1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tài sản tài chính doanh nghiệp

73 316 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tài Sản Tài Chính Doanh Nghiệp
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên
Trường học Trường Đại Học Ngoại Ngữ
Chuyên ngành Tài Chính Doanh Nghiệp
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 649,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về thị trường tài chính và các công cụ của thị trường tài chính, Các nhân tố ảnh hưởng

Trang 1

MỤC LỤC

1 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 50

1.1 Khái niệm 50

1.2 Mục tiêu: 50

1.3 Phương pháp nghiên cứu: 51

1.3.1 Đi tìm mối liên hệ giữa dự phóng và các phân tích khác: 51

1.3.2 Kỹ thuật dự phóng: 51

1.3.3 Khởi đầu: điểm xuất phát 52

1.3.3.1 Hành vi của tăng trưởng doanh số: 53

1.3.3.2 Hành vi của thu nhập 54

1.3.3.3 Hành vi của thu nhập cổ phần 55

1.3.3.4 Hành vi của các nhân tố trong ROE 57

2 Nội dung nghiên cứu 58

2.1 Dự phóng doanh thu 58

2.2 Dự phóng chi phí và thu nhập 61

2.3 Dự phóng bảng cân đối kế toán 62

2.4 Dự phóng lưu chuyển tiền tệ 66

2.5 Phân tích độ nhạy cảm 68

3 KẾT LUẬN 73

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, thay mặt nhóm 03 em xin gửi lời cảm ơn tới cô hướng dẫn đề tài nghiên cứu của nhóm, Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên, đă tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ nhóm hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này, Sự hiểu biết sâu sắc về Kinh Tế, cũng như kinh nghiệm của cô chính là tiền đề giúp nhóm đạt được những thành tựu

và kinh nghiệm quý báu Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn trường đại học ngoại ngữ đã giúp chúng tôi dịch một số từ khó và chỉnh câu cho phù hợp,cuối cùng tôi cũng xin cảm ơn các bạn trong nhóm đã cùng nhau phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau

để cùng đi đến kết quả cuối cùng là hoàn thành bài nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

PHẦN 1: PHÂN TÍCH TÀI SẢN

1 Khái niệm, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

1.1 Khái niệm

Tài sản là những nguồn lực thuộc sở hữu của một công ty và có khả năng mang lại lới ích kinh

tế trong tương lai, đồng thời có giá trị có thể xác định được một cách đáng tin cậy

Tài sản có thể biểu hiện dưới nhiều dạng bao gồm: tiền mặt, chứng khoán thị trường, khoản thu khách hàng, hàng tồn kho, tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn vào các công ty khác, và tài sản vô hình

Trang 4

Quan điểm phân tích dựa vào giá gốc của các nhà đầu tư rất quan trọng bởi vì các nhà quảng lý

có động cơ để đưa ra một cách nhìn triển vọng của việc quản lý các nguồn tài nguyên của công ty Bằng cách yêu cầu các giao dịch được ghi nhận với nguyên giá, kế toán có thể hạn chế khả năng của nhà quản lý trong việc phóng đại giá trị tài sản mà họ đã mua hoặc nâng cấp

Tuy nhiên, nguyên tắc giá gốc cũng hạn chế các thông tin hiện hữu cho các nhà đầu tư biết về tiềm năng của tài sản công ty, vì giá trao đổi thường khác từ giá trị hợp lý: thể hiện số tiền mà các bên (a) có hiểu biết về tài sản được trao đổi, (b) có mong muốn trao đổi, (c) sẽ trao đổi như là trong các giao dịch bình thường giữa các bên bình thường hoặc giá trị sử dụng

Do đó, nguyên tắc thận trọng đảm bảo hơn cho các nhà đầu tư rằng ước tính của các nhà quản lý

về giá trị các nguồn lực công ty không phải là phóng đại Kết quả là, giá trị tài sản báo cáo trên bảng cân đối kế toán có thể được coi là thấp hơn giá trị của lợi ích trong tương lai mang lại từ chiến lược quản lý kinh doanh hiện tại

2 Nội dung nghiên cứu

Các tiêu chí chủ yếu để ghi nhận một tài sản

Trang 5

2.1 Những khó khăn khi xác định tài sản

2.1.1 Quyền sở hữu nguồn lực không chắc chắn

Đối với hầu hết các nguồn lực được sử dụng trong một công ty thì quyền sở hữu được xác định một cách rõ ràng: công ty sử dụng nguồn lực thì sẽ sở hữu tài sản đó Tuy nhiên, trong một vài giao dịch( nghiệp vụ kinh tế), có thể khó thấy được ai là chủ sở hữu nguồn lực Chúng tôi thảo luận hai trường hợp là ví dụ cho khó khăn trong việc xác định quyền sở hữu

• Trường hợp thứ nhất: đối với nguồn lực đi thuê Ai sẽ là người sở hữu thực sự của tài sản – người cho thuê hay người thuê tài sản?

• Trường hợp thứ hai: đối với việc huấn luyện nhân viên Ai thực sự có lợi ích từ việc này – công ty tổ chức huấn luyện hay chính nhân viên

Ghi nhận một tài sản

Những khó khăn giao dịch1.Quyền sở hữu tài nguyên là không chắc chắn2.Những lợi ích tương lai từ việc chi tiêu là không chắc chắn hoặc khó đo lường

3.Giá trị nguồn lực đã thay đổi

Tiêu chuẩn đầu tiên

Tài nguyên là thuộc

sở hữu của công ty

Tiêu chuẩn thứ haiTài nguyên được dự kiến ​sẽ cung cấp những lợi ích kinh tế trong tương lai

đủ để phục hồi chi phí của họ

Tiêu chuẩn thứ baLợi ích kinh tế trong tương lai phải được đo lường với mức

độ chắc chắn hợp

Trang 6

Ví dụ 1: Nguồn lực đi thuê

Vào ngày 31/12/1998, hãng hàng không American Airlines đã báo cáo rằng 42% trên tổng số máy bay của công ty này (273 chiếc) là tài sản thuê với thời hạn khoảng 10 đến 25 năm American Airline cho biết công ty có nghĩa vụ với các hợp đồng thuê tài sản này là hơn 1 tỷ USD cho mỗi năm trong năm năm đầu và 13.4 tỷ USD cho khoảng thời gian tiếp theo Trong báo cáo hàng năm, công ty lưu ý rằng “các hợp đồng thuê máy bay thông thường có thể được gia hạn theo tỷ lệ dựa trên giá thị trường vào cuối thời hạn thuê 1-5 năm

Hầu hết các hợp đồng thuể máy bay có các lựa chọn cho mua lại vào hoặc gần thời điểm kết thúc thời hạn thuê theo giá trị thị trường, nhưng thường không vượt quá một tỷ lệ phần trăm trên chi phí máy bay do bên cho thuê ấn định hoặc một số tiền cố định được xác định trước.” Chủ sở hữu thực sự của các máy bay này là ai? Liệu American Airlines có thực sự mua chúng bằng cách

sử dụng nguồn tài chính được cung cấp bởi bên cho thuê, hay đây thực tế chỉ là những cam kết vay mượn? Đánh giá liệu một thỏa thuận cho thuê là tương đương với hợp đồng mua hàng hay thuê mượn là chủ đích Nó phụ thuộc vào việc bên đi thuê liệu đã thực sự chấp nhận rủi ro của việc sở hữu tài sản, chẳng hạn như lỗi thời và hao mòn tự nhiên

Với nỗ lực chuẩn hóa các báo cáo về giao dịch thuê tài sản, chuẩn mực kế toán đã đưa ra tiêu chí rõ ràng để phân biệt giữa hai dạng trên Theo SFAS 13, một giao dịch cho thuê tương đương để mua tài sản nếu thỏa các điều kiện sau đây: (1) quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho bên đi thuê khi kết thúc thời hạn thuê, (2) bên đi thuê có lựa chọn để mua tài sản với một mức giá thỏa thuận vào cuối thời hạn thuê, (3) thời hạn thuê là từ 75% trở lên thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, và (4) giá trị hiện tại của khoảngthanh toán cho thuê là từ 90% trở lên giá trị hợp lý của tài sản Như đã nói ở trên, American Airlines đã có các lựa chọn mua lại máy bay với giá thị trường ước tính Ngoài ra, công ty đã báo cáo rằng thời gian sử dụng ước tính cho máy bay mà nó

sở hữu là 25 năm Những hợp đồng thuê tài sản đáp ứng các tiêu chí của một giao dịch mua bán thực sự được ghi nhận là hợp đồng thuê vốn ở giá trị hiện tại của khoảngthanh toán cho thuê Số tiền này được xem tương tự một khoản nợ phải trả, để phản ánh việc tài trợ mua tài sản

Trong giai đoạn tiếp theo, thiết bị đi thuê khấu hao dần trong suốt thời hạn của hợp đồng thuê tài sản, và khoản thanh toán tiền thuê được coi là các khoản thanh toán nợ và tiền lãi Trong năm

Trang 7

1998, American Airlines đã vốn hóa cho các hợp đồng thuê 187 máy bay và ghi nhận một khoản

nợ phải trả cho việc thuê các máy bay này với số tiền 1.671 triệu USD

Những hợp đồng thuê không đủ điều kiện xem như là một giao dịch mua bán có hiệu lực cho các mục đích kế toán được gọi là thuê hoạt động Bên đi thuê sau đó báo cáo chi phí cho thuê trong suốt thời hạn hợp đồng American Airlines cho biết công ty chỉ có 86 thỏa thuận thuê tài sản là thuê hoạt động vào năm 1998

Tất nhiên, vì các tiêu chí để báo cáo hoạt động thuê tài sản là khách quan, chúng tạo ra cơ hội cho ban quản lý phá vỡ các đặc trưng của sự khác biệt giữa hợp đồng thuê tài chính và thuê hoạt động Ví dụ, quản lý của hãng hàng không American Airline có thể viết các điều khoản trong hợp đồng thuê tài sản theo một giao dịch đáp ứng các định nghĩa của cả tài sản thuê hoạt động hay tài sản thuê tài chính

Ngoài ra, thực hiện các tiêu chuẩn báo cáo về việc thuê tài sản yêu cầu nhà quản lý dự báo khoảng thời gian sử dụng hữu ích và giá trị hợp lý của các máy bay mà họ đi thuê Bằng cách so sánh các khoản nợ phải trả từ thuê tài chính (1.671 triệu USD) với tổng các khoản thanh toán cho nghĩa vụ của tất cả hợp đồng đi thuê của công ty từ 1999 đến 2003, các nhà phân tích có thể thấy rằng mặc dù công ty có nhiều hợp đồng thuê tài chính hơn là hợp đồng thuê hoạt động, hãng hàng không Mỹ dùng các hợp đồng thuê hoạt động cho các thiết bị đắt tiền nhất của công ty Đây có phải là chiến lược điều hành có chủ đích của công ty, hay là công ty tìm cách để giữ cho các khoản

nợ phải trả cho việc tài trợ cho các máy bay đắt hơn của họ ra khỏi bảng cân đối kế toán?

Ví dụ 2: Nguồn nhân lực

Các công ty chi tiêu một lượng đáng kể cho phát triển chuyên môn và đào tạo cho nhân viên của

họ Công tác đào tạo nhân viên chính thức của các công ty ở Hoa Kỳ ước tính chi phí từ 30 đến 148

tỷ USD mỗi năm Nếu một trong các nhân tố không chính thức, những chi phí cho công việc đào tạo tại chỗ sẽ gia tăng 2-3 lần một nhân tố

Các chương trình đào tạo bao gồm từ mục đích củng cố cho sự tăng trưởng của công ty – đào tạo những kỹ năng cụ thể mà có thể không được chuyển giao cho các công việc khác, cho đến đào tạo nâng cấp những kỹ năng nói chung của nhân viên và vẫn có thể sử dụng các kỹ năng này cho các công việc khác Các công ty có thể sẵn sàng tổ chức đào tạo chỉ khi nhân viên cam kết sẽ ở lại

Trang 8

công ty một khoảng thời gian sau khi hoàn thành khóa đào tạo Đây là loại cam kết là điển hình cho các công ty phải trả chi phí cho nhân viên tham dự chương trình Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh (MBA).

Các công ty dành nhiều nguồn lực cho đào tạo chính quy thường làm như vậy với dự đoán rằng

họ sẽ có lợi ích lâu dài cho công ty thông qua tăng năng suất và / hoặc sản phẩm hoặc chất lượng dịch vụ Các chi phí này nên được ghi lại như thế nào? Chúng có nên được xem như là một tài sản

và hoàn lại dần trong khoảng thời gian dự kiến mà nhân viên làm việc tại công ty? Hoặc có chăng chúng nên được ghi nhận là chi phí ngay lập tức? Kế toán lập luận rằng các kỹ năng tạo ra thông qua đào tạo không thuộc sở hữu của công ty nhưng được sở hữu bởi nhân viên công ty

Vì vậy, các nhân viên có thể rời bỏ một công ty và có một vị trí khác mà không có sự chấp thuận của người sử dụng lao động hiện thời Nó cũng là khó khăn để đánh giá ảnh hưởng của công tác đào tạo lên hiệu suất trong tương lai Kết quả là, các chuẩn mực kế toán ở Mỹ và những nơi khác yêu cầu chi phí đào tạo được ghi nhận phí tổn ngay lập tức Với cách xử lý kế toán về chi phí đào tạo, phân tích tài chính có thể tăng thêm giá trị bằng cách phân biệt giữa các công ty thành công và thất bại trong việc tạo ra giá trị thông qua đào tạo nhân viên Điều này có thể là yếu tố quan trọng cho các công ty nơi mà con người vốn là một nguồn lực quan trọng Đó là trường hợp các công ty chuyên nghiệp Đào tạo cũng có thể tạo ra một tài sản có giá trị cho các công ty dựa vào đội ngũ nhân viên bán hàng với kiến thức chuyên môn về các chi tiết kỹ thuật của các sản phẩm mà công ty đang bán Công tác đào tạo trong các dạng công ty này có thể rất quan trọng trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng và mang lại danh tiếng cho công ty trong thị trường sản phẩm của họ

2.1.2 Lợi ích kinh tế không chắc chắn hay khó để đo lường

Thách thức thứ hai: trong việc quyết định xem liệu một khoản chi phí bỏ ra có đủ tiêu chuẩn để ghi nhận là tài sản hay không phát sinh khi lợi ích kinh tế tương lai ước tính mang lại từ khoản chi phí này khó đo lường hoặc rất không chắc chắn Gần như luôn khó dự báo chính xác lợi ích nào trong tương lai liên quan đến kinh phí bỏ ra vì thế giới thì không chắc chắn Một công ty không biết được liệu đối thủ cạnh tranh có tung ra sản phẩm mới hay dịch vụ mới khiến sản phẩm của họ

Trang 9

bị lỗi thời hay không Họ cũng không biết liệu sản phẩm sản xuất tại nhà máy mới có phải là loại khách hàng muốn mua Họ không biết liệu thay đổi giá dầu làm có làm thiết bị khoan dầu giảm đi giá trị Khi nào thì kế toán viên nhận thấy những điều không thể đoán trước được và những vấn đề

về đo lường giá trị đủ để ghi nhận những khoản kinh phí có lợi ích trong nhiều gia đoạn là phí tổn? Khi nào thì những khoản chi phí như vậy có thể được vốn hóa?

Giá trị kinh tế của hầu hết các nguồn lực đều dựa trên ước tính của lợi ích kinh tế tương lai không chắc chắn Chẳng hạn như, giá trị của khoản phải thu là khoản ròng sau khi trừ đi các khoản không thu hồi được, tài sản sở hữu và tài sản thuê có giá trị còn lại trong tương lai, và kinh phí tiếp thị và R&D tạo ra giá trị cho thương hiệu Bên dưới chúng tôi thảo luận báo cáo cho ba loại kinh phí trên để biết kế toán viên xem xét sự không chắc chắn trong ghi nhận tài sản như thế nào: tín nhiệm, nhãn hiệu, và tài sản thuế hoãn lại

Ví dụ 1: Lợi thế thương mại

Vào ngày 9/2/1996, Công ty Walt Disney mua lại công ty Capital Cities / ABC với 10.1 tỉ USD tiền mặt và 155 triệu cổ phần của Disney trị giá 8.8 tỷ USD dựa trên giá cổ phiếu tại ngày giao dịch được công bố Cap Cities sở hữu và điều hành mạng Truyền hình ABC, 8 đài truyền hình, mạng rađiô ABC và 21 đài phát thanh, và 80 phần trăm công ty ESPN, và nó cung cấp chương trình cho truyền hình cáp Công ty này cũng phát hành nhật báo và tuần báo, hướng dẫn mua sắm, rất nhiều tạp chí chuyên sâu và tạp chí kinh doanh xuất bản định kỳ, và sách kế toán Phần lớn tài sản này là tài sản vô hình Vào năm 1994, ngay trước khi bị mua lại, Cap Cities ước tính khoảng 85% tổng thu nhập phát sóng (5.3 tỷ USD) và 70 % tổng thu nhập xuất bản (1.1 tỷ USD) đến từ hoạt động cung cấp quảng cáo, chứ không phải là bất cứ sản phẩm hữu hình hoặc dịch vụ nào khác

Disney ước tính trị giá thực tế của tài sản hữu hình của ABC là 4.0 tỷ USD (1.5 tỷ USD dưới dạng tiền mặt) và các khoản nợ của nó là 4.3 tỷ USD Việc mua lại được ghi nhận trên sổ sách kế toán của Disney như thế nào? Sự khác biệt giữa 18.9 tỷ USD giá mua và 0.3 tỷ USD các khoản nợ thuần có nên được ghi nhận như tài sản vô hình trên sổ sách kế toán của Disney? Nếu vậy, lợi ích Disney mong nhận được từ hoạt động mua lại này là gì? Còn bằng không thì, sự khác biệt 19.2 tỷ USD có nên ghi nhận bút toán xóa sổ?

Trang 10

Trước khi Disney đưa ra lời đề nghị, thị giá vốn sở hữu của ABC là gần 9 tỷ USD Điều này hàm ý Disney trả hơn 100 phần trăm trội thêm cho tài sản vô hình của ABC Đây là nơi vấn đề kế toán trở thành thủ thuật Nếu giá mua lại đầy đủ được ghi nhận để xem như một tài sản, kiểm toán viên và quản lý của Disney phải tin chắc là kinh phí này là có thể thu hồi Nhưng điều gì làm những tài sản vô hình của ABC đáng giá với Disney nhiều gấp đôi so với người sở hữu trước của công ty ABC? Hay Disney chỉ đơn giản trả lố cho Cap Cities /ABC, hàm ý rằng nó khó có thể khôi phục 19 tỷ USD bằng lợi thế thương mại?

Kế toán viên trong hầu hết quốc gia bây giờ yêu cầu công ty như Disney ghi nhận giá trị tài sản hữu hình mua được và các khoản nợ theo giá trị thực tế của chúng và để cho thấy 19 tỷ USD đầy

đủ của lợi thế thương mại từ hoạt động mua lại như một tài sản Lý lẽ cho cách thức này là đã có giao dịch theo giá thị trường giữa người mua và người bán Có suy đoán cho rằng việc thâu tóm của ban quản lý của Disney không làm giảm giá trị của cổ đông của chính công ty này, và họ có thông tin tốt nhất trên giá trị được tạo ra từ kế hoạch của họ cho công ty mới Suy đoán này là cơ

sở cho sự định giá lợi thế thương mại, trừ phi có những bằng chứng ngược lại Sau khi mua lại, Disney được yêu cầu theo kế toán Hoa Kỳ phải phân bổ giá trị lợi thế thương mại trong khoảng thời gian tối đa là bốn mươi năm (xem Chương 7)

Hai thách thức phát sinh từ hình thức này của kế toán Trước tiên, vì thật khó có thể đánh giá liệu việc sáp nhập có đạt được lợi ích mong đợi, nên thật khó có thể ước tính liệu lợi thế thương mại có trở thành bất lợi Vấn đề này phức tạp là do động cơ của ban quản lý Nếu sáp nhập không diễn ra đúng như kế hoạch, ban quản lý khó có thể muốn thú nhận là đã phạm lỗi Hai là, sự hình thành thời kỳ để khấu hao dần lợi thế thương mại mang lại khó khăn cho những công ty mà có thương vụ sáp nhập thành công trong việc phân biệt chính mình với các công ty thực hiện những thương vụ trung lập Nếu cả hai đều sử dụng thời kỳ phân bổ trong 40-50 năm, thì công ty đã gia tăng giá trị cổ đông cũng sẽ báo cáo về hoạt động mua bán sáp nhập giống hệt với những công ty

mà không tạo thêm được giá trị

Ví dụ 2: Thương hiệu

Công ty Coca-Cola báo cáo giá trị sổ sách của vốn là 8.4 tỷ USD và giá trị thị trường là 165 tỷ USD Phần lớn sự khác biệt này là có thể quy cho trị giá thương hiệu của Coca-Cola Coca-Cola

Trang 11

thương hiệu nổi tiếng khác như Marlborough, Nescafe, Kodak, Microsoft, Budweiser, của Kellogg, Gillette, cửa hàng McDonald, Gucci, Mercedes, và Baccardi Sản phẩm có thương hiệu có thể tạo

ra giá trị cho chủ sở hữu của chúng: (a) cho phép công ty tiếp thị ít hơn đối thủ cạnh tranh, do nhận thức trong thị trường cao, (b) tạo tác động với nhà phân phối và nhà bán lẻ, vì khách hàng mong họ mang sản phẩm có thương hiệu đến với mình, và (c) khả năng đưa ra mức giá cao hơn đối thủ cạnh tranh, do khả năng nhận thức cao hơn của khách hàng về giá trị sản phẩm Không giống với bản quyền hay bằng phát minh, thương hiệu không có giới hạn về thời gian tồn tại là bao lâu Nếu thương hiệu được quản lý tốt, chúng có thể tài sản dài hạn

Như lưu ý trong chương 7, hoạt động quảng cáo, chiêu thị, quảng bá tạo nên thương hiệu là những chi phí đặc thù Yếu tố này được bỏ qua vì khó liên kết chi phí quảng cáo với tạo dựng thương hiệu Vì những khó khăn trong việc định giá thương hiệu khi khởi đầu, và khó khăn trong công tác đánh giá khi nào và bằng cách nào quảng cáo cải tiến giá trị thương hiệu và chỉ tác động lên doanh thu của thời điểm hiện tài, nên kế toán viên đã tránh thể hiện giá trị của thương hiệu như một tài sản Ở Hoa Kỳ, kể cả các thương hiệu đã được mua lại cũng không được ghi nhận độc lập

mà được đưa vào như một phần của tài sản vô hình

Tuy nhiên, tại Úc và Vương quốc Anh, các công ty được phép báo cáo tài sản thương hiệu trên

sổ sách của họ Động lực thúc đẩy sự chấp thuận này chính là hoạt động mua bán và sáp nhập Công ty sau khi hợp nhất đã đánh giá và tái định giá thương hiệu trên sổ sách của họ Chẳng hạn như, vào năm 1989, khi xem xét lợi ích gia tăng từ General Cinema – một thương hiệu đáng giá mà Cadbury Schweppes đã mua lại từ năm 1985 Tài sản này đã không được ghi nhận khấu hao nhưng được xem xét hàng năm cho bất kỳ sự giảm bớt nào trong giá trị Vào năm 1997 Cadbury báo cáo

về tài sản vô hình thương hiệu trên bảng cân đối kế toán của họ với giá trị là 1.575 tỷ bảng Anh, chiếm một phần ba tổng tài sản của công ty này

Thể hiện thương hiệu trên sổ sách như là tài sản cung cấp cho ban quản lý một cách truyền đạt giá trị của công ty đến nhà đầu tư Nó cũng báo hiệu nhà quản lý nhận ra tầm quan trọng của những tài sản này và cung cấp dấu hiệu về hoạt động quản lý thường niên có tốt hay không Thương hiệu nếu được quản lý tốt có thể giữ nguyên giá trị của nó, trong khi với những thương hiệu quản lý kém sẽ phải được ghi nhận giá trị giảm đi Tuy nhiên, bao gồm thương hiệu trên bảng cân đối kế toán cũng gia tăng cơ hội cho những quyết định quản lý sai lầm Từ những khó khăn trong ước tính

Trang 12

giá trị thương hiệu, nhà đầu tư đang có thể lo lắng việc ban quản lý cường điệu giá trị của thương hiệu và không nhận ra sự sụt giảm giá trị theo thời gian Ban quản trị có thể giảm nhẹ mối quan tâm này bằng cách sử dụng các chuyên gia thẩm định độc lập để định giá thương hiệu và ý kiến kiểm toán viên chấp thuận với kết quả thẩm định đó Tuy nhiên, ngay cả khi đã có những giấy tờ xác minh này vẫn khó có thể hoàn toàn loại bỏ mối quan ngại của nhà đầu tư.

Với những công ty mà thương hiệu không được báo cáo như tài sản (hầu hết các công ty), thách thức cho nhà quản lý là làm thế nào để thuyết phục nhà đầu tư về giá trị của thương hiệu Chẳng hạn như, trong bản báo cáo tài chính năm 1998, Coca-Cola cung cấp dữ liệu tình hình hoạt động sau cho thương hiệu chính của nó ở Bắc Mỹ:

Nguồn: Báo cáo thường niên Coca-Cola năm 1998

Coca-Cola cũng phác thảo những chương trình khuyến mãi để hỗ trợ thương hiệu của công ty

Ở Bắc Mỹ, chương trình bày bao gồm tài trợ quảng cáo của NASCAR và phân phối 50 triệu thẻ chiết khấu sản phẩm Cola-Cola cho hơn 10,000 nhà bán lẻ trên khắp nước Mỹ Ngoài ra, công ty công bố kế hoạch mở rộng thương hiệu vào năm 1999 bằng việc thêm hương vị mới là

*Phần còn lại của ngành công nghiệp chỉ

Tiêu điểm thương hiệu

1998 so với 1997Đơn vị

Tăng trưởng doanh số bán hàng

Trang 13

POWERaDE (Arctic Shatter và Dark Downburst), và hương vị mới cho Fruitopia (Kiwiberry Ruckus), đồng thời tung ra sản phẩm Dasani – sản phẩm nước tinh khiết với nhiều khoáng chất Những chương trình tương tự cũng được đưa tại các thị trường khác của Coca-Cola Chẳng hạn, ở Argentina, chiến dịch tiếp thị mới đã được đề xướng để khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm Coca-Cola trong bữa ăn Ở châu Á công ty tập trung vào gia tăng số lượng tiêu thụ của các sản phẩm đã có mặt trên thị trường thông qua mở rộng sử dụng máy bán hàng tự động Ở Mehico hình ảnh quảng cáo sử dụng môn bóng rổ được dùng để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Sprite Thách thức cho nhà đầu tư và người dùng báo cáo tài chính chính là việc đánh giá liệu những sáng kiến tiếp thị này và ý định mở rộng thương hiệu có thể thành công và tạo ra giá trị cho Coca-Cola không.

Ví dụ 3: Tài sản hoản thuế

Luật thuế ở Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác cho phép các công ty có kết quả kinh doanh thua lỗ

có thể dời khoản thuế trong năm cho các kỳ kế toán sau cho đến khi công ty có lợi nhuận Việc chuyển lỗ này có tiềm năng cung cấp lợi ích kinh tế tương lai dưới dạng giảm bớt nghĩa vụ thuế Chẳng hạn vào năm 1998, Amazon.com - nhà bán lẻ sách, nhạc, và sản phẩm video trên Internet -

đã có khoản lỗ trong kinh doanh là 207 triệu USD, tương đương đến 73.1 triệu USD tiền tiết kiệm

từ việc đóng thuế trong tương lai kể từ lúc công ty khởi sự "Khoản thuế chuyển lỗ” cung cấp lợi ích kinh tế tiềm năng trong tương lai cho Amazon.com Tất nhiên, chuyển lỗ chỉ là thực sự mang lại lợi ích nếu Amazon.com thực sự kiếm được lợi nhuận tương lai Công ty cho biết chỉ có thể thực hiện chuyển lỗ cho đến năm 2011

Làm thế nào bản báo cáo tài chính ghi nhận lại việc chuyển lỗ kinh doanh của Amazon.com? Chúng có nên được báo cáo như tài sản trong bảng cân đối kế toán? Nếu vậy, giá trị của chúng có khả năng không bao giờ được sử dụng nếu công ty tiếp tục thua lỗ? Theo SFAS (Chuẩn mực kế toán về báo cáo tài chính) 109, các công ty ở Mỹ được yêu cầu phải ghi nhận tài sản thuế hoãn lại cho giá trị của việc chuyển lỗ kinh doanh, bằng ròng của dự phòng định giá cho phần tài sản khó có thể ghi nhận FASB (Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính) nói rõ rằng tài sản thuế hoãn lại với trên 50% khả năng có thể không thu được nên được đưa vào dự phòng định giá Biện pháp này giống với định giá tài khoản hoặc phiếu nợ phải thu Các khoản phải thu được thể hiện bằng tổng giá trị của chúng, trừ đi khoản dự phòng nợ khó đòi

Trang 14

Tài sản thuế hoãn lại cũng có thể xuất hiện nếu bản báo cáo thuế ghi nhận thu nhập trước báo cáo tài chính Chẳng hạn như, doanh thu trả trước thường được công nhận cho mục đích thuế thay

vì báo cáo tài chính Chi phí bảo hành được tích lũy cho mục đích báo cáo tài chính nhưng được ghi nhận khi xuất hiện nghĩa vụ phải gánh chịu cho mục đích thuế Do sự khác biệt tạm thời này giữa thu nhập báo cáo và thu nhập chịu thuế, thuế có thể được thanh toán trước khi ghi nhận thu nhập trong báo cáo tài chính Nguyên tắc phù hợp đòi hỏi phải phân bổ khi ghi nhận khoản trả trước này Chuẩn mực SFAS 109 quy định nguyên tắc ghi lại khoản trả trước này giống với trường hợp báo cáo chuyển lỗ kinh doanh Tài sản thuế bị hoãn lại được tạo ra và dự phòng đánh giá được thiết lập để ghi lại phần tài sản khó có thể được nhận ra

Báo cáo tài chính cho tài sản thuế hoãn lại cung cấp cho nhà quản lý cơ hội để thực hiện đánh giá ước tính dự phòng định giá Cơ sở cho ước tính này là dự báo của quản lý về việc công ty có thể kiếm được lợi nhuận tương lai hay không và, nếu có, liệu lợi nhuận đó có đủ để trang trải hoàn toàn khoản chuyển lỗ kinh doanh và thuế trả trước Nghiên cứu gần đây thấy rất ít bằng chứng cho việc nhà quản lý sử dụng cách nhìn này để quản lý thu nhập.2

Amazon.com cho biết họ có 12.8 triệu USD lợi ích từ khoản thuế hoãn lại thu được từ sự khác biệt tạm thời giữa phương pháp ghi nhận thu nhập trong báo cáo tài chính và báo cáo thuế Cùng với 73.1 triệu USD từ chuyển lỗ kinh doanh, tài sản thuế hoãn lại của công ty có tổng là 85.9 triệu USD Thách thức cho báo cáo tài chính là ước tính những phần nào của tài sản này là thật sự có thể được có thể ghi nhận được Công ty chưa bao giờ kiếm được lợi nhuận Từ năm 1996 hoạt động kinh doanh của công ty đã thực sự xuống dốc, họ thua lỗ 6.2 triệu USD vào năm 1996, 31.0 triệu USD vào năm 1997, và 124.5 triệu USD vào năm 1998

Ngoài ra, kể từ ngày 19/3/1999, nhà phân tích tài chính không liệu trước việc công ty báo cáo lợi nhuận trong cả năm 1999 lẫn 2000 Dự báo cho những năm này lần lượt khoản lỗ 400 triệu USD và 140 triệu USD Trên cơ sở này dường như Amazon.com sẽ không có thể tận dụng tài sản thuế hoãn lại của nó.3 Vì vậy, công ty báo cáo nó bao gồm giá trị đầy đủ của tài sản thuế bị hoãn lại vào dự phòng đánh giá, để lại giá trị ròng trên sổ sách bằng không

2.1.3 Thay đổi lợi ích kinh tế

Trang 15

Khó khăn cuối cùng trong việc ghi nhận tài sản là làm sao để phản ánh thay đổi giá trị của chúng qua thời gian Loại tài sản nào, nếu có thay đổi thì nên ghi nhận tăng lên hay giảm xuống để phù hợp với giá trị hợp lý của nó? Dưới đây chúng tôi thảo luận vấn đề này cho sự thay đổi giá trị của tài sản hoạt động, công cụ tài chính, và sự biến động của tỷ giá hối đoái

Ví dụ 1: Thay đổi giá trị của tài sản hoạt động.

Thay đổi giá trị tài sản hoạt động được phản ánh trong báo cáo tài chính bằng nhiều cách Chẳng hạn như, thay đổi giá trị khoản phải thu được phản ánh trong khoản dự phòng nợ khó đòi, thay đổi giá trị của danh mục vốn cho vay được phản ánh trong dự phòng tổn thất, sự điều chỉnh lại

về thời gian sử dụng hữu ích của tài sản và giá trị còn lại được phản ánh trong ước tính phân bổ khấu hao, và suy giảm giá trị hàng tồn kho và giá trị tài sản dài hạn được phản ánh trong điều chỉnh giảm

Chuẩn mực kế toán ở Hoa Kỳ không cho phép ghi nhận bất kỳ gia tăng nào trong giá trị tài sản hoạt động so với nguyên giá của chúng Tuy nhiên, khi lưu ý trong chương 7, SFAS 121 đòi hỏi những tài sản hoạt động có giá trị bị suy giảm phải được điều chỉnh bằng với giá trị thị trường của chúng, tức dưới giá vốn Biện pháp này phù hợp với nguyên tắc thận trọng Tất nhiên, thách thức trong việc áp dụng chuẩn mực này là thường khó mà đánh giá liệu tài sản có bị sụt giảm giá trị, và nếu có, lượng mất mát là bao nhiêu Kết quả, nhà quản lý dường như phải thận trọng suy xét để quyết định rằng giá trị tài sản có bi sụt giảm và phải ghi nhận sụt giảm là bao nhiêu Câu hỏi đặt ra

là liệu công ty có trì hoãn ghi lại sự sụt giảm giá trị tài sản hay đánh giá thấp ảnh hưởng của sự sụt giảm này Mặt khác, một vài người cũng đặt ra câu hỏi rằng nhà quản lý có sử dụng giá trị bị sụt giảm để khấu hao tài sản một cách thái qua nhằm cải thiện hình ảnh báo cáo trong tương lai

Ở một số những vùng khác trên thế giới, quản lý được phép định giá tài sản bằng giá trị hợp lý của chúng Chẳng hạn, theo tiêu chuẩn của Úc và Vương quốc Anh, cho phép nhà quản lý tái định giá tài sản cố định và tài sản vô hình nếu chúng đã tăng giá Do đó, trong bản báo cáo tài chính năm 1998, tập đoàn News, một công ty thông tin và truyền thông Úc dưới sự điều hành của Rupert Murdoch, cho biết các tài sản vô hình của công ty gồm Quyền xuất bản, các Chủ đề và Giấy phép truyền hình đã được nâng giá cho phù hợp với giá trị hợp lý của chúng Giá trị hợp lý đã được ước lượng bằng "chiết khấu thuần của luồng tiền mặt mong muốn thu vào phát sinh từ việc tiếp tục sử

Trang 16

News) Kết quả là, công ty cho thấy các tài sản vô hình trị giá 7,283 triệu AUD (đôla Úc) của mình

có giá trị hợp lý là 12,030 triệu AUD

Do cho phép các công ty tái định giá tài sản, các chuẩn mực của Vương quốc Anh và Úc cho phép nhà quản lý truyền đạt ước tính của họ về giá trị những tài sản quan trọng đến với nhà đầu tư Tuy nhiên, chúng cũng mang lại cơ hội gia tăng việc phóng đại giá trị tài sản.4

Ví dụ 2: Thay đổi giá trị công cụ tài chính

Nhiều tài sản tài chính được trao đổi trên một thị trường vốn có tính thanh khoản cao, cho phép đạt được một giá trị khách quan tương đối Đối với chứng khoán nợ, kể cả thị trường có thể không phải là quá trầm hay quá thanh khoản, mô hình định giá tài chính vẫn cho phép ước tính một cách đáng tin cậy giá trị tương đối của loại chứng khoán này Lý thuyết tài chính công nhận rằng các công ty (hoặc cá nhân) có thể thường mua hoặc bán công cụ tài chính trong thị trường tài chính với giá thị trường hiện tại, với điều kiện là không có bất cân xứng thông tin Kết quả là vì giá trị hợp lý

có thể bị định giá thấp, có thể độc lập kiểm tra, và có liên quan hơn với người dùng báo cáo tài chính hơn là nguyên giá, nên đây là lý lẽ tốt có thể đưa ra để tiến hành ghi tăng hay giảm giá trị tài sản theo giá thị trường

Tất nhiên, nếu người sở hữu của công cụ tài chính thực hiện kiểm soát công ty, người sở hữu khó có thể giao dịch với giá thị trường Nỗ lực bán công cụ tài chính của những người này sẽ khiến các nhà đầu tư khác nghĩ rằng đây là dịp tốt để bán, dẫn đến giảm giá Điều này đưa đến nhận định rằng ghi nhận giá trị những tài sản này theo thị trường là ít phù hợp

Hình 4-2 tóm tắt những ảnh hưởng định giá của kế toán lên thay đổi giá trị của công cụ tài chính Nó cho thấy rằng ảnh hưởng của các báo cáo lệ thuộc chủ yếu vào động cơ của người sở hữu

Chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ không cho phép công cụ tài chính được ghi lại với giá trị hợp lý của chúng nếu chúng được sở hữu với mục đích kiểm soát Thay vào đó, đầu tư được ghi nhận sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu hoặc một phương pháp kết hợp Phương pháp vốn chủ sở hữu được

sử dụng khi công ty sở hữu 20-50% cổ phiếu của công ty khác và được coi là có quyền kiểm soát từng phần nhưng chưa phải là toàn bộ công ty kia (gọi là công ty liên doanh) Đầu tư sau đó được định giá bằng chi phí ban đầu của nó cộng với lợi nhuận chia sẻ của người sở hữu có được từ tích

Trang 17

luỹ trong thay đổi lợi nhuận giữ lại của công ty liên doanh kể từ lúc việc đầu tư có hiệu lực Với khoản đầu tư vượt quá 50%, người sở hữu được coi là có đầy đủ quyền kiểm soát công ty con Bên đầu tư sau đó kết hợp tài sản của chi nhánh với tài sản của riêng mình Hai phương pháp hợp nhất được sử dụng Nếu chi nhánh được mua bằng giao dịch tiền mặt, kế toán mua hàng được sử dụng Tài sản của chi nhánh sau đó có trong bảng cân đối kế toán của người sở hữu tại giá trị hợp lý của

họ tại thời điểm mua lại và sau đó phân bổ dần Bất kỳ sự khác biệt nào giữa giá mua và giá trị hợp

lý của tài sản hữu hình thuần đều được ghi nhận là lợi thế thương mại và phân bổ trong thời hạn sử dụng hữu ích của nó trong khoảng thời gian tối đa là bốn mươi năm Nếu chi nhánh được mua bán bằng cổ phiếu, phương pháp cộng vốn được dùng để ghi lại nghiệp vụ mua lại Tài sản của chi nhánh sau đó có trong bảng cân đối kế toán của người sở hữu với giá trị trên sổ sách ban đầu của

họ Không có lợi thế thương mai trong trường hợp này

Nếu người sở hữu của công cụ tài chính không thực hiện kiểm soát công ty kia, kế toán viên có khuynh hướng sẽ định giá công cụ tài chính theo giá trị thị trường hợp lý Chẳng hạn như, nếu mục đích quyền sở hữu là để phòng ngừa thay đổi giá trị hợp lý của tài sản hoặc để phòng ngừa biến động trong luồng tiền mặt thu vào hay sự chảy ra trong tương lai, công cụ tài chính sẽ được báo cáo theo giá trị hợp lý Nếu công ty giữ công cụ tài chính như là cách để dự trữ tiền mặt và bao gồm dự định bán nó hoặc có sẵn nó để bán, công cụ tài chính sẽ được báo cáo theo giá trị hợp lý Chỉ khi nào quản lý mong rằng công cụ tài chính sẽ được nắm giữ cho đến kỳ đáo hạn thì nó được ghi nhận theo nguyên giá

2.1.4 Định giá các công cụ tài chính

Trang 18

Ví dụ: Thay đổi giá trị các chi nhánh nước ngoài.

Nhiều công ty có các chi nhánh nước ngoài, giá trị tài sản của họ phải chịu sự ảnh hưởng từ thay đổi bất thường của tỷ giá hối đoái Những biến động này được nhận ra như thế nào? Tài sản của các chi nhánh nước ngoài có được chuyển đổi sang đồng tiền địa phương ở tỉ lệ lịch sử khi tài sản đươc mua lại hay không? Nếu không thì, có phải chúng được chuyển đổi theo tỷ giá hiện hành? Chuẩn mực của Hoa Kỳ về báo cáo ảnh hưởng ngoại tệ lên giá trị tài sản yêu cầu nhà quản lý phải ra quyết định về nguy cơ tỷ giá hối đoái có từ dự án làm ăn nước ngoài mới vào thời điểm nó

Q: Điều gì là động lực cho quyền sở hữu

1 Có ý định bán hoặc có sẵn để bán

Phương pháp định giá: giá trị hợp lý

2 Ý định nắm giữ đến ngày đáo hạn

Phương pháp định giá: Giá gốc

A: Được sử dụng như là một phần của chiến lược để tự bảo hiểm giá trị hợp lý của tài sản hoặc nợ phải trả, hoặc tự phòng ngừa

sự không chắc chắn dòng tiền trong tương laiPhương pháp định giá: giá trị hợp lý

A: Sở hữu từ 20% đến

50% của công ty khác.

Phương pháp định giá:

phương pháp vốn chủ

sở hữu: Đầu tư sau đó

được định giá bằng chi

phí ban đầu của nó

cộng với lợi nhuận chia

sẻ của người sở hữu có

được từ tích luỹ trong

thay đổi lợi nhuận giữ

lại của công ty liên

doanh

A: sở hữu hơn 50% các công ty khác.

Định giá Các phương pháp:

Kế toán mua hàng: tài sản hữu hình được ghi nhận giá trị hợp lý lúc mua lại,

và sau đó được khấu hao

Lợi thế thương mại được ghi nhận tại sự khác biệt giữa giá mua và giá trị hợp

lý của tài sản ròng, và sau

đó phân bổ dần

Trang 19

được cam kết Chi nhánh nước ngoài là được xem là cách ly chủ yếu khỏi ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái nếu doanh thu, chi phí của nó, và nguồn tài chính chủ yếu là bằng đồng tiền địa phương chứ không phải là đồng tiền của công ty mẹ, và có rất ít giao dịch giữa công ty mẹ và chi nhánh Trong trường hợp này, tài sản có và nợ của chi nhánh cung cấp công cụ phòng ngựa tự nhiên chống lại phần lớn sự không ổn định tỷ giá hối đoái Chỉ có giá trị tài sản ròng là có thể phải chịu ảnh hưởng

từ biến động tỷ giá hối đoái Do đó, SFAS 52 yêu cầu tài sản của chi nhánh (và nợ) để được chuyển đổi theo tỉ giá hiện thời Công mẹ sẽ chỉ chịu chi phối bởi ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá trên tài sản ròng Những ảnh hưởng này được phản ánh trong vốn sở hữu của cổ theo đánh giá chuyển đổi.5

Rủi ro ngoại tệ cho các công ty kết hợp đang được xem là cao hơn nếu doanh thu hoặc chi phí của chi nhánh được ghi nhận theo đồng tiền của công ty mẹ hoặc nếu có giao dịch thường xuyên giữa hai bên SFAS 52 sau đó yêu cầu tài sản có và nợ của chi nhánh phải được đánh giá sử dụng phương pháp tiền tệ/phi tiền tệ Bằng các phương pháp này, tài sản có và tài sản nợ tiền tệ (như là tiền mặt, các khoản phải thu, khoản phải trả, và tài chính) được chuyển đổi theo tỉ giá hiện thời, trong khi tài sản có và tài sản nợ phi tiền tệ (như là hàng tồn kho, tài sản cố định, và những tài sản

vô hình) được định giá theo tỉ giá lịch sử (khi giao dịch xảy ra)

2.2 Những quan niệm sai lầm thường thấy về kế toán tài sản

2.2.1 Nguồn lực được công ty trả tiền phải là tài sản.

Lôgic này thường được dùng để chứng minh lợi thế thương mại là tài sản Nó tạo cho nhà quản

lý lợi ích trong việc ghi lại giá trị đầy đủ kinh phí hình thành là tài sản, giả định rằng nhà quản lý sẽ không tiêu tốn kinh phí này nếu mang lại triển vọng về một số lợi ích tương lai

Tuy nhiên, lôgic này lờ đi khả năng nhà quản lý đầy thiện chí vẫn có thể phạm lỗi hay một số nhà quản lý hành động không mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông Hoạt động mua bán và sáp nhập là đại diện của trường hợp này Bằng chứng gần đây cho thấy sáp nhập và thôn tính thường không tạo ra giá trị cho cổ đông Giá trị của lợi thế thương mại ghi lại cho giao dịch này rất có thể không phải là tài sản, mà chỉ đơn giản phản ánh sự chi trả quá lố của nhà quản lý cho mục tiêu hay đánh giá quá cao của lợi ích liên doanh liên kết Thực ra, thu nhập cổ phiếu sụt giảm cho nhiều nhà thâu tóm khi có thông báo về việc mua lại cho thấy nhà đầu tư nghi ngờ lợi ích có được từ hoạt

Trang 20

động liên doanh liên kết này Tuy nhiên, kế toán viên không phản ánh hoài nghi này trong giá trị lợi thế thương mại cho đến khi có bằng chứng nó suy giảm

Cũng đáng lưu ý là logic mà đề cập thanh toán là bằng chứng của việc ghi nhận tài sản không luôn luôn được dùng trong kế toán Chẳng hạn như, kinh phí cho nghiên cứu và phát triển không được xem là tài sản, mặc dù nhà quản lý cũng làm kinh phí cho R&D với mong muốn tạo ra lợi ích tương lai Một vài lời giải thích cho mâu thuẫn này cũng được đề xuất Một là có nguy cơ thất bại cao cho bất cứ dự án nghiên cứu đơn độc nào Tuy nhiên, một chương trình nghiên cứu có vẻ tạo ra thành công Thực ra, nó không rõ ràng là trường hợp nào mạo hiểm hơn-một chương trình nghiên cứu hay một chương trình tiếp quản Biện minh thứ hai cho phương pháp ghi nhận khác nhau là R&D khó để kiểm tra hơn lợi thế thương mại Tuy nhiên, điều này không phải là rõ ràng Tóm lại, với nhiều thương vụ mua lại thì không thể xác định rõ ràng được lợi ích nào thu được từ hoạt động này, làm cho nó trở nên khó khăn để kiểm tra liệu lợi thế thương mai có bị sụt giảm Ngược lại, chương trình nghiên cứu có đầu ra có thể nhận biết được để kiểm tra liệu rằng chi phí được sử dụng có tạo ra sản phẩm thành công không

2.2.2 Nguồn lực không thể loại trừ thì không thể là tài sản

Quan điểm này thường dùng để chứng minh sự ghi giảm nhanh giá trị hoặc sự loại trừ của tài sản vô hình khỏi bảng cân đối kế toán Chắc chắn là có thể sẽ khó ước tính lợi ích kinh tế từ một số tài sản vô hình Như nêu trên, điều này là đặc biệt đúng với lợi thế thương mại Tuy nhiên, bản chất

vô hình của một số tài sản không có nghĩa là chúng không có giá trị Thực ra, đối với nhiều công ty thì dạng tài sản này chiếm trị giá lớn nhất Chẳng hạn như, hai tài sản quý giá nhất của công ty Merck là khả năng nghiên cứu mà cho phép nó tạo ra loại thuốc mới, và đội ngũ nhân viên bán hàng giúp công ty bán các loại thuốc này cho bác sĩ Tuy nhiên chúng chưa bao giờ được ghi lại trên bảng cân đối kế toán của Merck

Từ quan điểm của nhà đầu tư, sự miễn cưỡng của kế toán viên khi định giá tài sản vô hình không làm giảm tầm quan trọng của chúng Nếu chúng không được ghi nhận trong báo cáo tài chính, nhà đầu tư phải nhìn vào những nguồn thông tin khác về các tài sản này

2.2.3 Nguồn lực được mua là tài sản, phát triển một nguồn lực thì không phải là tài sản

Trang 21

Lời tuyên bố này thường xuyên dùng để chứng minh việc ghi nhận các tài sản vô hình có được

từ hoạt động mua lại, như là R&D và thương hiệu, nhưng không ghi nhận tài sản cho chi phí của những tài sản vô hình phát sinh nội bộ Lôgic cho phân biệt này là những tài sản vô hình đã hoàn thiện, như là chương trình R&D đã hoàn tất và thương hiệu đã được xây dựng, có thể được định giá nhanh chóng hơn so với các tài sản vô hình đang phát triển Khi lập luận này có thể là đúng, nó cho phép hai công ty sở hữu cùng loại tài sản vô hình để có phương pháp kế toán rất khác nhau cho hoạt động của họ Công ty tạo ra những tài sản này trong nội bộ không ghi nhận bất kỳ giá trị nào cho tài sản, trong khi công ty mua lại các tài sản này sẽ phản ánh chúng trên bảng cân đối kế toán Câu hỏi thực sự cho nhà đầu tư trong phân biệt mua và phát triển tài sản nội bộ là liệu có sự khác biệt nào trong lợi ích chắc chắn và mong đợi trong tương lại của hai tài sản Nếu không có sự khác biệt, nhà đầu tư sẽ xem cả hai như tài sản có giá trị và quan tâm đến định giá giá trị của chúng, làm cách nào chúng được quản lý, và liệu chúng có sụt giảm giá trị theo thời gian Vì vậy, nếu kế toán viên không chọn ghi nhận tài sản phát sinh nội bộ, nhà đầu tư sẽ buộc phải tìm nguồn thông tin khác cho những tài sản này

2.2.4 Giá trị thị trường có liên quan nếu tài sản dự định được bán.

Quan điểm này rất phổ biến, kế toán viên thường chỉ xét đến giá trị hợp lý tài sản khi người sở hữu dự định bán chúng Chẳng hạn như, khi thảo luận trên, chuẩn mực của Hoa Kỳ, về định giá những chứng khoán dễ giao dịch mà được nắm giữ nhưng một cách dự trữ tiền, yêu cầu người sở hữu phải ghi nhận giá trị tài sản này theo giá trị hợp lý của chúng chỉ khi họ dự định bán chúng hoặc các công cụ này sẵn sàng để bán Nếu nhà quản lý dự định nắm giữ những công cụ này cho đến kỳ đáo hạn, chúng được định giá theo nguyên giá

Lôgic này ngụ ý rằng có thể tránh gánh chịu thiệt hại kinh tế bằng cách chỉ cần không bán tài sản Nhà kinh tế học sẽ coi những quan điểm thế này là lố bịch Nếu bạn sở hữu cổ phiếu trong Microsoft và giá trị hợp lý của nó gia tăng, theo đó vốn sở hữu của bạn cũng gia tăng phù hợp Điều này hiển nhiên bất kể dù bạn có dự định bán cổ phiếu Microsoft hay không Giá trị hợp lý của cổ phiếu phản ánh ước tính tốt nhất của thị trường về nguồn lực sẽ sẵn sàng nếu bạn bán tài sản Kế hoạch của bạn về việc bán hoặc giữ tài sản thì không liên quan cho giá trị của nó Lưu ý rằng điều này có thể không phải là đúng cho tài sản hoạt động Giá trị hợp lý của một thiết bị có

Trang 22

thể ít hơn giá trị sử dụng của nó Hơn nữa, tài sản với giá trị sử dụng cao chính xác là loại tài sản

mà công ty có thể nắm giữ Do đó, giá trị hợp lý của tài sản hoạt động có thể tách rời có thể không phải phản ánh đầy đủ trong giá trị của chúng với công ty

2.3 Phân tích cơ cấu vốn

2.3.1 Phân tích cơ cấu bảng cân đối

Bảng cân đối kế toán của một công ty phản ánh bức tranh về tất cả các nguồn ngân quỹ nội bộ (được gọi là nợ và vốn của chủ sở hữu) và việc sử dụng nguồn ngân quỹ đó tại một thời điểm nhất định Phương trình cơ bản xác định bảng cân đối kế toán được trình bày như sau:

Tổng tài sản = tổng nợ + vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần)

Phân tích cơ cấu tài sản:

Các khoản mục trong phần tài sản của bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần Chúng bao gồm: tiền mặt, các chứng khoán thị trường, các khoản phải thu, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm Những tài sản này gọi là tài sản lưu động Tài sản còn lại trong bảng cân đối kế toán gồm các tài sản dài hạn, thường ít có tính thanh khoản như văn phòng, nhà kho, thiết bị

Bảng cân đối kế toán không bao gồm hết tất cả tài sản của công ty Một vài tài sản có giá trị nhất lại là tài sản vô hình như bản quyền, danh tiếng, kỹ năng quản lý và lực lượng lao động lành nghề thường không được phản ánh trong bảng cân đối kế toán Các kế toán viên thường cân nhắc khi ghi tài sản này vào bảng cân đối kế toán trừ khi chúng được xác định và đánh giá

Tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài san và xu hướng biến động

Lập Bảng phân tích cơ cấu tài sản So sánh số đầu kỳ và cuối kỳ Từ Bảng phân tích cho thấy điều gì?

Phân tích cơ cấu nguồn vốn:

Phần bên phải của bảng cân đối kế toán cho thấy nguồn tiền nào dùng để mua tài sản Trước tiên đó là những khoản nơ gồm nợ phải trả trong năm gọi là nợ ngắn hạn Chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn gọi là vốn luân chuyển ròng Tiếp theo là các khoản nợ dài hạn của công

Trang 23

ty do phát hành trái phiếu hay vay trực tiếp ở ngân hàng Phần còn lại là vốn cổ phần Vốn cổ phần của công ty đơn giản chỉ là tổng giá trị của vốn luân chuyển ròng và tài sản cố định trừ cho

nợ dài hạn Một phần của vốn cổ phần có được là do bán cổ phần cho các nhà đầu tư, phần còn lại

là từ lợi nhuận giữ lại của các cổ đông để tái đầu tư vào công ty

Lập Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn So sánh số đầu kỳ và cuối kỳ Từ Bảng phân tích cho thấy điều gì?

Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

o Hệ số nợ so với tài sản: Phản ánh mức tài trọ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ

o Hệ số nợ so với tài sản = Nợ phải trả / Tài sản

o Hệ số tài sản so với nguồn vốn chủ sở hữu = Tài sản / VCSH

2.3.2 Phân tích cơ cấu báo cáo kết quả kinh doanh.

• Nếu bảng cân đối kế toán cho thấy bức ranh về tài sản công ty tại một thời điểm cụ thể thì báo cáo thu nhập lại giống như một cuộn băng video, nó chiếu lại trong năm vừa qua công

ty đã thu lợi như thế nào

• Báo cáo kết quả kinh doanh của DN độc lập ở nhiều cấp độ khách nhau cũng như nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy cơ cấu của chúng thường được coi là bí mật kinh doanh Thường phân tích báo cáo kết quả kinh doanh ở mức độ tổng quát toàn doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định

• Cách lập bảng cơ cấu: Doanh thu ròng: 100%, tính tỷ lệ phần trăm cho các chỉ tiêu cụ thể

Trang 24

2.4 Phân tích các tỷ số tài chính

2.4.1 Tỷ số thanh toán : đo lường khả năng thanh toán của công ty

Khả năng thanh toán hiện thời:

Khả năng thanh toán nhanh

Rq = (TSLD – Hàng tồn kho)/ Nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng được gọi là “Tài sản có tính thanh khoản’ bao gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho

2.4.2 Tỷ số hoạt động : đo lường mức độ hoạt động lien quan đế tài sản của công ty

Các tỷ số hoạt động đo lường hoạt động kinh doanh của một công ty Để nâng ca tỷ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản chưa dung hoặc không dung tạo ra thu nhập Vì thế công ty cần phải biết cách sử dụng chúng có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi Tỷ số hoạt động đôi khi còn gọi là tỷ số hiệu quả hoặc tỷ số luân chuyển

Số vòng quay các khoản phải thu: (Hiệu suất sử dụng khoản phải thu)

Trang 25

Các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu tiền về do công ty thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản trả trước cho người bán.

Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc thanh toán các khoản phải thu Khi khách hàng thanh toán tất cả các hóa đơn của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng

Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần/ Các khoản phải thu

Số vòng quay các khoản phải thu cao hay thấp phụ thuộc vào cách chính sách bán chịu của công

ty Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều Nhưng số vòng quay của các khoản phải thu cao quá sẽ làm giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu

Số vòng quay hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào

Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm ngành kinh doanh

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Tỷ số này nói lên 1$ tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu $ doanh thu Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở công ty

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần / Tài sản cố định

Hiệu suất sử dung toàn bộ tài sản

Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường 1$ tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu $ doanh thu

Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản = Doanh thu thuần / Toàn bộ tài sản

Hiệu suất sủa dụng vốn cổ phần

Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần đo lường mối quan hệ giữa doanh thu và vốn cổ phần

Hiệu suất sủa dụng vốn cổ phần = Doanh thu thuần / Vốn cổ phần

Trang 26

Để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên (qua đó thấy được rủi

ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu), người ta dung tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần.

Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần = Nợ dài hạn/ Vốn cổ phần.

Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần:

Được sử dụng để tính toánh mức độ đi vay (rủi ro về tài chính) mà công ty đang gánh chịu.

Tổng tài sản trên vốn cổ phần = Toàn bộ tài sản / Vốn cổ phần

Khả năng thanh toán lãi vay

Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định và chúng ta muốn biết công ty sẵn sang trả lãi đến mức nào Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại khoản lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay hay không Tỷ số này dung để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay hàng năm như thế nào Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có tể đi đến kiện tụng và tuyên bố phá sản.Khả năng thanh toán lãi vay = Lãi trước thuế và lãi vay / Lãi vay

Trang 27

2.4.4 Tỷ số sinh lợi

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu:

Chỉ tiêu này nói lên 1$ doanh thu tạo ra được bao nhiêu $ lợi nhuận.

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu = Lợi nhuận ròng / Doanh thu thuần

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản(ROA): chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên 1$

vốn đầu tư vào công ty

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản = Lợi nhuận ròng / Toàn bộ tài sản

ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau

Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn

Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu USD, tổng tài sản là 5 triệu USD, khi đó ROA là 20% Tuy nhiên nếu công ty B cũng có khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là

10 triệu USD, ROA của B sẽ là 10% Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu

tư thành lợi nhuận

Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà chi cho các hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE):

Trang 28

Đây là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của 1 $ vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty.

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần = Lợi nhuận ròng / Vốn cổ phần

Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào

Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn

Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau:+ ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng

+ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết

Sự khác nhau giữa tỷ suất sinhlợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là do công ty có sử dụng vốn vay Nếu công ty không có vốn vay thì hai tỷ số này sẽ bằng nhau

2.4.5 Tỷ số giá trị thị trường

Thu nhập mỗi cổ phần : thu nhập mỗi cổ phần là một yếu tố quan trọng nhất, quyết định

giá trị của cổ phần bở vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần

Thu nhập mỗi cổ phần = Thu nhập ròng của cổ đông thường / Số lượng cổ phần thường

Tỷ lệ chi trả cổ tức

Trang 29

Tỷ lệ chi trả cổ tức = Cổ tức mỗi cổ phần / Thu nhập mỗi cổ phần

Cổ tức mỗi cổ phần = Tổng cổ tức/ Số lượng cổ phần thường

Chỉ tiêu tỷ lệ chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đông hay giữ lại để tái đầu tư Đây là một nhân tố quyết định đến giá trị thị trường của cổ phần.

Tỷ số giá thị trường trên thu nhâp

Tỷ số giá thị trường trên thu nhập = Gía thị trường mỗi cổ phần / thu nhập mỗi cổ phần.

Đây là một chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện giá cổ phần đắt hay rẻ

so với thu nhập

Tỷ suất cổ tức

Tỷ suất cổ tức = Cổ tức mỗi cổ phần/ giá trị thị trường mỗi cổ phần

Như ta đã biết, thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần: cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phần Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đó chưa hẳn là xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư Họ mong đợi một tăng trưởng nhanh trong cổ tức và hưởng được sự chên lệch lớn của giá cổ phần.

3 Kết luận

Việc ghi nhận tài sản chủ yếu được quyết định bởi Nguyên tắc giá gốc và Nguyên tắc thận trọng Theo nguyên tắc giá gốc, nguồn lực thuộc sở hữu của công ty có thể tạo ra lợi ích tương lai nào đó hợp lý được định bởi nguyên giá Tuy nhiên, nếu chi phí của tài sản vượt quá giá trị hợp lý của nó, thì nguyên tắc thận trọng được ghi nhận giảm xuống phù hợp với giá trị hợp lý

Việc thực hiện nguyên tắc giá gốc và nguyên tắc thận trọng gặp nhiều khó khăn nếu:

1 Không biết chắc chắn về chủ sở hữu các nguồn lực đó, như trong trường hợp của giao dịch hợp đồng thuê tài sản và kinh phí đào tạo

2 Lợi ích tương lai liên quan đến nguồn lực là rất không chắc chắn, hoặc khó đo lường như đối với lợi thế thương mại, R&D, thương hiệu và tài sản thuế bị hoãn lại

Trang 30

3 Giá trị nguồn lực đã thay đổi, như trường hợp sụt giảm giá trị tài sản hoạt động thay đổi giá trị hợp lý của công ty tài chính, và thay đổi tỷ giá cho giá trị các chi nhánh nước ngoài.Thông tin tốt nhất về rủi ro quyền sở hữu và lợi ích tương lai liên quan đến nguồn lực của công

ty có thể có từ nhà quản lý, họ được giao trách nhiệm chính để quyết định khoản chi phí được ghi nhận là tài sản và khoản nào thì không, đánh giá liệu tài sản có bị sụt giảm giá trị

Với cương vị là chủ sở hữu khoản đầu tư, để thuận lợi cho việc báo cáo thì nhà quản lý yêu cầu

kế toán hạn chế ghi nhận một số tài sản kinh tế quan trọng như R&D, thương hiệu, nguồn nhân lực, đây là cơ hội cho các nhà phân tích đánh giá một cách độc lập nguồn lực của công ty đang được quản lý như thế nào

Trang 31

PHẦN 2: PHÂN TÍCH CHI PHÍ

1 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

1.1 Khái niệm chi phí

Chi phí là một trong những khái niệm cơ bản nhất kinh tế học, là các hao phí về nguồn lực để

doanh nghiệp đạt được một hoặc những mục tiêu cụ thể Nói một cách khác, hay theo phân loại của

kế toán tài chính thì đó là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, kinh doanh v.v nhằm mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh

Chi phí là nguồn lực kinh tế phải được trừ ra hay sụt giảm trong giá trị Các công ty chấp nhận

gánh các khoản chi phí để tạo ra hay sản xuất sản phẩm hay dịch vụ mà công ty kinh doanh Thêm vào đó, các khoản chi phí được công ty chấp nhận cho hoạt động marketing (bao gồm chi phí quảng cáo, lương cho nhân viên kinh doanh, và lương cho ban quản trị marketing), cho hoạt động quản trị công ty (lương cho nhân viên ở trụ sở chính và khấu hao cho trụ sở chính), cho các khoản chi phí của các khoản nợ tài chính, cho thuế, và cho các khoản giảm trừ có thể nhận ra hay không nhận ra trong giá trị tài sản

Trang 32

I.2 Các tiêu chuẩn ghi nhận chi phí và những khó khăn trong việc ghi nhận chi phí

Sơ đồ các tiêu chuẩn ghi nhận chi phí và phần bổ sung các trở ngại trong ghi nhận:

Kế toán dồn tích dựa vào yếu tố cơ bản là hợp lý và thận trọng để tính chi phí các nguồn lực

đã sử dụng Như trong bảng trên, các nhân tố phân chi phí ra thành 3 loại Đầu tiên, yếu tố hợp

lý xem chi phí như một khoản tiêu tốn các nguồn lực có mối quan hệ nhân quả với doanh thu

Nhóm này bao gồm chi phí cho các loại nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm hoặc chi

phí để mua hàng của các nhà bán lẻ Vì vậy, yếu tố hợp lý giúp cho người xem BCTC dễ dàng

Ghi nhận một chi phí

Các khó khăn cần giải quyết :

1 Nguồn lực tạo ra lợi ích trong nhiều kỳ

2 Nguồn lực được tiêu dùng nhưng thời gian và tổng số chi trả không xác định

3 Giá trị của nguồn lực được tiêu thụ khó xác định

4 Các nguồn lực chưa sử dụng bị sụt giảm giá trị

3.Giá trị nguồn lực đã thay đổi

Tiêu chuẩn đầu tiên

Nguồn lực sử dụng phải

có quan hệ nhân quả với

doanh thu ghi nhận trong

kỳ

Tiêu chuẩn thứ hai

nguồn lực không có quan hệ nhân quả với doanh thu nhưng được sử dụng trong kỳ

Tiêu chuẩn thứ ba

có sự sụt giảm lợi ích mong đợi thu được trong tương lai từ nguồn lực

Trang 33

lực có quan hệ nhân quả không rõ ràng với doanh thu sẽ được ghi nhận là khoản chi phí trong suốt thời kì chúng được sử dụng Ví dụ như chi phí quản lí tổng thể và chi phí marketing Cuối cùng, theo yếu tố thận trọng, kế toán yêu cầu ghi nhận chi phí khi có sự sụt giảm lợi ích trong tương lai với độ tin cậy hợp lý Ghi nhận các tài sản hư hỏng là một trong các chi phí loại này.

I.3 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích chi phí nhằm tập trung vào đánh giá khi các khoản chi phí xuất hiện trong báo cáo tài chính (BCTC) Các khoản chi phí này có được ghi nhận khi các nguồn lực được sử dụng không? Các khoản chi phí có được ghi nhận khi công ty chi trả cho việc sử dụng các nguồn lực không ? Hoặc chúng có được báo cáo khi doanh thu phát sinh do sử dụng các nguồn lực đã được ghi nhận ?Việc ghi nhận chi phí phát sinh gặp nhiều khó khăn, như khó khăn trong ghi nhận chi phí phát sinh khi các nguồn lực tạo ra lợi nhuận trong nhiều kỳ, khi các nguồn lực được trừ ra nhưng không

có sự chắc chắn về thời gian và tổng giá trị, khi giá trị của nguồn lực được trừ ra rất khó xác định,

và khi nguồn lực đó bị sụt giảm giá trị Chính vì vậy các khó khăn này làm cho phân tích tài chính

về chi phí càng trở nên cần thiết và quan trọng

I.4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào việc liệt kê những khó khăn trong việc ghi nhận và phân tích chi phí, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu từng khoản mục chi phí với những phương án khắc phục mang tính chất tham khảo Đồng thời chúng tôi cũng đưa ra những ví dụ cụ thể ở các công ty lớn trên thế giới nhằm minh họa cho những luận điểm mang tính lý thuyết đã được trình bày Với phương pháp liệt kê, phân tích và quy nạp, chúng tôi hy vọng bài nghiên cứu này sẽ giúp ích cho những người phân tích tài chính có được cái nhìn khách quan và chính xác hơn để đánh giá về các khoản chi phí đã được ghi nhận của công ty, từ đó đánh giá doanh thu của công ty một cách chính xác hơn, vì hầu hết các chi phí đều có mối quan hệ nhất định và có thể đo lường được với doanh thu Điều này là do doanh thu là thước đo chủ yếu của hoạt động kinh doanh của một công ty

2 Nội dung nghiên cứu

Trang 34

Trong bài nghiên cứu này chúng tôi đi vào phân tích các khó khăn chủ yếu trong ghi nhận chi phí và sử dụng những ví dụ cụ thể nhằm minh họa các luận điểm đó

2.1 Nhóm chi phí của các nguồn lực tạo ra lợi ích trong nhiều thời kỳ

Có rất nhiều nguồn lực tạo ra lợi ích trong nhiều năm Chúng bao gồm các chi tiêu cho nhà xưởng, trang thiết bị, nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, và khoan dầu, khí đốt Khó khăn trong ghi nhận các loại chi phí này là phân định các khoản chi ra nhiều kì như thế nào? Có nên phân bổ đều ra cho các kỳ trong suốt đời sống hữu ích của chúng? Hay ghi nhận một cách bảo thủ vào kỳ

mà chúng phát sinh? Yếu tố hợp lí tranh luận rằng nên trải chi phí ra suốt đời sống hữu ích nếu chúng có quan hệ nhân quả với doanh thu tương lai một cách rõ ràng với mức tin cậy hợp lý Ngược lại, nếu chúng có quan hệ nhân quả không rõ ràng hay không chắc chắn thì sẽ ghi nhận là chi phí trong kỳ mà nó phát sinh

Để minh họa cho việc trình bày nguồn lực tạo ra lợi ích nhiều kỳ, chúng tôi thảo luận cách ghi nhận chi phí khấu hao tài sản cố định, các khoản chi nghiên cứu và phát triển, các khoản chi quảng cáo

2.1.1 Khấu hao tài sản cố định

Tài sản cố định bao gồm nhà máy, các tòa nhà, thiết bị sản xuất, thiết bị máy tính, xe cộ và đồ dùng nội thất, tất cả những dụng cụ có đời sống nhiều năm Các tài sản này có thể trực tiếp hay gián tiếp tạo ra doanh thu tương lai Vì vậy, mối quan hệ nhân quả giữa các khoản chi tiền mặt cho các tài sản này và doanh thu có mức tin cậy hợp lý

Có một chút khó khăn trong đánh giá một cách hợp lý giữa các tài sản này và doanh thu tương lai Các qui định kế toán yêu cầu nhà quản trị phải ước đoán số năm hữu dụng của tài sản và giá trị thanh lý mong đợi sau khi kết thúc đời sống hữu dụng Các ước tính này sau đó được sử dụng để phân bổ chi phí tài sản cố định suốt thời gian hữu ích của tài sản một cách có hệ thống

Đời sống hữu dụng của tài sản phụ thuộc vào rủi ro lỗi thời của công nghệ và tính chất vật lý của nó Ước lượng của ban quản trị về tác động của những rủi ro này chính vì thế mà phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của công ty và kinh nghiệm trước đó trong hoạt động, quản lý, và hoạt động bán lại các tài sản tương tự Ví dụ, trong năm 1998 hãng hàng không Delta khấu hao các máy bay mới trong 25 năm và ước tính giá trị thanh lý bằng 5% chi phí Ngược lại, hãng hàng không

Trang 35

Singapo ước tính thời gian khấu hao là 10 năm và giá trị thanh lý bằng 20% chi phí Những ước tính này phần nào phản ánh chiến lược kinh doanh khác nhau giữa 2 hãng hàng không Mục tiêu của hãng Singapo là khách du lịch, những người không quá biết rõ về giá và thường có nhu cầu dịch vụ đáng tin cậy Ngược lại, Delta tập tung vào các khách du lịch thích tiết kiệm những người nhạy cảm với giá cao và hạ cánh đúng giờ hay không ít được quan tâm Kết quả là, hai hãng hàng không có chiến lược hoạt động khác nhau Hãng hàng không Singapo thay thế các máy bay cũ thường xuyên để duy trì tốc độ của chuyến bay Điều này làm giảm nguy cơ trì hoãn chuyến bay do các vấn đề bảo trì, làm cho các chuyến bay có tỉ lệ hạ cánh đúng giờ cao Ngược lại, Delta giữ máy bay lâu hơn, chi một khoản ít hơn cho các thiết bị nhưng điều này làm tăng chi phí bảo trì và tỉ lệ

hạ cánh đúng giờ thấp hơn Chiến lược điều hành khác nhau giữa hai công ty được phản ánh trong

tỉ lệ khấu hao của hai công ty Tất nhiên sẽ có những nhân tố khác ảnh hưởng đến ước lượng khấu hao của công ty Ví dụ, Delta phải đối mặt với áp lực lợi nhuận báo cáo cho các cổ đông vì 100%

cổ phần sở hữu bởi cổ đông đại chúng Ngược lại, hãng hàng không Singapo do chính phủ Signapo

sở hữu

Sự khác nhau trong các phương pháp khấu hao được luật kế toán chấp nhận Phương pháp chuẩn được sử dụng trong các BCTC Mỹ là phương pháp khấu hao đường thẳng, phương pháp này phân bổ chi phí khấu hao (được xác định bằng giá mua trừ giá trị thanh lý) đồng đều suốt thời gian hữu dụng của tài sản Hơn 90% công ty đại chúng sử dụng phương pháp này Ngoài Mỹ, rất nhiều công ty khác áp dụng phương pháp khấu hao nhanh, tương ứng với phương pháp báo cáo thuế của công ty Phương pháp khấu hao nhanh có chi phí khấu hao cao hơn phương pháp đường thẳng trong những năm đầu và chi phí khấu hao thấp hơn trong những năm cuối đời sống hữu ích Phương pháp khấu hao thứ 3, phương pháp khấu hao đơn vị sản phẩm, sử dụng cho các tài sản có đời sống hữu ích đo lường được bởi các đơn vị vật lý Chi phí khấu hao cho một năm là chi phí mua tài sản nhân với phần trăm dung tích vật lý sử dụng trong năm đó Phương pháp này được sử dụng bởi các công ty khai thác nguồn lực tự nhiên để ghi nhận các tài sản mà đời sống hữu ích của

nó phụ thuộc vào dung tích nguồn lực tại mỏ hay nguồn

Ban quản trị sử dụng phán đoán trong ước lượng đời sống hữu ích và giá trị thanh lý và lựa chọn phương pháp khấu hao Vì vậy, sẽ tồn tại nguy cơ chi phí khấu hao phản ánh trong BCTC giúp phóng đại thành quả kinh doanh

Trang 36

2.1.2 Ghi nhận tài sản thương hiệu

Khi một công ty mua lại công ty khác, tổng số tiền cho viêc sát nhập sử dụng trong kế toán mua lại và tài khoản thương hiệu được ghi nhận Thương hiệu đại diện cho phần trả thêm cho tài sản vô hình Những tài sản này bao gồm tên nhãn hàng, nghiên cứu và phát triển, cơ sở khách hàng, ban quản trị giỏi, các nhân viên được đào tạo tốt, bằng sáng chế, và các nguồn khác có thành quả thể hiện tốt

Vì một vài nguyên nhân mà mối quan hệ nhân quả giữa nguồn lực thương hiệu và doanh thu tương lai không rõ ràng bằng tài sản cố định Đầu tiên, các nguồn thu cụ thể của lợi ích tương lai xuất phát từ thương hiệu không rõ ràng bằng tài sản cố định Thứ hai, thương hiệu có thể đại diện cho bất kì khoản chi trả vượt thêm nào của công ty mua lại cho mục tiêu kinh doanh miễn đó là tài sản vô hình Kết quả của những thay đổi đó, chính sách ghi nhận thương hiệu có thể rất khác nhau giữa các quốc gia Ví dụ, ở Hà Lan thương hiệu có thể không được ghi nhận dựa vào khoản tiền mua lại mà nó còn tùy vào quyết dịnh của các cổ đông lúc kết thúc việc mua lại Thương hiệu được ghi nhận theo đường thẳng trong khoảng thời gian lâu nhất là 40 năm tại Mỹ, 5 năm ở Nhật và 4 năm ở Đức Ở Anh, thương hiệu được trình bày như một tài sản, nhưng sẽ không ghi nhận tất cả nếu nó vẫn chưa suy yếu

Giá trị mong đợi và đời sống kinh tế của thương hiệu phụ thuộc vào một số nhân tố Đầu tiên,

nó phụ thuộc vào khả năng ra giá của ban quản lý việc mua lại cho các tài sản vô hình, tránh tình trạng định giá cao Thứ hai, nó phụ thuộc vào khả năng của ban quản lý trong việc hợp nhất mục tiêu của công ty mà không cần phá hủy các tài sản vô hình của công ty bị mua lại, ví dụ như ban quản trị giỏi, các khách hàng hiện hữu, hoặc những nhân viên then chốt Cuối cùng, giá trị và đời sống của thương hiệu phụ thuộc vào chiến lược bổ sung của công ty mới, chiến lược này có thể là đòn bẩy cũng có thể phá hủy các tài sản vô hình của công ty cũ

Để minh họa, tập đoàn Cooper, một công ty đa dạng hóa hoạt động trong ngành điện máy, công

cụ sử dụng bằng tay, tự động, và trang thiết bị năng lượng, đã mua lại công ty Cameron Iron Works, một nhà sản xuất máy móc dầu hỏa và khí thiên nhiên, với số tiền 967 triệu đôla năm 1983 Chiến lược của Cooper là mua lại hoạt động kinh doanh sản xuất, thế mạnh quản lý và cải thiện lại báo cáo và hệ thống kiểm soát của công ty cũ Tuy nhiên, một số vấn đề phát sinh với chiến lược

Ngày đăng: 25/03/2013, 14:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 10-1: Dự phóng doanh thu cho Nordstrom năm 1999 - Phân tích tài sản tài chính doanh nghiệp
Bảng 10 1: Dự phóng doanh thu cho Nordstrom năm 1999 (Trang 59)
Bảng 10-2 trình bày dự phóng của các chuyên viên của Morgan  Stanley Dean witter  cho  Nordstrom năm 1999 - Phân tích tài sản tài chính doanh nghiệp
Bảng 10 2 trình bày dự phóng của các chuyên viên của Morgan Stanley Dean witter cho Nordstrom năm 1999 (Trang 63)
Bảng 10-3: Dự phóng lưu chuyển tiền tệ cho Nordstrom năm 1999 - Phân tích tài sản tài chính doanh nghiệp
Bảng 10 3: Dự phóng lưu chuyển tiền tệ cho Nordstrom năm 1999 (Trang 67)
Bảng 10-4: EPS hàng quý của Nordstrom, 1988-1998 - Phân tích tài sản tài chính doanh nghiệp
Bảng 10 4: EPS hàng quý của Nordstrom, 1988-1998 (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w