1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án nghi lễ gia đình của người mảng ở việt nam

27 496 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 72,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, đã có một số công trình, đề tài, dự án nghiên cứu về tộc người Mảng ở Việt Nam được thực hiện và công bố, nhưng chưa có công trìnhnghiên cứu nào toàn diện và có hệ t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-*** -NGUYỄN VĂN THẮNG

NGHI LỄ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI MẢNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Nhân học văn hóa

Mã số: 62 31 65 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

-*** -TẬP THỂ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Bùi Văn Đạo

2 PGS.TS Nguyễn Văn Minh

Phản biện 1: PGS.TS Lâm Bá Nam

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Duy Bính

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện khoa học Xã hội vào hồi: giờ ngày tháng năm 2014

CÓ THỂ TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

- Thư viện Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1 Nguyễn Văn Thắng (2013), "Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con nhỏ của người

Mảng ở Việt Nam", Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr 25-35, Hà Nội.

2 Nguyễn Văn Thắng (2013), "Tri thức địa phương của người Mảng ở Việt Nam",

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6, tr 93-100, Hà Nội.

3 Nguyễn Văn Thắng (2013), "Nghi lễ nông nghiệp của người Mảng ở Việt Nam",

Tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên, số 2, tr 62-71, Hà Nội.

4 Nguyễn Văn Thắng (2012), "Tang ma của người Mảng ở Lai Châu", Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr 11-19, Hà Nội.

5 Nguyễn Văn Thắng (2012), "Lễ cưới của người Mảng ở Việt Nam", Tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên, số 2, tr 60-71, Hà Nội.

6 Nguyễn Văn Thắng (2012), "Sinh kế của người Mảng ở Việt Nam với phát triển

bền vững tộc người", Tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững, số 3, tr 29-38, Hà Nội.

7 Nguyễn Văn Thắng (2012), "Tri thức địa phương của người Mảng ở Việt Nam

trong khám bệnh và chữa bệnh", Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3, tr 55-60, Hà Nội.

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người Mảng ở Việt Nam là dân tộc có dân số ít Theo kết quả của cuộc Tổng điềutra Dân số và Nhà ở năm 2009 là 3.700 người, có mặt tại 14 tỉnh, thành trên cả nước,như: Điện Biên, Sơn La, Đắk Lắk, Đồng Lai trong đó tập trung đông nhất ở tỉnh LaiChâu với 3.631 người, chiếm 98,13% dân số tộc người Người Mảng thường sinh sốngtại những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, có nhiều bản cư trú dọc biên giới Việt Nam

- Trung Quốc Trong những năm qua, đã có một số công trình, đề tài, dự án nghiên cứu

về tộc người Mảng ở Việt Nam được thực hiện và công bố, nhưng chưa có công trìnhnghiên cứu nào toàn diện và có hệ thống về nghi lễ gia đình

Nghi lễ gia đình bao gồm hệ thống các lễ thức về sinh đẻ và nuôi dạy con cái,cưới xin, tang ma, khám và chữa bệnh, nghề nghiệp, cầu an, Đây là những giá trị vănhóa tộc người được hình thành từ lâu đời, là nhân tố quan trọng cấu thành nên văn hóatinh thần và phản ánh giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân sinh quan, thế giới quan của tộcngười Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam là yếu tố luôn luôn biến đổi đểthích nghi với điều kiện mới, môi trường mới trong đời sống xã hội tộc người Chính vìvậy, nghiên cứu nghi lễ gia đình sẽ chỉ ra được những sắc thái cơ bản của văn hóangười Mảng ở Việt Nam

Đời sống kinh tế - xã hội của người Mảng ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi, nhất là

từ Đổi mới năm 1986, kéo theo những biến đổi trong các nghi lễ truyền thống và có ảnhhưởng tích cực cũng như gây ra những hạn chế đến đời sống tộc người Do vậy, nghiêncứu nghi lễ gia đình của người Mảng trong bối cảnh hiện nay sẽ chỉ ra được những giá trịvăn hóa truyền thống và biến đổi của nó trong tình hình mới, từ đó xác định xu hướng biếnđổi và có những giải pháp phù hợp để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp

Dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay, mặc dù Đảng và Nhà nước ta rất quantâm tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người nhằm phục vụ cho quátrình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, nhưng quá trình giao lưu tiếp biến vănhóa đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mở ra cho các tộc người cơ hội tiếp cậnsâu rộng và đa dạng hơn vào nền kinh tế, văn hóa chung của nhân loại nhưng cũng đặt

ra nhiều thách thức trong phát triển, nhất là giải quyết hài hòa giữa phát triển và bảotồn các giá trị văn hóa tộc người thiểu số, đặc biệt các tộc người có dân số ít

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đó cho thấy, nghiên cứu Nghi lễ gia đình

của người Mảng ở Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học, góp phần giữ gìn

và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Mảng phù hợp với bối cảnh pháttriển kinh tế - xã hội theo đường lối Đổi mới và hội nhập hiện nay, mà còn cung cấp luận

cứ khoa học giúp các cơ quan quản lý Nhà nước tham khảo trong việc hoạch định, triểnkhai các chính sách và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy các giá

Trang 5

trị sản văn hóa tộc người, theo tinh thần "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" mà Hội nghị TW 5 Khóa VIII của Đảng đã đề ra.

2 Mục đích nghiên cứu

Một là, trình bày rõ nét và có hệ thống bức tranh nghi lễ gia đình của người

Mảng ở Việt Nam

Hai là, góp phần làm sáng tỏ các giá trị của nghi lễ gia đình người Mảng ở Việt

Nam và những biến đổi của nó trong xã hội hiện nay, phân tích những yếu tố tác độngtới sự biến đổi đó

Ba là, cung cấp những tư liệu mới về người Mảng ở Việt Nam, là cơ sở khoa

học cho việc nghiên cứu đối sánh với các tộc người có dân số ít ở Việt Nam có cùngnhóm ngôn ngữ

Bốn là, làm cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý Nhà nước tham khảo xây

dựng chính sách phát triển phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa củatộc người Mảng

3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là người Mảng, trong đó đi sâu vàonghiên cứu hệ thống nghi lễ gia đình và biến đổi của nó trong bối cảnh hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án là Nghi lễ gia đình của người Mảng ở ViệtNam, tuy nhiên do đây là đề tài có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khácnhau của đời sống tộc người Do vậy, chúng tôi tập trung trình bày một số nghi lễ tiêubiểu là: nghi lễ trong chu kỳ đời người; nghi lễ nghề nghiệp; nghi lễ cầu an, thờ cúng tổtiên, thần linh, khám bệnh, chữa bệnh; Đồng thời, cũng chú ý đến sự biến đổi và vaitrò của các nghi lễ trong bối cảnh mới Nghi lễ gia đình truyền thống của người Mảngđược hiểu là từ 1986 trở về trước, bởi chỉ kể từ sau đổi mới, cơ chế thị trường mới tácđộng mạnh mẽ đến đời sống người Mảng ở Việt Nam, trong đó có nghi lễ gia đình

3.3 Địa bàn nghiên cứu tập trung ở tỉnh Lai Châu, trong đó chọn 5 xã thuộc 2huyện là: xã Pa Vệ Sử, Bum Nưa, Vàng San của huyện Mường Tè; Chăn Nưa, NậmBan của huyện Sìn Hồ Đây là những nơi tập trung các bản của người Mảng ở ViệtNam và còn lưu giữ đậm nét văn hóa tộc người, đồng thời đảm bảo tính đại diện giữanhững địa bàn chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường ở các mức độ khác nhau Bêncạnh đó, chúng tôi cũng nghiên cứu so sánh với người Mảng ở một số địa phương kháctrong nước để kết quả nghiên cứu mang tính toàn diện hơn

4 Nguồn tư liệu của luận án

Ngoài việc kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố và những tưliệu thứ cấp liên quan, luận án được hoàn thành chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu thực tếcủa tác giả thu thập qua các cuộc điền dã từ năm 2005 tới nay

5 Đóng góp của luận án

Trang 6

Một là, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu và cung cấp nguồn tư liệu toàn

diện, có hệ thống về nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam;

Hai là, chỉ ra các giá trị của nghi lễ gia đình đối với tộc người Mảng, đồng thời

nêu rõ những biến đổi của nghi lễ của họ trong xã hội hiện nay;

Ba là, qua phân tích tổng hợp luận án chỉ ra những tương đồng và khác biệt của

giá trị văn hóa người Mảng so với một số tộc người cận cư, xen cư;

Bốn là, luận án cung cấp luận cứ khoa học, đồng thời đề xuất một số kiến nghị,

giải pháp làm cơ sở cho việc hoạch định những chính sách phát triển kinh tế - xã hội,nhất là bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người Mảng ở Việt Nam trong bốicảnh hiện nay

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chínhcủa luận án gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp

và địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Nghi lễ chu kỳ đời người trong xã hội truyền thống

Chương 3: Nghi lễ nghề nghiệp, cầu an, thờ cúng tổ tiên, các vị thần linh và

lễ tết trong xã hội truyền thống

Chương 4: Biến đổi trong nghi lễ gia đình từ 1986 đến nay

Chương 5: Kết quả và bàn luận

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,

PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Người Mảng là tộc người còn ít được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nướcquan tâm, vì vậy số lượng các công trình đã công bố cũng hạn chế và chưa hệ thống, tưliệu chủ yếu nằm rải rác trong các nghiên cứu vùng, các dự án đánh giá chung hoặcnhững chuyên khảo ngắn Trong phần tổng quan, luận án cố gắng tập hợp những côngtrình đã viết về người Mảng, nhất là những công trình liên quan trực tiếp tới nghi lễ giađình nhằm làm sáng rõ vấn đề quan tâm

Nhóm các công trình giới thiệu sơ lược về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội,lịch sử, nguồn gốc của tộc người Mảng ở Việt Nam đáng chú ý là một số ấn phẩm của

các tác giả: Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàn Tuyên (1963); Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn (1972); Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam của Đặng

Trang 7

Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình, Nguyễn Văn Huy và Thanh Thiên (1972); Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học (1979); Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía bắc Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Chí Huyên, Hoàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo (2000); Lai Châu và các dân tộc ở Lai Châu do Hạnh Liên chủ biên (2007);

Các công trình quan tâm sâu hơn tới người Mảng ở Việt Nam có thể kể đến như:

Thanh Thiên trong bài Giới thiệu sơ lược về người Mảng ở Lai Châu (1972); Ngô Đức Thịnh Về quan hệ công xã trong tổ chức "Muy" của người Mảng thời kỳ trước giải phóng (1972); Quá trình tan rã trong gia đình lớn của người Mảng hiện nay (1974); Truyện cổ Mảng của nhóm tác giả Mạc Đình Dĩ, Châu Hồng Thuỷ, Lý A Sán (1985); Tác giả Vi Văn An giới thiệu tục xăm miệng của người Mảng qua bài viết Những người còn giữ tục cổ xăm cằm (1999); Người Mảng ở Nậm Ban (2001) của Trần Minh Thư và Lò Ngọc Biên; Ngọc Hải với các công trình: Bản sắc văn hoá dân tộc Mảng (2003), Truyện cổ tích dân gian Mảng (2004) và Một số phong tục tập quán của dân tộc Mảng (2006); Tri thức bản địa của dân tộc Mảng ở huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu trong việc chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh của Phạm Mạnh Dương (2006); Hôn nhân của người Mảng ở Lai Châu của Nguyễn Văn Nam (2006); Người Mảng ở Chăn Nưa huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu của Hoàng Sơn (2007); Nguyễn Văn Thắng với Phong tục và tín ngưỡng của người Mảng ở xã Nậm Ban, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (2007); Tục đặt tên của người Mảng ở Nậm Ban (2007), Sinh kế của người Mảng ở Việt Nam với phát triển bền vững tộc người (2012), Lễ cưới của người Mảng ở Việt Nam (2012), Tang ma của người Mảng ở Lai Châu (2012), Tri thức địa phương của người Mảng ở Việt Nam trong khám bệnh và chữa bệnh (2012), Nghi lễ sinh đẻ và nuôi day con nhỏ của người Mảng ở Việt Nam (2013), Tri thức địa phương của người Mảng ở Việt Nam (2013), Nghi lễ nông nghiệp của người Mảng ở Việt Nam (2013);

Nghiên cứu về ngôn ngữ của người Mảng có một số tác giả quan tâm, như:

Nguyễn Thị Loan với Vài nét về tiếng Mảng ở Tây Bắc Việt Nam (1976), Tạ Văn Thông với Loại trừ trong tiếng Mảng (1997), Nguyễn Hữu Lợi, Nguyễn Hữu Hoành,

Tạ Văn Thông với Vị trí của tiếng Mảng trong các ngôn ngữ Môn – Khmer (1998), Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Hữu Hoành và Tạ Văn Thông với Tiếng Mảng (2008),

Có thể nhận định rằng, những công trình đã công bố từ trước đến nay đều ítnhiều đề cập tới người Mảng ở Lai Châu, mà chưa chú ý tới người Mảng ở các tỉnhthành khác trên cả nước Bên cạnh đó, nghi lễ của tộc người Mảng chưa được xem làđối tượng chính của các nghiên cứu, nên còn thiếu vắng những công trình mang tính hệthống và toàn diện về lĩnh vực này Vì vậy, cần thiết có những nghiên cứu chuyên sâu

và toàn diện hơn về nghi lễ dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học để góp phần xây dựngbức tranh tổng thể về văn hóa người Mảng ở Việt Nam, nhằm góp phần bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa tộc người này trong bối cảnh hiện nay Mặc dù vậy, các côngtrình đi trước đều là những tư liệu quý giá, được luận án thừa kế kết hợp với tự liệu

Trang 8

thực tế do tác giả khai thác trong quá trình điền dã, để dựng lên bức tranh tương đốihoàn chỉnh về nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam.

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

Luận án trình bày một số khái niệm liên quan như: nghi lễ, gia đình, nghi lễ giađình, phong tục, tập quán, kiêng kỵ để làm công cụ cho quá trình nghiên cứu Sau đó,tiến hành phân nhóm và trình bày các nghi lễ theo diễn trình trong thực tế để từ đó cóđược nhận thức tổng thể về nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

Quan điểm tiếp cận của luận án dựa trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc và văn hóa Trongnghiên cứu đề tài luận án chúng tôi áp dụng hai lý thuyết là: Lý thuyết chức năng

(functionalism) và Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation) để làm cơ sở lý

luận phân tích những vấn đề quan tâm

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điền dã dân tộc học được sử dụng chủ yếu, trong đó quan sát, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung được áp dụng chính để thu thập thông tin từ các đối tượng nghiên cứu Bên cạnh đó, phương pháp chuyên gia, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, chụp ảnh cũng được vận dụng để làm sáng tỏ

những vấn đề nghiên cứu

1.3 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Lai Châu là tỉnh biên giới nước ta, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam củaTrung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Điện Biên, phía Đông và Đông Nam giáp vớitỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái, phía Nam giáp tỉnh Sơn La Đến tháng 12 năm 2012, LaiChâu có 7 huyện, thị, trong đó hai huyện Mường Tè và Sìn Hồ là địa bàn cư trú tập trungcủa người Mảng Sìn Hồ là huyện vùng cao biên giới, diện tích tự nhiên 1.925 km2, dân

số 77.085 người, mật độ 40,05 người/km2, cách trung tâm tỉnh 60 km về phía Nam PhíaBắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, phía Tây giáp huyện Mường Tè, phía Đônggiáp huyện Tam Đường và Than Uyên, phía Nam giáp huyện Quỳnh Nhai của tỉnh Sơn

La và huyện Tủa Chùa thuộc tỉnh Điện Biên Mường Tè là huyện vùng cao biên giới,cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 180km về phía Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam củaTrung Quốc, phía Nam và phía Tây giáp các huyện Mường Lay và Mường Nhé củatỉnh Điện Biên, phía Đông giáp huyện Sìn Hồ của tỉnh Lai Châu Diện tích tự nhiên là3.670 km2, dân số 50.490 người

1.3.2 Người Mảng ở Việt Nam

1.3.2.1 Vài nét về lịch sử tộc người

Trang 9

Người Mảng có nhiều tên gọi khác nhau, như: Mảng Ư, Xá Xăm Cằm, XáMảng, Xá Bá O, Rạ Mảng, Người Mảng có hai nhóm là Mảng Gứng và Mảng Lệ Làtộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme, ngữ hệ Nam Á Người Mảng có mặt khásớm ở Lai Châu và được coi là một trong những tộc người tại chỗ nơi đây Những dichỉ khảo cổ học thời tiền sử đầu tiên được khai quật ở Lai Châu là hang Nậm Tum vàhang Thẩm Khương đều cho thấy sự có mặt của con người và trùng hợp với các câutruyện cổ của người Mảng Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào xác định chắc chắn thờiđiểm xuất hiện của người Mảng, mà chỉ dừng lại ở việc coi đây là tộc người có mặt

sớm nhất hoặc khai phá vùng đất này.

1.3.2.2 Dân số và phân bố dân cư

Theo kết quả của cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, tộc người

Mảng có 3.700 người, có mặt ở 14 tỉnh trên cả nước (xem bảng 1) Tuy nhiên, tuyệt đại

đa số cư trú tại tỉnh Lai Châu, trong đó tại huyện Sìn Hồ người Mảng có 1.738 người,Mường Tè có 1.452 người

1.3.2.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa

Kinh tế của người Mảng bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm, nghềthủ công truyền thống và trao đổi thương mại Trong đó, trồng trọt giữ vai trò chủ đạo

và lúa nương là cây trồng chính

Tổ chức xã hội truyền thống người Mảng được điều hành bởi Pơ Gia Trước

Cách Mạng Tháng Tám, người Mảng phải đi phu, cuông, nhốc cho đế quốc Pháp vàlãnh chúa người Thái Họ bị khinh miệt và coi là tộc người thấp kém, không được tham

gia các chức sắc lớn hơn Tao Lông Người Mảng gọi bản là muy Trưởng bản phụ trách

mọi mặt đời sống cộng đồng và trực tiếp bị quản lý bởi Tao Lông và lãnh chúa ngườiThái Người Mảng ở Việt Nam có 6 dòng họ gốc là họ Pàn, Tào, Lùng, Anh, Lý vàChìn Sau này, do có con gái Mảng lấy người Thái nên xuất hiện thêm họ Lò Kiểu giađình lớn phụ hệ phổ biến trong truyền thống của người Mảng, ngày nay họ đã chuyểnsang gia đình nhỏ độc lập về kinh tế Tới nay, chế độ mẫu hệ vẫn còn tàn dư

Thực phẩm được khai thác chủ yếu từ rừng, như: nấm, măng, rau dớn, rau sam,rau rệu, rau tàu bay và một số loại rau quả trồng được, như: rau cải, rau rền, raumuống, bí, bầu, đậu, Các loại thực phẩm tươi sống khác, như: cua, cá, ốc, thịt thúrừng, thịt lợn, gà, bò là kết quả của săn bắt hoặc nuôi trồng tại nhà Đồ uống củangười Mảng được phân thành hai loại: rượu cất và rượu cần Thuốc lào là thức húttruyền thống Nhà ở của người Mảng có những đặc điểm sau: 1) Hướng nhà phụ thuộcvào địa hình cư trú; 2) Kết cấu nhà đơn giản; 3) Các phòng ở theo thứ tự vai trò của cácthành viên trong gia đình; 4) Nhà sàn làm bằng gỗ và lợp mái lá; 5) Chưa có sự phântách giữa không gian nhà, bếp, chỉ có sự phân chia không gian sinh hoạt cá nhân Trangphục nữ có váy dài nhuộm đen hoặc chàm, áo cánh xẻ ngực; quấn ngoài áo là tấmbưởng màu trắng, tóc được quấn cao rồi buộc bằng một sợi dây thêu bằng các loại chỉ

Trang 10

xanh, đỏ Trang phục nam giới có quần màu chàm ống rộng và ngắn trên mắt cá chân,cạp quần được buộc bằng dây vải; áo cánh xẻ ngực màu chàn hoặc xanh đen; tóc để dài

và vấn bằng khăn màu đen

Với tín ngưỡng vạn vật hữu linh, người Mảng tin tất cả sinh vật tồn tại trên tráiđất đều có linh hồn Tuy không có chữ viết riêng, nhưng người Mảng có nền văn họcdân gian khá phong phú và đa dạng gồm nhiều thể loại, như: truyện cổ, truyền thuyết,

cổ tích, thần thoại, câu đố và đặc biệt là thơ ca, Bên cạnh đó là kho tri thức địaphương phong phú, đa dạng trong việc bảo vệ và khai thác tài nguyên thiên nhiên

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Luận án Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam được thực hiện trong bối

cảnh các công trình nghiên cứu chung về tộc người này chưa nhiều và không tập trung,hầu hết chỉ là những nghiên cứu nhỏ chưa hệ thống, đặc biệt chưa có các nghiên cứu vềnghi lễ Những nghiên cứu trước thường khái quát về lịch sử tộc người, điều kiện kinh

tế - xã hội hoặc mô tả các hiện tượng văn hóa của người Mảng mà chưa có phân tíchgiải mã các biểu tượng, so sánh trong mối tương quan với các tộc người khác, biến đổivăn hóa tộc người dưới tác động của giao lưu tiếp biến văn hóa, Luận án này đã thamkhảo nguồn tư liệu quý giá đó và cố gắng bổ sung những điểm còn khuyết thiếu trongnghiên cứu nhân học về nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam

Để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá các nội dung chính của luận án,Chương 1 đã dành dung lượng đáng kể để làm rõ một số khái niệm liên quan trực tiếpđến đề tài như: nghi lễ, gia đình, nghi lễ gia đình, chức năng nghi lễ, Các lý thuyếtđược áp dụng, như: lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, lý thuyết chức năng Cơ sởphương pháp luận của luận án dựa trên quan điểm Duy vật biện chứng và Duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhànước ta về dân tộc và văn hóa; xem xét nghi lễ gia đình của người Mảng trong trạngthái vận động, biến đổi và mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác trong đời sốngtộc người Mảng và với tộn người khác Điền dã dân tộc học là phương pháp nghiêncứu chủ đạo Bên cạnh đó luận án cũng đặc biệt quan tâm tới các phương pháp chuyêngia, tổng hợp, phân tích, thống kê tài liệu, chụp ảnh,

Người Mảng cư trú tập trung ở hai huyện là Mường Tè và Sìn Hồ của tỉnh LaiChâu Vì vậy, đây chính là địa bàn nghiên cứu chính của luận án Chúng tôi đã kháilược cơ bản về cảnh quan, lịch sử tộc người, phân bố dân cư, đặc điểm kinh tế, xã hội,văn hóa truyền thống và biến đổi hiện nay, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về địabàn và đối tượng nghiên cứu của luận án Trong đó, các đặc điểm đáng chú ý là: do cưtrú ở vùng biên giới thiếu điều kiện phát triển, kinh tế của họ chủ yếu vẫn là trồng trọtcây lúa nương, mang nặng tính tự cung tự cấp; tính cố kết cộng đồng còn bình đẳng vàchặt chẽ giữa các gia đình thành viên cùng họ tộc trong bản; các thiết chế xã hội vànhững người có uy tín trong cộng đồng truyền thống còn ảnh hưởng tương đối lớn đến

Trang 11

nhiều mặt đời sống người dân; nền văn hóa khá phong phú và đa dạng thể hiện qua hệthống tín ngưỡng, nghi lễ và nghệ thuật dân gian;

Chương 2 NGHI LỄ CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG 2.1 NGHI LỄ SINH ĐẺ VÀ NUÔI DẠY CON NHỎ

2.1.1 Quan niệm về sinh đẻ và nuôi dạy con nhỏ

Sự ra đời của một trẻ làm thay đổi vị trí xã hội đối với những người liên quan,như: một người đàn ông sẽ trở thành bố, một người phụ nữ sẽ trở thành mẹ, một đứa trẻkhác sẽ lên anh, chị, Người Mảng cho rằng, gia đình có nhiều con thì có phúc lớn vàngược lại Khi trẻ thì nuôi con, đến già con nuôi mình Những cặp vợ chồng không cócon, đôi khi bị dư luận cho rằng không có phúc, hay hồn ma ông bà, thần linh trên trờitrừng phạt vì ăn ở không tốt Quan niệm thích con trai hay con gái với người Mảngkhông thật rõ ràng Với người Mảng, mọi thứ trong vũ trụ đều có ma Việc sinh đẻ làkhông sạch sẽ, vì vậy, phụ nữ Mảng có tập quán đẻ ở ngoài lán (trước đây) hoặc ở gầnsàn nhà (hiện nay) Đồng thời, người nhà cũng không được lấy bất kỳ vật dụng nàotrong nhà cho sản phụ dùng Phụ nữ khi mang thai và sau khi sinh phải ăn kiêng rấtnhiều thứ, trước khi sinh một tháng, sản phụ không được trồng cây, tra hạt, đặc biệt làtrồng lúa, vì họ lo hồn lúa sẽ bỏ đi dẫn tới mất mùa,

2.1.2 Nghi lễ thời kỳ mang thai

Nghi lễ này chỉ thực hiện khi căp vợ chồng lấy nhau từ 2 đến 3 năm mà không

có con Họ phải tiến hành xem bói để biết nguyên nhân không có con sau đó cúng trờihoặc cúng ma theo kết quả đã bói được Nếu trong quá trình mang thai, người mẹ bị

ốm gia đình tiến hành làm lễ cúng nhằm xua đuổi tà ma không làm hại thai nhi

2.1.3 Nghi lễ sinh đẻ

Trong truyền thống, khi sản phụ có dấu hiệu sinh nở họ được chuyển ra lánnương hoặc xuống gầm nhà sàn để chờ sinh con Trong quá trình sinh nở, nếu phụ sản

khó đẻ hoặc rau ra chậm, người chồng đi mời thầy cúng về làm lễ cúng khó đẻ và lễ

cúng ra rau, để bảo vệ sức khỏe mà mẹ và trẻ sơ sinh

2.1.4 Nghi lễ chăm sóc, bảo vệ và nuôi dạy trẻ em

Sau khi đẻ, sản phụ không được ăn rau, thịt lợn, thịt chó, cá da màu đen, các loạihoa quả, chặt cây, cuốc đất (nhất là cuốc đất làm nhà), ăn muối, Nhằm chăm sóc, bảo

vệ trẻ nhỏ Trong quá trình này, người Mảng còn tiến hành các nghi lễ, như: lễ giữ vía,

lễ đặt tên con, lễ gọi hồn trẻ con, lễ buộc chỉ cổ tay, lễ cúng ma cho trẻ,

2.2 NGHI LỄ HÔN NHÂN

2.2.1 Quan niệm về hôn nhân và một số nguyên tắc trong hôn nhân

Trang 12

Người Mảng không ép buộc trong hôn nhân, trai gái được tự do tìm bạn đời, vàkết hôn khá sớm Nữ lấy chồng khi từ 15 tuổi đến 18 tuổi, nam lấy vợ từ lúc 16 đến 20tuổi, có những trường hợp trẻ hơn so với độ tuổi này Trước đây, khoảng 14 đến 15tuổi, trai gái Mảng phải xăm miệng, đây được coi là nghi lễ trưởng thành Trong hônnhân, vai trò của ông mối, bà mối rất quan trọng Họ được thay mặt bố mẹ, gia đình haibên để trao đổi, quyết định và thực thi những nghi lễ, thủ tục trong hôn nhân.

Người Mảng ở Việt Nam có các hình thức hôn nhân như: nội hôn trong dòng họnhưng phải cách nhau ba đời; ngoại hôn dòng họ; hôn nhân ngoại tộc người Ở mỗihình thức lại có những nguyên tắc, quy định nhằm bảo vệ giống nòi và sự phù hợp vănhóa tộc người

2.2.2 Nghi lễ trước đám cưới

Lễ dạm ngõ là nghi lễ đầu tiên trong hôn nhân của người Mảng, sau khi đôi trai gái

đã tìm hiểu và thương yêu nhau, chàng trai về báo với cha mẹ chọn ngày đẹp nhờ ông bàmối sang nhà gái làm lễ dạm ngõ để bước đầu đặt quan hệ hôn nhân Sau đó, nhà trai

chọn ngày tốt và nhờ các ông, bà mối đem lễ vật sang nhà gái làm lễ ăn hỏi Sau lễ ăn

hỏi từ 2 đến 5 ngày, các ông, bà mối và anh em trong gia đình đưa chàng trai sang nahf

gái làm lễ ở rể Trước kia, thời gian ở rể từ 3 đến 7 năm, ngày nay giảm xuống còn

khoảng 3 năm, thời gian này phụ thuộc vào nhà gái, nếu họ cần người có sức khoẻ làmviệc trong nhà thì sẽ thách dài thời gian ở rể hơn và ngược lại

2.2.3 Nghi lễ trong đám cưới

Người Mảng thường chọn ngày đẹp để tổ chức lễ cưới khi mùa màng đã thuhoạch xong (từ tháng 11 đến tháng 3 âm lịch) Các nghi lễ cưới xin thường kéo dài ít

nhất là 2 ngày (trước đây là 3 ngày) ở mỗi nhà Mở đầu là nghi lễ bôi nhọ, sau đó là lễ cưới ở nhà gái với các lễ thức như: lễ giao lợn; lễ ăn gà cảm ơn ông, bà mối, lễ ăn lợn cảm ơn ông bà mối Trong lễ đón dâu, người Mảng thực hiện 2 nghi lễ là lễ uống rượu cầu may và tục cướp dâu sau đó mới đưa dâu về nhà chồng.

Ở lễ cưới tại nhà trai, họ tiếp tục thực hiện các nghi lễ như: lễ rửa chân; lễ uống

rượu mừng, lễ giao cô dâu và lễ tiễn nhà gái Trải qua các nghi lễ trên, đôi trai gái đã

chính thức trở thành vợ chồng được cha mẹ, cộng đồng và thần linh chấp nhận

2.2.4 Nghi lễ sau cưới xin

Lễ báo được tổ chức ngay sau khi đoàn đưa dâu về tới nhà gái để thông báo lại

kết quả của việc đưa dâu và mọi ứng xử của nhà trai với đoàn nhà gái Sau lễ này từ 10

đến 15 ngày đôi vợ chồng trẻ chọn một ngày đẹp để tiến hành lễ lại mặt nhà gái Khi

đã chung sống với bố mẹ khoảng 3 đến 5 năm, họ sẽ làm lễ xin ra ở riêng để thuận tiện

hơn cho cuộc sống của gia đình

2.2.5 Nghi lễ hôn nhân trong các trường hợp đặc biệt

Với trường hợp trai, gái hoặc cả hai đều mồ côi cha mẹ, nghi lễ hôn nhân đượctiến hành đơn giản hơn so với nghi lễ đã trình bày ở phần trên Trai tân lấy gái góa và

Trang 13

ngược lại là kiểu hôn nhân ít xảy ra với người Mảng bởi sự rèm pha và không bằnglòng của cha mẹ Theo người Mảng, nếu lấy những người góa thì không phải thực hiệnbất kỳ nghi lễ nào.

2.2.6 Một số quy định ngăn cấm trong hôn nhân

Loạn luân và có thai trước khi ở rể là hành vi bị nghiêm cấm của người Mảng

2.3 NGHI LỄ KHÁM CHỮA BỆNH

2.3.1 Một số quan niệm về ốm đau và sức khỏe

Theo người Mảng, do hồn không bỏ đi xa và ma không làm hại người nên conngười mới khỏe mạnh Ốm đau là do hồn của người đó bỏ đi chơi xa không về kịp nênphải tiến hành làm lễ cúng gọi hồn thì người ốm mới khỏi

2.3.2 Nghi lễ đoán và chữa bệnh

Với quan niệm vạn vật hữu linh, khi bị ốm đau, người Mảng đều tìm cho mìnhcách giải thích thông qua đoán định của thầy cúng và họ thường sử dụng hình thức bóitrứng hay bói dao để xác định nguyên nhân ốm đau Khi đã tìm được ma gây hại, họ tổchức lễ cúng cầu xin ma tha thứ hoặc chúng đi Một số nghi lễ thường được sử dụng

trong nghi lễ này như: cúng ma rừng; cúng ma nhà; cúng chữa bệnh điên; cúng chữa đau bụng; cúng gọi hồn; cúng giữ hồn vía;

2.4 NGHI LỄ TANG MA

2.4.1 Một số quan niệm, quy định và kiêng kỵ trong tang ma

Theo nghiên cứu của chúng tôi, người Mảng có hai hồn là: hồn khôn (nhủy y) và hồn ngu (nhủy bở) Hồn làm nên sự sống và khi hồn không còn, nghĩa là cái chết (thít)

đã tới Người Mảng quan niệm cái chết có hai loại, chết lành (thít im) và chết xấu (bóp thít) Khi nhà có tang, các thành viên trong một tháng kiêng ăn rau thơm, lá chua, quả

chua, dùng xà phòng, các cặp vợ chồng là con của người chết không được “quan hệ”với nhau, không làm việc lớn, không đi nương và phải đi ngủ sớm Những người tớitham gia đám tang, trong một tuần không được quan hệ vợ chồng, không đi nương vàlàm những việc lớn trong nhà, tối phải đi ngủ sớm Với cộng đồng thôn bản, trong bangày không làm việc lớn, không đi qua đêm, tối đi ngủ sớm

2.4.2 Nghi lễ chuẩn bị cho đám tang

Nghi lễ báo tang được thực hiện ngay sau khi trong nhà có người chết Sau đó,

họ rút một nan cửa chính đo chiều dài của người chết và nhờ anh em hàng xóm lên

rừng chọn một cây đủ to để làm được quan tài (loảng gứa) Người Mảng không có nghĩa địa chung, nhưng mộ luôn được đặt ở một địa điểm phía Tây của bản Khi chọn được đất, họ dựng một cái lán (khi tràng) có hai mái với các nguyên liệu sau: 6 cái cột,

6 bó cỏ gianh, 15 sợi dây rừng

2.4.3 Nghi lễ chính trong đám tang

Ngày đăng: 31/08/2014, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w