Nước là một phần rất quan trọng đối với mọi hoạt động sống của sinh vật đặc biệt là đối với động vật thuỷ sản, để đảm bảo cuộc sống với đặc tính riêng là sống trong môi trường nước.. Do
Trang 1Bộ giáo dục & đào tạo Trường đại học thủy sản
-
DIễN BIếN MÔI TRường ao nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) tại trại thực nghiệm ninh phụng
Luận văn tốt nghiệp Chuyên ngành Quản lý Môi trường và Nguồn lợi Thủy sản
Sinh viên thực hiện:
Trần thị lan Lớp: 43MT Mssv: 43D3144 Người hướng dẫn:
nguyễn đình trung
Nha Trang, 11/2005
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt đỡ nhiệt tình và quý báu của các thầy cô giáo Trường Đại Học Thuỷ sản, các anh chị tại nơi thực hiện đề tài nghiên cứu này và các bạn cùng lớp
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tâm của Th.S Nguyễn Đình Trung đã giúp dỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian học ở đại học, và trong quá trình thực tập
Xin chân thành cảm ơn các cô chú và các anh chị tại trại thực nghiêm Ninh Phụng đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập đề tài
Cảm ơn các anh chị và các bạn cùng lớp đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong thời gian thực luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng xin cám ơn gia đình những người đã sinh ra, nuôi dưỡng và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 9
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1 Một số đặc điểm sinh học của cá tra 11
1.1 Vị trí phân loại, hình thái và phân bố 11
1.1.1.Vị trí phân loại 11
1.1.2 Đặc điểm hình thái 11
1.1.3.Đặc điểm phân bố 12
1.2 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 13
1.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng 13
1.2.2 đặc điểm sinh trưởng 14
2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Tra trên thế giới và ở Việt Nam 14
2.1 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Tra trên thế giới 14
2.1 Những nghiên cứu và nuôi cá Tra ở Việt Nam 15
3 Chất lượng nước trong nuôi trồng thuỷ sản 17
3.1 Nhiệt độ 17
3.2 Độ trong 18
3.3 Màu nước 18
3.4 pH 19
3.5 Độ kiềm 19
3.6 Hàm lượng ôxy hoà tan 19
3.7 Hàm lượng CO2 hoà tan 20
3.8 Đô ôxy hoá 20
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
I Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 22
I.1- Thời gian 22
I.2- Địa điểm nghiên cứu 22
I.3- Đối tượng nghiên cứu 22
Trang 5II Nội dung và phương pháp nghiên cứu 22
II.1 Nội dung nghiên cứu 22
II.2 Phương pháp nghiên cứu 23
II.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
II.2.2 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 23
III Phương pháp xử lý số liệu .26
3.1- Tính giá trị trung bình 26
3.2- Biểu diễn số liệu theo hình thức: 26
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
1 Vị trí địa lý, địa hình và điều kiện tự nhiên ở trại Ninh Phụng 27
1.1 Vị trí địa lý 27
1.2 Điều kiện tự nhiên 27
2 Tình hình nuôi cá Tra tại trai cá Ninh Phụng .30
2.1 Điều kiện ao nuôi 30
2.2 Hình thức nuôi 30
3 Diễn biến môi trường ao nuôi cá tra .31
3.1 Diễn biến môi trường ao chứa 32
3.1.1 Biến động các yếu tố môi trường theo thời gian nghiên cứu 32
* Nhiệt độ 24
* Độ sâu: 35
* Màu nước: 35
* Độ trong: 36
* Oxy hoà tan 36
* Hàm lượng CO2 38
* pH: 39
* COD (nhu cầu oxy hoá học): 39
* BOD (nhu cầu oxy sinh hoá): 40
* Độ kiềm: 41
* Hàm lượng amonia (NH4+, NH3-) , nitrie(NO2-) 41
Trang 63.1.2 Biến động các yếu tố môi trường theo thời gian ngày đêm 42
* Nhiệt độ nước: 45
* Biến động hàm lượng oxy theo chu kỳ ngày đêm 45
* Biến động hàm lượng CO2 theo chu kỳ ngày đêm 46
3.2 Diễn biến môi trường ao nuôi cá Tra 47
3.2.1.Biến động các yếu tố mổi trường theo thời gian nuôi 47
* Nhiệt độ 48
* Độ sâu 49
* Màu nước 50
* Độ trong 51
* Oxy hoà tan 51
* Hàm lượngCO2 53
* pH 54
* Độ kiềm 54
* Độ oxy hoá( COD) 55
* BOD (nhu cầu oxy sinh hóa) ao cá Tra 55
* Hàm lượng NH4+, NO2- 56
3.2.2 Biến động các yếu tố môi trường theo thời gian ngày đêm 56
* Nhiệt độ nước 56
* Hàm lượng O2 hòa tan: 59
3.2.2 Biến động bất thường của các yếu tố môi trường khi có sự tác động của con người 60
3.3 So sánh chất lượng môi trường nước giữa ao chứa và ao cá tra 61
4 Đánh giá chất lượng môi trường nước ảnh hưởng đến đời sống của tra .63
PHẦN V: KẾT LUÂN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN .64
1 Kết luận 64
1.1 Chất lượng nươc ao chứa( nguồn nước) 64
1.2 Chất lượng nước ao chứa 64
2 Đề xuất ý kiến 65
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tiêu chuẩn về độ nhiễm bẩn của nước 13
Bảng 2: Diến biến nhiệt độ ao chứa 25
Bảng 3: Độ sâu, độ trong, màu nước ao chưa 27
Bảng 4: Hàm lượng oxy hòa tan ao chứa 28
Bảng 5: Hàm lượng cacbonic ao chưa 30
Bảng 6: Giá trị pH ao chứa theo thời gian 31
Bảng 7: COD ao chứa theo thời gian 31
Bảng 8: BOD ao chứa theo thời gian 32
Bảng 9: Độ kiềm ao chứa theo thời gian 33
Bảng 10: Hàm lượng amonia, nitrite ao chứa theo thời gian 33
Bảng 11: Diễn biến các yếu tố môi trường theo thời gian ngày đêm tại ao chứa 35
Bảng 12: Diễn biến nhiệt độ ao cá Tra theo thời gian 40
Bảng 13: Độ sâu, độ trong, màu nước ao cá tra theo thời gian 42
Bảng 14: Hàm lượng oxy hòa tan ao cá Tra theo thời gian 43
Bảng 15: Hàm lượng cacbonic ao cá Tra 45
Bảng 16: Giá trị pH ao cá Tra theo thời gian 46
Bảng 17: COD ao cá Tra theo thời gian 46
Bảng 18: BOD ao cá Tra theo thời gian 47
Bảng 19: Độ kiềm ao cá Tra theo thời gian 47
Bảng 20: Hàm lượng amonia, nitrite ao cá Tra theo thời gian 48
Bảng 21: Diễn biến các yếu tố môi trường theo thời gian ngày đêm tại ao cá Tra 49
Bảng 22: Một số yếu tố môi trường sau lần kiểm tra cá 52
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1:Aûnh chụp địa điểm trai Thực nghiệm Ninh Phụng –Ninh Hòa – Khánh
Hòa 14
Hình 2: Aûnh chụp ao chứa và điểm lấy mẫu 15
Hình 3:Aûnh chụp ao cá Tra và diểm lấy mẫu 16
Hình 4: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16
Hình 5: Sơ đồ hệ thống nước phục vụ sản xuất trong trại cá Ninh Phụng 21
Hình 6: Hệ thống nguồn nước (ao chứa) và ao cá Tra 24
Hình 7: Diễn biến nhiệt độ ao chứa theo thời gian 25
Hình 8: Diễn biến hàm lượng oxy hòa tan ao chứa theo thời gian 29
Hình 9: Diến biến hàm lượng cacbonic ao chứa tgeo thời gian 30
Hình 10: Biến động nhiệt độ theo thời gian ngày đêm tai ao chứa 37
Hình 11: Biến động hàm lượng oxy hòa tan theo thời gian ngày đêm tại ao chứa 38
Hình 12: Biến động hàm lượng cacbonic hòa tan theo thời gian ngày đêm tại ao chứa 38
Hình 13: Diễn biến nhiệt độ ao cá Tra theo thời gian 41
Hình 14: Diễn biến hàm lượng oxy hòa tan ao cá Tra theo thời gian 44
Hình 15: Diến biến hàm lượng cacbonic ao cá Tra theo thời gian 45
Hình 16: Biến động nhiệt độ theo thời gian ngày đêm tai ao cá Tra 51
Hình 17: Biến động hàm lượng oxy hòa tan theo thời gian ngày đêm tại ao cá Tra 51
Hình 18: Biến động hàm lượng cacbonic hòa tan theo thời gian ngày đêm tại ao cá Tra 52
Trang 9PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa hàng năm tương đối lớn, hệ thống sông ngòi phân bố khá đồng đều và dày đặc Với điều kiện như vậy đã tạo cho ngành nuôi trồng thuỷ sản nội địa phát triển Nước là một phần rất quan trọng đối với mọi hoạt động sống của sinh vật đặc biệt là đối với động vật thuỷ sản, để đảm bảo cuộc sống với đặc tính riêng là sống trong môi trường nước Ngoài 70 ÷ 80% trọng lượng cơ thể là nước nó còn đòi hỏi môi trường sống phải đảm bảo về chất lượng Nguồn nước trong nuôi trồng thuỷ sản là một trong những nhân tố có tính chất quyết định đến năng xuất trong ao nuôi Nếu chất lượng nguồn nước cung cấp tốt thì năng xuất trong ao nuôi sẽ tăng và ngược lại, nếu chất lượng nguồn nước cung cấp không đảm bảo chất lượng có thể làm giảm năng xuất và tăng chi phí sản xuất Tuy nhiên chất lượng nguồn nước đối với thuỷ sản được coi là tốt đối với đối tượng này nhưng lại không tốt đối với đối tượng nuôi khác Do đó việc đánh giá chất lượng nước ao nuôi đối với mỗi đối tượng khác nhau là khác nhau Điều này đòi hỏi người nuôi trồng thuỷ sản trước hết phải nắm vừng kiến thức về môi trường để thích hợp với từng đối tượng nuôi, làm tốt công tác quản lý môi trường ao nuôi, góp phần ổn định nâng cao năng suất ao nuôi
Cá Tra là đối tượng đang được nuôi thử nghiệm ở trại Ninh Phụng Và để hiểu rõ hơn về môi trường sống với những đối tượng khác nhau trong nuôi trồng thuỷ sản, và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thu thập thêm những kiến thức về môi trường trong các ao nuôi thuỷ sản Nhà trường quý thầy cô đã phân công, giúp đơ,õ tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài về: “ Diễn biến môi trường ao nuôi cá Tra ở trại thực nghiệm Ninh Phụng” Đề tài gồm những nội dung sau :
1- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên trại cá Ninh Phụng
2- Tìm hiểu tình hình nuôi cá tra tại trại
Trang 103- Diễn biến môi trường ao nuôi cá tra
Để hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đình Trung, quý thầy cô trong khoa, các anh chị tại trại Ninh Phụng cùng toàn thể bạn bè
Do kiến thức về môi trường nước nuôi trồng thuỷ sản còn hạn chế, nên trong quá trình làm không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo và những đóng góp của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Sinh viên thực hiện Trần Thị Lan Nha Trang tháng 11/2005
Trang 11PHẦN II TỔNG QUAN
1 Một số đặc điểm sinh học của cá Tra
1.1 Vị trí phân loại, hình thái và phân bố
1.1.1.Vị trí phân loại
Ngành động vật có xương Veterbrata
Lớp cá xương Osteichthyes
Bộ cá Nheo Siluriformes
Họ cá Tra Pangasiidae
Giống cá Tra đầu Pangasianodon
Loài cá Tra P hypophthalmus
Cá Tra (P.hypophthalmus) là một trong 11 loài thuộc họ cá Tra (Pangasiidae) đã được xác định ở hệ thống sông Cửu Long Tài liệu phân loại
gần đây nhất của tác giả W.Rainboth xếp cá Tra nằm trong giống cá Tra đầu
(Pangasianodon)[10]
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá Tra (P hypophthalmus) là cá da trơn (không vảy), thon, dài, phần
sau hơi hẹp bên Thân màu xám đen trên lưng, nhạt hơn ở hai bên hông, bụng cá có màu trắng bạc Phía đuôi vây màu hơi vàng, vây lưng và vây đuôi màu xám đen Phần cuối của vây đuôi màu hơi đỏ Đường bên phân nhánh bằng đầu từ mép trên của lỗ mang đến điểm giữa gốc vây đuôi.[10,13]
Cá có miệng rộng nằm ở đầu mõm, dẫy răng hàm trên hoàn toàn bị che khuất bởi hàm dưới khi miệng khép lại Vây bụng có tám tia phân nhánh Dạng
đầu của cá Tra (P.hypophthalmus) nếu nhìn từ phía bụng khi nhỏ có dạng đầu
hơi vuông Khi cá lớn tỉ lệ miệng và chiều dài chuẩn nhỏ hơn 10% Vây ngực và
Trang 12vađy löng ñeău coù moôt tia vađy cöùng Rađu coù hai ñođi , caù coøn nhoû (< 10 cm) thì rađu daøi hôn chieău daøi ñaău, khi caù lôùn thì rađu coøn raât ngaĩn hôn so vôùi thađn [3]
Maịt trong boùng hôi coù raẫt nhieău mách maùu phađn nhaùnh vôùi caùc mao mách daøy ñaịc Chính caùc mao mách li ti naøy giuùp caù coù theơ trao ñoơi oxy hoaø tan trong nöôùc, ngay cạ khi haøm löïông raât thaâp, coù khi haøm löôïng oxy hoaø tan baỉng 0 mg/L
1.1.3.Ñaịc ñieơm phađn boâ
Caù Tra (P.hypophthalmus) phađn boâ ôû löu vöïc sođng MeđKođng, coù maịt ôû cạ
4 nöôùc: Laøo, Vieôt Nam, Campuchia vaø Thaùi Lan ÔÛ Thaùi Lan coøn gaịp caù Tra ôû löu vöïc sođng MeđKođng vaø sođng Chao Phraya ÔÛ nöôùc ta nhöõng naím tröôùc ñađy khi chöa coù caù gioâng ñöôïc sạn xuaât baỉng sinh sạn nhađn táo, caù Tra boôt vaø gioâng ñöôïc vôùt tređn sođng Tieăn Caù tröôûng thaønh chư coù trong ao nuođi, raât ít gaịp trong töï nhieđn thuoôc ñòa phaôn Vieôt Nam, do caù coù taôp tính di cö ngöôïc doøng sođng MeđKođng ñeơ sinh soâng vaø tìm nôi sinh sạn töï nhieđn Khạo saùt chu kyø di cö cụa caù ôû ñòa phaôn Campuchia cho thaây caù ngöôïc doøng töø thaùng 10 ñeân thaùng 5 vaø di cö veă há löu töø thaùng 5 ñeân thaùng 9 haøng naím [6,13]
Caù Tra (P.hypophthalmus) coù khạ naíng thích nghi vôùi caùc loái hình thuyû
vöïc khaùc nhau nhö: ao, hoă, sođng v.v… vaø soâng ñöôïc ôû mói taăng nöôùc nhöng thöôøng soâng ôû tađng ñaùy Caù coù theơ soâng trong ao tuø nöôùc ñóng, nhieău chaât höõu
cô, oxy hoaø tan thaâp do coù cô quan hođ haâp phú vaø coøn coù theơ hođ haâp baỉng boùng khí vaø da Caù Tra coù theơ soâng ñöôïc ôû vuøng nöôùc lôï (noăng ñoô muoâi 7 ñeân 10‰) coù theơ chòu döôïc mođi tröôøng pH > 5, deê cheât ôû nhieôt ñoô thaâp <15oC nhöng chòu noùng tôùi 39oC, tuy nhieđn nhieôt ñoô thích hôïp cho caù taíng tröôûng laø 26 ÷ 30 oC vaø
pH thích hôïp khoạng 6.5 ÷ 7.5 [10,13]
Trang 131.2 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
1.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng
a Giai đoạn cá con
Cá Tra (P.hypophthalmus) là loài cá ăn tạp thiên về động vật Cá Tra
ngày sau khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi sống, vì vậy chúng ăn lẫn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vướt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột.[13] Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột ngắn, không gấp khúc nên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của động vật thiên về ăn thịt Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn lẫn nhau trong bể ấp cần nhanh chóng chuyển ra ao ương.Trong quá trình ương thành cá giống trong ao, chúng ăn các loài phù du động vật vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo [13]
b- Giai đoạn cá lớn
Một số tác giả nước ngoài đã đề cập đến tính ăn và thức ăn của cá trưởng thành Smith (1945) cho biết cá Tra là loài có tính ăn rộng, Hora và Pillay (1962) cho rằng trong tự nhiên cá Tra là loài ăn thịt, Menon và Cheko (1955) nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày cá Tra tự nhiên cho biết: có 37,81% là cá tạp; 23,89% là ốc; 31.265 là mùn bã hữu cơ và 6,67% là thức ăn khác Trần Thanh Xuân cho biết đây là loài cá có phổ thức ăn rộng, giai đoạn trưởng thành cá dễ thay đổi thức ăn Khi khảo sát cá tự nhiên ở các vùng Campuchia, Nguyễn Văn Trọng cho rằng nên xếp nhóm này vào nhóm ăn động vật đáy và ăn tạp Mặc dù thích ăn động vật đặc biệt động vật thân mềm, cá Tra vẫn có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn có hàm lượng protein khác nhau Trong điều kiền thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, chế phẩm có nguồn gốc động vật [2]
Trang 14Trong nuôi thương phẩm thường dùng các loại thức ăn công nghiêp hay các loại thức ăn chế biến gồm (các thành phần cám gạo, rau muống, cá tạp và bột cá nấu chín)
1.2.2 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, khi còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài cá Tra bột hết noãn hoàng có chiều dài từ 1.0 ÷1.1cm sau
14 ngày ương cá đạt chiều dài trung bình 2÷2,3 cm và khối lượng trung bình là 0.52 Cá ương 5 ngày tuổi chiều dài là 5÷ 6 cm, khối lượng 1.28÷1.50g Sau 1 năm cá đạt khối lượng 0.7 ÷ 1.5 kg Cá Tra từ 3 ÷ 4 năm có thể đạt 3 ÷ 4 kg.[10] khoảng từ 2.5 kg trở đi, mức tăng trọng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên có thể sống dài tới 20 năm Trong tự nhiên đã gặp cỡ cá có trọng lượng 18 kg có mẫu cá dài tới 1.8m Trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ cho đẻ, cá đạt tới 25kg e 10 năm tuổi [ 12] Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của cá này tuỳ thuộc rất nhiều vào mật độ nuôi, môi trường sống, số lượng và chất lượng thức ăn được cung cấp Độ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản.[13 ]
2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Tra trên thế giới và ở Việt Nam
2.1 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá Tra trên thế giới
Cá Tra được nuôi ở hầu hết các nước Đông Nam Á, là một trong 6 loài cá nuôi quan trọng nhất trong khu vực này Thái Lan,Việt Nam, Campuchia, Lào và các nước có nghề nuôi cá Tra truyền thống nhờ có nguồn cá Tra tự nhiên phong phú Hình thức nuôi phổ biển trong ao và trong bè, có thể nuôi đơn hay nuôi ghép với nhiều loài khác Theo Csavas, ở Campuchia cá Tra chiếm 98.8% số cá thuộc giống cá Tra được nuôi, 1.2% còn lại thuộc hai loài
P.bocourti và P.larnaudii, sản lượng cá nuôi chiếm 10% tổng sản lượng cá,
Trang 15trong đó một nửa cá Tra Tại Thai Lan, cá Tra là loài cá nuôi quan trọng, xếp
hàng thứ hai sau Rô Phi Vằn (Oreochromic niloticus)
Một số nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia đã nuôi cá Tra có hiệu quả từ những năm 70 ÷ 80 Một số đã nhập cá Tra để thuần hoá chúng như Trung Quốc nhập từ Thái Lan (1978); Đài Loan nhập từ Thái Lan (1969), Philipin (1978) nhưng kết qủa còn hạn chế
Về sinh sản nhân tạo, Thái Lan là nước đầu tiên thành công trong việc cho cá Tra sinh sản nhân tạo vào năm 1966 Cho đến những năm 1970, đã có cá giống cung cấp cho nghề nuôi cá Tra ở Thái Lan, tiếp đến là Đài Loan (1971) và Lào (1988) Tuy nhiên, ở Lào và Đài Loan chỉ thông báo về thành công sinh sản nhân tạo ở mức độ thí nghiệm và chưa có hiệu quả kinh tế
2.1 Những nghiên cứu và nuôi cá Tra ở Việt Nam
Năm 1978, Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh phối hợp với trường Nông nghiệp Long Định và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II bắt đầu nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Tra, năm 1979 đã cho đẻ thành công KhoaThuỷ sản Trường Đại học Cần Thơ tiến hành nghiên cứu vấn đề này, năm 1982 kích thích sinh sản nhân tạo có kết quả và ấp nở được cá bột nhưng tỷ lệ thấp Những năm gần đây (1995 ÷ 1996), nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Tra tại Khoa Thuỷ sản Đại học Cần Thơ đã có kết qủa cao hơn
Về ương nuôi cá Tra bột sinh sản nhân tạo, Bùi Lai đã xác định thức ăn
cho cá Tra bột sau khi hết noãn hoàng là cá bột cá Rô Đồng (Anabas
testudineus) và cá Sặc (Trichogaster trichchopteus) kém hơn cá Tra một ngày
tuổi Mật độ cá con làm thức ăn so vói mật độ cá Tra phải lớn hơn 2/1 và phải thường xuyên bổ xung mồi tương ứng với thời gian tiêu hoá của cá Tra bột Nhìn chung những vấn đề của cá Tra đã sớm được đặt ra sau năm 1975 nhưng do điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí và tài liệu khoa học liên quan còn thiếu, đồng thời chưa có sự thống nhất đồng bộ trong công tác nghiên cứu về
Trang 16đối tượng này ở các trường Đại học, Viện nghiên cứu và cơ quan nghiên cứu khác của ngành Thuỷ sản, do đó kết quả nghiên cứu đạt được còn nhiều hạn chế Những kết quả sinh sản nhân tạo cá Tra về sau này nhờ có sự cố gắng của các nhà khoa học, sự phối hợp của các cơ quan nghiên cứu, nhưng phải trải qua một thời gian khá dài mới đạt được Về nuôi cá Tra thương phẩm, Csavas cho rằng cá Tra là một trong 6 đối tượng nuôi chính của nghề nuôi ở Đông Nam Á
Miền Nam Việt Nam có hai loài chủ yếu là P.hypophthalmus và P.bocourti,
chúng được xếp trong hệ thống ao nuôi thâm canh, nuôi bè và nuôi kết hợp trong ao với sản phẩm thải của người và gia súc Cacot cũng giới thiệu về nghề nuôi cá bè và ao ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt chú ý đến cá Tra và cá Basa [6]
Các tài liệu giới thiệu về nghề nuôi cá Tra ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đã nói về các loài có giá trị kinh tế, biện pháp nuôi cá Tra thịt và ương nuôi cá Tra giống trong ao đất, Nguyễn Quang Trung Tiến nói về biện pháp nuôi cá Tra trong ao hầm ở Nam Bộ, lợi ích của việc nuôi cá Tra trong việc đóng góp vào nguồn thực phẩm cho người dân trong thời vụ khan hiếm thức ăn Lý Kế Huy đã giới thiệu về kỹ thuật nuôi cá bè, trong đó cá Tra cũng là đối tượng chính và nuôi được ở mật độ cao, năng xuất nuôi cá bè có thể đạt
15 ÷ 25 tấn/bè/vụ Nguyễn Quang Ly đã điều tra tổng kết các hình thức nuôi cá ở đồng bằng sông Cửu Long tập trung vào 3 phương thức nuôi chính: nuôi
ao hầm và nuôi mương vườn, nuôi cá ruộng và nuôi cá bè Việc nuôi ghép các loài cá trong ao hầm nhỏ ở Nam Bộ đã phát triển, trong đó ghi nhận cá Tra là đối tượng chính trong ao hồ nhỏ Nó được nuôi ghép với nhiều loại khác để tận dụng các loại thức ăn Vương Học Vinh đã đề cập đến giá trị kinh tế và một số mặt còn tồn tại của cá Tra ở Đồng bằng Nam Bộ và triển vọng nghề nuôi cá trong khu vực này [6]
Trang 173 Chất lượng nước trong nuôi trồng thuỷ sản
Môi trường sống của thuỷ sinh vật nói chung và của cá nói riêng là nước, nhử vậy chất lượng nứơc có vai trò rất quan trọng trong nuôi tròng thuỷ sản Sự sống sót, sinh trưởng, phát triển của cá nuôi phụ thuộc nhiều vào các yếu tố môi trường nước Trong khi đó các thuỷ sinh vật khác trong nước cũng làm biến đổi đặc tính lý, hoá học của môi truờng nước Do đó để năng xuất ao nuôi được cao, phải quản lý môi trường nước Muốn vậy phải nắm bắt tìm hiểu các yếu tố môi trường nước như: nhiệt độ, ôxy, CO2, pH và một số các yếu tố khác có mặt trong môi trường nước cũng như quy luật biến đổi của chúng theo thời tiết, mùa vụ và theo ngày đêm
3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là đại lượng biểu thị trạng thái nhiệt của nước
Nhiệt độ nước trong ao nuôi một phần được cung cấp từ sự bức xạ nhiệt của mặt trời Thông thường, nhiệt độ nước trong một ngày đêm ở các ao nuôi thấp nhất là vào buổi sáng lúc (2 ÷ 5h) và cao nhất là vào buổi chiều (14÷16h) Vào lúc 10h, nhiệt độ nước trong ao gần tới nhiệt độ trung bình ngày đêm, biên độ giao động của nhiệt độ trong ngày rộng hay hẹp phụ thuộc vào tính chất của ao Các ao nhỏ và nông biên độ giao động nhiệt độ ngày và đêm lớn hơn các ao lớn và sâu
Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột 3oC ÷ 4oC hoặc vượt quá giói hạn thích ứng sẽ gây sốc và có thể làm chết tôm cá Sự thay đổi của nhiệt độ là nguyên nhân chính làm thay đổi tốc độ trao đổi chất, rối loạn hô hấp làm mất cân bằng
pH máu, làm thay đổi chức năng điều hoà áp xuất thẩm thấu và làm tổn thương bóng hơi của cá
Theo Rowland (1986): “khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự sống sót và sinh sản của các loài tôm cá nuôi tương đối rộng, nhưng khoảng nhiệt độ cho tăng trưởng cực đại thì rất hẹp”
Trang 18Nhiệt độ là một yếu tố điều chỉnh năng xuất vật nuôi trong ao Tốc độ tiêu hoá thức ăn của tôm cá tăng lên mạnh khi nhiệt độ tăng Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh của mầm bệnh
3.2 Độ trong
Nước tinh khiết là chất lỏng trong suốt Nhưng nước ao nuôi thì không phải như vậy mà có một giá trị nào đó của độ trong Độ trong của nước trong các ao nuôi chủ yếu phụ thuộc vào số lượng đặc tính khối chất (secton) có trong nước, đó là tập hợp các sinh vật sống trong tầng nước và thể vẫn lơ lưng trong nước
Khi độ trong của nước rất thấp thì người ta gọi là độ đục Nếu độ đục do đất sét, bùn (phù sa) gây nên thì gọi là độ đục vô cơ Nếu do các chất lơ lưng có bản chất keo gây nên thì nó sẽ là yếu tố gây nguy hiểm cho tôm cá vì nó ngăn chặn sự sâm nhập của bức xạ mặt trời xuống mọi lớp nước làm giảm cường độ quang hợp của thuỷ sinh vật, dẫn đến tình trạng tương đối thấp về năng xuất Mặt khác độ đục vô cơ cao sẽ làm cho tôm cá khó hô hấp, cường độ bắt mồi giảm Tuy nhiên cần lưu ý rằng nước đục không có nghĩa là ô nhiễm Nếu độ đục của nước do sinh vật phù du gây nên thì đây lại là một chỉ số về năng xuất
Độ trong thích hợp cho ao nuôi cá là 20 ÷ 30 cm (vũ Thế Trụ)
3.3 Màu nước
Nước tinh khiết không có màu, còn nước ở các thuỷ vực thường có các màu khác nhau Màu nước trong thuỷ vực phụ thuộc vào các vật thể trong nước như: chất vẩn vô cơ, mùn bã hữu cơ và sinh vật phù du Trong đó tảo nói riêng và thực vật nói chung đều có chứa sắc tố, do đó khi mặt trời chiếu xuống tầng nước thì sắc tố tảo sẽ hấp thụ một số tia đơn sắc và tán xạ lại nên ta có thể nhìn thấy màu
Trang 193.4 pH
pH thích hợp của ao nuôi nước ngọt là 6.5 ÷ 7.5 trong đó thuỷ vực vực tự nhiên pH được điều chỉnh nhờ hệ đệm cacbonat Ơû thuỷ vực, pH biến đổi theo ngày đêm Trong quá trình quang hợp, phiêu sinh vật sử dụng CO2 làm cho pH nước tăng lên Ngược lại, khi hô hấp, thuỷ sinh vật thải ra CO2 làm giảm pH của nước
3.5 Độ kiềm
Độ kiềm là chỉ số các dạng chủ yếu của các ion HCO3- và CO32- trong nước Độ kiềm giữ vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự biến động thấp nhất của môi trường nước Đây được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng duy chì sự biến động thấp nhất sự biến động của nước ao nuôi, han chế tác hại của các chất độc có sẵn trong ao
Độ kiềm thích hợp cho ao nuôi thuỷ sản là: đối với nước ngọt, độ kiềm < 40mg CaCO3/l và đối với nước mặn, độ kiềm >80 mg CaCO3/l
3.6 Hàm lượng ôxy hoà tan
Tất cả các quá trình sống của vi sinh vật (trừ vi khuẩn kị khí) được bảo đảm bởi sự trao đổi năng lượng Đối với sinh vật, chất duy trì không thể thay thế là ôxy
Theo V.I.Vednaski (1960) đã nói về tầm quan trọng của ôxy hoà tan trong nước như sau: “ Thực chất của cuộc đấu tranh sinh tồn trong thuỷ quyển là cuộc đấu tranh giành ôxy”
Oâxy có trong môi trường nước chủ yếu từ 2 nguồn: sản phẩm của quá trình quang hợp và khuếch tán từ không khí vào trong nước
Hàm lượng ôxy hoà tan trong nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt độ, chất hữu cơ, sinh vật sống trong nước, lưu tốc dòng chảy… kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong các thuỷ vực hàm lượng ôxy thấp nhất vào buổi sáng (lúc
4 ÷ 7h) và ao nhất vào buổi chiều (lúc 14 ÷ 17h) biên độ dao động của ôxy hoà
Trang 20tan trong ngày đêm phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng của thuỷ vực Thuỷ vực giàu dinh dưỡng có biên độ dao động cao hơn thuỷ vực nghèo dinh dưỡng Oxy hoà tan trong nước là yếu tố quan trọng của thuỷ vực, nó có vai trò quyết định đến các quá trình sinh học, hoá học của thuỷ cực Có thể coi oxy hoà tan là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nước Hàm lượng oxy hoà tan trong ao nuôi thuỷ sản phải không dưới 3mg/l, khoảng thích hợp là
6 ÷ 8 mg/l nếu nhỏ hơn 3 mg/l dưới ngưỡng chịu đựng cá sẽ không bắt mồi, chậm lớn, rối loan hô hấp và có thể chết Nhưng nếu hàm lượng ôxy hoà tan quá cao (vượt quá mức bão hoà 110%) có thể gây nên bệnh, còn gọi là bệnh bọt khí
3.7 Hàm lượng CO 2 hoà tan
CO2 có trong nước là do quá trình hô hấp của thuỷ sinh vật và quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ trong điều kiện có ôxy, xâm nhập từ khí quyển vào nước Hàm lượng CO2 hoà tan biến thiên hoàn toàn ngược lại với ôxy Khí CO2 đóng vai trò quan trọng trong đời sống của vùng nước CO2 bộ phận cơ bản tham gia vào sự tạo thành chất hữu cơ trong quá trình quang hợp
CO2 gắn liền với vòng tuần hoàn của các chất trong vùng nước, trong đó có việc tạo và phân huỷ chất hữu cơ và với sự chuyển hoá bicacbonat (HCO3-) thành monocacbonat (CO32-) trong nước
Theo Ellis (1973) thì quần thể cá phát triển tốt khi môi trường nước chứa hàm lượng CO2 tự do nhỏ hơn hoặc bằng 0.5ppm, nồng độ CO2 cho phép trong ao nuôi là 10 ÷ 13 ppm
3.8 Đô ôxy hoá
Độ ôxy hoá là hàm lượng ôxy cần thiết để ôxy hoá các chất hữu cơ có trong một lít nước Đây là môt trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước Theo Aliokin (1970), chỉ tiêu về độ nhiễm bẩn của nước như sau
Trang 21Bảng 1 tiêu chuẩn về độ nhiễm bẩn của nước
Độ ôxy hoá Độ nhiễm bẩn
3.9- Nhu cầu ôxy sinh hoá- BOD
BOD là lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân huỷ
các chất hữu có trong nước trong điều kiện hiếu khí Phản ứng xảy ra như sau:
chất hữu cơ + O2 VSV CO2 + H2O Ôxy sử dụng trong quá trình này là ôxy hoà tan trong nước
Chỉ số BOD chỉ là lượng ôxy mà sinh vật tiêu thụ trong phản ứng ôxy
hoá các chất hữu cơ trong nước, chỉ số BOD càng cao chứng tỏ lượng chất hữu
cơ có khả năng phân huỷ sinh học trong nước càng lớn
Để xác định chính xác nhu cầu ôxy sinh hoá, cần phải đo sau 20 ngày,
vì thực tế tại thời điểm đó khoảng 98 ÷ 99% lượng chất hữu cơ trong nước sẽ bị
ôxy hoá Việc đo như vậy cần nhiều thời gian chờ đợi kết quả, cho nên có thể
đánh giá gần đúng bằng xác định BOD sau 5 ngày, vì tại thời điểm này khoảng
70 ÷ 80% các chất hữu cơ bị ôxy hoá Mặt khác có thể loại trừ được ảnh hưởng
của lượng ôxy tiêu thụ trong quá trình nitrat hoá ( loại trừ giai đoạn 2 ) Chỉ
tiêu này gọi là BOD5
Trang 22
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu
I.1- Thời gian
Thời gian nghiên cứu từ ngày 08/08/2005 đến ngày 14/10/2005
I.2- Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại Trại thực nghiệm nuôi cá nước ngọt Ninh Phụng (Ninh Hoà- Khánh Hoà)
Hình1: Ảnh chụp trại Thực nghiệm Ninh Phụng Ninh Hòa
I.3- Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố môi trường( các yếu tố thuỷ ly,ù thuỷ hoá)
II Nội dung và phương pháp nghiên cứu
II.1 Nội dung nghiên cứu
1- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên trại cá Ninh Phụng
2- Tìm hiểu tình hình nuôi cá tra tại trai cá Ninh Phụng
3- Diễn biến điều kiện môi trường của ao nuôi cá tra
Trang 23II.2 Phöông phaùp nghieđn cöùu
Hình 2 : Sô ñoă khoâi noôi dung nghieđn cöùu
II.2.1 Phöông phaùp thu thaôp soâ lieôu
1- Ñieău tra tröïc tieâp thođng qua ngöôøi nuođi
2- Qua taøi lieôu coù lieđn quan
3- Töø thöïc ñòa vaø thöïc teâ
II.2.2 Phöông phaùp tieân haønh thí nghieôm
1- Tröïc tieâp thu maêu vaø phađn tích
1.1- Töø nguoăn nöôùc söû dúng trong heô thoâng nuođi caù tra
a- Chaât löôïng nguoăn nöôùc cung caâp
b- Chaât löôïng nöôùc trong ao nuođi
1.2- Ñònh ñieơm thu maêu
a- Theo maịt phaúng ngang:
§ Nguoăn nöôùc (ao chöùa)
Dieên bieân mođi tröôøng ao nuođi caù tra
Chaât löôïng nöôùc
nuođi caù tra
- Caùc yeâu toâ thuyû lyù: nhieôt ñoô, ñoô sađu, ñoơ trong, maøu nöôùc theo ñònh ky,ø theo ngaøy ñeđm vaø theo lòch sạn xuaât
- Caùc yeâu toâ thuyû hoaù:pH, O2, CO2, ñoô kieăm, COD, BOD theo ñònh kyø, ngaøy ñeđm vaø theo lòch sạn xuaât
So saùnh ñaùnh giaù chaât löôïng nöùôc ạnh höôûng ñeẫn ñôøi soâng cụa caù
Trang 24§ Ao nuôi cá tra
b - Theo tầng nước
§ Sát mặt thoáng
§ Sát đáy
Hình 3: Aûnh chụp ao chứa (nguồn nước) và điểm thu mẫu(1),(2),(3), (4)
Hình 4:Aûnh chụp ao cá Tra và điểm thu mẫu (1),(2),(3)
(2)
(1)
(1) (2)
(3) (4)
(3)
Trang 251.3- Định thời gian thu mẫu
a- Định kỳ thu mẫu: Nguồn nước (ao chứa); Ao nuôi cá Tra
Tiến hành thu mẫu 3 lần /tháng vào các ngày: 20/8, 30/8, 10/9, 20/9, 30/9,
10/10/2005; ngày thu 2 lần : 6h và 14h
b- Theo ngày đêm: (pH, CO2, O2 ), nguồn nước (ao chứa ) ; ao nuôi cá Tra
Tiến hành thu mẫu 3 lần/tháng vào các ngày : 25/8, 5/9, 15/9, 25/9 và ngày 05/10/2005 ,thu mãu 2giờ /lần: 5h, 7h, 9h, 11h, 13h, 15h, 17h,
19h, 21, 23h
c- Theo lịch sản xuất
2 Phương pháp xác định các yêu tốá môi truờng
2.1- Các yếu tố thuỷ lý
+ Nhiệt độ: Xác định bằng nhiệt kế thuỷ ngân
+ Độ trong: Xác định băng đĩa secchi
+ Màu nước: Xác định bằng thị giác
+ Độ sâu: Xác định bằng thước đo
Chế độ theo dõi: định kỳ, ngày đêm, theo lịch sản xuất
2.2- Các yếu tố thuỷ hoá:
+ pH: Xác định bằng test
+ Oâxy hoà tan: Xác định bằn phương pháp Winkler
+ CO2 : Xác định bằng phương pháp trung hoà
+ Độ kiềm: Xác định bằng phương pháp đo acid
+ Độ oxy hoá: xác định bằng phương pháp permanganat
+ BOD: Xác định BOD5
+ NH4+, NO3-, NO2-: Xác định bằng máy đo với thuốc thử
Trang 26III Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý bằmg chương trình exel
i: Giá trị của chỉ tiêu cần xác định
3.2- Biểu diễn số liệu theo hình thức:
Khung bảng và đồ thị
Trang 27PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Vị trí địa lý, địa hình và điều kiện tự nhiên ở trại Ninh Phụng
1.1 Vị trí địa lý
Trại thực nghiệm Ninh Phụng của trường ĐHTS nằm trong địa bàn xã Ninh Phụng – Ninh Hoà – Khánh Hoà, cách thành phố Nha Trang 37km về phía Tây Bắc, cách thị trấn Ninh Hoà 4km về phía Tây Trại nằm sát quốc lộ
26, giáp với đồng ruộng và các phân xưởng của xí nghiệp gạch ngói Ninh Hoà Trại nằm ở độ cao 15m so với mặt nước biển (độ cao giả định)
1.2 Điều kiện tự nhiên
Trại thực nghiệm Ninh Phụng mang đặc diểm của vùng đồng bằng ven biển Khánh Hoà (thuộc vùng khí hậu thứ hai của tỉnh Khánh Hoà) Khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa, biến đổi lớn
a-Về nhiệt độ: thấp nhất khoảng 14 ÷ 15oC Cao nhất khoảng 30 ÷ 40oC (do ảnh hưởng của gió Tây) Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 27oC b- Cường độ bức xạ: vào khoảng 90 ÷ 96 kcal/cm2, thuộc vào loạ cao nhất nước ta
c- Chế độ bức xạ mặt trời: thời gian nắng nhất trong năm giảm dần từ Bắc chí Nam, từ vùng cao đến vùng ven biển Trong năm có khoảng 2300
÷2700 giờ nắng
Tóm lại, tính nhiệt đới thể hiện chủ yếu ở điều kiện số giờ chiếu sáng của mặt trời cao, tạo cho khí hậu Khánh Hoà thường xuyên co tiềm năng nhiệt khá cao, bất cứ tháng nào trong năm cũng có thể có những ngày nắng gắt:(ví dụ: tháng 12 có ngày đạt 33 oC, tháng 1 có ngày đạt 32 oC)
Trang 28Hàng năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 (có thể kéo theo lũ lụt ), lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa trong năm Đặc biệt là tháng 10 và tháng 11 lượng mưa chiếm khoảng 60% lượng mưa trong năm Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chiếm khoảng 25 ÷ 35% lượng mưa trong năm
Độ ẩm không khí trung bình là 80% Độ ẩm biến thiên đồng biến với lượng mưa, nghịch biến với nhiệt độ không khí
Lượng hơi nước bốc hơi trung bình trong năm là 690mm, tăng từ Bắc đến Nam, từ vùng cao đến vùng ven biển Mùa khô lượng mưa bốc hơi lớn hơn mùa mưa
d- Thổ nhưỡng: Xã Ninh Phụng ( Ninh Hoà) có thổ nhưỡng dạng đất đá đỏ vàng chiểm tỷ lệ lớn và phân bố rộng Đất đá đỏ vàng phát triển trên đá Macma acid trên đá mẹ phiến thạch Ngoài ra còn có nhóm đất xám bạc màu e- Về nguồn nước cung cấp cho trai :nguồn nước dẫn về trại xuất phát từ đập Bẩy Xã ( giữ và tháo nước phục vụ cho nông nghiệp), cách trại khoảng 3km về hướng Tây Nguồn nước dẫn về trại đi qua hệ thống kênh mương nội đồng vào hồ chứa Do đặc điểm thổ nhưỡng là đất đá đỏ vàng có độ rửa trôi bùn lớn nên nước vào tới ao chứa không sạch, nhiều chất vẩn hữu cơ và vô cơ làm cho độ trong thấp hình (2) sau đây là sơ đồ hệ thống nước của trại để phục vụ sản xuất
Trang 29Hình 5: hệ thống nước phục vụ sản xuất trong trại cá Ninh Phụng Chú thích: Đường vận chuyển
Mương cấp thoát nước Nhà ở và khu cho sinh sản nhân tạo
1 Ao chứa
2 Ao nuôi cá Tra (1000m3)
3 ÷ 20 các ao nuôi và ao ương
Trang 302 Tình hình nuôi cá Tra tại trai cá Ninh Phụng
Nhìn chung đối tượng cá nước ngọt tại trại cá Ninh phụng được tập trung chủ yếu ở những loài truyền thống như: cá Mè, cá Trôi, cá Trắm, cá Chép, cá Rô Phi… hiện nay ngoài những loài nuôi truyền thống kể trên, trại còn bổ sung một số loài cá như : cá Chim Trắng, cá Lóc Đen… và gần đay nhất là cá Tra mới được di giống và đem nuôi thử nghiệm
Cá Tra được đưa vào nuôi thực nghiệm tại trại cá Ninh Phụng với đề tài
“Di giống và thử nghiệm nuôi cá Tra thương phẩm tại trai thực nghiệm Ninh Phụng” Thời gian nuôi thương phẩm bắt đầu từ khoảng tháng 8 năm 2004, sau khi đạt kích thước thương phẩm và cho đến giai đoan này (tháng 8 năm 2005) trở đi cá được nuôi để trở thành cá bố mẹ
2.1 Điều kiện ao nuôi
Ao nuôi cá Tra (Pangasianodon hypohthalmus) là ao nuôi nước tĩnh
được xây dựng trên nền đất sét có diện tích khoảng 1000m2, độ sâu ao là 2.5m, mực nước trong ao là 1.2m
Ao có ưu điểm là diện tích và độ sâu lớn tương đối nên các yếu tố môi trường trong ao ít bị biến động, tạo thuận lợi cho qua trình sinh trưởng và phát triển của cá trong ao nuôi Tuy nhiên, do ao được xây dựng trên nền đất sét nên lượng huyền phù trong ao rất lớn, dẫn đến độ đục cao Ao nuôi không có cống thoát nước do đó nước trong ao không được trao đổi, hơn thế nữa nước sinh hoạt của cán bộ công nhân của trại xả ra thường xuyên chảy xuống ao làm cho cá nuôi trong ao chịu ảnh hưởng rất lớn
2.2 Hình thức nuôi
Số lượng cá thả ban đầu là 2848 con Giai đoạn bắt đầu cho nuôi thương phẩm cho ăn thức ăn nổi Cargil với khẩu phần ăn là 10% trọng lượng thân, mỗi ngày cho ăn 2 ÷ 3 lần Và được điều chỉnh phù hợp sau khi sau khi theo dõi tập tính hoạt động của cá
Trang 31Giai đoạn sau khi cá đạt kích thước thương phẩm cá được bắt đem bán, cá còn lại trong ao 600 con/1000m2 được cho ăn thức ăn công nghiệp là thức ăn viên nổi Cargil nhưng khẩu phần ăn một ngày bằng 1.5% trọng lượng thân, ngày cho ăn 1 lần Mục đích là nuôi cá lớn để trở thành cá bố mẹ chứ không phải là nuôi để tăng nhanh về trọng lượng nên lượng thức ăn cho cá chỉ để cá trở thành đàn cá hậu bị cho sinh sản nhân tạo cá Tra
3 Diễn biến môi trường ao nuôi cá tra
Trong nuôi trồng thuỷ sản nói chung và nuôi nước ngọt nói riêng, nguồn nước đóng vai trò quan trọng, nó quyết định đến năng suất của vụ nuôi Nếu chất lượng nguồn nước cung cấp tốt thì có thể làm chi phí sản xuất giảm Ngược lại nếu chất lượng nguồn nước không đảm bảo sẽ làm giảm năng suất và chi phí tăng
Nguồn nước cung cấp cho trại cá nước ngọt Ninh Phụng bắt nguồn từ đập Bảy Xã qua hệ thống kênh mương nội đồng Do đó chất lượng nước khi về đến trại nuôi sẽ bị giảm đi và việc cấp thoát nước cho các ao ở trại không được chủ động mà phải phụ thuộc vào thuỷ lợi nông nghiệp Điều nay làm cho trại nhiều khi bị thiếu nước vào mùa khô Nguồn nước sau khi về đến trại thường được lấy vào các ao nuôi và ao chứa
Ao chứa là ao dùng để chứa, lắng, lọc nước nhằm cung cấp cho ao nuôi cá và phục vụ cho sinh sản nhân tạo của trại Ngoài ra, do thiếu diện tích mặt nước nên đầu mùa mưa, ao còn được sử dụng để thả cá chống lũ Vị trí của ao chứa nằm gần ao cá Tra và khu giếng nước sinh hoạt
Trang 32Hình 6: Hệ thống nguồn nước (ao chứa) và ao cá Tra
Ghi chú: 1- Ao chứa (3200m2)
2- Ao nuôi cá Tra(1300m2)
3- Nhà tắm
4- Giếng nước
Đường nước sinh hoạt chảy xuống ao cá Tra
3.1 Diễn biến môi trường ao chứa
3.1.1 Biến động các yếu tố môi trường theo thời gian nghiên cứu
3.1.1.1 Diễn biến các yếu tố thuỷ lý
* Nhiệt độ
Nhiệt độ nước được tiến hành phân tích ở hai tầng mặt và đáy kết quả thu được như sau
4
Trang 33Bảng 2: Nhiệt độ ao chứa theo thời gian
Ngày theo dõi
Trung bình
Nhiệt độ
T.mặt 31 31 28.5 29 29 29 29.5 sáng
T.đáy 31 31.5 28.5 29 29.5 29 30.0 T.mặt 34 34.5 29 33 34 34 33.0
Kết quả phân tích nhiệt độ nước cho thấy:
+ Tầng mặt: vào buổi sáng (6giờ ), nhiệt độ nước thấp nhất 28.5oC và cao nhất là 31oC, khoảng dao động là 2.5oC vào buổi chiều (14 giờ) nhiệt độ nước thấp nhất là 29oC và cao nhất là 34oC, khoảng dao động là 5oC
+ Tầng đáy: vào buổi sáng (6 giờ), nhiệt độ nước thấp nhất là 28,50C và cao nhất là 31.5oC, khoảng dao động là 3oC, vào buổi chiều (14 giờ) nhiệt độ thấp nhất là 29oC và cao nhất là 33.5oC, khoảng dao động là 4.5oC
Hình 7 : Biểu đồ diễn biến nhiệt độ ao chứa theo thời gian
Trang 34Vào buổi sáng, nhiệt độ nước luôn cao hơn nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước tầng đáy cao hơn nhiệt độ tầng mặt Buổi chiều thì ngược lại nhiệt độ không khí thường cao hơn nhiệt độ nước, nhiệt độ tầng mặt cao hơn nhiệt độ tầng đáy Tuy nhiên sự chênh lệch nhiệt độ giứa 2 tầng không đáng kể
Nguyên nhân của hiện tượng này là do quá trình hấp thụ và truyền nhiệt chậm của nước Vào buổi sáng do sự phân huỷ các chất hữu cơ có trong nước và nền đáy, quá trình hô hấp của thuỷ sinh vật trong ao và sự phản xạ nhiệt từ đất nên nhiệt độ nước tầng đáy cao hơn tầng mặt và chính lượng nhiệt từ tầng đáy truyền dần lên tầng mặt làm cho nhiệt độ tầng mặt cao hơn nhiệt độ không khí
Nhìn chung vào mùa mưa nhiệt độ không khí buổi sáng thường thấp và tăng dần lên vào buổi trưa (từ 12 ÷14 giờ) Nhiệt độ không khí( 25÷310C) biến động nhiều hơn nhiệt độ nước, còn khoảng dao động của nhiệt độ nước trong ngày là: buổi sáng (29.5÷ 33oC), buổi chiều là (30 ÷ 32oC)
Nguyên nhân của hiện tượng này là do môi trương không khí có sự truyền nhiệt nhanh hơn môi trường nước làm cho không khí nhanh chóng nóng lên khi có sự đốt nóng của ánh sáng mặt trời Ngược lại nhiệt độ không khí cũng nhanh chóng giảm xuống khi trời trở về ban đêm Nhưng nhiệt độ nước thì lại khác, nước là môi trường chất lỏng, sự truyền nhiệt của môi trường chất lỏng chậm hơn môi trương không khí và còn phụ thuộc vào sự tăng lên hay giảm xuống của nhiệt độ không khí mà nhiệt độ nước cũng tăng lên hay giảm
đi tuy nhiên nhiệt độ nước tầng mặt có khoảng dao động lớn hơn tầng đáy là
do tầng mặt tiếp xúc trực tiếp với không khí nên nó bị biến động theo nhiệt độ không khí nhiều hơn
Trang 35Bảng 3: độ sâu, độ trong và màu nước ao chứa
Thời gian
Yếu tố 20/8 30/8 10/9 20/9 30/9 10/10
Trung bình
Màu nước
trắng đục
Trắng đục
trắng đục
trắng xanh
trắng đục
trắng đục
* Độ sâu:
Độ sâu thấp nhất là 95cm, cao nhất là 145cm và độ sâu trung bình là 117.5cm Mực nước trong ao tăng dần vào mùa mưa Từ ngày 20/08/2005 đến ngày 30/08/2005 mực nước trong ao tăng chậm do không có mưa mà độ sâu vẫn tăng là do ao được cung cấp nước từ các ao khác vào để chứa nước phục vụ cho các ao khác về sau Từ ngày 30/08/2005 trở đi mực nước trong ao tăng nhanh do mùa mưa đến và tăng liên tục trong thời gian này
Độ sâu trong ao trung bình như vạây là tương đối đạt đối với một ao nuôi cá nhưng chưa thật tốt, những ngày mực nước trong ao đạt 95cm là hơi thấp so với tiêu chuẩn một ao nuôi là 100 ÷ 150cm
* Màu nước:
Từ kết qủa thu được ở bảng 3 cho thấy màu nước quan sát được trong thời gian theo dõi là màu trắng đục, xanh nhạt Điều này xảy ra là do trong khoảng thời gian này chất lơ lửng trong ao chứa chủ yếu là chất vô cơ do nền đáy ao là đất sét, hơn nữa do ao là ao chứa nên không được bón phân gây màu nước nên tảo không phát triển do đó hầu như luôn có màu trắng đục của lượng đất sét và huyền phù trong ao Đến ngày 20/09/2005 do có lượng mưa lớn hàm lượng muối dinh dưỡng trong ao tăng, làm cho tảo phát triển nên ao có màu xanh nhạt