở các đại dương
Trang 161.1.3 Công nghệ khai thác cá ngừ trên thế giới
Cá ngừ đại dương được đánh bắt bằng các nghề như: lưới vây, câu vàng, lưới rê, câu cần và câu chạy Thống kê sản lượng khai thác cá ngừ phân theo ngư cụ
ở các đại dương như sau [28]:
Bảng 1.3 Sản lượng đánh bắt cá ngừ của các loại ngư cụ ở các đại dương
Tỷ lệ (%) sản lượng khai thác cá ngừ của các loại ngư cụ Các đại dương
Từ bảng 1.3 cho thấy, loại ngư cụ chính dùng để đánh bắt cá ngừ đại dương
là lưới vây, tiếp đến là nghề câu cần, câu vàng và các loại nghề khai thác khác
1.1.3.1 Nghề lưới vây
Các tàu lưới vây khai thác cá ngừ ở vùng biển khơi có chiều dài trung bình
70 – 80m, trọng tải từ 1000 – 1500 tấn Đối tượng đánh bắt chính là ngừ vây vàng
và ngừ vằn; sản lượng đánh bắt của lưới vây chiếm gần 60% tổng sản lượng cá ngừ đánh bắt Vàng lưới có thể đạt chiều dài 1,5km và chiều sâu hơn 150m [28]
- Thiết bị hàng hải: các tàu lưới vây công nghiệp trang bị máy dò cá ngang
(sonar), máy dò cá đứng (echo sounder), ra đa, máy thu ảnh vệ tinh, máy định vị, máy vô tuyến, máy đo tốc độ dòng chảy, máy thông tin liên lạc, Inmarsat,… những thiết bị này hỗ trợ hữu hiệu trong việc dò tìm đàn cá và an toàn hàng hải trên biển
- Thiết bị khai thác: hầu hết các tàu lưới vây công nghiệp đánh bắt cá ngừ
trên thế giới đã được cơ giới hoá Trên tàu thường trang bị máy thu lưới, tang thành cao thu và chứa cáp, máy tời, cần cẩu, xuồng nhỏ, các loại chà tập trung cá, ánh sáng màu,…
Trang 17Nhìn chung, đội tàu đánh bắt cá ngừ bằng lưới vây đã được cơ giới hoá toàn
bộ quy trình thao tác thả và thu lưới Máy móc thiết bị khác sẽ hỗ trợ trong việc cập nhật thông tin về ngư trường, thời tiết, di cư và biến động nguồn lợi cá ngừ
- Thiết bị hàng hải: ngoài máy móc thiết bị phục vụ an toàn hàng hải trong
quá hoạt động trên biển, tàu câu vàng còn ứng dụng các phương pháp dự báo về sự
di cư, biến động nguồn lợi cá ngừ bằng công nghệ hiện đại (GIS, GPS,…) Sử dụng
hệ thống thu phát vô tuyến (máy tầm phương) nhằm xác định vị trí trôi của vàng câu trên biển
- Thiết bị khai thác: máy thả dây triên (máy bắn dây), máy thu và chứa dây
triên (tang thành cao), máy thu dây triên, hệ thống móc mồi tự động, hệ thống bảo quản lạnh,…
Nghề câu vàng được phát triển trên phạm vi rộng nhưng trình độ công nghệ khai thác giữa các quốc gia trên thế giới khác biệt không đáng kể, chỉ khác nhau về qui mô tàu thuyền và công nghệ bảo quản sản phẩm
Trang 18Ngoài ra, còn có các loại nghề khai thác cá ngừ khác như: câu chạy, lưới rê, đăng, bẫy, Tuy nhiên, sản lượng khai thác của các loại nghề này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng sản lượng khai thác cá ngừ của thế giới
1.1.4 Nghiên cứu về mồi câu
1.1.4.1 Tình hình sử dụng mồi câu
- Mồi câu trong nghề câu tay:
Trong nghề câu cá ngừ, mồi câu có nghĩa rất quan trọng Theo Thomas Hadi, cá mồi sống được cung cấp đầy đủ là yếu tố cần thiết để thành công đối với nghề câu tay khai thác cá ngừ Nghề khai thác cá ngừ của Nhật Bản ở vùng biển tây Thái Bình Dương và của Mỹ ở đông Thái Bình Dương sử dụng một lượng rất lớn cá mồi sống [32]
Nghề câu tay khai thác cá ngừ vằn ở vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng rất lớn về mồi cá sống (Rothschild and Uchida 1968) Cá ngừ vằn
có nguồn lợi phong phú ở vùng biển Thái Bình Dương và chưa được khai thác đúng mức, vì chủ yếu là do sự cung cấp không đủ lượng cá mồi sống cho các tàu khai thác [36]
Nghề câu tay khai thác cá ngừ vằn ở Hawaii phụ thuộc rất lớn vào cá mồi
sống Mồi câu được sử dụng là các loại cá nhỏ Cá cơm Stolephorus purpureus
(thường gọi là cá Nehu) chiếm khoảng 97% lượng cá mồi được sử dụng ở vùng biển
Hawaii Phần còn lại là các loài cá sút Pranesus pinguis, cá trích tròn Spratelloides delicatulus [31]
Nghề câu tay khai thác cá ngừ ở Nhật sử dụng 97% cá mồi là cá cơm
Engraulis japonicus (Katsuo-Maguro Nenkan 1970) Sản lượng khai thác cá ngừ
trung bình từ năm 1957 - 1971 là 186.243 tấn, với khối lượng cá mồi sử dụng là 19.103 tấn, và CPUB (năng suất khai thác trên một đơn vị mồi câu) trung bình hàng năm đạt 9,7 tấn/1 tấn mồi [25]
Trang 19- Mồi câu trong nghề câu vàng:
Đầu những năm 1990, Maldeniya nghiên cứu về năng suất khai thác của nghề câu vàng ở vùng biển ven bờ Tây Bắc Srilanka Các loại mồi câu chính được
sử dụng trong nghiên cứu là cá trích, cá chuồn, và cá ngừ Ấn Độ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các tàu khai thác ở vùng biển xa bờ và khai thác biển sâu sử dụng các loại mồi là mực ống và cá nục [30]
Nghề câu vàng tầng mặt ở Địa Trung Hải thường sử dụng mồi mực ống
Illex Illeccebrosus Argentinus để khai thác cá ngừ vây xanh Trong khi đó, các tàu
câu ở Nhật thường sử dụng tỷ lệ mồi câu là 6 mồi mực ống - 1 mồi cá thu để đánh bắt cá ngừ vây xanh Trong nghề câu cá cờ, loại mồi ưa thích thường được sử dụng
là cá thu Scomber scombrus, kích thước mồi khoảng từ 4 – 6 con/kg Còn trong
nghề câu vàng khai thác cá ngừ vây vàng, loại mồi thường được sử dụng là cá trích
Sardina pilchardus, có kích thước 18 – 20 con/kg [29]
1.1.4.2 Khai thác mồi câu trong nghề câu cá ngừ
a Nghề khai thác mồi câu của Nhật ở tây Thái Bình Dương [32]
Nghề câu tay khai thác cá ngừ đại dương của Nhật sử dụng khoảng 20.000
thùng cá cơm mỗi năm (mỗi thùng tương đương 3,6kg) Cá cơm Engraulis japonica, chiếm khoảng 97% lượng cá mồi sử dụng Cá mồi được đánh bắt bằng
lưới vây, một số được đánh bắt bằng lưới rùng bãi biển Có 2 phương pháp đánh bắt
cá mồi bằng lưới vây:
- Phương pháp 1: một tàu tìm kiếm đàn cá mồi và một tàu thả lưới để vây bắt Cá mồi được tập trung ở tùng của lưới vây và được dồn vào những dụng cụ chứa mồi và buộc vào tàu để kéo
- Phương pháp 2: một tàu sử dụng đèn tập trung cá mồi, sau đó tàu lưới vây tiến hành vây lưới, quá trình thu cá mồi tương tự như trên
Khai thác cá mồi bằng lưới rùng bãi biển: một tàu đèn được sử dụng để tập trung đàn cá trước khi thả lưới Cá mồi được dồn lại ở tùng lưới và dồn chúng bơi
Trang 20vào các thiết bị thu cá Ở một số vùng, đầu tiên cá mồi được dẫn vào những lồng bằng tre, các lồng tre này được liên kết với dụng cụ chứa cá và cá mồi được dồn bơi sang dụng cụ chứa để giữ cố định
b Nghề khai thác mồi câu của Mỹ ở đông Thái Bình Dương [32]
Nghề câu tay khai thác cá ngừ của Mỹ ở vùng biển Đông Thái Bình Dương
sử dụng khoảng 250.000 thùng cá mồi mỗi năm (mỗi thùng tương đương 3,6kg) Cá
cơm biển Bắc E-mordax là loại mồi được sử dụng chủ yếu Cá mòi California S.caerulea, cá cơm Cetengraulis mysticetus, và cá mòi Galapagos, S sagax là các
loại cá mồi sống quan trọng khác Hầu hết cá mồi sống được đánh bắt bằng lưới lamparas (một loại lưới rùng), một số được đánh bắt bằng lưới rùng bãi biển Khi phát hiện đàn cá mồi, lưới được thả để bao vây đàn cá Cá được tập trung vào phần tùng lưới và được xúc vào các thùng chứa mồi của các tàu câu cá ngừ Lưới rùng bãi biển được thả sau khi phát hiện đàn cá mồi; cá được tập trung vào tùng lưới, thu gom chuyển vào các dụng cụ chứa và được kéo đến các tàu câu
c Nghề khai thác mồi câu ở Hawaii [32]
Nghề câu tay khai thác cá ngừ vằn, cá ngừ vây vàng ở Hawaii sử dụng khoảng 35.000 thùng cá mồi mỗi năm (mỗi thùng tương đương 3,6kg) Khoảng
95% cá mồi sử dụng là cá cơm Stolephorus purpureus Hầu hết cá mồi được đánh
bắt bằng lưới rùng bãi biển, số còn lại được đánh bắt bằng lưới vó đêm Lưới rùng bãi biển được thả sau khi đàn cá mồi đã tập trung Cá được dồn vào tùng lưới và được xúc vào các thùng chứa đặt trong các ngăn chứa trên các tàu câu cá ngừ
d Nghề khai thác cá mồi ở Philippine [32]
Nghề câu tay khai thác cá ngừ của Philippine sử dụng các loại mồi chính là:
cá mòi Sardinella leiogaster, S perforata, S fimbriata, S Melanura và các loài cá
cơm Cá mồi được đánh bắt hầu hết bằng lưới vó mành (gọi là lưới sangab) Sử dụng 8 thuyền nhỏ trang bị ánh sáng để thu hút cá tập trung Khi cá đã tập trung dưới đèn các thuyền di chuyển vào trong giữa lưới, 2 thuyền nâng giềng chì của
Trang 21lưới lên và tập trung cá vào một túi chứa, sau đó cá được cho vào một lồng chứa bằng lưới Từ đây cá được chuyển sang một lồng chứa bằng thép và được giữ trong lồng này cho đến khi được vớt sang các tàu khai thác
1.1.4.3 Nghiên cứu hiệu quả của các loại mồi câu
Trong nghề câu có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng đánh bắt và tính chọn lọc đối tượng, trong đó quan trọng nhất là mồi câu và lưỡi câu Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng khai thác của mồi câu là: mùi vị, hình dạng và
độ bền của mồi Tất cả những yếu tố này liên quan đến khả năng tìm kiếm mồi của đối tượng đánh bắt (Løkkeborg, 1989) [27]
Năm 2004, Jack Hummeland Jacobsen & John Joensen đã nghiên cứu sử dụng các loại mồi câu trong nghề câu vàng và câu tay Mục đích của thử nghiệm là nhằm so sánh hiệu quả sử dụng các loại mồi Các loại mồi câu được sử dụng bao
gồm: mực ống Loligo forbesi, ốc xoăn thường Buccinum undatum, cá chình đất Ammodytes marinus, mực ống Illex sp, và mồi nhân tạo Đối tượng đánh bắt được
trong các chuyến thử nghiệm là các loài cá tuyết (Cod, haddock, whiting) và một số đối tượng khác như sao biển, ốc xoăn, một số loại ốc khác,… Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mồi nhân tạo sử dụng trong nghiên cứu không phù hợp khi mắc mồi, bởi vì các miếng mồi dính với nhau và dễ bị rơi trong quá trình thả câu Mồi ốc xoăn có hiệu quả đánh bắt cao hơn mồi mực ống Loligo khi đánh bắt cá tuyết Cod trong nghề câu vàng Tuy nhiên, hiệu quả đánh bắt của nó trong nghề câu tay không
rõ ràng, có thể do sự khác nhau trong qui trình khai thác của nghề Mồi ốc xoăn đánh bắt được cá có kích thước lớn hơn so với mồi mực ống Loligo trong nghề câu vàng, điều này có thể là do sự khác nhau về kích thước mồi câu [27]
Với quan điểm bảo vệ nguồn lợi và tận dụng tốt hơn những chất thải trong ngành công nghiệp chế biến hải sản, năm 1998, các nhà khoa học thuộc Trường đại học Hokkaido, Nhật Bản đã nghiên cứu thử nghiệm sử dụng mồi nhân tạo trong nghề câu vàng khai thác cá ngừ Mồi nhân tạo được làm từ túi mực của loài mực đại
dương Todarodes paraficus Túi mực được pha trộn cùng với tảo bẹ và được làm
Trang 22đông cứng, bên trong đặt một miếng gạc (bằng lưới thép mịn) để tạo độ kết dính và
độ cứng Miếng mồi có dạng hình chữ nhật, kích thước 18cm x 4cm x 0.8cm Để so sánh hiệu quả của mồi nhân tạo, các nhà khoa học đã thử nghiệm mồi nhân tạo cùng với mồi mực ống, và cá thu đao [33] Tỷ lệ đánh bắt của các loại mồi được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.4 Năng suất đánh bắt cá ngừ đại dương của các loại mồi
(Năng suất khai thác là số lượng cá đánh bắt/1000 lưỡi câu)
Bảng 1.4 cho thấy, năng suất đánh bắt của mồi cá thu đao là cao nhất và năng suất đánh bắt của mồi nhân tạo là thấp nhất Tuy nhiên, mồi cá thu đao chỉ đánh bắt được cá ngừ ở mẻ số 2, các mẻ khác không đánh bắt được cá ngừ; mồi nhân tạo đánh bắt được cá ngừ ở cả 3 mẻ thử nghiệm Mặt khác, trong chuyến nghiên cứu, tổng số lượng cá đánh bắt được trong 1 mẻ từ 11 đến 38 con, điều này cho thấy số lượng cá đánh bắt được chưa đủ độ chính xác để tính tỷ lệ mắc câu của các loại mồi Vì vậy, kết quả nghiên cứu này chỉ mang tính tham khảo và đây là số liệu rất hữu ích cho việc nghiên cứu tiếp theo đối với các loại mồi nhân tạo
Năm 2006, Viện nghiên cứu và phát triển nghề cá quốc gia (NFRDI) của Hàn Quốc đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ đánh bắt của loại lưỡi câu đốc ngắn và lưỡi câu đốc dài trong nghề câu vàng khai thác cá ngừ Trong chương trình nghiên cứu này, các nhà khoa học cũng đồng thời nghiên cứu khả năng đánh bắt của các loại mồi câu Các loại mồi được sử dụng bao gồm: cá thu bóng, cá trích, mực ống, cá thu cờ và cá măng Năng suất đánh bắt của các loại mồi câu được trình bày trong bảng sau [34]:
Trang 23Bảng 1.5 Năng suất đánh bắt (CPUE) của các loại mồi câu
(Trong ngoặc là số lượng cá đánh bắt)
CPUE (Số lượng cá đánh bắt/1.000 lưỡi câu) Thành phần đối tượng
19 – 29% cao hơn đối với loại mồi cá thu cờ Đối với nhóm cá khác, mồi mực ống
có CPUE cao nhất, cao hơn 7% so với mồi cá thu cờ và cao hơn 20% so với mồi cá trích Kết quả là mồi mực ống và mồi cá thu cờ có CPUE đối với nhóm cá ngừ và nhóm cá khác cao; mồi cá thu bóng có CPUE đối với nhóm cá kiếm và nhóm cá mập cao; mồi cá măng có CPUE thấp đối với tất cả các nhóm trừ nhóm cá ngừ [34]
1.1.4.4 Nghiên cứu đặc trưng của mồi câu
- Sự phản ứng của cá mồi trong nước: cá mồi tốt là loại cá mồi tập trung được đàn cá ngừ đến tàu, và khi bị cá ngừ tấn công chúng quay trở lại tàu Các loài
cá Stolephorus purpureus, marquesan sardine, sardinella marquesensis, mullet, mugil longimanus thuộc nhóm cá mồi tốt Trong nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, cá
Trang 24ngừ không đến gần thân tàu ở khoảng cách xấp xỉ 1m, vì vậy cá mồi tốt là cá mồi không tập trung sát vào thân tàu Các nhà khoa học cũng kết luận rằng, cá mồi di chuyển nhanh trong một khoảng cách ngắn sẽ kích thích cá ngừ nhiều hơn cá mồi di chuyển chậm đều Cá ngừ được kích thích có khả năng cắn câu hơn là không được kích thích, và cá được kích thích sẽ không lưỡng lự khi cắn câu trong khi đó cá không được kích thích có thể đến lưỡi câu nhưng không cắn câu [25]
- Kích thước mồi câu: mồi có chiều dài 8cm sẽ được nhìn thấy ở vị trí cách
xa 50m Mồi có kích thước càng lớn sẽ được nhìn thấy ở khoảng cách lớn Tuy nhiên, kích thước mồi câu còn phụ thuộc vào khả năng chứa mồi của tàu, và số lượng cá đánh bắt được phụ thuộc vào số lượng miếng mồi Nếu khối lượng mồi mang theo là cố định thì các miếng mồi nhỏ tốt hơn là các miếng mồi lớn [25]
- Khả năng sống của mồi: một đặc trưng của mồi câu trong nghề câu tay khai thác cá ngừ vằn đó là cá mồi có thể sống được lâu trong khoang chứa mồi của tàu, ít nhất là nó phải sống được cho đến khi tàu ra đến ngư trường [25]
- Chất lượng mồi câu: chất lượng mồi câu có ý nghĩa rất quan trọng trong nghề câu cá ngừ, một số loại cá mồi tốt ở thời điểm này nhưng lại không phải là cá mồi tốt ở thời điểm khác Chẳng hạn, có loại mồi tập trung cá ngừ vào lúc đầu tốt nhưng lại không tốt trong việc giữ cá ở tại tàu Ví dụ như ngư dân làm nghề câu tay
ở Hawaii sử dụng cá cơm biển bắc để tập trung cá ngừ đến tàu lúc đầu sau đó một
tàu khác sử dụng mồi cá cơm Stolephorus purpureus để câu cá ngừ [26]
- Mồi sống và mồi chết: nghiên cứu về hiệu quả đánh bắt cá cờ bằng mồi cá sống và mồi cá chết đã được các nhà khoa học thuộc Trung tâm khoa học nghề cá Tây Nam thực hiện Nghiên cứu chỉ ra rằng, khi sử dụng mồi sống tỷ lệ cá cờ đánh bắt được cao hơn (24%) so với các mẻ câu không sử dụng mồi sống (16,5%) [21]
Theo Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á, để đánh bắt cá ngừ bằng câu vàng người ta dựa vào sự kích thích tập tính kiếm mồi của cá thông qua mùi tỏa
ra từ mồi câu Cá bị thu hút đến vàng câu bởi mùi của mồi, mồi thích hợp sẽ làm kích thích cá tấn công và cắn câu Vì thế, kiểu mồi và chất lượng của mồi là những
Trang 25yếu tố rất quan trọng cho hiệu quả đánh bắt của một vàng câu Các kiểu mồi khác nhau thì hiệu quả đánh bắt sẽ khác nhau đối với từng loài cá khác nhau Dựa vào đối tượng khai thác sẽ xác định kiểu mồi cần chọn lựa cho mỗi chuyến biển Hiệu quả đánh bắt của mồi câu còn được xác định bởi độ bền và khả năng duy trì chất lượng trong suốt quá trình ngâm trong nước Việc bảo quản và xếp dỡ mồi hợp lý sau khi đánh bắt cũng góp phần quan trọng đến chất lượng mồi và hiệu quả đánh bắt Quá trình phân huỷ làm thay đổi thành phần hoá học của mồi diễn ra rất nhanh ngay từ khi thả câu Vì vậy, mồi câu phải được làm lạnh và cấp đông càng sớm càng tốt sau khi đánh bắt và giữ đông cho đến khi mắc mồi Nếu không dùng hết mồi sau khi đánh bắt thì nên bảo quản lạnh để đảm bảo chất lượng của mồi Chi phí để mua mồi chiếm một phần lớn trong tổng chi phí một chuyến biển đối với nghề câu vàng, nên việc sử dụng mồi nhỏ cũng giảm đáng kể chi phí [37]
1.1.5 Nguồn lợi mực và hiện trạng khai thác trên thế giới
Theo kết quả nghiên cứu của Roper (1984) đã phát hiện được 7 giống và 31 loài mực ống Mực ống phân bố ở vùng nước thềm lục địa của tất cả các vùng biển trên thế giới từ Bắc cực đến Nam cực Mật độ phân bố của mực ống không lớn và không phụ thuộc vào dòng chảy Năng suất khai thác cao thường tập trung ở những vùng nước ven bờ Ngư trường khai thác mực ống bao gồm: vùng dốc thềm lục địa của California, vùng nước mát ở dốc thềm lục địa xung quanh đảo Falkland của Manivơ và dốc thềm lục địa của Đông Nam Á [10]
Sản lượng quan trọng nhất của mực ống trên thế giới là loài Loligo gahi,
loài này phân bố ở vùng nước ven bờ và những vùng dốc thềm lục địa xung quanh
bờ biển nam Châu Mỹ, từ phía Nam Pêru đến phía Bắc Achentina Hầu hết sản lượng khai thác được bằng lưới kéo ở các vùng nước phía Nam và Bắc đảo Falkland
của Manivơ Loài Loligo pealei phân bố trong vùng nước ven bờ và dốc thềm lục
Châu Phi nhưng mật độ phân bố thưa
Trang 26Theo số liệu thống kê của FAO năm 2002, tổng sản lượng khai thác mực ống của thế giới khoảng 359.648 tấn, hầu hết sản lượng là từ biển phía đông Châu Á
và phía tây Châu Mỹ Những loài đánh bắt được gồm Loligo opalescens phân bố ở
vùng biển California, hầu hết loài này bị đánh bắt ở xung quanh eo đảo và vịnh
Monterey; Loligo chinensis bị đánh bắt bằng các tàu sử dụng ánh sáng ở vùng dốc thềm lục địa của biển Trung Quốc (Dong, 1991); Loligo chinensis và Loligo duvauceli bị đánh bắt bởi nghề câu và nhiều công nghệ khác ở vùng dốc thềm lục
địa Sunda - Arafura (Chotiyaputa, 1993) Trong giai đoạn 1990 - 2005, sản lượng khai thác mực trung bình hàng năm của thế giới khoảng 2,4 triệu tấn Diễn biến sản lượng khai thác mực ống trên thế giới giai đoạn 1990 - 2005 như hình 1.3
0 500.000 1.000.000 1.500.000 2.000.000 2.500.000 3.000.000
Hình 1.2: Sản lượng khai thác mực ống trên thế giới (1990 – 2005)
Hình 1.2 cho thấy, tỷ lệ sản lượng mực ống chiếm khoảng 10 - 15% tổng sản lượng mực khai thác được trên thế giới Sản lượng khai thác mực ống trung
bình hàng năm đạt 364.000 tấn; riêng loài mực Loligo gahi có sản lượng cao nhất
trong các loài mực ống, sản lượng trung bình hàng năm của loài này đạt 56.000 tấn
Các nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan,…có tập quán lâu đời trong việc sử dụng mực, do vậy nghề khai thác mực tại các nước này rất phát triển, chúng là đối tượng khai thác chính của các nghề: câu mực, chụp mực, lưới rê, Lợi dụng tính hướng quang của mực, người ta sử dụng một số thiết bị kết hợp với ngư cụ làm cho năng suất đánh bắt mực tăng nhanh Tại vùng biển phía nam
Trang 27Trung Quốc, động vật chân đầu là nhóm loài đánh bắt chính, chiếm 5-6% tổng sản
Trong khi đó, nhiều quốc gia có nghề cá phát triển mạnh như: Nauy, Đan Mạch, Mỹ, Ôxtrâylia,… thì mực chỉ được quan tâm như một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái và mực chỉ được xem làm đối tượng đánh bắt phụ Nghề khai thác mực của các nước này chưa phát triển như các nước Châu Á
Những năm gần đây, công nghệ đánh bắt mực bằng lưới chụp mực đã được phát triển mạnh ở các nước Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam Tuy nhiên, nghề này cũng mới chỉ được áp dụng để đánh bắt ở vùng nước gần bờ Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến, để đánh bắt mực đại dương chưa được các nước trên thế giới quan tâm đúng mực
1.2 Nghiên cứu trong nước 1.2.1 Nguồn lợi cá ngừ đại dương ở biển Việt Nam
1.2.1.1 Các loài cá ngừ đại dương khai thác chính
Các loài cá ngừ đại dương khai thác chính của nghề câu vàng ở biển Việt
Nam là cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) và cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares)
a Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares): chiều dài phổ biến từ 70 –
192cm, chiều dài cực đại 239cm Cá thường xuất hiện ở bên trên và bên dưới các tầng nước có nhiệt độ đột biến Cá lớn thường kết đàn với cá heo, và cũng di chuyển theo các vật trôi nổi trong nước Thức ăn chủ yếu là cá nhỏ, giáp xác và mực Cá ngừ vây vàng rất nhạy cảm với những nơi nồng độ ôxy thấp, vì thế thường không bắt gặp nơi độ sâu dưới 250m ở các vùng biển nhiệt đới Thời kỳ đẻ cao điểm nhất là vào mùa hè, theo từng đợt Vùng phân bố của cá ngừ rất rộng ở các vùng nước xa bờ Ở nước ta, cá ngừ vây vàng chỉ phân bố ở biển miền Trung, Đông Nam bộ; tập trung nhiều ở vùng giữa Biển Đông (Hình 1.3)
Trang 28Hình 1.3 Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares)
b Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus): cá ngừ mắt to cũng phân bố ở vùng
biển xa bờ Chiều dài phổ biến từ 80 - 168 cm, chiều dài cực 250cm Cá sống ở
xuất hiện của cá có liên quan chặt chẽ đến những thay đổi về mùa vụ và khí hậu, thể hiện ở nhiệt độ bề mặt và nhiệt độ của tầng nhiệt nhảy vọt Cá con và cá trưởng thành cỡ nhỏ hợp thành đàn ở bề mặt thành các nhóm đơn loài hoặc hợp lẫn với các loài cá ngừ khác Cá trưởng thành nằm ở các tầng nước sâu hơn Thức ăn của chúng
là các loài cá nhỏ, động vật chân đầu và giáp xác Độ sâu phân bố từ 1 – 250m (Hình 1.4)
Hình 1.4 Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) 1.2.1.2 Trữ lượng, khả năng khai thác và năng suất khai thác
Các nghiên cứu về cá ngừ ở biển Việt Nam đã được thực hiện từ những năm 1960 đến nay Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa chuyên sâu, số liệu nghiên cứu còn mỏng và rải rác ở các đề tài, dự án khác nhau Tổng hợp các kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng trữ lượng cá ngừ đại dương ở biển Việt Nam khoảng 662.853 – 670.591 tấn và khả năng khai thác bền vững 233.000 tấn Trong đó, trữ lượng cá
Trang 29ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to vào khoảng 44.853 – 52.591 tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 17.000 tấn (Đào Mạnh Sơn, 2005)
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu trữ lượng, khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi và hiện trạng cơ cấu nghề nghiệp ở khu vực biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ”, năng suất khai thác trung bình của các loài cá ngừ đại dương ở biển Việt Nam như sau:
Bảng 1.6 Năng suất khai thác cá ngừ đại dương ( 2000 – 2004)
(Nguồn: Đào Mạnh Sơn, 2005)
Năng suất khai thác trung bình
(kg/100 lưỡi câu)
Ngừ vây vàng (kg/100 lưỡi câu)
Nhìn chung, năng suất khai thác cá ngừ đại dương biến động nhiều qua các chuyến điều tra Năng suất khai thác ở mùa gió Đông Bắc có xu hướng thấp hơn so với mùa gió Tây Nam, tuy nhiên xu hướng này không rõ rệt
Năng suất khai thác trung bình của cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to đạt thấp ở tất cả các chuyến điều tra Biến động năng suất khai thác theo thời gian chưa thể hiện xu hướng rõ ràng
Trang 301.2.1.3 Ngư trường và mùa vụ khai thác
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, cá ngừ đại dương xuất hiện quanh năm ở vùng biển ngoài khơi miền Trung, mùa vụ khai thác chính từ tháng 11- 4 năm sau, mùa phụ từ tháng 5 - 10
Ngư trường hoạt động nghề câu vàng cá ngừ đại dương thay đổi theo mùa,
có xu hướng từ Bắc xuống Nam Thông thường, những tháng đầu mùa (tháng 12 đến tháng 3 năm sau), tàu thường khai thác ở vùng biển bắc Biển Đông, đông bắc Hoàng Sa, bắc Trường Sa; các tháng giữa mùa (tháng 4 - 6) ở vùng biển Trường Sa, miền Trung và những tháng còn lại ở vùng biển nam Trường Sa, nam Biển Đông
Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương vụ Bắc và vụ Nam từ năm 2000 –
2004 (Phụ lục 1)
1.2.2 Hiện trạng nghề câu cá ngừ đại dương
Nghề câu cá ngừ đại dương được du nhập và phát triển ở nước ta từ đầu những năm 1990 và trở thành nghề khai thác chủ lực ở vùng biển miền Trung Theo thống kê của FAO (2003) và Bộ Thủy sản (2004), sản lượng khai thác cá ngừ đại dương của nước ta từ năm 2001 đến 2004 như sau [3]:
Bảng 1.7 Sản lượng khai thác cá ngừ qua các năm (2001 - 2004)
Hiện nay, toàn quốc có khoảng 1.800 tàu câu cá ngừ đại dương ở các tỉnh
lượng khai thác cá ngừ đại dương năm 2006 ước đạt 20.000 tấn, tương ứng giá trị
Trang 31khoảng 110 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 20.000 lao động [22] Tuy nhiên, do phát triển sản xuất tự phát, thiếu cơ sở khoa học về nguồn lợi nên đã có dấu hiệu khai thác quá mức nguồn lợi cá ngừ đại dương Nhiều tàu đã bị thua lỗ, ngưng hoạt động hoặc chuyển nghề
- Tàu thuyền: các tàu câu công nghiệp có chiều dài từ 22 – 27m, lắp máy từ
200 – 750cv; các tàu câu của ngư dân thường có chiều dài từ 13,5 – 18,0m, lắp máy
từ 33 – 300cv
- Vàng câu: các tàu câu công nghiệp có chiều dài vàng câu từ 60 – 120km, tương ứng với số lưỡi câu từ 1.800 – 2.500 lưỡi; các tàu câu của ngư dân có chiều dài vàng câu từ 15 – 60km, tương ứng với số lưỡi câu từ 300 – 1.000 lưỡi
- Hiệu quả kinh tế:
Trong chương trình nghiên cứu đánh giá trình độ công nghệ nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung (2006 - 2007) cho thấy, hiệu quả kinh tế đội tàu câu cá ngừ đại dương tuy có giảm sút nhưng vẫn khá tốt Doanh lợi có xu hướng
tỷ lệ nghịch với công suất máy tàu Khối tàu lắp máy công suất < 90cv đạt doanh lợi cao nhất, với DL1 đạt 20,94%, DL2 đạt 31,01% và DL3 đạt 13,69% giảm rất nhiều
so với năm 1997 (DL1 đạt 127,46%, DL2 đạt 146,64% và DL3 đạt 53,18%) nhưng cao hơn năm 2005 (DL1 đạt 11,32%, DL3 đạt 10,17%), và cao hơn đội tàu công nghiệp hiện đại (12,39%) [22] Nguyên nhân, có thể là do đội tàu này có chi phí đầu
tư và sản xuất thấp nhưng công nghệ khai thác tương tự như các đội tàu còn lại
1.2.3 Nghiên cứu về nghề câu cá ngừ đại dương
Để góp phần phát triển nghề câu cá ngừ đại dương ở nước ta, nhiều đề tài nghiên cứu về cá ngừ đại dương đã được thực hiện trong những năm qua Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung vào đánh giá nguồn lợi, trữ lượng và ngư trường khai thác Về mặt công nghệ khai thác cá ngừ đại dương bằng câu vàng,
có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Nghiên cứu cải tiến vàng câu cá ngừ đại dương đã được Sở Thủy sản Bình Định thực hiện năm 2004 Nghiên cứu tập trung về các mặt: tăng chiều dài vàng
Trang 32câu, rút ngắn khoảng cách giữa 2 thẻo câu, rút ngắn khoảng cách chiều dài dây thẻo, tăng chiều dài dây ganh để tăng số lượng thẻo câu và tăng độ sâu đánh băt Kết quả nghiên cứu đã làm tăng sản lượng cá đánh bắt lên 1,5 lần [17]
- Nghiên cứu cải tiến vàng câu cá ngừ đại dương cũng đã được Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện năm 2005 – 2006 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, đối với mô hình câu thủ công (vàng câu không có độ võng), năng suất khai thác đạt cao ở các
độ sâu 54m, 62m và 70m; đối với mô hình câu công nghiệp, năng suất khai thác đạt cao nhất ở dải độ sâu 220 – 230m, tiếp theo ở dải độ sâu 120 – 130m Chiều dài thẻo câu 20m cho năng suất đánh bắt cao nhất và phù hợp với các thao tác thu, thả câu Mồi mực cho hiệu quả khai thác cao gấp 3 lần mồi cá chuồn [15]
1.2.4 Tình hình sử dụng và khai thác mồi câu trong nghề câu cá ngừ
Trong nghề câu cá ngừ đại dương ở Việt Nam, các loại mồi câu thường được sử dụng là cá chuồn, cá nục, cá bạc má và mực ống đại dương Các tàu câu công nghiệp thường sử dụng mồi là cá nục và cá bạc má bảo quản lạnh được mua từ các công ty chuyên cung cấp mồi câu Trong khi đó, các tàu câu của ngư dân thường sử dụng mồi câu là cá chuồn và mực ống đại dương được khai thác trực tiếp bằng các loại ngư cụ phụ trên tàu hoặc mua từ các tàu khai thác khác
Hiện nay, trên các tàu câu cá ngừ của ngư dân thường sử dụng các loại ngư
cụ phụ để đánh bắt mồi là lưới rê cá chuồn và thúng chai câu mực
- Khai thác mồi cá chuồn bằng lưới rê:
Vàng lưới rê cá chuồn thường có chiều dài từ 3.000 – 7.000 m; chiều cao 1,2 – 1,5 m; kích thước mắt lưới 20 – 40 mm Lưới được thả ban ngày để đánh bắt
cá chuồn làm mồi câu Số lượng cá chuồn đánh bắt được nếu không dùng không hết thì được đưa xuống hầm đá để bảo quản lạnh và sử dụng trong những ngày sau
- Khai thác mồi mực đại dương bằng câu tay:
Để khai thác mực đại dương bằng câu tay, các tàu câu thường trang bị từ 3 – 7 thúng câu Những đêm tối trời thủy thủ xuống thúng để câu mực, mỗi người một thúng, thời gian câu từ 3 – 5 giờ Sản lượng mực câu được từ 30 – 80 kg/đêm Tuy nhiên, số lượng mực câu được thường không đáp ứng đủ số lượng mồi cần thiết
Trang 331.2.5 Tình hình nghiên cứu và khai thác mực đại dương ở Việt Nam
[10], [13], [16], [20]
Ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ chú ý nghiên cứu 2 họ trong lớp chân đầu
là họ Loliginidea và Sepiidea, các họ khác còn ít được quan tâm, riêng với mực ống
đại dương hầu như còn bỏ ngỏ Mực đại dương thường bắt gặp ở vùng biển xa bờ, đây là loài phân bố rộng, sống ở vùng nước có độ sâu trung bình > 1.000m
- Mùa vụ và ngư trường khai thác:
Thời gian khai thác từ tháng 4 đến tháng 10, tốt nhất từ tháng 4 đến tháng 6, thời gian này ngư dân thường khai thác ở quần đảo Trường Sa Thời gian tháng 2 – 3, ngư dân khai thác khu vực phía đông nam đảo Hải Nam
- Năng suất khai thác và hiệu quả kinh tế của các nghề khai thác:
Từ năm 1996 đến năm 2001, nhiều đề tài nghiên cứu về mực đại dương ở vùng biển Việt Nam đã được thực hiện như: dự án JICA hợp tác với Viện Nghiên cứu Hải sản (1996 - 1997), chương trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hải sản với SEAFDEC (1999 - 2000), chương trình hợp tác giữa dự án DANIDA và dự án xa bờ (2000) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu về năng suất khai thác của một số loại ngư cụ như lưới rê, câu bằng tời quay; không có các nghiên cứu chuyên sâu Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, năng suất khai thác của nghề lưới rê đạt từ 0,2 – 30,0kg/km lưới và năng suất khai thác trung bình của nghề câu bằng tời quay đạt 1,4kg/100 lưỡi câu/giờ Nhìn chung, năng suất khai thác của nghề lưới rê và câu có tời quay đạt thấp
Năm 2000 – 2001, Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện đề tài “Nghiên cứu
khai thác mực đại dương (Sthenoteuthis oualaniensis) và mực ống (Loligo spp.) ở
vùng biển xa bờ” Nghiên cứu này cũng chỉ quan tâm đến khả năng đánh bắt của các loại ngư cụ Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nghề câu mực bằng tời quay đạt năng suất thấp và không có hiệu quả kinh tế, không bù đắp nổi chi phí hoạt động
Nghề lưới rê có doanh thu cao gấp 1,72 lần so với nghề câu có tời quay, nhưng cũng chỉ đủ bù đắp được chi phí hoạt động của tàu, chưa kể khấu hao và lương thủy thủ
Trang 34Nghề câu trên thúng có hiệu quả kinh tế cao nhưng đây là nghề nguy hiểm và chỉ hoạt động được khi thời tiết tốt Khai thác mực đại dương bằng lưới chụp mực đạt sản lượng cao, sản lượng cao nhất đạt 310,6kg/đêm Sản lượng mực đại dương chiếm 81% tổng sản lượng khai thác Hiệu quả kinh tế và độ an toàn cho thủy thủ cao
Trong chương trình đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác hải sản ở Trường Sa cho thấy, năng suất khai thác của nghề câu mực đại dương đạt cao nhất ở nhóm tàu 46 – 60cv (11,55kg/người/ngày) Tiếp đến là nhóm tàu 33 – 45cv (11,07kg/người/ngày) Nhóm tàu 136 – 200cv đạt 10,80kg/người/ngày
1.2.6 Hiện trạng nghề chụp mực ở Việt Nam
Nghề chụp mực du nhập vào Việt Nam đầu thập kỷ 1990 và phát triển mạnh ở các tỉnh ven biển Vịnh Bắc Bộ như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh; đây là nghề khai thác mực đạt hiệu quả cao Năm 2003, số lượng tàu chụp mực khoảng 1.073 chiếc, chiếm 5,91% tổng số tàu toàn vùng và sản lượng khai thác khoảng 14.703 tấn, chiếm 3,62% tổng sản lượng toàn vùng [10]
Theo số liệu điều tra của Hồ Đình Hải (2005) về nghề chụp mực ở Hải Phòng và Nghệ An cho kết quả như sau:
- Hầu hết tàu làm nghề chụp mực được đóng bằng gỗ, có chiều dài từ 10 -
16 m và chiều dài trung bình của vỏ tàu 13,5 m/chiếc
- Công suất máy chính từ 24 - 160 cv, trung bình là 73,8 cv/chiếc; công suất máy phụ trung bình 38,2 cv/chiếc (chỉ có 56,6% số lượng tàu lắp máy phụ)
- Chu vi miệng lưới chụp mực thay đổi từ 56 - 120 m, trung bình là 81,6 m;
Trang 351.2.7 Khả năng kiêm nghề của lưới chụp mực
Từ kết quả chuyển giao công nghệ giữa các cơ quan nghiên cứu, trung tâm khuyến ngư và sự chuyển giao giữa các chủ tàu ở các địa phương, hiện nay, nghề chụp mực đã được phát triển mạnh và đạt hiệu quả kinh tế cao ở các địa phương như Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Cà Mau, … Ở các địa phương này, lưới chụp mực được đánh bắt theo mô hình đơn nghề hoặc kiêm nghề Tuy nhiên, nghề này mới chỉ được áp dụng để đánh bắt mực ống ở vùng biển ven bờ, chưa được
áp dụng để đánh bắt mực đại dương ở vùng biển xa bờ, trong khi nguồn lợi này rất phong phú và chưa được khai thác đúng mức
Trong chương trình nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ năm 2005 –
2006, Viện Nghiên cứu Hải sản đã áp dụng lưới chụp mực 4 tăng gông trên tàu câu cá ngừ để đánh bắt mực đại dương làm mồi câu Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng mực đại dương đánh bắt bằng lưới chụp mực hoàn toàn có đủ khả năng cung cấp mồi câu cho nghề câu vàng
Như vậy, mặc dù trong thực tế chưa có mô hình khai thác kiêm nghề chụp mực trên tàu câu cá ngừ đại dương để đánh bắt mực làm mồi câu nhưng qua nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng lưới chụp mực 4 tăng gông như là một ngư cụ phụ trên tàu câu để đánh bắt mực đại dương làm mồi
1.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu các nội dung của đề tài
Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước là căn cứ rất quan trọng để đề tài định hướng các nghiên cứu tiếp theo và có cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác cá ngừ đại dương Một số kết quả nghiên cứu đáng lưu ý là:
- Mồi câu có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất khai thác và hiệu quả kinh tế của nghề câu cá ngừ đại dương Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng khai thác của mồi câu là mùi vị, hình dạng và độ bền của mồi Đây là một kết luận quan trọng, làm căn cứ cho việc nghiên cứu xác định loại mồi câu phù hợp với cá ngừ đại dương nhằm nâng cao năng suất khai thác
Trang 36- Mô hình khai thác kiêm nghề đã được áp dụng trong nghề câu tay cá ngừ của một số nước trên thế giới để khai thác mồi câu cá ngừ đại dương Trong nghề câu
cá ngừ đại dương ở Việt Nam, nhiều mô hình kiêm nghề cũng đã được áp dụng như
mô hình câu cá ngừ kết hợp với lưới rê cá chuồn hoặc câu tay trên thúng để đánh bắt mồi câu Tuy nhiên, các mô hình này chưa thật sự hiệu quả trong việc đánh bắt mồi câu Cần phải nghiên cứu một mô hình đánh bắt kiêm nghề mới phù hợp và hiệu quả
- Công nghệ đánh bắt mực bằng lưới chụp mực đã được phát triển mạnh ở một số nước và đã được nghiên cứu thành công ở Việt Nam Công nghệ này mới chỉ được áp dụng để đánh bắt mực ống ở vùng biển gần bờ, chưa được áp dụng để đánh bắt mực đại dương ở vùng biển xa bờ, trong khi nguồn lợi mực đại dương ở vùng biển xa bờ của Việt Nam còn rất phong phú
- Các loại mồi thường được sử dụng trong nghề câu vàng cá ngừ đại dương trên thế giới và ở Việt Nam là cá chuồn, cá nục, mực đại dương, mực ống, cá thu đao,
cá măng, Trong đó, mồi mực nói chung là một trong những loại mồi khai thác cá ngừ tốt nhất Tuy nhiên, công nghệ khai thác mực làm mồi trên các tàu câu cá ngừ chưa thật sự hiệu quả; chi phí mua mực làm mồi câu rất cao Vì vậy, cần phải nghiên cứu đánh bắt mực để làm mồi câu cá ngừ nhằm nâng cao năng suất khai thác và tăng hiệu quả kinh tế
- Ngư trường phân bố của mực đại dương ở biển Việt Nam thường trùng với ngư trường phân bố của cá ngừ đại dương Đồng thời, nguồn lợi mực đại dương ở đây rất phong phú và chưa được khai thác đúng mức Đây là một căn cứ khoa học quan trọng để áp dụng lưới chụp mực trên các tàu câu cá ngừ nhằm khai thác mực đại dương làm mồi câu
Trang 37CHƯƠNG 2: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tài liệu và phương tiện nghiên cứu
- Chiều cao mạn ướt: 2,20 m;
- Chiều cao mạn khô: 1,20 m;
- Công suất máy chính: 115 cv;
- Công suất máy đèn: 15 cv;
Hình 2.1 Tàu sử dụng trong nghiên cứu
Trang 382.1.2.2 Các trang thiết bị và ngư cụ
a Các trang thiết bị
- Tời thu dây trích lực từ máy chính, lực kéo cho phép 4.000 KG
- Tời thu dây triên với hệ thống bơm thuỷ lực, lực kéo cho phép 500 KG
- Cần cẩu được làm bằng thép, chiều dài 4m, đường kính 100mm Cần cẩu được liên kết vào trụ trước của tàu, lực nâng cho phép 1.000KG
- Hai tăng gông mạn trái (10,5 m) và 2 tăng gông mạn phải (6,0 m)
- Đinamô 10kW và hệ thống đèn
- Máy đàm thoại công suất lớn ICOM IC – 718
- Máy đàm thoại công suất nhỏ SUPER 2400
- Lưới chụp mực 4 tăng gông được nghiên cứu thiết kế dựa trên các cơ sở khoa học và mặt boong thao tác của tàu câu vàng PY 92358 TS
2.2 Phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Cơ sở lựa chọn phương pháp kiêm nghề
Trong những năm gần đây, nghề câu cá ngừ đại dương ở miền Trung đang gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân là do số lượng tàu thuyền ngày càng tăng dẫn đến nguồn lợi cá ngừ suy giảm; phương pháp khai thác hiện tại không còn phù hợp với hiện trạng nguồn lợi; chi phí sản xuất tăng Cần phải tìm một mô hình khai thác mới phù hợp nhằm nâng cao năng suất khai thác và hiệu quả kinh tế của nghề
Trang 39Mồi câu có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng khai thác cá ngừ; một loại mồi phù hợp sẽ nâng cao năng suất khai thác; đồng thời chi phí mồi câu chiếm từ 30 – 50% tổng chi phí chuyến biển, tùy thuộc vào cỡ tàu và qui mô khai thác Vì vậy, cần phải tìm cách giảm chi phí mồi câu để giảm chi phí chuyến biển là một trong những biện pháp làm nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề Hiểu rõ được điều này, các tàu câu cá ngừ của ngư dân đã trang bị thêm các ngư cụ phụ để khai thác mồi là lưới rê cá chuồn và thúng chai (đánh bắt cá chuồn và mực ống đại dương)
Từ thực tế khai thác cho thấy, mồi mực đại dương có hiệu quả đánh bắt cá ngừ tốt hơn mồi cá chuồn Tuy nhiên, khai thác mực bằng câu tay trên thúng như hiện nay trên các tàu câu cá ngừ không đáp ứng đủ số lượng mồi cần thiết nên các tàu câu phải mua thêm mực từ các tàu câu mực hoặc sử dụng mồi cá chuồn Để có
đủ số lượng mực làm mồi câu mà không phải mua từ các tàu câu mực thì các tàu câu cá ngừ phải trang bị loại ngư cụ khai thác mực đại dương khác
Sử dụng lưới chụp mực bốn tăng gông để đánh bắt mực đại dương đã được nghiên cứu thành công Sản lượng khai thác mực đại dương bằng lưới chụp mực trung bình một đêm đạt 130kg (đêm có sản lượng cao nhất đạt 310kg); mực khai thác được có trọng lượng trung bình từ 127 – 270g/con Số lượng mực khai thác được có thể đáp ứng đủ lượng mồi cần thiết cho nghề câu vàng
Như vậy, để giảm chi phí chuyến biển và nâng cao năng suất khai thác cá ngừ có thể sử dụng lưới chụp mực trên tàu câu cá ngừ như là một ngư cụ phụ thay thế cho các thúng chai để đánh bắt mực đại dương làm mồi câu cá ngừ Vấn đề là cần phải nghiên cứu sự phù hợp của hai nghề để nâng cao hiệu quả khai thác
2.2.2 Cơ sở lựa chọn ngư trường nghiên cứu
Để lựa chọn ngư trường nghiên cứu khả năng kiêm nghề chụp mực đại dương trên tàu câu cá ngừ, đề tài đã tổng hợp, phân tích các kết quả nghiên cứu cá ngừ đại dương và mực đại dương ở vùng biển Việt Nam về các mặt sau: ngư trường, nguồn lợi, sự phân bố và mùa vụ khai thác; và từ những khảo sát đánh bắt
Trang 40thực tế của ngư dân Từ những kết quả phân tích, đề tài tiến hành lựa chọn ngư trường nghiên cứu phù hợp
2.2.3 Cơ sở lựa chọn mồi câu
Mồi câu có ý nghĩa rất quan trọng trong nghề câu vàng cá ngừ đại dương
Dựa vào kết quả khảo sát nghề câu vàng cá ngừ đại dương ở Việt Nam hiện nay cho thấy các loại mồi câu thường được sử dụng phổ biến trên các tàu câu công nghiệp là
cá nục, cá bạc má bảo quản lạnh; trên các tàu câu của ngư dân thường sử dụng mồi
cá chuồn và mực đại dương được khai thác trực tiếp bằng lưới rê cá chuồn hoặc câu trên thúng, hoặc mồi câu được mua từ các tàu khai thác khác
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu và phát triển nghề cá quốc gia Hàn Quốc cho thấy, mực ống là một trong những loại mồi tốt nhất để đánh bắt cá ngừ đại dương Thực tiễn khai thác của các tàu câu cá ngừ ở miền Trung cũng cho thấy mồi mực đại dương có khả năng đánh bắt cá ngừ tốt hơn mồi cá chuồn
Từ những kết quả nghiên cứu và từ thực tiễn khai thác cá ngừ trong nước có thể nhận định rằng, mực đại dương là một loại mồi câu tốt để đánh bắt cá ngừ đại dương Đây là cơ sở để lựa chọn mực đại dương làm mồi câu cá ngừ trong nghiên cứu các nội dung của đề tài
2.2.4 Cơ sở lựa chọn ngư cụ khai thác mực đại dương
Mực đại dương có thể được khai thác bằng các loại ngư cụ sau: câu có tời quay; lưới rê mực; lưới chụp mực và câu tay trên thúng Hiện nay, việc khai thác thương mại mực đại dương được thực hiện bằng câu tay trên thúng Để lựa chọn loại ngư cụ khai thác mực đại dương phù hợp trên tàu câu vàng cá ngừ, đáp ứng đủ
số lượng mực làm mồi và an toàn trong khai thác, đề tài tiến hành phân tích các kết quả nghiên cứu khai thác mực đại dương đã thực hiện từ trước Từ những kết quả phân tích này, lựa chọn loại ngư cụ khai thác mực đại dương đạt năng suất cao, đảm bảo an toàn trong sản xuất và phù hợp với tàu thuyền