Các virus đậu dê có sức đề khác nhưng có thể sống sót trong một thời gian dài trên vật chủ hay ngoài môi trường chúng có thể tồn tại 6 tháng trên nền chuồng và 3 tháng trong vẩy mụn khô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM VIRUT ĐẬU TRÊN ĐÀN DÊ, CỪU NUÔI TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN TRUNG VÀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN
BỆNH ĐẬU DÊ, CỪU
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ THU TRANG Lớp: 47 CNSH
NHA TRANG, 2009
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án này, trước tiên em xin gửi tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Giám đốc Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học lòng biết ơn, niềm tự hào được học tập tại trường trong nhiều năm qua
Lòng biết ơn chân thành xin được giành cho thầy TS Vũ Ngọc Bội – phó giám đốc Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Ths Đỗ Văn Khiên – phó trưởng bộ môn Nghiên cứu Siêu vi trùng Phân viện Thú y Miền Trung đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đồ án này
Xin chân thành cảm ơn: PGS TS Ngô Đăng Nghĩa – giám đốc Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Ths Khúc Thị An – quyền trưởng bộ môn Công nghệ Sinh học, TS Nguyễn Đức Tân – Viện trưởng Phân viện Thú y miền Trung, các thầy cô giáo trong bộ môn Công nghệ Sinh học, các cán bộ Phân viện đã giảng dạy, tạo điều kiện cho em trong thời gian qua
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm đồ án
Nha Trang, ngày 18 tháng 07 năm 2009
Sinh viên
Trần Thị Thu Trang
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH ivi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1
1.1 Giới thiệu về phân viện Thú y miền Trung 1
1.2 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới và ở Việt Nam 1
1.2.1 Trên thế giới 2
1.2.2 Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam 3
1.3 Bệnh đậu dê 4
1.3.1 Giới thiệu về bệnh 4
1.3.2 Tình hình dịch bệnh đậu dê trên thế giới và tại Việt Nam 5
1.3.3 Đặc điểm chung về bệnh 11
1.4 Miễn dịch chống virus 16
1.4.1 Miễn dịch không đặc hiệu 16
1.4.2 Miễn dịch đặc hiệu 16
1.5 Một số phương pháp chẩn đoán bệnh đậu dê 19
1.5.1 Chẩn đoán lâm sàng 19
1.5.2 Bệnh tích mổ khám 19
1.5.3 Chẩn đoán thí nghiệm 20
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Nguyên liệu 24
2.3 Dụng cụ và hoá chất 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp điều tra dịch tễ 25
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 25
2.4.3 Phương pháp xử lý mẫu 26
2.4.4 Phản ứng PCR 28
Trang 42.5 Phương pháp xử lý số liệu 34
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Kết quả điều tra bệnh đậu dê tại địa phương nghiên cứu 35
3.1.1 Tỷ lệ dê, cừu mắc bệnh đậu theo tổng đàn điều tra 35
3.1.2 Kết quả điều tra tỷ lệ dê nghi mắc bệnh đậu theo mùa vụ 36
3.1.3 Tỷ lệ dê, cừu nghi mắc bệnh đậu theo nhóm tuổi 38
3.2 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm virus đậu dê trong các mẫu bệnh phẩm kiểm tra bằng phương pháp PCR 40
3.2.1 Tỷ lệ nhiễm virus đậu dê theo khu vực chăn nuôi 40
3.2.2 Tỷ lệ nhiễm virus đậu theo nhóm tuổi của dê, cừu 42
3.2.3 Kết quả xác định tỷ lệ dương tính với virus đậu dê theo đối tượng gia súc 43
3.4 Kết quả xác định gen kháng nguyên (P32) quy định yếu tố độc lực của virus đậu dê để phục vụ cho việc nghiên cứu gen cấu trúc kháng nguyên và miễn dịch học.44 3.5 Quy trình chẩn đoán quả bệnh đậu dê, cừu 45
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 47
4.1 Kết luận .47
4.2 Đề xuất ý kiến 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng phân bố tình hình bệnh đậu dê trên thế giới 6 Bảng 2.1 Thành phần Master Mix cho một mẫu phản ứng PCR 32 Bảng 3.1 Tỷ lệ dê, cừu nghi mắc bệnh đậu theo mùa vụ 37
Bảng 3.2 Tỷ lệ dê, cừu nghi mắc bệnh đậu theo nhóm tuổi Error! Bookmark
not defined
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm virus đậu theo nhóm tuổi của dê, cừu 42 Bảng 3.5 Tỷ lệ dương tính với virus đậu dê theo đối tượng gia súc 43 Bảng 3.6 Tỷ lệ mẫu chứa đoạn gen P32 trong các mẫu kiểm tra 44
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu tạo của virus đậu dê 14
Hình 2.1 Quy trình tách chiết DNA từ vảy mụn đậu .27
Hình 2.2 Các bước thực hiện phản ứng PCR 30
Hình 3.1 Tỷ lệ dê, cừu nghi mắc bệnh đậu theo tổng đàn điều tra 35
Hình 3.2 Sản phẩm chạy PCR 40
Hình 3.3 Sản phẩm chạy PCR của đoạn gen P32 44
Hình 3.4 Quy trình chẩn đoán bệnh đậu dê, cừu 45
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AGID : Agar Gel Immuno Diffusion test
AVL : Viral Lysis Buff er AW1 : Wash Buffer ( 1 ) AW2 : Wash Buff er ( 2 )
DNA : Desoxyribo Nucleic Acid EDTA : Ethylene Diamine Tetraacetic acid
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Chăn nuôi có vai trò quan trọng trong cung cấp thực phẩm, thịt, sữa và sức kéo cho con người đặc biệt là ở những nước đang phát triển như nước ta Trong những năm đầu thế kỷ 21, việc đẩy mạnh phát triển về số lượng gia súc đang được nhiều quốc gia quan tâm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
Chỉ tiêu phấn đấu của ngành chăn nuôi giai đoạn 2005 – 2010 là đạt tỷ trọng trên 30% GDP nông nghiệp Theo số liệu thống kê hàng năm, sự tăng trưởng bình quân của đàn trâu bò là 2,8% / năm
Chăn nuôi dê cần ít vốn, quay vòng vốn nhanh, tận dụng được lao động và điều kiện tự nhiên ở nhiều vùng sinh thái Đây là hướng hợp lý cho phát triển chăn nuôi của nông dân nghèo Khuyến khích chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ như dê là cuộc cách mạng thích hợp để giải quyết các vấn đề đói nghèo cho nhân dân các tỉnh trung du và miền núi hơn các chương trình phát triển các gia súc lớn Chăn nuôi gia súc lớn cần đầu tư vượt quá khả năng của đa số nông dân, thời gian thu hồi vốn lâu hơn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ về kinh tế Chăn nuôi dê góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, ổn định kinh tế và xã hội, giảm đói nghèo, tăng tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp
Trong những năm qua, nhờ chính sách mở cửa của nhà nước, cùng với gia tăng nhu cầu sử dụng nguồn thực phẩm của xã hội đã thúc đẩy ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi dê nói riêng phát triển mạnh mẽ Hình thành nhiều mô hình chăn nuôi theo kiểu trang trại với quy mô từ hàng chục, hàng trăm đến hàng nghìn con Nhiều hộ gia đình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi như lai tạo con giống, cải tiến chuồng trại, cải tiến quy trình chăn thả chế biến thức ăn… Vì vậy đã góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi, giúp người chăn nuôi xóa đói, giảm nghèo và từng bước làm ăn có lãi, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Tuy nhiên, các bệnh truyền nhiễm là một nguyên nhân quan trọng có thể gây cản trở mục tiêu trên Do đặc thù khí hậu khu vực duyên hải miền Trung là khô hạn kéo dài, một năm có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô Nắng nóng, mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc Ngoài các bệnh thường gặp như lở mồm long móng,viêm loét miệng truyền nhiễm,bệnh về đường hô hấp và tiêu hoá…hiện nay còn xuất hiện bệnh đậu dê làm giảm khả năng
Trang 9sinh sản và chất lượng của thịt, lông, da từ đó gây thiệt hại lớn về kinh tế cho các hộ nông dân nhất là các hộ nông dân nghèo
Bệnh đậu dê là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho dê và được tổ chức dịch
tễ thế giới (OIE) xếp vào bảng A – bảng các bệnh truyền nhiễm cực kì nguy hiểm
Bệnh xuất hiện trên thế giới từ khoảng năm 200 sau Công nguyên nhưng đến năm
1879, Hansen ở Nauy thông báo phát hiện bệnh đậu dê Ở Việt Nam, bệnh mới chỉ xuất hiện từ đâu năm 2005, năm 2006 – 2007 bệnh bùng phát thành dịch ở nhiều địa phương, đã gây nhiều thiệt hại về kinh tế đặc biệt đối với các hộ chăn nuôi nghèo và ảnh hưởng đến các hoạt động xã hội khác
Bệnh đậu dê do virus đậu dê (Goat pox virus) thuộc nhóm Capripoxvirus họ Poxviridae gây nên, bệnh lây lan rất nhanh, có thể xảy ra ở dê mọi lứa tuổi, mọi
giống, trên cả con đực và con cái Bệnh đậu dê là bệnh quan trọng nhất trong số các loại bệnh đậu của loài nhai lại, gây tỉ lệ chết cao trong dê con
Xuất phát từ tình hình thực tế, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu: “Khảo sát tỷ
lệ nhiễm virus đậu trên đàn dê, cừu nuôi tại một số tỉnh miền Trung và xây dựng quy trình chẩn đoán bệnh đậu dê, cừu”
Nội dung của đồ án như sau:
Trung
của virus đậu dê
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về phân viện Thú y miền Trung
Phân viện trưởng phân viện Thú y miền Trung: TS Nguyễn Đức Tân
Phân viện Thú y miền Trung được thành lập theo quyết định số 213 NN/TC QĐ ngày 23 tháng 7 năm 1977 của Bộ Nông nghiệp (nay là Bộ Nông Nghiệp và PTNT)
Phân viện Thú y miền Trung hoạt động theo cơ chế 115 từ ngày 27/06/2007 theo quyết định số 178/QĐ – BNN – TCCB của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Giấy chứng nhận đăng kí hoạt động KHCN số 05/2007/SKHCN ngày 4/12/2007
Chức năng và nhiệm vụ:
- Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ Thú y
- Sản xuất các loại Vaccine và sinh phẩm Thú y
- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Thú y
- Chẩn đoán bệnh động vật
Lực lượng cán bộ khoa học:
Biên chế bộ máy nghiên cứu khoa học của Phân Viện là 43 cán bộ, viên chức trong đó có 5 tiến sỹ, 8 thạc sỹ, 22 đại học, 8 nhân viên kỹ thuật
Danh hiệu mà Phân viện đã đạt được trong hơn 30 năm qua:
- Huân chương lao động hạng ba (1983)
- Huân chương lao động hạng hai (1987)
- Huân chương lao động hạng nhất (2003)
1.2 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới và ở Việt Nam
Dê là gia súc nhai lại nhỏ thuộc loài dê (Capra), họ phụ dê cừu (Caprarovanae),
họ sừng rồng (Bovidae), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ guốc chẵn (Artiodactyta),
lớp có vú (Manmalian)
Dê rừng (Capra aegagrus) trên thế giới được chia làm ba nhóm: Nhóm 1 là:
Bezoar (C.aegagrus), nhóm này có sừng hình xoắn Nhóm 2 là: Ibex (C.Ibex) và
Trang 11nhóm 3 là: Markhor (C.falconeri) nhóm này dê thường có sừng quặn về phía sau
.Dê rừng phân bố rộng ở vùng núi và bán sơn địa, phạm vi phân bổ tự nhiên của nhóm Bezoar là ở vùng Tây Á Nhóm Ibex phân bố ở vùng Tây Á, Đông châu Phi
và châu Âu Nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir -Karakorum
Với những dẫn liệu đặc biệt được tìm thấy trong thời gian gần đây, người ta cho rằng châu Á là nơi đầu tiên thuần hoá các giống dê Vào thiên niên kỷ thứ 7- 9 trước Công nguyên, tại vùng núi Tây Á lần đầu tiên người ta đã thuần hoá được dê Theo tài liệu của Herre và Robrs 1973 thì dê là vật nuôi sớm nhất của loài người và sau đó là đến chó Giống như các vật nuôi khác, sau khi thuần hoá, đầu tiên dê được nuôi với mục đích lấy thịt; sau đó nuôi dê để lấy sữa cũng được con người tiến hành sớm nhất, thậm chí còn sớm hơn cả bò lấy sữa, bởi lẽ vắt sữa dê đơn giản hơn nhiều
so với bò
Trung tâm nuôi dê cổ nhất là ở các nước Trung Đông sau đó đến Ấn Độ rồi đến Ai Cập, tiếp đến là ở các nước phương Tây, Châu Á và Châu Phi Trung tâm nuôi dê mới nhất là ở Đông Nam châu Á
Mahatma Gandi nhà lãnh tụ nổi tiếng ở Ấn Độ đã nói về vai trò của con dê là
"Dê sữa là con bò sữa của nhà nghèo" Hơn thế nữa Peacok còn cho rằng: “Dê sữa
là nhà băng cho người nghèo” RM Acharay Chủ tịch Hội chăn nuôi dê Thế giới còn bổ sung thêm là “Dê sữa chính là cơ quan bảo hiểm đáng tin cậy của người nghèo” [1]
* Trên thế giới
Theo số liệu của FAO (1996), hiện nay trên thế giới có khoảng 592 triệu dê và được phân bố ở các vùng như sau:
- Châu Á: 359 triệu con, chiếm 60,6%
- Châu Phi: 172 triệu con, chiếm 29,1%
- Nam Mỹ:23 triệu con, chiếm 3,9%
- Bắc Mỹ:16 triệu con, chiếm 2,6%
- Châu Âu:14 triệu con, chiếm 2,4%
- Liên Xô cũ:7 triệu con, chiếm 1,2%
- Châu Đại Dương: 1triệu con, chiếm 0,2%
Trang 12Như vậy châu Á là nơi chăn nuôi dê khá phát triển, đặc biệt lại tập trung chủ yếu ở những nước đang phát triển (90% trong tổng số dê trên thế giới và chăn nuôi chủ yếu ở khu vực gia đình với qui mô đàn nhỏ, tập trung ở những vùng khô cằn, nông dân nghèo)
Chăn nuôi dê ở những nước phát triển có qui mô đàn lớn hơn và chăn nuôi dê theo phương thức thâm canh với mục đích lấy sữa và làm pho mát mang lại hiệu quả kinh tế cao
* Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam
Nước ta có điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiều đồi núi, nơi có nhiều cây cỏ phát triển thích hợp với việc nuôi dê Chăn nuôi dê yêu cầu vốn đầu tư ban đầu ít hơn so với bò, nhất là bò sữa
- Dê sinh sản nhanh hơn bò và trâu: so sánh 1 dê cái mới sinh ra cùng với 1 bê cái sau 4 năm thì dê đẻ ra được 23 con với tổng khối lượng là 500 kg và 2.500 kg sữa; trong khi đó một con bò chỉ đẻ ra được một con với khối lượng khoảng 350 kg
dê của cả nước, chiếm 67% tổng đàn dê của miền Bắc
Nhiều năm qua việc phát triển ngành chăn nuôi dê chưa được quan tâm chú ý
Người dân chăn nuôi dê chủ yếu là nuôi quảng canh tận dụng chăn thả kết hợp, thiếu kiến thức kỹ thuật Phần lớn giống dê là dê cỏ địa phương lấy thịt nên năng suất thấp, chưa có hệ thống giống trong cả nước, đặc biệt nghề chăn nuôi dê lấy sữa chưa được hình thành
Từ 1993 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quyết định giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê, đặc biệt là chăn nuôi dê sữa ở nước ta cho
Trang 13Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây - Viện Chăn Nuôi Đây là đơn vị chịu trách nhiệm nghiên cứu toàn bộ các vấn đề về chăn nuôi dê và tổ chức chuyển giao
kỹ thuật xây dựng ngành chăn nuôi dê ở Việt Nam Từ đó đến nay ngành chăn nuôi
dê đặc biệt là chăn nuôi dê sữa ở Việt Nam đã bắt đầu được khởi sắc Chăn nuôi dê
đã góp một phần vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trong hệ thống nông trại bền vững ở gia đình đặc biệt là vùng Trung du đồi núi dân nghèo nước ta [1]
1.3 Bệnh đậu dê
1.3.1 Giới thiệu về bệnh đậu dê
Bệnh đậu dê là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, được Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào bảng A - bảng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm Pháp lệnh thú y Việt Nam xếp bệnh vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phải công bố dịch
Bệnh do chủng virus đậu dê thuộc giống Capripoxvirus, họ Poxviridae gây nên với các thể từ cấp tính đến mãn tính Trong giống Capripoxvirus, ngoài virus
gây bệnh đậu dê còn có virus gây bệnh đậu cừu, virus gây bệnh da nổi cục ở bò và một số virus gây bệnh đậu khác Tuy nhiên chỉ có bệnh đậu dê và đậu cừu là có thể lây chéo cho 2 loài dê và cừu còn virus gây bệnh da nổi cục ở bò không lây sang dê, cừu trong điều kiện tự nhiên [20]
Dê các lứa tuổi đều mắc bệnh nhưng bệnh nặng nhất đối với dê con Bệnh đậu lây lan rất nhanh, dê trưởng thành có khả năng mắc bệnh lên đến 80% và dê con là 100% Nếu thiếu biện pháp điều trị hữu hiệu thì tỷ lệ chết là 50% đối với dê lớn và 95% đối với dê con [24]
Bệnh lây lan chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp giữa động vật mẫn cảm với động vật mang mầm bệnh Động vật mắc bệnh bài thải virus qua vẩy đậu khô, nước mũi, nước bọt và phân Thời gian bài thải virus có thể kéo dài từ 1 đến 2 tháng Thêm
nữa, các vết xước trên da hay vết do côn trùng đốt (ví dụ: ruồi Stomoxys calcitrans)
cũng là nơi virus đậu dê thâm nhập vào cơ thể vật chủ Các virus đậu dê có sức đề
khác nhưng có thể sống sót trong một thời gian dài trên vật chủ hay ngoài môi trường (chúng có thể tồn tại 6 tháng trên nền chuồng và 3 tháng trong vẩy mụn khô nằm trên lông da của con vật bị bệnh) Virus cũng có thể được phát tán qua quần áo bảo hộ và các dụng cụ chăn nuôi Chưa có bằng chứng về sự truyền lây virus đậu dê qua tinh dịch hoặc phôi thai
Trang 14Dê khỏe dễ bị cảm nhiễm bệnh qua đường không khí do tiếp xúc với không khí có mầm bệnh Virus xâm nhập vào gia súc qua niêm mạc mũi, miệng Virus đậu
là virus hướng thượng bì, gây nên các mụn nổi có mủ, có dạng như hạt đậu trên da, niêm mạc của động vật mắc bệnh [8]
Bệnh thường phát sinh vào đầu mùa xuân, đầu mùa mưa khi thời tiết bắt đầu
tỷ lệ chết 15% Bệnh đã gây thiệt hại đáng kể, làm giảm khả năng sinh sản và chất lượng của thịt, sữa, lông và da Nó thách thức lớn cho ngành chăn nuôi dê, cừu và cũng tác động rất mạnh tới nền thương mại thế giới Tại nước Anh, bệnh đã được thanh toán từ năm 1886 nhưng tại lục địa châu Âu mới được thanh toán gần đây
Các ổ dịch vẫn thỉnh thoảng xảy ra ở các đảo trên Địa Trung Hải, vùng phía Tây châu Âu, thường có nguồn gốc từ gia súc nhập khẩu
Châu Âu: bệnh xảy ra tại Bungary, Hy Lạp, Liên bang Nga (vùng châu Âu), Macedonia, Na uy, Thụy Điển, Ý
Châu Á: bệnh xuất hiện tại các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Afghanistan, Bangladesh, Bahrain, Trung Quốc, Israel, Ấn Độ, Iran, Iraq, Jordan, Kuwait, Lebannon, Srilanka, Myanmar, Mông Cổ, Malaysia, Nepal, Oman, Pakistan, Qatar, Syria, Thổ Nhĩ Kì, Yemen, Liên bang Nga (vùng châu Á)
Châu Phi: bệnh có mặt tại Burkina Faso, Benin, Cộng hoà Trung Phi, Bờ biển Ngà, Cameroon, Djibouti, Algeria, Ai Cập, Eritrea, Ethiopia, Guinea, Kenya, Libya, Morocco, Mali, Mauritania, Mozambique, Niger, Nigeria, Sudan, Senegal, Somalia, Togo, Tunisia, Tanzania, Uganda
Châu Mỹ : bang Washington của Mỹ
Trang 15Bảng 1.1 Bảng phân bố tình hình bệnh đậu dê trên thế giới
(Theo OIE năm 2009)
Nước/ vùng
Europe
Asia
United Arab Emirates
China
Trang 16Nước/ vùng
India
- Himachal Pradesh
Trang 17Nước/ vùng
al., 1984
Trang 18Nước/ vùng
Africa
Central African Republic
Trang 19Nước/ vùng
North America
* Tại Việt Nam
Ở Việt Nam trong tháng 9/2004 tại huyện Bảo Yên – Lào Cai lần đầu tiên đã xảy ra hiện tượng dê ốm, sốt với các biểu hiện như nổi từng đám nốt sần dưới da, chảy nước mũi, mắt nhiều dử, có trương hợp bị mù và có hiện tượng chết Tỷ lệ chết khoảng 60% Các biện pháp điều trị bằng kháng sinh đều không có tác dụng
Đặc biệt trong điều kiện thời tiết mưa dầm, ẩm ướt, dê ốm chết rất nhanh, có đàn chết tới 100% [4] Đến ngày 3/1/2005, dịch bệnh đã xuất hiện tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đe dọa 1.000 con dê của các hộ chăn nuôi với số lượng dê mắc bệnh là 598 con và số chết là 515 con Sau đó bệnh xảy ra trên dê của huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang ngày 13/1/1005, tại huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn ngày 25/1/2005 và huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây ngày 18/3/2005 (số liệu do cục Thú y gửi OIE ngày 2/5/2005) Theo két quả xét nghiệm của Trung tâm chẩn đoán Thú y trung ương, các mẫu bệnh phẩm lấy từ các ổ dịch khác tại Hà Nam tháng 9/2005, thành phố Hồ Chí Minh tháng 1/2006 và Thanh Hóa tháng 7/2006 khi dùng phương pháp PCR để kiểm tra đều cho kết quả dương tính với virus đậu dê [5] Năm 2006
và đầu năm 2007 bệnh xảy ra càng phức tạp và phạm vi rộng ở nhiều tỉnh như: Ninh Bình, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Bình Thuận… gây thiệt hại đáng kể và là mối hiểm
họa thực sự với đàn dê
Tại Lâm Đồng bệnh đậu dê lây lan rộng ở hầu hết các huyện làm thiệt hại đáng kể cho dự án phát triển nuôi dê giai đoạn 2004 – 2010 của tỉnh Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, bệnh xuất hiện vào mùa khô năm 2005, khởi điểm từ xã Xuân
Trang 20Hải, Phương Hải (huyện Ninh Hải), sau đó lây lan sang xã Bắc Sơn (huyện Thuận Bắc), Phước Nam, Phước Minh, Phước Vinh (huyện Ninh Phước) Toàn Ninh Thuận hiện có 125.000 con dê chủ yếu là giống Bách Thảo Riêng xã Phước Minh
có đàn dê 4.600 con thì có 1.210 con dê chết, xã Phước Nam có 10.500 con, chết
250 con [22], [23] Trong đợt dịch bệnh hầu hết các hộ chăn nuôi dê điêu đứng vì dịch bệnh hoành hành, dê ốm chết, hoặc người dân lo bán tháo, giá thành rẻ gây nhiều khó khăn nhất là về kinh tế, đặc biệt đối với hộ nghèo
1.3.3 Đặc điểm chung về bệnh
1.3.3.1 Động vật cảm nhiễm
Capripoxvirus chỉ gây nhiễm cho động vật móng vuốt, và hầu hết các chủng
virus có khuynh hướng chỉ gây bệnh lâm sàng cho một loài Trong điều kiện tự nhiên, bệnh đậu dê chỉ gây nhiễm cho dê, nhưng vật chủ lại khác nhau qua các lần phân lập Kết quả phân lập tại Kenya, Yemen cũng như Oman cho thấy tỷ lệ nhiễm trên dê và cừu là tương đương [12], [13] Kết quả phân lập từ Trung Đông và Ấn
Độ cho thấy virus chỉ gây nhiễm cho dê mà không gây nhiễm cho cừu [9], [11], [14], [18], [19] Có thể nói rằng vật chủ ưa thích của các chủng khác nhau là do khả năng thích nghi của chúng trên dê hoặc cừu trong các vùng địa lý khác nhau là khác nhau Tuy nhiên khi giám định sinh hóa các chủng phân lập được, không phát hiện
sự khác nhau rõ ràng giữa virus phân lập được trên dê và cừu nhưng nếu thực hiện với số lượng lớn sẽ phát hiện trong đó có một vài chủng có vật chủ mẫn cảm rõ ràng trong khi các chủng khác khó xác định vật chủ mẫn cảm và sẽ nhiễm tự nhiên vào bất kì vật chủ nào khi nó tiếp xúc Cá biệt, người ta đã phát hiện thấy có một số chủng virus đậu dê có khả năng gây bệnh cho người, tuần lộc
Bệnh đậu dê có thể xảy ra ở dê mọi lứa tuổi, mọi giống, trên cả con đực và con cái nhưng thường xảy ra nghiêm trọng trên dê non, dê cái cho sữa và dê già Các giống châu Âu cảm nhiễm nhất Tỷ lệ chết cao đặc biệt khi bị nhiễm kết hợp với các bệnh khác như các dịch bệnh của tiểu gia súc nhai lại, hoặc do quản lý kém Cho đến nay vẫn chưa xác định được rõ ràng nguyên nhân của ổ dịch đậu dê
1.3.3.2 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
Động vật mẫn cảm mắc bệnh đậu dê có triệu chứng đặc trưng là sốt cao, 40 - 410C, xuất hiện các nốt đậu trên da, sưng hạch lympho, chảy nước mắt, nước mũi và nước bọt Thời gian ủ bệnh kéo dài từ 1- 2 tuần, con vật bắt đầu sốt, khó thở, kém ăn, ủ
Trang 21rũ, suy nhược, lưng cong Sau 1- 2 ngày, bệnh tích dưới da bắt đầu xuất hiện Đầu tiên sẽ xuất hiện những vùng ban đỏ ở các niêm mạc nhìn thấy được (như niêm mạc đường tiêu hóa, đường hô hấp…), ở da đặc biệt là những vùng da mỏng của cơ thể như ở đầu, cổ, phía trong chân, mặt sau đuôi Dần dần những nốt ban này sần lên rồi phát triển thành mụn nước, tiếp đến là mụn mủ và kết thúc là tạo thành các vảy đậu
Các triệu chứng khác có thể quan sát được là dê non đang bú có tiết ra nhiều dịch nhày lẫn mủ, viêm phổi nặng, con cái thì sưng bầu vú và sảy thai, lợi và lưỡi có
nhiều nốt loét [5]
* Biến chứng thường gặp:
Các mụn đậu mọc ở kết mạc mắt khi vỡ ra có thể làm cho dê bị mù, mụn đậu mọc ở niêm mạc, mũi và khí quản, gây viêm màng giả, có thể làm cho dê thở khó, suy hô hấp, mụn đậu mọc ở quanh nuốm vú, gây lở loét quanh nuốm vú Nếu có nhiểm trùng thứ phát do các loại tạp khuẩn thì các mụn loét mưng mủ, vỡ loét lâu thành vết thương Dê mang thai thường sẩy thai khi bị bệnh đậu Một số dê non mắc bệnh còn thấy: ỉa chảy nặng, chết nhanh khi siêu vi trùng đậu tác động đến niêm mạc ruột
Thường gặp 2 dạng bệnh tích đậu trên da là dạng mụn nước và dạng nốt đậu
Với dạng mụn nước, lúc đầu mụn chuyển sang màu trắng nâu, khô dần, cứng lại thành vảy dễ bong ra Với dạng nốt đậu, mụn đậu sưng to dần thành nốt sần ăn sâu vào da, tạo thành các nốt hoại tử và khi lành biến thành sẹo không có lông
Bệnh tích của bệnh đậu dê không chỉ giới hạn trên da mà còn có thể ảnh hưởng tới bất kì cơ quan nội tạng nào đặc biệt là ống tiêu hóa từ miệng, lưỡi tới hậu môn và đường hô hấp Kết quả quan sát bệnh tích vi thể trên da cho thấy các tế bào biểu mô trương phồng, nhiều tế bào viêm xâm nhập Nguyên sinh chất của các tế bào này xuất hiện thể bao hàm Kết quả quan sát bệnh tích trên phổi cho thấy phổi
bị viêm, xuất huyết, lòng phế nang tích đầy dịch, tế bào viêm và hồng cầu, sung huyết khí quản
Trong một số trường hợp, gia súc không biểu hiện triệu chứng lâm sàng
Những con vật mắc bệnh nặng trở nên gầy yếu và có thể chết ở bất cứ giai đoạn nào của bệnh
Trang 221.4 Cấu tạo, đặc tính của virus đậu dê
1.4.1 Thành phần cấu tạo của virus đậu dê
Virus đậu dê là DNA virus hai sợi có vỏ bọc, thuộc nhóm Capripoxvirus, họ Poxviridae [36] Trong nhóm Capripoxvirus, ngoài virus gây bệnh đậu dê còn có
virus gây bệnh đậu cừu và virus gây bệnh u da ở bò Tuy nhiên, trong điều kiện tự nhiên chỉ có virus đậu dê và virus đậu cừu là có thể gây nhiễm chéo cho hai loài dê
và cừu, còn virus gây bệnh u da ở bò không lây sang dê, cừu Khi giải trình tự gen cho thấy bộ gen của virus đậu dê và cừu dài khoảng 150 kb và chúng rất giống nhau, biểu hiện đến 96% thành phần các nucleotide giống nhau trên toàn bộ chiều
gen bảo tồn sự nhân lên của virus, các cấu trúc gen có liên quan tới độc lực của virus và khả năng gây bệnh ở vật chủ
Gen của virus đậu dê và đậu cừu rất giống nhau và giống với gen của virus gây bệnh u da ở bò, có tới 96% thành phần nucleotide giống nhau Tất cả các gen của virus đậu dê, cừu đều có mặt trong hệ gen của virus gây bệnh u da ở bò Đáng chú ý là trong bộ gen của virus đậu dê, đậu cừu không có mặt của 9 gen quy định độc lực và hệ vật chủ của LSDV bao gồm 1 gen duy nhất mã hóa cho thụ thể Interleukin – 1, Myxoma M003.2 và M004.1 (mỗi loại 2 gen) cùng các gen virus vaccine F11L, N2L, K7L Sự vắng mặt của những gen này trong bộ gen của virus đậu dê, cừu được phỏng đoán là chúng có vai trò quan trọng trong việc xác định phạm vi vật chủ là bò
Một số sự thay đổi nhỏ trong bộ gen của virus đậu dê và cừu được giải thích là
sự giảm độc của virus bởi vì chúng có chứa 7 và 71 gen thay đổi so với các chủng đậu dê, cừu cường độc ngoài thực địa
Đáng chú ý là những thay đổi về gen bao gồm đột biến hoặc đứt gãy của các gen với những chức năng quy định về độc lực và hệ vật chủ, bao gồm 2 protein Ankyrin được lặp lại trong virus đậu cừu và 3 protein dạng Kelch trong virus đậu dê
Những số liệu so sánh về gen này chỉ ra mối quan hệ gần gũi giữa các loại
virus thuộc nhóm Capripoxvirus và có giả thuyết rằng virus đậu dê và virus đậu cừu
được tiến hoá từ một dạng LSDV cổ
Vùng trung tâm của hệ gen virus đậu dê (từ vùng mã mở ORF 024 - 123) có chứa gen bảo tồn loài và liên quan đến cơ chế nhân lên của virus bao gồm quá trình
Trang 23sao chép cơ bản của sự phiên mã và biến đổi RNA của virus, sự sao chép cấu trúc DNA của virus và sự tạo thành virus nội bào cũng như tạo lớp vỏ của virion Vùng cuối cùng của hệ gen virus đậu dê (từ vùng mã mở ORF 001 – 0023 và ORF 124 - 156)
có chứa các gen được cho là quyết định độc lực và vật chủ gây bệnh tương tự như ở
hệ gen của virus LSDV
Hạt virus có dạng hình cầu, khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử có kích thước hạt virus khoảng 300 x 270 x 200 nm, lõi hình dùi trống, hai thể bên chạy dọc theo lõi, bên ngoài hạt virus được bao bọc bởi lớp vỏ lipid kép, bên trên có các sợi protein Virus đậu dê có vật chất di truyền là DNA, trọng lượng phân tử khoảng 73 – 91 Mdal Hệ gen của virus đậu dê có khoảng 150.000 – 160.000 nucleotide Phân tử DNA được hòa hợp với protein để tạo thành nucleocapsid kiểu xoắn, nó cuộn đều lại quanh một nhân trung tâm theo hình thấu kính hai mặt lõm vào, có nhiều lớp protein bao bọc xung quanh, lớp ngoài có cấu trúc hình sợi dây thừng xoắn cuộn, ngoài cùng có màng bao bọc
Hình 1.1: Cấu tạo của virus đậu dê
Nếu cắt ngang hạt virus thấy mặt cắt ngang có hình tròn, hình bầu dục, giữa có màng nhân hình chày, từ ngoài vào trong có cấu tạo:
Ngoài cùng là lớp màng bao bọc của virus
Tiếp theo là lớp mịn chứa kháng nguyên hòa tan
nhân
Màng nhân Màng ngoài
Thể bên
Hạch nhân
Protein bao bọc Surface
tubules
Trang 24 Tiếp đến là một lớp màng protein có cấu trúc sợi đều đặn và chặt chẽ bao quanh, hình thành một cái khuôn bảo vệ nhân DNA, khuôn protein này chính là lớp vỏ capsid được cấu tạo bởi nhiều đơn vị capsome.Sau lớp vỏ capsid là mặt bên virus và lớp màng nhân hình chày
Trong cùng là phân tử DNA hình sợi, xoắn theo hai chiều ngược nhau
Về cấu trúc kháng nguyên, virus đậu khác với virus có kích thước nhỏ vì virus đậu dê có thêm lớp vỏ bọc ngoài Ngoài kháng nguyên nucleoprotein còn có kháng nguyên nằm trên bề mặt của virion Kháng nguyên này có trọng lượng phân tử 67 kDal, sự tồn tại hay không tồn tại kháng nguyên kết tủa trong mẫu bệnh phẩm giúp
ta xác định được chính xác mẫu có hay không có virus đậu [16], [17]
1.4.2 Sức đề kháng của virus
Virus đậu dê nhạy cảm với nhiêt độ, sự nhạy cảm này đối với các chủng virus phân lập từ các vùng địa lý khác nhau là khác nhau Các chủng virus đậu dê phân
vòng 1 giờ vẫn không làm giảm đáng kể hiệu giá của virus Trong khi đó chủng
cũng rất nhạy cảm với các chất sát trùng Các chất sát trùng thông thường như Formol, cồn, thuốc tím có thể diệt virus rất nhanh Có thể bảo quản virus trong dung dịch Glycerin 50% Virus đậu dê đề kháng mạnh và duy trì sự tồn tại trong thời gian dài trên vật chủ hay ngoài môi trường Thực nghiệm cho thấy chúng có thể tồn tại 6 tháng trên nền chuồng và 3 tháng trong vẩy mụn khô nằm trên lông da của con vật bị bệnh Virus cũng có thể được phát tán qua quần áo bảo hộ và các dụng cụ chăn nuôi
Các chủng virus đậu nói chung và virus đậu dê nói riêng đề kháng với điều kiện khô, tồn tại được trong điều kiện đông lạnh và tan chảy, tồn tại nhiều tháng trong tình trạng đông khô
1.4.3 Cách thức lây lan bệnh
Bệnh lây lan chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp giữa động vật mẫn cảm với động vật mang mầm bệnh Động vật mắc bệnh bài thải virus qua vẩy đậu khô, nước mũi, nước bọt và phân Thời gian bài thải virus có thể kéo dài từ 1 đến 2 tháng Thêm nữa, các vết xước trên da hay vết do côn trùng đốt cũng là nơi virus đậu dê thâm nhập vào cơ thể vật chủ Virus đậu dê lây lan rất nhanh qua không khí hoặc côn trùng [20]
Trang 25Có thể gây bệnh cho dê trong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng virus đậu
dê cường độc tiêm vào vùng hạ bì, nội bì, cơ hoặc phun khí qua đường hô hấp
1.5 Miễn dịch chống virus
1.5.1 Miễn dịch không đặc hiệu
Cơ thể đáp lại sự xâm nhiễm của virus ở dê trước hết bằng cách tiết interferon (INF) taị chỗ để ngăn cản sự nhân lên và hạn chế sự lan tràn của virus INF được xem là yếu tố bảo vệ cơ thể không đặc hiệu vì chúng được sản sinh ra để đáp ứng lại một virus thì cũng có hiệu quả ngăn chặn sự nhân lên của nhiều loại virus khác
Khi bị nhiễm virus, tế bào natural killer (NK) được hoạt hoá bởi INF tăng cường phá huỷ tế bào nhiễm Trên mặt tế bào NK có thụ thể killer cell inhibitory receptor (KCIR) dành cho kháng nguyên phù hợp tổ chức lớp 1 (MHC 1 – Major Histocompatibility Complex) của tế bào đích Khi KCIR gắn với MHC thì ức chế tín hiệu hoạt hoá Tế bào nhiễm virus có ít MHC (do đã tương tác với kháng nguyên virus) nên tế bào NK không bị ức chế và do đó phát huy tác dụng diệt chúng
Đại thực bào và bổ thể cũng tham gia vào quá trình không đặc hiệu nhằm tiêu diệt virus [6]
Miễn dịch chủ động tự nhiên: là các đáp ứng miễn dịch được hình thành sau
khi cơ thể bị nhiễm mầm bệnh và qua khỏi
Miễn dịch chủ động nhân tạo: là các đáp ứng được hình thành sau khi dùng vaccine [8]
Để thu được một đáp ứng miễn dịch chủ động có kết quả, các tế bào có thẩm quyền miễn dịch phải có các khả năng sau:
Khả năng nuốt và chế biến kháng nguyên
Khả năng nhận biết và kết gắn kháng nguyên đã được chế biến
Trang 26 Khả năng đáp ứng để sản xuất kháng thể đặc hiệu, các tế bào hoặc cả hai
có khả năng loại bỏ kháng nguyên
Điều đó có nghĩa là cơ thể phải vừa có khả năng hình thành đáp ứng miễn dịch dịch thể, vừa có khả năng hình thành đáp ứng miễn dịch tế bào
Đáp ứng miễn dịch trong nhiễm virus hoàn toàn phụ thuộc vào tế bào T kể cả đáp ứng miễn dịch dịch thể lẫn đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào bởi vì tế bào T tham gia sản xuất kháng thể và tham gia vào phản ứng gây độc tế bào Cho nên nếu chức năng của tế bào T bị mất thì khả năng nhiễm virus sẽ tăng lên
Trên bề mặt tế bào nhiễm có cả kháng nguyên của virus tức là do hệ gen virus
mã hoá và kháng nguyên của vật chủ do virus mẫn cảm tạo thành Trên bề mặt tế bào cũng còn có cả các kháng nguyên virus đang ở giai đoạn lắp ráp và chui ra khỏi
tế bào theo lối nảy chồi Kháng thể chỉ có thể trung hòa virus khi ở dạng tự do nằm bên ngoài tế bào hoặc chống lại các kháng nguyên virus nằm trên bề mặt tế bào, mà không động chạm tới các kháng nguyên virus nằm bên trong tế bào mặc dù chúng được sản xuất để chống lại tất cả các kháng nguyên virus Vai trò của kháng thể là làm đảo lộn mối quan hệ giữa virus và tế bào Cụ thể là ảnh hưởng tới sự gắn virus lên bề mặt tế bào, tới sự xâm nhập, “cởi áo” và nhân lên của virus trong tế bào Một
số virus có vỏ ngoài sau khi xâm nhập vào không bào của đại thực bào sẽ tương tác với màng không bào, làm tan màng và giải phóng nucleic acid vào tế bào chất Tuy nhiên mối tương tác với màng không bào sẽ bị cản trở nếu màng này được bao bởi kháng thể Đôi khi kháng thể cũng gây hại cho cơ thể cụ thể là lấy đi kháng nguyên virus khỏi bề mặt tế bào nhiễm vì thế tế bào này thoát khỏi sự phá huỷ của tế bào
Tc Kháng thể cũng làm tăng tỷ lệ nhiễm virus ở các tế bào có thụ thể Fc bằng cách kích thích các tế bào này gắn virus
Trong miễn dịch chống virus, đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi vì miễn dịch dịch thể bị hạn chế do kháng thể không có tác dụng đối với kháng nguyên virus nằm bên trong tế bào Tế bào Tc tham gia tích cực vào miễn dịch chống virus Đa số tế bào Tc được biệt hoá từ tế
gắn với MHC – I Hầu hết các tế bào cơ thể gắn với MHC – I nên nếu các tế bào này bị nhiễm virus thì sẽ là đối tượng tấn công của tế bào Tc Tuy nhiên điều này chỉ xảy ra khi MHC – I của tế bào bị nhiễm phải đồng gen với tế bào Tc [6]
Trang 271.5.2.2 Miễn dịch thụ động
Miễn dịch thụ động là miễn dịch thu được bằng cách truyền kháng thể đặc hiệu hoặc là các tế bào của hệ thống miễn dịch Có hai loại miễn dịch thụ động: tự nhiên và nhân tạo
Miễn dịch thụ động tự nhiên: là một yếu tố rất quan trọng trong việc tạo cho vật nuôi sống sót được trong môi trường đầy rẫy bệnh tật Đây là sự miễn dịch tạm thời truyền từ mẹ sang con
Miễn dịch thụ động nhân tạo: truyền từ vật chủ khác Là các thành phần khác nhau của đáp ứng miễn dịch có thể được thu thập lại từ con vật đã được miễn dịch
và truyền bị động cho một động vật khác với mục đích là truyền sự bảo hộ
Virus đậu dê sống khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ sẽ kích thích cơ thể vật chủ tạo ra đáp ứng miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào Sự liên quan quan trọng của kháng thể lưu hành chống lại tế bào lympho T gây độc trong việc ngăn chặn sự nhiễm bệnh vẫn chưa được hiểu đầy đủ, rõ ràng Tuy nhiên rõ ràng là với sự có mặt cả kháng thể lưu hành chống lại virus, sự nhiễm vào vật chủ
đã giảm xuống [10] Kháng thể lưu hành được tạo ra do nhiễm tự nhiên hay do tiêm vaccine đều có thể hạn chế sự lan truyền của virus trong động vật nhưng chính đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mới loại trừ được sự nhiễm bệnh Tuy nhiên, tình trạng miễn dịch của động vật do bị nhiễm tự nhiên hay do vaccine không liên quan đến kháng thể trung hòa [15] Các phản ứng huyết thanh học hiện nay không thể phân biệt giữa động vật miễn nhiễm và đông vật cảm nhiễm
Ở những địa phương có dịch, cả vaccine sống giảm độc lực và vaccine chết đều hữu hiệu trong phòng chống bệnh đậu dê Ưu điểm của vaccine chết là rất an toàn tuy nhiên nhược điểm của loại vaccine này là tạo miễn dịch phòng hộ chậm, thời gian duy trì miễn dịch ngắn, hiệu lực phòng vệ hạn chế, liều tiêm vaccine lớn
Vaccine sống giảm độc lực có ưu điểm là tạo miễn dịch phòng hộ nhanh, hiệu lực miễn dịch cao và kéo dài Nhưng nhược điểm của loại vaccine này là tính an toàn không cao Sau khi tiêm vaccine có thể tạo ra nốt đậu, gây chết một số động vật được tiêm vaccine do mầm bệnh ở trong vaccine được tăng cường độc lực hoặc làm trỗi dậy các bệnh thể mạn tính thể bệnh ẩn, thể mang trùng ở động vật được tiêm phòng [3]
Trang 28Có thể sử dụng vaccine sống giảm độc lực và vaccine chết sản xuất trên tế bào nuôi để phòng bệnh cho gia súc Vaccine vô hoạt có thể tạo miễn dịch phòng hộ trong vòng 5 tháng đã được Xí nghiệp thuốc Thú y Trung ương I sản xuất thành công và đang ở giai đoạn thử nghiệm Vaccine nhược độc sống tạo miễn dịch tốt và
có thể được sử dụng trong trường hợp tiêm phòng khẩn cấp [5]
1.6 Một số phương pháp chẩn đoán bệnh đậu dê
- Bệnh viêm da có mủ truyền nhiễm còn gọi là bệnh lở miệng
- Viêm phổi do ký sinh trùng
- Ecthyma truyền nhiễm
- Bệnh dịch tả tiểu gia súc
Trong một số trường hợp, gia súc không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, cần lấy bệnh phẩm của các con vật nghi bị bệnh để xét nghiệm trong phòng thí nghiệm
1.6.2 Bệnh tích mổ khám
- Bệnh tích trên da: sung huyết, xuất huyết, phù nề, viêm mạch máu và hoại tử
- Bệnh tích đậu: trên niêm mạc mắt, miệng, mũi, hầu, nắp thanh quản, khí quản, trên niêm mạc dạ cỏ và dạ múi khế, trong âm hộ, bao quy đầu, nếp gấp âm vật, tinh hoàn, vú, núm vú
Trang 29- Bệnh tích ở phổi: tổn thương đậu nghiêm trọng và lan rộng, phân bố tập trung và đồng dạng khắp lá phổi
1.5.3 Chẩn đoán thí nghiệm
* Các bệnh phẩm dùng để chẩn đoán
Để chẩn đoán và giám định virus, bệnh phẩm có thể là huyết thanh, máu con vật đang thời kỳ nung bệnh, dịch mụn đậu, vảy mụn đậu Nên lấy mẫu trong tuần đầu tiên khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện và bảo quản bệnh phẩm ở nhiệt độ âm
Phân lập virus
Capripoxvirus nói chung và virus đậu dê nói riêng thích nghi nuôi cấy trên
dòng tế bào thận cừu hoặc tinh hoàn cừu sơ cấp Một số chủng có thể thích nghi với môi trường tế bào vero (tế bào thận khỉ xanh) Virus đậu dê gây bệnh tích tế bào sớm nhất 4 ngày sau khi gây nhiễm Do đó cần kiểm tra các môi trường tế bào đã nhiễm bệnh phẩm trong vòng 14 ngày
Cấy vào phôi thai gà
Tiêm huyễn dịch mụn đậu vào màng nhung niệu của phôi thai gà 11 – 13 ngày, sau 3 – 4 ngày hoặc 6 – 7
ngày sẽ xuất hiện nốt đậu trên màng nhung niệu và gây bệnh tích màng dày, phù nề giống chất gelatin
Nuôi trên môi trường tế bào thận cừu non và tinh hoàn cừu sơ cấp
Cấy virus vào môi trường tế bào thận cừu non hoặc tinh hoàn cừu một lớp, sau
72 giờ, tế bào có biểu hiện bị thoái hóa, biến dạng và tan vỡ màng tế bào (Cell Pathology Effect)
Quan sát tiểu thể bao hàm chứa hạt dưới kính hiển vi
Chọn mụn đậu chưa vỡ, rửa 2 – 3 lần bằng nước cất rồi lấy mụn đậu hay mủ trong mụn đậu phết lên kính làm tiêu bản nhuộm Giemsa hay Môrôsôp rồi xem
kính,quan sát thấy tiểu thể bao hàm quanh nguyên sinh chất
Phương pháp kháng thể huỳnh quang trực tiếp
Tiêu bản kiểm tra được chuẩn bị từ nốt đậu trên da, phổi được cắt lạnh trên lam kính lấy từ môi trường nuôi cấy tế bào hoặc bệnh phẩm Cố định tiêu bản bằng