1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ

105 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 17,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dầu, lưới chụp mực khai thác mực có hiệu quả kinh tế cao nhưng thực tế cho thấy trong sản phẩm khai thác được số mực ống con mực ống chưa đạt kích thước tối thiểu cho phép khai thác

Trang 1

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận văn này là do quá trình tích luỹ kiến thức,

nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu thực tế sản xuất và quá trình thực nghiệm mà có

Các số liệu sử dụng cho việc nghiên cứu, phân tích đưa đến kết luận của

luận văn dựa trên các nguồn số liệu, các chuyến nghiên cứu thực nghiệm hoàn

toàn trung thực của đề tài nghiên cứu cấp Bộ về lĩnh vực ngư cụ chọn lọc mà

tôi được phép sử dụng

Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và kết luận của luận văn do tôi

thực hiện, chưa có ai công bố ở bất kỳ tài liệu nào

Tháng 9 năm 2005

Hồ Đình Hải

Trang 2

Lời cảm ơn

Đề tài được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân còn nhờ sự giúp

đỡ tận tình của các cá nhân và cơ quan, ban ngành:

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

TS Thái Văn Ngạn đã định hướng nghiên cứu khoa học và trực tiếp

hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

PGS-TS Nguyễn Văn Động, TS Hoàng Hoa Hồng đã có nhiều ý kiến

đóng góp cho luận văn của tôi

Lãnh đạo Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng; Phòng nghiên cứu công

nghệ khai thác Hải sản - Viện nghiên cứu Hải sản; ông Nguyễn Văn Kháng,

chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học- Ngư cụ chọn lọc cho một số nghề khai

thác hải sản- đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, thực nghiệm

trên biển và cho phép tôi sử dụng các số liệu thu được để phân tích, xử lý theo

hướng nghiên cứu của luận văn

Các chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản của các tỉnh ven biển phía Bắc;

chủ tàu HP-9030BTS đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận

văn

Hồ Đình Hải

Trang 3

Mục lục

Trang

1.1 Đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi mực Vịnh Bắc Bộ 13

1.2.4.1 Thành phần và tỉ lệ loài khai thác được bằng lưới chụp mực 21

1.2.4.2 Nhận xét chung về thực trạng sản phẩm khai thác của nghề

1.3.1 Phương pháp sử dụng thiết bị BRDs (by-catch reduction

devices) dùng cho lưới kéo tôm

24

1.3.1.1 Thiết bị Cửa sổ mắt lưới vuông (square mesh window) 25

1.3.2 Phương pháp sử dụng các thiết bị JTEDs (Juvenile and

Trash Excluder Devices)

27

1.4 Tình hình nghiên cứu giải pháp thoát cá con và động

vật biển ở Việt Nam

30

Trang 4

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 31

3.2 ảnh hưởng của ánh sáng và tập tính của mực ống đến

hiệu quả đánh bắt của lưới chụp mực

34

3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến trường sáng và vùng tác dụng

của nguồn sáng

35

3.2.3 ảnh hưởng của ánh sáng trăng đến nghề khai thác mực 37

3.2.4 Phản ứng tập tính của mực trong vùng được chiếu sáng 38

3.3 Lựa chọn tàu và lưới triển khai nghiên cứu 41

3.3.1.1 Các thông số kỹ thuật của tàu nghiên cứu 41

3.3.1.2 Các trang thiết bị hàng hải trên tàu triển khai nghiên cứu 41

3.3.1.3 Các trang thiết bị khai thác trên tàu triển khai nghiên cứu 41

3.3.2.1 Các thông số cơ bản của lưới chụp mực triển khai nghiên

cứu

49

3.3.2.2 Trang bị phụ tùng của lưới chụp mực triển khai nghiên cứu 50

3.4 Lựa chọn qui trình đánh bắt lưới chụp mực triển khai

Trang 5

3.4.4 Kỹ thuật thao tác lưới 52

3.5 Lựa chọn phương pháp thoát mực ống con cho lưới

chụp mực

57

3.5.1.4 Thời gian lưu giữ cá, mực trong ngư cụ 58

3.6.1 Cấu tạo của thiết bị thoát mực ống con cho lưới chụp mưc 60

3.6.2 Vị trí lắp đặt thiết bị thoát mực ống con cho lưới chụp mực 61

3.8.2.1 Xử lý kết quả thử nghiệm thiết bị LMV a = 12 mm 66

3.8.2.2 Xử lý kết quả thử nghiệm thiết bị LMV a = 14 mm 70

3.8.2.3 Xử lý kết quả thử nghiệm thiết bị LMV a = 16 mm 76

3.8.2.4 Xử lý kết quả thử nghiệm thiết bị LMV a = 18 mm 82

3.8.2.5 Xử lý kết quả thử nghiệm thiết bị LMV a = 20 mm 88

Chương 4 Đánh giá kết quả nghiên cứu, ý kiến đề xuất và

kiến nghị

94

4.1.1 Đánh giá chung về tỷ lệ thoát (%) theo trọng lượng 94

4.1.2 Đánh giá chung về tỷ lệ thoát (%) theo số lượng cá thể 96

4.2 Đánh giá về khả năng mực ống con thoát qua các thiết

bị thử nghiệm

98

4.2.1 Khả năng thoát của mực ống con qua thiết bị thử nghiệm 98

Trang 7

các ký hiệu và từ viết tắt

BRDs: By-catch Reduction Devices

JTEDs: Juvenile and Trash Excluder Devices

MLV a = 12mm: Thiết bị mắt lưới vuông có cạnh mắt lưới a = 12mm

MLV a = 14mm: Thiết bị mắt lưới vuông có cạnh mắt lưới a = 14mm

MLV a = 16mm: Thiết bị mắt lưới vuông có cạnh mắt lưới a = 16mm

MLV a = 18mm: Thiết bị mắt lưới vuông có cạnh mắt lưới a = 18mm

MLV a = 20mm: Thiết bị mắt lưới vuông có cạnh mắt lưới a = 20mm

Trang 8

Lời nói đầu

Biển Việt Nam với chiều dài bờ biển trên 3200 km và vùng đặc quyền

kinh tế rộng gần 1 triệu km2 có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự trường tồn

và phát triển của dân tộc Việt Nam Với nguồn lợi hải sản phong phú và đa

dạng được phân bố từ vùng biển Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên

Giang), biển nước ta đã, đang và sẽ cung cấp nguồn thực phẩm hết sức quan

trọng cho nhân dân ta Do vậy, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên

biển là chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế xã hội ở nước ta

Trong những năm qua, do việc khai thác quá mức làm cho nguồn lợi hải

sản, đặc biệt là nguồn lợi hải sản ven bờ bị giảm sút nghiêm trọng cả năng

suất cũng như chất lượng sản phẩm khai thác Do đó, việc bảo vệ, duy trì và

phát triển nguồn lợi hải sản cần được coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa

Mực (Cephalopoda) thuộc ngành động vật thân mềm (Mollusca), bao

gồm các loài mực ống, mực nang, bạch tuộc; tất cả đều sống ở biển Các vùng

biển ở nước ta đều có các loài mực phân bố, nhiều loài có số lượng lớn Đặc

biệt, mực ống (Logigo Spp) hiện là một trong những đối tượng khai thác quan

trọng của nghề khai thác hải sản ở nước ta Sản phẩm mực khai thác được

không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn là mặt hàng có giá trị xuất

khẩu lớn, chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng giá trị thuỷ sản xuất khẩu hàng

năm

Nghề chụp mực là một nghề khai thác có sử dụng nguồn sáng tập trung

mực để đánh bắt Gần đây (1992), nghề chụp mực đã được du nhập từ Thái

Lan và Trung Quốc vào nước ta Đối với nghề cá nước ta, đây là nghề mới và

nhanh chóng trở thành một nghề khai thác hải sản quan trọng, chuyên khai

thác mực ống ở một số tỉnh ven biển của nước ta Nhiều địa phương ở phía

Bắc phát triển mạnh nghề lưới chụp mực như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ

An, Quảng Bình, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đóng góp một sản lượng

lớn cho tiêu dùng trong nước và chế biến xuất khẩu

Trang 9

Hiện nay, ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ mỗi năm có hàng nghìn tàu thuyền

làm nghề chụp mực Hầu hết các tàu này hoạt động quanh năm, một số ít tàu

thuyền trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chuyển sang sử dụng

các loại ngư cụ khác để khai thác cá

Mặc dầu, lưới chụp mực khai thác mực có hiệu quả kinh tế cao nhưng

thực tế cho thấy trong sản phẩm khai thác được số mực ống con (mực ống

chưa đạt kích thước tối thiểu cho phép khai thác theo qui định về bảo vệ và

phát triển nguồn lợi thuỷ sản hoặc chưa thành thục) chiếm tỉ lệ tương đối cao

trong sản lượng mỗi mẻ lưới Do vậy, có nguy cơ làm giảm mức bổ sung trữ

lượng mực ống của các năm sau và làm cho nguồn lợi mực ống ở vùng biển

nước ta ngày càng bị giảm sút Trong khi đó, do áp lực về thu nhập của ngư

dân nên số lượng tàu chụp mực được đóng mới ngày càng tăng Theo số lượng

thống kê từ các Sở Thuỷ sản của các tỉnh ven biển phía Bắc thì số lượng tàu

chụp mực trong những năm gần đây hàng năm tăng khoảng 250 – 300 chiếc

Như vậy, đội tàu tham gia làm nghề chụp mực ngày càng tăng sẽ dẫn đến chất

lượng sản phẩm mực khai thác được ngày càng giảm và tỉ lệ mực ống con

trong sản lượng mẻ lưới ngày càng cao

Pháp lệnh về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản mới chỉ qui định

cho loại mực thẻ – Loligo edulis có kích thước tối thiểu cho phép khai thác là

150mm và Loligo beka là 60mm còn các loại mực ống khác như Loligo

chinensis, Loligo duvauceli, Loligo tagoi, Loligo vietnamensis, vẫn chưa có

qui định về kích thước tối thiểu cho phép khai thác Mặt khác, kích thước

thành thục của các loại mực ống nói chung (Loligo Spp) rất khác nhau và

trong cùng một mẻ lưới chụp mực thành phần loài mực ống đánh bắt được khá

đa dạng, trung bình 4 đến 5 loài

Từ thực tế trên cho thấy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp thoát mực ống

con cho lưới chụp mực là hết sức cần thiết

Trong khuôn khổ của một luận văn cao học chuyên ngành Công nghệ

Trang 10

khai thác thuỷ sản tôi đã đề xuất hướng nghiên cứu, tìm giải pháp thoát mực

ống con cho nghề lưới chụp mực ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ

Nhằm tìm ra giải pháp thoát mực ống con để:

 hạn chế việc đánh bắt mực ống chưa thành thục hoặc chưa đạt

kích thước tối thiểu cho phép khai thác theo qui định về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

 Giảm tỉ lệ mực ống con trong mỗi mẻ lưới

Đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao, đó là tìm ra giải pháp giảm tỉ lệ mực

ống con trong sản lượng khai thác của nghề lưới chụp mực Từ đó có thể ứng

dụng rộng rãi cho các tàu làm nghề lưới chụp mực ở Vịnh Bắc Bộ nói riêng và

các vùng biển trong cả nước nói chung nhằm bảo vệ và duy trì ổn định nguồn

lợi mực ở vùng biển nước ta

Được sự cho phép của lãnh đạo Viện nghiên cứu Hải sản, Đề tài luận văn

tốt nghiệp: Nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở

Vịnh Bắc Bộ ” do Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang ký được

phép sử dụng một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu thiết

kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc cho một số loại nghề khai thác hải sản” làm

nguồn số liệu để sử lý, đánh giá kết quả nghiên cứu của luận văn

Hải Phòng là địa phương có số lượng tàu thuyền tham gia hoạt động

nghề lưới chụp mực nhiều nhất trong số các tỉnh phía Bắc và phạm vi hoạt

động bao gồm các ngư trường ở Vịnh Bắc Bộ, nên tôi chọn nghề lưới chụp

mực ở Hải Phòng để nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu tìm giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực

còn ít được nghiên cứu và thử nghiệm, do đó trong cách giải quyết vấn đề cả

lý thuyết lẫn thực tiễn không thể tránh khỏi sai sót, nên tôi rất mong nhận

được sự góp ý của các nhà khoa học và các chuyên gia kỹ thuật đầu ngành để

đề tài đạt kết quả cao và có thể áp dụng vào thực tiễn

Trang 11

Chương 1 tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1 Đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi mực Vịnh Bắc Bộ

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên Vịnh Bắc Bộ

1.1.1.1 Địa hình đáy biển

Vịnh Bắc Bộ có dạng lòng chảo, nghiêng dần về phía đông nam Phần

sâu nhất của lòng chảo chạy ép sát về phía đảo Hải Nam và có sườn dốc hơn

phía Việt Nam Độ sâu ở trung tâm Vịnh đạt tới 70 – 80 m, vùng cửa Vịnh

khoảng 100 m, độ sâu trung bình 38 m

1.1.1.2 Khí tượng, thủy văn

- Chế độ gió: Vùng biển Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của hệ thống gió

mùa châu á Mùa Đông có gió mùa Đông Bắc hoạt động từ cuối tháng 9 đến

tháng 4 năm sau Trung bình mỗi tháng chính Đông có khoảng 2 – 3 đợt

không khí lạnh tràn về Gió mùa Đông Bắc mạnh thường kéo dài 3 – 5 ngày

(có đợt kéo dài đến hàng tuần) Nhiệt độ không khí trung bình 16 – 180C,

nhiệt độ thấp nhất có nơi xuống tới 3 – 50C Mùa hè, do ảnh hưởng của hai

hệ thống gió mùa từ phía Tây và phía Nam Thái Bình Dương luân phiên nhau,

nên thời tiết vùng biển Vịnh Bắc Bộ trong thời kỳ này rất ít có gió mạnh (trừ

gió bão), không khí nóng ẩm, oi bức và có mưa nhiều

- Sóng: Sóng ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ phụ thuộc chủ yếu vào chế độ

gió mùa Mùa gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau sóng hướng

Đông Bắc chiếm tỉ lệ khá lớn Độ cao sóng trung bình 0,7 – 1,0m Mùa gió

Tây Nam (từ tháng 4 đến tháng 9) do ảnh hưởng của địa hình, gió đã lệch sang

hướng Nam hoặc Đông Nam, nên sóng ở Vịnh Bắc Bộ thịnh hành theo hướng

Nam hoặc Đông Nam Nhìn chung sóng trong mùa này không ổn định, vì

thường hay có bão Độ cao sóng trung bình từ 0,5 – 0,75m

Trang 12

- Nhiệt độ không khí:

Mùa gió Đông Bắc, ở phía Bắc Vịnh Bắc Bộ nhiệt độ không khí trung

bình đạt giá trị thấp so với phía Nam Vịnh Nhiệt độ không khí trung bình

trong những tháng giữa mùa gió Đông Bắc là 18 – 200C, những tháng đầu và

cuối mùa nhiệt độ không khí trung bình là 22 – 240C Nhiệt độ không khí

cao nhất trong những tháng giữa mùa là 26 – 280C, còn những tháng đầu và

cuối mùa là 30 – 320C Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình là 6 – 80C

Mùa gió Tây Nam, nhiệt độ không khí vùng ven biển phía Bắc là 25 –

270C, càng về phía Nam Vịnh, nhiệt độ không khí tăng dần, trung bình 28 –

300C Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình là 32 – 340C, cao nhất tuyệt

đối là 36 – 380c

Ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, chế độ nhiệt không khí cũng nằm trong nền

của các hệ thống thời tiết như vùng biển ven bờ, nhưng do không chịu ảnh

hưởng của địa hình nên nhiệt độ không khí ổn định và cao hơn Mùa gió Đông

Bắc, nhiệt độ không khí trung bình là 19 – 210C, cao nhất là 23 – 250C; thấp

nhất là 12 – 140C Mùa gió mùa Tây Nam, nhiệt độ không khí trung bình là

27 – 290C, cao nhất 30 – 320C, có năm cao tới 36 – 380C, thấp nhất 18 –

200C

- Chế độ mưa: Từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa mùa mưa bắt đầu từ

tháng 5 và kết thúc bắt đầu vào tháng 10, còn phía Nam mùa mưa hàng năm

đến muộn hơn Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1800 – 2400 mm,

với số ngày mưa trong năm khoảng 140 – 150 ngày Vùng khơi Vịnh Bắc Bộ

mùa mưa bắt đầu vào tháng 6, kết thúc vào tháng 9, lượng mưa trung bình

khoảng 1500 – 1800 mm, với số ngày mưa cả năm từ 100 – 120 ngày

- Hải lưu:

Mùa gió Tây Nam: Vịnh Bắc Bộ là vùng biển có độ sâu nhỏ, phía Tây

bị chia cắt bởi các cửa sông lớn nên dòng nước từ ngoài vào Vịnh đi men theo

bờ phía Tây để lên phía Bắc của Vịnh và đi men theo bờ phía Tây của đảo Hải

Trang 13

Nam tạo nên hoàn lưu khép kín theo chiều kim đồng hồ Do tác dụng của địa

hình đã tạo nên một vùng nước trồi ở phía Tây của Vịnh chạy dọc theo đường

bờ kéo dài khoảng 60 hải lý, đồng thời nước từ lục địa đổ ra mạnh cũng làm

nhạt hóa dải nước ven bờ

Khu vực phía Đông Bắc của Vịnh vào thời kỳ này hình thành một xoáy

nghịch và chính tại đây có hiện tượng nước từ trên mặt chìm xuống sâu Nhìn

chung tốc độ dòng chảy trong toàn vùng không lớn lắm, tốc độ trung bình chỉ

đạt 10 – 15 cm/s [10]

Mùa gió Đông Bắc: Vào mùa này nước lạnh ở phần phía Bắc Vịnh Bắc

Bộ dưới ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc bắt đầu hình thành dòng hải lưu

chảy theo hướng gần song song với bờ theo chiều Bắc Nam Trong vùng phía

Bắc của Vịnh (vĩ độ 20016’N; kinh độ 107050’E) từ dòng nước lạnh tách ra

một nhánh uốn cong dần về hướng Đông rồi cùng với dòng nước ấm từ phía

Nam của Vịnh đi lên tạo thành một dòng tuần hoàn khép kín ngược chiều kim

đồng hồ (xoáy thuận) Sự hòa hợp của hai dòng nước có ở vùng xoáy thuận đã

tạo điều kiện rất tốt cho sinh vật phù du phát triển Vào mùa này nước từ lục

địa đổ vào biển không đáng kể nên hiện tượng nhạt hóa ven bờ không tồn tại

và dòng nước đi từ phía Bắc Vịnh xuống phía Nam có xu hướng ép sát bờ phía

Tây Vịnh

1.1.2 Nguồn lợi mực Vịnh Bắc Bộ

1.1.2.1 Thành phần loài

Từ các tài liệu [3], [4], [5], [10] cho thấy rằng:

Tới nay ở vùng biển Việt Nam đã có 53 loài động vật chân đầu được

phát hiện, trong đó lớp phụ Nautiloidea có một loài là ốc Anh vũ (Nautilus

pompilius L.), còn lại 52 loài thuộc lớp phụ (Coleoidea) bao gồm:

- Bộ Sepioidea có 3 họ, 6 giống, 23 loài

- Bộ Teuthoidea có 2 họ, 4 giống, 17 loài

- Bộ Octopoda có 1 họ, 2 giống, 12 loài

Trang 14

Trong số 53 loài đã phát hiện, Vịnh Bắc Bộ có 32 loài Có 4 loài quí

hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ là: ốc Anh vũ

(Nautilus pompilius), mực ống Trung Hoa (Loligo chinnensis), mực nang vân

hổ (Sepia pharaonis) và mực lá (Sepiotcuthis S.lessoniana)

Những loài có giá trị kinh tế là: Sepia pharaonis (mực nang vân hổ),

S.lycidas (mực nang mắt cáo), S latimanus (mực nang lửa), S esculenta (mực

nang vàng), S aculeata (mực nang kim), Sepioteuthis lessoniana (mực lá);

Loligo chinensis (mực ống Trung Hoa); L.beka (mực ống Beka); L.edulis

(mực Thẻ)

1.1.2.2 Đặc điểm phân bố

- Mực Nang:

Những loài có phân bố ở Vịnh Bắc Bộ nhưng số lượng không lớn và

không phổ biến là: Sepia aculeata; Sepia madokai; Euprimana berryi

Những loài có phân bố tương đối phổ biến ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ là:

Sepia elipca, Metasepia tulbergy, Sepiella maindroni, Sepiola, Birosrta

Từ kết quả khảo sát thực tế, cùng với việc phân tích số liệu về sản lượng

đánh bắt của hàng nghìn mẻ lưới của các tàu nghiên cứu và tàu thuyền sản

xuất đã xác định được các khu vực tập trung chủ yếu của mực nang ở vùng

biển Vịnh Bắc Bộ biến động như sau: Trong thời kỳ mùa khô (tháng 1, 2, 3),

các loài mực nang kích thước lớn như Sepia lycidas, S esculenta, S pharaonis

thường tập trung ở các đảo như Cái Chiên, Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long

Vĩ, Cát Bà (Hải Phòng) Các tháng khác, các loài S latimananus, S madokai,

S.elliptica, S aculeata đều có phân bố rải rác ở các khu vực phía Bắc và Tây

Bắc, Đông Bắc và phía Tây Vịnh Các loài mực nang phân bố chủ yếu ở độ

sâu từ 20 – 50m Tuy nhiên, đến các tháng của mùa khô, lạnh và đầu mùa

mưa (từ tháng 1 đến tháng 4), nhiều loài mực nang thường di cư vào vùng gần

bờ để sinh sản [3], [10]

- Mực ống:

Trang 15

Những loài có phân bố ở Vịnh Bắc Bộ nhưng số lượng không lớn và

không phổ biến là: Loligo duvauceli, L tagoi, Loligo vietnamensis

Những loài phân bố ở Vịnh Bắc Bộ và có số lượng lớn là Loligo

chinensis, Loligo beka, Loligo edulis, Loligo gotoi

Cũng như mực nang, các loài mực ống cũng có các vùng tập trung nhất

định Theo tài liệu [3], [4] các vùng tập trung phân bố của mực ống ở vùng

biển Vịnh Bắc Bộ là: khu vực Cát Bà - Cô Tô, Hòn Mê - Hòn Mát và khu vực

Bạch Long Vĩ

Trong phạm vi độ sâu từ trên 100 m vào gần bờ đều bắt gặp các loại

mực ống, nhưng ở độ sâu nhỏ hơn 20m và lớn hơn 50m nước các loài mực ống

phân bố ít Phân bố tập trung nhất là ở phạm vi độ sâu từ 30 – 50 m nước

Các loài mực ống có hiện tượng di chuyển phạm vi phân bố theo mùa

và theo điều kiện thời tiết khí hậu Đối với mực ống trong các tháng mùa khô

(tháng 12 – 3 năm sau), mực ống di chuyển vào vùng nước nông hơn Các

tháng mùa mưa (tháng 6 - 9), các loài mực ống di chuyển ra vùng nước sâu

hơn Thời kỳ này, ở vùng có độ sâu từ 30 – 50 m nước đạt năng suất cao

nhất

Ngoài ra, các loài mực ống còn có đặc điểm phân bố thẳng đứng: Nhìn

chung ban ngày, do lớp nước bề mặt bị ánh sáng mặt trời hun nóng, làm nhiệt

độ tăng lên chúng thường lặn xuống đáy hoặc các lớp nước tầng dưới Ban

đêm, khi nhiệt độ nước bề mặt giảm đi, các quần thể mực ống lại di chuyển từ

lớp nước tầng đáy lên tầng mặt Mặt khác, do tính hướng quang dương của các

loài mực ống, nên ban đêm ở trên boong tàu, nếu đưa nguồn ánh sáng mạnh

chiếu xuống nước, thì mực ống tụ tập rất đông quanh quầng sáng đó Lợi dụng

đặc điểm này, ở nước ta cũng như nhiều nước khác đều có nghề câu mực hoặc

lưới chụp mực đánh bắt mực vào ban đêm kết hợp với ánh sáng đạt hiệu quả

cao

1.2 Thực trạng nghề lưới chụp mực ở Vịnh Bắc Bộ

Trang 16

1.2.1 Tàu thuyền:

Theo số liệu thống kê từ các sở Thuỷ sản và các chi cục Bảo vệ nguồn

lợi thuỷ sản của các tỉnh ven biển phía Bắc số tàu đăng ký làm nghề chụp

mực trong những năm gần đây tăng lên nhanh chóng, tính đến năm 2005 có

khoảng gần 1500 chiếc, thu hút hơn 11000 lao động làm việc trên biển (xem

bảng 1-1)

Bảng 1-1: Số lượng tàu chụp mực ở một số tỉnh có nghề chụp mực phát triển

thuộc vùng biển vịnh Bắc Bộ

Số lượng tàu chụp mực Tỉnh (Thành phố)

Hầu hết các tàu chụp mực ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ đều là tàu vỏ gỗ

Theo số liệu điều tra cho thấy các tàu chụp mực có chiều dài trung bình từ

11m đến 15m (xem bảng I-1 và I-2 phụ lục I) Hầu hết các tàu sử dụng máy

có công suất trung bình từ 60 cv đến 90 cv, đối với các tàu có công suất

máy chính nhỏ, tuỳ theo điều kiện kinh tế mà ngư dân có thể lắp thêm một

máy có công suất 44 cv hoặc 55 cv để lai máy phát điện (xem bảng I-1 và

I-2) Do đặc điểm của nghề, các tàu lưới chụp mực thường cồng kềnh, khi

căng lưới chuẩn bị đánh bắt chịu sức cản của gió lớn, làm cho tàu dễ bị mất

ổn định trong trường hợp sóng to, gió lớn Hơn nữa, theo kinh nghiệm của

Trang 17

ngư dân, tàu lưới chụp mực chỉ đánh bắt có hiệu quả trong điều kiện thời

tiết có gió thổi từ cấp 4 - cấp 5 Như vậy, để hoạt động đánh bắt an toàn và

có hiệu quả ở các vùng nước xa bờ, tàu lưới chụp mực đòi hỏi phải có kích

thước vỏ tàu và công suất máy đủ lớn Thực tế sản xuất cho thấy, các tàu có

chiều dài vỏ >14m có thể hoạt động an toàn và đánh bắt có hiệu quả ở các

vùng nước xa bờ Ngoài ra, để phát triển bền vững nghề chụp mực, cũng

cần phải có các qui định, chính sách khuyến khích đánh bắt xa bờ, hạn chế

và giảm dần lượng tàu nhỏ, hoạt động đánh bắt ở các ngư trường truyền

thống ven bờ

1.2.2 Ngư cụ khai thác

Hiện nay mỗi tàu sử dụng một mẫu lưới và các trang bị khác nhau tuỳ

thuộc vào kích thước vỏ tàu và kinh nghiệm đánh bắt (xem bảng I-1 và I-2)

Tuy nhiên, các mẫu lưới đều có nét giống nhau cơ bản và có thể phân thành

các loại sau đây:

+/ Căn cứ vào cấu tạo áo lưới:

- Loại áo lưới gồm những tấm lưới hình trụ ghép lại với nhau

- Loại áo lưới gồm các tấm lưới hình nón cụt ghép lại với nhau

+/ Căn cứ vào phương pháp trang bị phụ tùng:

- Loại lưới vừa trang bị chì vừa trang bị vòng khuyên

- Loại lưới chỉ trang bị vòng khuyên (thay cho cả chì)

+/ Căn cứ vào số tăng gông được trang bị có thể chia:

- Loại 2 tăng gông

- Loại 3 tăng gông

- Loại 4 tăng gông

- áo lưới: áo lưới chụp mực sau khi lắp ráp có dạng hình phễu, gồm 3

phần chính: đụt lưới, thân lưới và chao miệng Đụt lưới có tác dụng giữ mực

khi thu lưới, chao miệng dùng liên kết giữa thân lưới với giềng miệng nhằm

tăng độ bền cho lưới Phần thân lưới gồm các tấm lưới hình trụ có kích thước

Trang 18

khác nhau ghép lại áo lưới có tác dụng là sau khi thả, tạo thành tường lưới có

dạng hình nón bao vây đàn mực đang nổi lên tầng mặt như đi tìm ánh sáng đã

bị mất, không cho mực thoát ra ngoài theo phương ngang Kết cấu áo lưới sao

cho khi rơi chìm áo lưói mở đều, không bị chùng và gây lực căng cục bộ, hạn

chế mực đóng lưới đến mức thấp nhất Ngư dân sử dụng lưới súc bằng vật liệu

PA hoặc PE do nhà máy dệt sẵn, cắt thành tấm theo thiết kế và ghép lại với

nhau

- Tăng gông căng lưới: Tăng gông dùng để ra lưới và định hình lưới

trước khi thả, tăng gông càng dài, càng có cơ hội tăng chu vi miệng lưới và

tăng khả năng đánh bắt của lưới Tuy nhiên, chiều dài tăng gông phải phù hợp

với chiều dài tàu, đảm bảo tính ổn định của tàu trong quá trình đánh bắt Để

tăng kích thước lưới, nâng cao năng suất đánh bắt phương pháp dùng 4 tăng

gông căng lưới được áp dụng Hiện nay, các tàu chụp mực thường thao tác

lưới ở phía mạn trái nên hầu hết các tàu đều chọn chiều dài tăng gông mạn trái

nhỏ hơn chiều dài của tàu trung bình là 2m và lớn hơn chiều dài tăng gông

mạn phải trung bình là 2m (xem bảng I-1 và I-2)

Tăng gông phải được làm bằng vật liệu đảm bảo độ bền, chắc và thuận

tiện cho việc thao tác lưới Các tàu chụp mực ở vịnh Bắc Bộ hiện nay chủ yếu

sử dụng tăng gông làm bằng cây Sa mộc mua từ Trung Quốc

- Trang bị chì và vòng khuyên: Chì được lắp vào giềng miệng của lưới

để lưới có thể tự rơi chìm xuống nước khi mối liên kết giữa lưới với tăng gông

được tháo bỏ Vòng khuyên, ngoài tác dụng chính là cùng với giềng rút khép

kín miệng lưới không cho mực chạy thoát ra ngoài qua phía dưới giềng miệng,

còn có tác dụng tạo ra lực chìm như các viên chì, làm tăng tốc độ rơi chìm của

lưới Trang bị chì và vòng khuyên phải đảm bảo tốc độ rơi chìm của lưới trong

nước theo yêu cầu và thuận tiện cho quá trình cuộn rút hiện nay tồn tại hai

dạng trang bị chì khác nhau: dạng trang bị chì luồn và vòng khuyên và dạng

không lắp chì luồn thay vì tăng số lượng vòng khuyên và dùng vòng khuyên

Trang 19

có kích thước lớn Dạng có trang bị chì luồn làm cho giềng miệng lưới bị

cứng, thao tác khó khăn và giảm tốc độ rơi chìm Ngược lại, dạng không trang

bị chì luồn làm cho giềng miệng lưới mềm mại, thao tác lưới thuận lợi hơn và

làm tăng tốc độ rơi chìm của lưới

- Trang bị dây giềng: Hầu hết các mẫu lưới chụp mực hiện nay thường

sử dụng loại dây Polypropylene (PP) có đường kính từ 6mm - 18mm để lắp

ráp và định hình lưới Dây giềng miệng gồm 3 dây PP (6 -8) , dây giềng

rút PP(16 - 18), dây thắt đụt PP6, dây căng lưới PP(16-18)

1.2.3 Mùa vụ và ngư trường khai thác

Các loài mực ống thường tập trung ở những vùng nhất định Từ kết quả

phân tích số liệu về sản lượng đánh bắt nhiều năm của tàu nghiên cứu và tàu

sản xuất đã xác định được các vùng tập trung phân bố chính của mực ống ở

Vịnh Bắc Bộ là [10]:

Khu vực Cát Bà - Cô Tô, vụ chính từ tháng 8 – 10

Khu vực Hòn Mê - Hòn Mát, vụ chính từ tháng 8 – 10

Khu vực Bạch Long Vĩ, vụ chính từ tháng 8 – 10

Tuy nhiên, hầu hết các tàu chụp mực đều triển khai đánh bắt từ tháng 4

đến tháng 11, tập trung ở các ngư trưòng ven bờ, nơi có độ sâu từ 20 - 30m,

một số tàu đánh bắt ở ngư trường xa bờ nơi có độ sâu từ 30 - 50m

Sự phân bố của mực ống phụ thuộc theo mùa và điều kiện thời tiết, khí

hậu Thường các tháng mùa mưa (tháng 6 - 9), mực ống di chuyển ra vùng

nước sâu hơn Thời kỳ này, các tàu chụp mực tập trung đánh bắt ở ngư trường

có độ sâu từ 35m – 50m

1.2.4 Thực trạng sản phẩm nghề lưới chụp mực ở Vịnh Bắc Bộ

1.2.4.1 Thành phần và tỉ lệ loài khai thác được bằng lưới chụp mực

Đề tài đã tiến hành điều tra sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác

trong tháng 3 và tháng 4 năm 2005 từ 46 tàu chụp mực ở huyện Thuỷ Nguyên,

thành phố Hải Phòng và trong tháng 5 năm 2005 từ 70 tàu chụp mực ở huyện

Trang 20

Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Các đối tượng đánh bắt được trong nghề lưới chụp

mực rất đa dạng Kết quả điều tra cho trong bảng I-3 và I- 4 phụ lục I

Từ bảng I-3 cho thấy sản lượng khai thác được của nghề lưới chụp mực

vào tháng 3 và tháng 4 năm 2005 của các tàu chụp mực ở Thuỷ Nguyên chủ

yếu là cá (chiếm khoảng 71%), sản lượng mực chỉ chiếm khoảng 29% tổng

sản lượng sản phẩm khai thác được và sự phân bố sản lượng mực đánh bắt

được theo chiều dài cho trong bảng 1- 2

Bảng 1-2: Phân bố sản lượng mực đánh bắt được theo chiều dài vào tháng 3

và tháng 4 năm 2005 của các tàu chụp mực ở Thuỷ Nguyên, Hải Phòng

Phổ biến (mm)

Sản lượng (kg) Tỷ lệ % (theo sản lượng)

Tỷ lệ %

Trang 21

Hình 1-1: Biểu đồ tỷ lệ phần trăm theo nhóm chiều dài của sản lượng mực

đánh bắt được bằng lưới chụp mực trong tháng 3 và tháng 4/2005 của các tàu

chụp mực ở Thuỷ Nguyên, Hải Phòng

Từ bảng 1-2 và biểu đồ hình 1-1 cho thấy sản lượng mực loại 3 cao nhất

chiếm 55,1%, mực loại 1 chiếm 17,7% và mực loại 2 chiếm 27,2%

Từ bảng I- 4 cho thấy trong sản phẩm khai thác được của nghề lưới

chụp mực trong tháng 5 năm 2005 của các tàu chụp mực ở huyện Quỳnh Lưu,

Nghệ An thì cá chiếm khoảng 76,4% tổng sản lượng, mực chỉ chiếm khoảng

23,6% tổng sản lượng sản phẩm khai thác được và sự phân bố sản lượng mực

đánh bắt được theo chiều dài cho trong bảng 1-3

Bảng 1-3: Phân bố sản lượng mực đánh bắt được theo chiều dài vào tháng 5

năm 2005 của các tàu chụp mực ở Quỳnh Lưu, Nghệ An

Phổ biến (mm)

Sản lượng (kg) Tỷ lệ % (theo sản lượng)

Trang 22

Hình 1-2: Biểu đồ tỷ lệ phần trăm theo nhóm chiều dài của sản lượng mực

đánh bắt được bằng lưới chụp mực trong tháng 5 năm 2005 của các tàu chụp

mực ở Quỳnh Lưu, Nghệ An

Từ bảng 1-3 và biểu đồ hình 1-2 cho thấy : Sản lượng mực loại 3 chiếm

tỷ lệ cao nhất là 41,7%; mực loại 1 chiếm 27,4 % và mực loại 2 chiếm 30,9 %

tổng sản lượng mực khai thác được trong chuyến biển

1.2.4.2 Nhận xét chung về thực trạng sản phẩm khai thác của nghề lưới chụp

mực ở Vịnh Bắc Bộ

Từ số liệu và kết quả phân tích ở mục 1.2.4.1 có thể nhận xét như sau:

+ Trong sản phẩm khai thác được của các tàu chụp mực thì sản lượng cá

chiếm tỷ lệ tương đối cao trung bình >70% tổng sản lượng khai thác được

+ Sản phẩm mực khai được trong tháng 5 năm 2005 của các tàu chụp

mực ở Quỳnh Lưu, Nghệ An thì mực loại 1 chiếm tỉ lệ cao hơn và mực loại 3

chiếm tỉ lệ thấp hơn so với sản phẩm mực khai thác được trong tháng 3 và

tháng 4 năm 2005 của các tàu chụp mực ở Thuỷ Nguyên, Hải Phòng Tuy

nhiên, nhìn chung trong sản lượng mực khai thác được thì sản lượng mực loại

1 và loại 2 chiếm tỷ lệ không cao, mỗi loại trung bình < 30 % và mực loại 3

chiếm tỷ lệ tương đối cao trung bình từ 40 - 60%

+ Những cá thể mực loại 3 là mực ống Loligo edulis đều chưa đạt kích

thước cho phép khai thác

Chính vì vậy, tìm ra giải pháp để giải thoát các cá thể mực ống còn nhỏ

khỏi lưới chụp mực là vấn đề cần thiết, nhằm bảo vệ và duy trì nguồn lợi mực

ống được ổn định

1.3 Một số phương pháp giải thoát cá con và động vật biển trên thế

giới

Đến nay chúng ta vẫn chưa có các thông tin cần thiết về các thiết bị

thoát mực ống con cho lưới chụp mực từ nước ngoài Tuy nhiên, các nghiên

cứu về giải thoát cá con và động vật biển khá phong phú Dưới đây xin nêu

Trang 23

một số phương pháp giải thoát cá con và động vật biển áp dụng cho một số

loại ngư cụ trên thế giới

1.3.1 Phương pháp sử dụng thiết bị BRDs (By-catch reduction devices)

dùng cho lưới kéo tôm

1.3.1.1 Thiết bị cửa sổ mắt lưới vuông (Square mesh window)

Đây là loại thiết bị BRD đơn giản nhất Thiết bị này cho phép cá thoát

lên phía trên thông qua mắt lưới hình vuông lớn, trong khi đó tôm không thể

bơi nhanh bằng cá thì đi thẳng vào đụt lưới Cửa sổ mắt lưới vuông được lắp

vào phần đầu, phía trên của đụt lưới

Cửa sổ mắt lưới vuông được cấu tạo bởi các mắt lưới hình vuông, hệ số

rút gọn u1 = u2 = 0,707, nên trong quá trình làm việc mắt lưới luôn có độ mở

lớn nhất Đã có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm mắt lưới vuông để

giải thoát cá con cho lưới kéo tôm và lưới kéo cá Sử dụng dây giềng để định

hình tấm lưới ở dạng hình chữ nhật, tạo điều kiện thuận lợi để thay đổi thiết

bị trong quá trình thử nghiệm, có thể sử dụng kích thước tấm lưới hoặc kích

thước mắt lưới theo yêu cầu thử nghiệm Người ta cắt một phần trên lưng về

phía trước của đụt lưới có kích thước bằng kích thước của tấm lưới mắt vuông

thử nghiệm để lắp ghép tấm lưới mắt vuông thử nghiệm vào Sử dụng túi bao

bên ngoài để giữ lại cá con được thoát ra để đối chứng

a Đụt lưới b Cửa sổ mắt lưới vuông c Lỗ trống

0.8m 0.3 m

Trang 24

Hình 1-3: Cấu tạo cửa sổ mắt lưới vuông

Sau khi đan xong tấm lưới mắt vuông, người ta sử dụng dây PP6 để

định hình tấm lưới, cạnh mắt lưới được kéo căng để liên kết với dây giềng

bằng các nút cố định Hình dạng và cấu tạo của một loại tấm lưới mắt vuông

được thể hiện trên hình 1-3

Kích thước của cửa sổ lưới mắt vuông là 0,8m x1,2m hoặc 0,8m x 2,0m

(hình 1-3b) Chiều dài rút gọn đụt lưới là 4,5m

Lắp thiết bị: Cắt một khoảng trống hình chữ nhật phía trên gần miệng

đụt, kích thước tương ứng với kích thước của cửa sổ mắt lưới vuông (hình

3-9a) Sau khi cắt xong, dùng dây PP6 có kích thước (0,8m x 2 + 1,2m x 2)

hoặc (0,8m x2 + 2,0m x 2) để làm dây giềng cho phần lưới đã cắt ( hình 1-3c)

Phần lưới đã cắt được lắp vào đoạn dây giềng này theo hệ số rút gọn là u1= 0,5

(chiều ngang) và u2 = 0,86 (chiều dọc) Sau đó lắp ráp tấm lưới mắt vuông vào

phần lưới đã cắt ở đụt lưới bằng hình thức sươn quấn Sử dụng đụt ngoài bao

xung quanh đụt lưới để giữ lại số lượng cá con thoát ra ngoài để so sánh khả

năng thoát (xem hình 1-4)

Chú thích:

1.Đụt bao ngoài 3 Lưới mắt vuông 5 Vòng sắt

2 Đụt lưới 4 Phao

4.5

3.5 3.5

Trang 25

Hình 1- 4: Lắp ráp đụt bao ngoài vào đụt lưới

1.3.1.2 Thiết bị BRD bằng dây giềng

Thiết bị BRD bằng dây giềng là một cửa sổ gồm các dây giềng song song

nhau bố trí theo chiều dài của đụt lưới Thiết bị này dùng để thay thế cho cửa

sổ mắt lưới vuông và thường được bố trí ở cùng vị trí của cửa sổ mắt lưới

vuông

Hình 1-5: Sơ đồ cấu tạo và lắp rắp thiết bị BRD bằng dây giềng

vào đụt lưới

1.3.2 Phương pháp sử dụng các thiết bị JTEDs (Juvenile and Trash

Excluder Devices)

Với mục đích nghiên cứu chế tạo ra các ngư cụ đánh bắt có hiệu quả,

nhưng đồng thời giảm được tỷ lệ sản phẩm không mong muốn như cá con, cá

tạp và một số loài động vật biển khác, trong hai năm 1998 và 1999, Cục huấn

luyện thuộc Trung tâm phát triển nghề cá Đông- Nam á (SEAFDEC) đã thực

hiện một loạt các thí nghiệm ở Vịnh Thái Lan về thiết bị thoát rùa (Turtle

Excluder Devices - TEDs) cho lưới kéo tôm và thiết bị thoát cá con và cá tạp

(Juvenile and Trash Excluder Devices – JTEDs) cho lưới kéo Trong những

năm 2000, 2001 tiếp tục thí nghiệm thiết bị thoát cá con và cá tạp (Juvenile

and Trash Excluder Devices – JTEDs) cho lưới kéo ở vùng biển của các nước

khác trong khu vực như Brunei, Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines

Thiết bị thí nghiệm gồm một số loại sau đây:

Trang 26

1.3.2.1 Thiết bị JTEDs hình chữ nhật

Thiết bị JTEDs hình chữ nhật được thí nghiệm ở vùng biển Indonesia, gồm

một khung thép không rỉ kích thước 80x100 cm2, đường kính thanh thép là 10

mm, cửa thoát được tạo ra bởi các thanh thép song song có đường kính 6 mm,

đặt cách nhau 40mm (Xem hình 1-6)

c ử a t h o át

K h o ả n g c á c h 4 0 m m

Hình 1-6: Cấu tạo của JTEDs hình chữ nhật

1.3.2.2 Loại thiết bị JTEDs nửa hình cong

Thiết bị này cũng có kích thước 80x100 cm2, nhưng cửa thoát sử dụng dây

mềm (polyethylene có đường kính 6 mm) đặt song song nhau, khoảng cách

giữa 2 dây là 40 mm (xem hình 1-7)

Hình 1-7: Cấu tạo của JTEDs nửa hình cong

1.3.2.3 Thiết bị JTEDs thanh cứng

Thiết bị được cấu tạo bởi 3 khung sắt hình chữ nhật Các khung được liên

kết với nhau bằng hệ thống bản lề và dây xích Nhờ hệ thống này nên hai

Trang 27

khung trước và sau của thiết bị có thể thay đổi góc nghiêng theo sự hoạt động

của đụt lưới (xem hình 1-8) Khung được làm bằng ống Inox 22 Các song

chắn làm bằng thanh Inox 6, tạo khe hở cho cá con thoát ra ngoài đụt lưới

Thiết bị được lắp vào đụt lưới với góc nghiêng giữa hai tấm liên tiếp là 1200

Sơ đồ lắp rắp (xem hình 1-9)

ố n g I n o x 2 2

Hình 1-8: Cấu tạo của JTEDs thanh cứng

Để giữ cố định cho thiết bị luôn ở hình dạng mong muốn, sử dụng 4

đoạn xích: 2 đoạn có chiều dài 800mm  820mm (Fe 6) và 2 đoạn có chiều

dài 1.030mm  1.140mm (Fe 4 hoặc Fe 6)

Thiết bị được lắp vào đụt lưới và được trang bị lực nổi phù hợp để

không làm ảnh hưởng đến sự hoạt động của đụt lưới Dùng túi JTEDs để giữ

lại cá thoát ra ngoài để đối chứng Cách lắp túi JTEDs được thể hiện trên hình

1-10

Trang 28

Hình 1-9: Sơ đồ lắp rắp thiết bị JTEDs thanh cứng vào đụt lưới

Trang 29

Hình 1-10: Lắp ráp túi JTEDs vào đụt lưới

1.4 Tình hình nghiên cứu giải pháp thoát cá con và động vật biển ở

Việt Nam

Tháng 5 năm 2001, SEAFDEC đã hợp tác với Viện nghiên cứu Hải sản

Hải phòng thực hiện nghiên cứu thử nghiệm thiết bị thoát cá con trên lưới kéo

đáy ở vùng biển Cát Bà, Hải Phòng

Kết quả cho thấy tỷ lệ thoát (%) khi sử dụng thiết bị JTEDs thanh cứng

trong khoảng từ 12 – 28% là cá tạp và từ 10 – 40% là các loại cá khác Điều

này cho thấy thiết bị JTEDs thanh cứng cho khả năng thoát cá tạp tốt hơn so

với loại JTEDs hình chữ nhật và nửa hình cong

Hiện nay, Viện nghiên cứu Hải sản đang thực hiện đề tài nghiên cứu

khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu thiết kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc cho một số

loại nghề khai thác hải sản” Đề tài có một phần nội dung nghiên cứu về giải

pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực Tuy nhiên, đề tài đang trong giai

đoạn nghiên cứu và hoàn thiện nên kết quả chưa được công bố

Trang 30

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Nghề lưới chụp mực ở Vịnh Bắc Bộ

+ Các loài mực ống nói chung

2.2 Phương pháp nghiên cứu

+ Thu thập số liệu từ các Chi cục Bảo vệ nguồn lợi và các Sở Thuỷ sản

của các tỉnh phía Bắc Dùng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp các thuyền

trưởng tàu chụp mực

+ Sử dụng thiết bị được lựa chọn để đánh bắt thực nghiệm trên biển

+Số liệu đánh bắt thử nghiệm được phân tích theo phương pháp thống

kê, cụ thể là số loài, số cá thể theo từng nhóm chiều dài của mỗi loài, tổng số

cá thể của mỗi loài, trọng lượng theo nhóm chiều dài của mỗi loài, tổng trọng

lượng của mỗi loài có trong đụt lưới và có trong túi bao ngoài của từng loại

thiết bị trong các trường hợp đánh bắt khác nhau

+ Dụng cụ và phương pháp đo

Để có độ chính xác cao cần thiết phải tiến hành đo đạc nhiều lần, song

do điều kiện thực tế trên tàu nên chỉ thực hiện 3 giá trị đo trong một phép đo,

cân và lấy giá trị trung bình Mực đánh được được phân theo nhóm chiều dài,

sau đó một người đo chiều dài, một người cân trọng lượng và đọc giá trị cho

người thứ ba ghi kết quả đo đạc

Trọng lượng mực trong mẫu nghiên cứu được cân bằng loại cân 3 dây

treo (5kg) do Việt Nam sản xuất

Chiều dài mực được đo bằng thước nhựa loại 30cm ghép cố định trên

một tấm phẳng bằng xốp

2.3 Tài liệu và phương tiện nghiên cứu

Trang 31

2.3.1 Tài liệu nghiên cứu

Việc nghiên cứu dựa vào các nguồn tài liệu và số liệu chủ yếu sau:

- Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài “Nghiên cứu khai thác mực đại

dương (Sthenoteuthus Oualaniensis) và mực ống (Loligo Spp)” [8]

- Broadhurst M.K and S.F.Kennelly, 1996, Effects of the circumfence of

codends and a new design of square mesh panel in redụcing unwanted

by-catch in the New South Wales Ocean Prawn, trawl fishery, Australia [13]

- SEAFDEC, Training Department (2000), Study on Juvenile and Trash

Excuder Devices (JTEDs) in Thailand [20]

- SEAFDEC, Training Department (2001), Study on Juvenile and Trash

Excuder Devices (JTEDs) in Vietnam [21]

- SEAFDEC, Training Department (2001), Study on Juvenile and Trash

Excuder Devices (JTEDs) in Malaysia [22]

- SEAFDEC, Training Department (2001), Study on Juvenile and Trash

Excuder Devices (JTEDs) in Idonesia [23]

- Các số liệu về đăng ký và đăng kiểm tàu cá của các tỉnh ven biển phía Bắc

trong các năm 2002, 2003, 2004, 2005

- Kết quả điều tra trực tiếp từ ngư dân bằng phương pháp phỏng vấn và phiếu

điều tra

- Số liệu thu được từ 02 chuyến biển đánh bắt thực nghiệm trên lưới chụp mực

của đề tài: “Nghiên cứu thiết kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc cho một số loại

nghề khai thác hải sản” do Viện nghiên cứu Hải sản chủ trì với thiết bị lưới

mắt vuông có kích thước cạnh mắt lưới là a = 12mm, a = 14mm, a = 16mm,

a = 18mm, a = 20mm

2.3.2 Phương tiện nghiên cứu

2.3.2.1 Tàu thuyền sử dụng để nghiên cứu

Tàu sử dụng để nghiên cứu là tàu HP-9030BTS của doanh nghiệp tư

nhân Hoàng Tiến, thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

2.3.2.2 Ngư cụ sử dụng để nghiên cứu

Sử dụng lưới chụp mực trang bị trên tàu HP-9030BTS để tiến hành

nghiên cứu

Trang 32

2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu chủ yếu của đề tài là thành phố Hải Phòng và một

số tỉnh có nghề chụp mực phát triển ở phía Bắc như: Nghệ An, Quảng Ninh

Các số liệu chung được tìm hiểu tại các Sở Thủy sản và các Chi cục Bảo

vệ nguồn lợi Thủy sản của các tỉnh ven biển phía Bắc Theo số liệu điều tra

(xem bảng 1-1) cho thấy tàu thuyền làm nghề chụp mực tập trung nhiều nhất ở

thành phố Hải Phòng (chiếm 29,2%) Mặt khác, trong những năm qua nghề

lưới chụp mực ở Hải Phòng khai thác đạt sản lượng và hiệu quả kinh tế cao

hơn các địa phương khác, nên Hải Phòng được chọn làm địa bàn chính trong

việc nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu

Đề tài đã tiến hành đánh bắt thực nghiệm ở các ngư trường thuộc Vịnh

Bắc Bộ, từ Long Châu đến Bà Lạt

Đề tài được thực hiện vào cuối năm 2004 và năm 2005, chia làm 2 đợt:

- Đợt 1: Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2004

- Đợt 2: Từ tháng 4 đến hết tháng 5 năm 2005

2.5 Phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu

Việc xử lý số liệu thu được bằng thực nghiệm được thực hiện theo

phương pháp thống kê So sánh tỉ lệ (%) theo trọng lượng và theo số lượng cá

thể giữa mực ống được giữ lại ở đụt lưới với mực ống thoát ra ngoài qua thiết bị

thử nghiệm và bị giữ lại ở túi bao ngoài theo từng nhóm chiều dài

Tỷ lệ (%) mực ống thoát ra ngoài qua thiết bị thử nghiệm bị giữ lại ở

túi bao ngoài được tính toán như sau:

- Tính theo (%) trọng lượng:

Số(%) trốn thoát = Wtúi bao ngoài x 100/ (Wđụt lưới + Wtúi bao ngoài)

Trong đó: Wtúi bao ngoài là trọng lượng mực ống (g) có trong túi bao ngoài

Wđụt lưới là trọng lượng mực ống có trong đụt lưới

- Tính theo (%) số cá thể:

Số(%) trốn thoát = Ntúi bao ngoài x 100/ (Nđụt lưới + Ntúi bao ngoài)

Trong đó: Ntúi bao ngoài là số cá thể mực ống (con) có trong túi bao ngoài

Nđụt lưới là số cá thể mực ống có trong đụt lưới

Trang 33

Chương 3 kết quả nghiên cứu

3.1 Nguyên lý đánh bắt của lưới chụp mực:

Lưới chụp mực thuộc lớp ngư cụ lọc nước bắt cá Lưới có dạng hình

phễu úp ngược được căng trên các tăng gông lắp hai bên mạn tàu Trên tàu

người ta thắp đèn chiếu sáng vùng nước để tập trung mực, khi mực tập trung

nhiều thì tiến hành thả lưới Giềng miệng được trang bị chì nặng, rơi chìm với

tốc độ cao ngăn không cho mực thoát ra ngoài qua phía dưới miệng lưới Nhờ

lực đẩy ác-si-mét, áo lưới trong quá trình rơi chìm được mở ra tạo nên tường

lưới dạng mặt nón bao vây lấy đàn mực Sau đó, dùng máy tời thu dây giềng

rút để nhanh chóng khép kín miệng lưới và tiến hành thu lưới lấy mực

Khả năng chọn lọc của lưới chụp mực phụ thuộc vào nhiều yếu như:

kích thích mắt lưới, độ mảnh chỉ lưới, hệ số rút gọn, tốc độ rơi chìm của lưới

khi hoạt động,

3.2 ảnh hưởng của ánh sáng và tập tính của mực ống đến hiệu quả đánh

bắt của lưới chụp mực:

3.2.1 Tác dụng của ánh sáng đối với nghề cá:

ánh sáng trong đời sống của cá có ý nghĩa như là tín hiệu của thức ăn,

sự tạo đàn, bảo vệ khỏi kẻ thù ánh sáng hết sức quan trọng đối với các loài

cá nổi, đặc biệt loài mực ống sống ở vùng nước được chiếu sáng tốt Hiệu quả

sử dụng công cụ nhìn của cá phụ thuộc trước hết vào mức độ chiếu sáng tự

nhiên hoặc nhân tạo trong vùng nước[6]

Đối với các nghề khai thác cá kết hợp ánh sáng, yêu cầu đặt ra là

nghiên cứu trường sáng nhân tạo của các nguồn sáng trên mặt nước và trong

nước, vùng tác dụng của nó ánh sáng của các nguồn đó xác định điều kiện

định hướng nhìn trong vùng ngư cụ và như là kích thích có hoặc không có

Trang 34

điều kiện làm cho cá có phản ứng này hay phản ứng khác

Khi cá chuyển động theo hướng nguồn sáng thì độ chiếu sáng của mắt

cá dần dần tăng lên Tốc độ thích ứng của cá với ánh sáng và bóng tối có ý

nghĩa quan trọng Người ta xác định được rằng sự thích nghi ánh sáng

(chuyển từ tối sang sáng) về cơ bản kết thúc sau 10 – 30 giây, nhưng sự thích

nghi bóng tối (chuyển từ sáng sang tối) phải qua 30 phút Cảm nhận ánh sáng

của cá với các thành phần quang phổ khác nhau không giống nhau Các điểm

cực đại của sự cảm nhận quang phổ của mắt cá phân bố ở khu vực quang phổ

mà chính ở đó có giá trị cực tiểu của sự suy giảm ánh sáng trong nước trong

các điều kiện cư trú của cá Sự điều chỉnh của mắt cá từ sức nhìn ban ngày

sang lúc nhá nhem tối bắt đầu khi độ chiếu sáng là 10-3 - 10 lux [6]

3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến trường sáng và vùng tác dụng của nguồn

sáng:

Số lượng các yếu tố ảnh hưởng đến trường sáng của nguồn sáng trên

mặt nước lớn hơn so với trường sáng dưới nước

Độ cao bố trí đèn có ảnh hưởng rất lớn đến kích thước vùng tác dụng

của nguồn sáng trên mặt nước Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, cùng

với việc tăng độ cao đặt nguồn thì kích thước vùng tác dụng theo phương

ngang được tăng lên nhanh, trong khi đó theo phương thẳng đứng giảm đi

không đáng kể Việc tăng độ cao đặt nguồn một số lần tương đương với việc

tăng công suất bằng chừng đó lần [6] Do vậy, để có được kích thước lớn của

vùng tác dụng của nguồn sáng trên mặt nước cần phải bố trí nguồn sáng ở vị

trí cao nhất có thể được

Cùng với việc tăng công suất nguồn sáng trên mặt nước thì kích thước

theo phương ngang của vùng tác dụng tăng nhanh đáng kể so với chiều cao

của nó Tuy nhiên, việc tăng công suất của các nguồn quá 100 - 200kw là

không hợp lý, đặc biệt khi độ cao đặt nguồn nhỏ, bởi vì khi kích thước vùng

tác dụng lớn và góc tới của các tia trên mặt phân cách lớn thì hầu như toàn bộ

Trang 35

Hình 3-1: Sơ đồ bố trí nguồn sáng của tàu chụp mực

ánh sáng phản xạ lại không khí và kích thước vùng tác dụng tăng không đáng

kể

Kích thước trường sáng của các nguồn trên mặt nước phụ thuộc vào độ

trong của nước Khi tăng độ trong của nước lên 2 lần thì thể tích vùng tác

dụng của nguồn sáng trên mặt nước tăng 3 - 4 lần, ngoài ra còn tăng được độ

sâu của vùng tác dụng

Sự tác động lớn đến trường sáng của nguồn sáng trên mặt nước còn là

độ trong của không khí Vào hôm sương mù, các kích thước ngang của vùng

tác dụng đôi khi giảm xuống vài lần và điều đó có thể làm cản trở đến việc

đánh cá sử dụng nguồn sáng trên mặt nước

Sự phân bố góc của ánh sáng xung quanh nguồn sáng trên mặt nước ảnh

hưởng đến cấu trúc của trường sáng Nếu nguồn sáng có sự phân bố góc của

ánh sáng đồng đều thì một nửa dòng ánh sáng (trong giới hạn nửa cầu trên)

hoàn toàn thất thoát, còn dòng ánh sáng trong giới hạn nửa cầu dưới tạo ra

trong vùng nước tác dụng có độ sâu khác nhau Chính vì vậy, nên khi đánh cá

dùng nguồn sáng trên mặt nước người ta sử dụng các dạng chao đèn, chụp đèn

khác nhau, chúng tạo ra trường sáng chỉ trong giới hạn của nửa cầu dưới có

thể lựa chọn

Trang 36

Các nghề khai thác mực nhìn chung đều sử dụng ánh sáng Gần đây,

kích thước các tàu và công suất nguồn sáng trên các tàu tăng lên nhiều Tuy

nhiên, việc bố trí và và sử dụng thích hợp nguồn sáng đòi hỏi không gây trở

ngại đối với các hoạt động khác ở trên tàu

Nguồn sáng được bố trí trên tàu, công suất mỗi đèn từ 500w – 1500w

Đèn được bố trí dọc theo mạn tàu để lôi cuốn các đàn mực nổi lên tầng mặt

Theo tài liệu [15], kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về sự phân bố độ

sáng theo độ sâu của nguồn sáng đặt trên mặt nước ở vùng biển Nhật Bản như

sau:

 Nguồn sáng công suất 3Kw (500w x 6 đèn) chỉ ra sự giảm đáng kể

độ sáng từ mặt nước xuống độ sâu 6m, nhưng từ độ sâu đó xu

hướng giảm yếu của ánh sáng chậm hơn, cụ thể là 4lux ở độ sâu 6m,

0,15 lux ở độ sâu 25m và ở độ sâu từ 34m – 45m là 10-2 lux

 Độ sáng của nguồn có công suất 2Kw là 15 lux ở độ sâu 0,5m, 5 lux

ở độ sâu 3m và 1lux ở độ sâu 6m

 Độ sáng của nguồn có công suất 5Kw là 21lux ở độ sâu 0,5m, 10lux

ở độ sâu 3m và 3lux ở độ sâu 6m

3.2.3 ảnh hưởng của ánh sáng trăng đến nghề khai thác mực:

ánh sáng trăng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đánh bắt mực Theo kết

quả nghiên cứu, nếu thời điểm trăng mọc vào buổi sáng thì số giờ sáng trăng

sẽ ngắn và thuận lợi cho việc khai thác mực Mực có tập tính tìm mồi vào lúc

hoàng hôn và bình minh và trong khoảng thời gian nửa đầu của tuần trăng kết

quả đánh bắt mực tốt hơn Bằng việc quan sát tập tính sinh học, người ta thấy

rằng các đàn mực vào đêm trăng sáng bơi mạnh với mục đích giao phối,

nhưng những đêm tối trăng hoạt động này không diễn ra và dường như dễ bị

cuốn hút hơn bởi ánh sáng đèn

Khi đánh bắt vào những đêm trăng sáng ở độ sâu không lớn lắm thì tác

dụng lôi cuốn mực của nguồn sáng giảm xuống Sản lượng giảm trong trường

hợp này là do mặt trăng không những chỉ chiếu sáng trên mặt biển mà còn

xuyên xuống nước đến một độ sâu nhất định làm giảm cường độ ánh sáng

Trang 37

đèn Vì vậy, mực không tập trung nhiều bên nguồn sáng Ngoài ra trong thời

gian này tập tính của mực cũng thay đổi Mực sống phân tán hơn - thành

những đàn riêng lẻ

ảnh hưởng của ánh sáng trăng đối với sản lượng đánh bắt không giống

nhau Nó phụ thuộc vào tuần trăng, vị trí trăng so với mặt biển, trạng thái thời

tiết

3.2.4 Phản ứng tập tính của mực trong vùng được chiếu sáng:

Theo kết quả nghiên cứu tập tính của mực cho thấy: Đàn mực bị lôi

cuốn lên tầng mặt khi độ sáng là từ 0 đến 100 lux sau khi mặt trời lặn (từ

19h00 – 20h00) Theo tài liệu [15] nếu độ sáng trên bề mặt > 100 lux thì khả

năng mực bị lôi cuốn, tập trung bên nguồn sáng là ít Mực dễ bị ánh sáng lôi

cuốn và bơi lên gần mặt nước, nhưng nếu ánh sáng quá mạnh và chiếu trực

tiếp vào đàn mực thì làm cho hoạt động tìm mồi của mực giảm Tuy nhiên,

mực sẽ tập trung nhiều ở nơi có ánh sáng yếu hơn hoặc vùng bóng tối dưới

đáy tàu Đôi khi mực tập trung gần vùng bọt nước màu trắng do sóng vỗ vào

thân tàu hoặc do tàu chuyển động tạo nên Theo kết quả khảo sát bằng máy dò

cá thì hầu hết các đàn mực tập trung ở độ sâu từ 5m –30m, đôi khi ở độ sâu

50m, độ sáng tối thiếu 10-2 lux Mực bị lôi cuốn nhiều nhất vào ánh sáng tím

(quan sát của Xônhina Pôtrekaep) Tuy nhiên, theo tài liệu của Ia.Iu.Oclop và

của A.A.Bưzôp thì nhuyễn thể chân đầu (mực) không có khả năng phân biệt

màu sắc

Nếu cường độ ánh sáng ở phần giữa tàu lớn hơn ở phần mũi và lái thì

hiệu quả đánh bắt cao hơn và ngược lại Mực nhìn chung thích tập trung ở

phía dưới đáy tàu, nơi ánh sáng bị che khuất để quan sát vùng được chiếu sáng

trực tiếp Theo kinh nghiệm, hiệu quả đánh bắt có quan hệ với vùng ánh sáng

bị che khuất dưới đáy tàu, có nghĩa là có liên quan đến việc bố trí đèn chiếu

sáng trên tàu

Lợi dụng phản ứng tập tính của mực khi ở gần nguồn sáng, đó là mực

Trang 38

chỉ thích nguồn sáng có cường độ chiếu sáng yếu và tập trung nhiều nơi ánh

sáng bị che khuất; khi ánh sáng giảm mạnh thì mực nhao lên mặt nước như đi

tìm nguồn sáng bị mất Do đó, khi mực tập trung với số lượng lớn thì tiến

hành điều chỉnh độ sáng của đèn để lôi cuốn mực nổi lên mặt nước, đồng thời

thả lưới để chụp lấy đàn mực từ trên xuống

Từ phương pháp đánh bắt của lưới chụp mực và tập tính của mực khi tập

trung trong khu vực chiếu sáng, xem xét một cách hợp lý, ta có thể chia phản

ứng tập tính của mực thành các giai đoạn chủ yếu sau:

 Giai đoạn I: Mực có tập tính tự nhiên

 Giai đoạn II: Phản ứng tập tính của mực khi phát hiện ra nguồn sáng

 Giai đoạn III: Mực tập trung trong vùng tác dụng đánh bắt của lưới

chụp mực

 Giai đoạn IV: Khi thả lưới

 Giai đoạn V: Cuộn rút giềng miệng và thu lưới

Giai đoạn I, mực nằm ngoài khu vực lôi cuốn, ảnh hưởng của nguồn

sáng, do vậy để tập trung mực đến vị trí thuận lợi cho việc đánh bắt, phải chọn

ngư trường thích hợp, phát sáng trên đường di chuyển của mực để mực phát

hiện ra nguồn sáng và tập trung đến nguồn sáng Để mở rộng phạm vi lôi cuốn

mực, tăng hiệu quả tập trung mực bên nguồn sáng trong thời gian chiếu sáng

tập trung mực người ta thả trôi tàu

Giai đoạn II, phản ứng tập tính của mực có liên quan đến tập tính của

chúng khi tập trung xung quanh nguồn sáng Mực tập trung đến nguồn sáng

theo phản xạ tìm mồi và chúng thường thích ánh sáng yếu nên chúng tập trung

ở xa, hoặc ở nơi có bóng tối như khu vực ở dưới đáy tàu mà không đến quá

gần nguồn sáng Đặc biệt, tập tính của mực trong giai đoạn này còn phụ thuộc

vào ảnh hưởng của tàu giống như là nguồn của trường âm thanh, nó có thể gây

ra sự lặn chìm hoặc sự tản mát của mực

Giai đoạn III, mực tập trung trong vùng tác dụng đánh bắt của lưới chụp

Trang 39

mực Ta thay đổi độ chiếu sáng của nguồn, cuốn hút mực nổi lên mặt nước và

tập trung vào vùng tác dụng đánh bắt Ngoài trường sáng nhân tạo còn có

trường sáng tương phản của ngư cụ, trường âm thanh do động cơ của tàu phát

ra ảnh hưởng đến mực Trong giai đoạn này có thể chia ra hai lớp tập tính:

mực nổi lên, tập trung vào vùng tác dụng đánh bắt của lưới và mực đi ra khỏi

vùng tác dụng đó (sự mất mực) Hiệu quả của sự điều khiển trong giai đoạn

này phụ thuộc vào tính chất phản ứng của mực khi thay đổi chế độ chiếu sáng

của nguồn

Giai đoạn IV, Trong thời gian thả lưới, trường sáng nhân tạo, trường âm

thanh của tàu vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến tập tính của mực Ngoài ra, phản ứng

tập tính của mực còn chịu ảnh hưởng của trường sáng tương phản, trường âm

thanh do ngư cụ rơi chìm gây ra, độ nhìn thấy của tường lưới trong quá trình

rơi chìm ở giai đoạn này, có thể đặc trưng bởi các lớp tập tính: sự di chuyển

theo phương ngang và theo phương thẳng đứng để đi ra khỏi vùng đánh bắt từ

phía dưới giềng miệng trước khi kết thúc thả

Hình 3-2: Các giai đoạn phản ứng tập tính của mực khi đánh bắt

bằng lưới chụp mực

Trang 40

Giai đoạn V, Khi tiến hành cuộn rút giềng miệng, những kích thích tác

động đến tập tính đối tượng đánh bắt vẫn còn tồn tại như ở giai đoạn trước

Tuy nhiên, vai trò của trường sáng tương phản của ngư cụ tăng lên, còn trường

âm giảm đi Việc cuộn rút giềng miệng để kép kín miệng lưới được thực hiện

rất nhanh nên các lớp tập tính của đối tượng đánh bắt trong giai đoạn này là

như nhau, không ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác Tuy vậy, cũng có khả

năng lượng mực mất đi từng phần hay toàn bộ do lưới bị thủng,v.v

3.3 Lựa chọn tàu và lưới triển khai nghiên cứu

3.3.1 Lựa chọn tàu chụp mực triển khai nghiên cứu

Để tiến hành thực hiện đề tài, qua phân tích các mẫu tàu và lưới chụp

mực ở Hải Phòng tôi đã chọn tàu HP – 9030BTS thuộc Công ty trách nhiệm

hữu hạn Hoàng Tiến, thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng làm phương tiện để

3.3.1.2 Các trang thiết bị hàng hải trên tàu triển khai nghiên cứu

- Máy thông tin liên lạc: ARGO

- Máy định vị vệ tinh – dò cá : V608P

- La bàn từ

3.3.1.3 Các trang thiết bị khai thác trên tàu triển khai nghiên cứu

- Máy tời: Máy tời được lắp đặt trên boong tàu, dùng để thu dây giềng

rút và ra lưới trong quá trình thực hiện đánh bắt Gồm những bộ phận sau

(hình 3-4):

Ngày đăng: 31/08/2014, 07:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Động (1997), Cơ sở khoa học chọn lọc ngư cụ. Giáo trình cao học. Đại học Thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học chọn lọc ngư cụ
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 1997
2. Nguyễn Văn Động (1997), Một số vấn đề lý thuyết và thiết kế ngư cụ. Giáo trình cao học. Đại học Thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý thuyết và thiết kế ngư cụ
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 1997
3. Nguyễn Xuân Dục (1978), Lớp chân đầu (Cephalopoda), Vịnh Bắc Bộ. Tuyển tập nghiên cứu biển, Tập I (1), 153-173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lớp chân đầu (Cephalopoda), Vịnh Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Xuân Dục
Năm: 1978
4. Nguyễn Xuân Dục, Phan Trọng ý (1979), Thành phần giống loài và sản lượng khai thác mực ở Vịnh Bắc Bộ. Tạp chí sinh học I (1), 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần giống loài và sản lượng khai thác mực ở Vịnh Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Xuân Dục, Phan Trọng ý
Năm: 1979
5. Nguyễn Xuân Dục (1993), Loại mực ống mới Loligo vietnamensis nguyen sp.n ở biển Việt Nam. Tạp chí sinh học số 4 – 1884: 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại mực ống mới Loligo vietnamensis nguyen sp.n ở biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Dục
Năm: 1993
6. Hoàng Hoa Hồng (2000), Cơ sở kỹ thuật sinh học khai thác cá công nghiệp. Giáo trình cao học. Đại học Thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở kỹ thuật sinh học khai thác cá công nghiệp
Tác giả: Hoàng Hoa Hồng
Năm: 2000
7. Trương Sỹ Kỳ (1996), Nguồn lợi cá biển Việt Nam. Giáo trình cao học. Viện Hải dương học Nha trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi cá biển Việt Nam
Tác giả: Trương Sỹ Kỳ
Năm: 1996
8. Nguyễn Long (2001), Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài: Nghiên cứu khai thác mực đại dương (Sthenoteuthus Oualaniensis) và mực ống (Loligo Spp). Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài: "Nghiên cứu khai thác mực đại dương (Sthenoteuthus Oualaniensis) và mực ống (Loligo Spp)
Tác giả: Nguyễn Long
Năm: 2001
9. Thái Văn Ngạn (1997), Cơ sở điều khiển đối tượng đánh bắt. Giáo trình cao học. Đại học Thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở điều khiển đối tượng đánh bắt
Tác giả: Thái Văn Ngạn
Năm: 1997
10. Nguyễn Tấn Trịnh cùng các tác giả (1996), Nguồn lợi thủy sản Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi thủy sản Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tấn Trịnh cùng các tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
11. Cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (1995), Những điều cần biết về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Việt Nam
Tác giả: Cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
15. Masatsune Normura and Tomeyohi Yamazki (1975), Fishing Techniques. Japan International Cooperation Agency Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fishing Techniques
Tác giả: Masatsune Normura and Tomeyohi Yamazki
Năm: 1975
17. SEAFDEC, Traing Department, Regional work shop on responsible fishing. 24-27 June 1997, Thailand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regional work shop on responsible fishing
18. SEAFDEC, Traing Department (2001), Exploration of purpleback flying squid, Sthenoteuthis. Resources in the South china Sea Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploration of purpleback flying squid, Sthenoteuthis
Tác giả: SEAFDEC, Traing Department
Năm: 2001
12. Sổ bộ đăng ký tàu cá, Chi cục bảo vệ nguồn lợi Thủy sản các tỉnh phía Bắc, 2002- 2005 Khác
13. Broadhurst.M.K. and S.F.Kennelly (1996), Effects of the Khác
14. FAO, Fisheries Circular No.936 FIIT/C936 Test, demostrations and traing for the utilization of by-catch reduction devices in shimp trawling fisheries in the Gulfs Bandar – Abbas, Iran, 12 -16 Oct, 1997 Khác
16. SEAFDEC, Traing Department (1996), Introduction of TEDs in Asia Khác
19. SEAFDEC, Traing Department (2000), Regional guidlines for responsible fishing operation in Southeast Asia Khác
20. SEAFDEC, Traing Department (2000), Study on Juvenile and Trash Excluder Devices (JTEDs) in Thailand Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1-10: Lắp ráp túi JTEDs vào đụt lưới - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
nh 1-10: Lắp ráp túi JTEDs vào đụt lưới (Trang 29)
Hình 3-2:  Các giai đoạn  phản ứng tập tính của mực khi đánh bắt  bằng  lưới chụp mực - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 2: Các giai đoạn phản ứng tập tính của mực khi đánh bắt bằng lưới chụp mực (Trang 39)
Bảng 3-1: Bảng thống kê vật liệu neo dù. - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Bảng 3 1: Bảng thống kê vật liệu neo dù (Trang 41)
Hình 3-3: Tàu HP-9030BTS - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 3: Tàu HP-9030BTS (Trang 42)
Hình 3-4: Máy tời trang bị trên tàu - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 4: Máy tời trang bị trên tàu (Trang 43)
Hình 3-5: Bố trí cần cẩu ở trên tàu - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 5: Bố trí cần cẩu ở trên tàu (Trang 43)
Hình 3-8: Bố trí đèn chiếu sáng tập trung mực trên tàu - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 8: Bố trí đèn chiếu sáng tập trung mực trên tàu (Trang 45)
Hình 3-9: Bố trí  hệ thống tăng gông căng lưới ở trên tàu - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 9: Bố trí hệ thống tăng gông căng lưới ở trên tàu (Trang 47)
Hình 3-10:  Bản vẽ khai triển lưới chụp mực triển khai nghiên cứu - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 10: Bản vẽ khai triển lưới chụp mực triển khai nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 3-2  : Thống kê vật liệu áo lưới - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Bảng 3 2 : Thống kê vật liệu áo lưới (Trang 49)
Bảng 3-3 : Thống kê trang bị phụ tùng lưới - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Bảng 3 3 : Thống kê trang bị phụ tùng lưới (Trang 49)
Hình 3-11: Lưới đã được xếp lên mặt boong trước khi căng lên tăng gông. - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 11: Lưới đã được xếp lên mặt boong trước khi căng lên tăng gông (Trang 53)
Hình 3- 12: Mối liên kết giữa dây ganh với giềng chì. - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 12: Mối liên kết giữa dây ganh với giềng chì (Trang 53)
Hình 3- 13: Sơ đồ căng lưới trên tăng gông trước khi thả. - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 13: Sơ đồ căng lưới trên tăng gông trước khi thả (Trang 54)
Hình 3- 14: Lưới đang được thả xuống nước - nghiên cứu giải pháp thoát mực ống con cho lưới chụp mực ở vịnh bắc bộ
Hình 3 14: Lưới đang được thả xuống nước (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w