1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả giám sát từ xa của thanh tra Ngân hàng nhà nước

17 600 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát từ xa của thanh tra ngân hàng nhà nước với các tổ chức tín dụng
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 231,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nâng cao hiệu quả giám sát từ xa của thanh tra Ngân hàng nhà nước

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong bất kỳ một hoạt động quản lý nào, để đảm bảo cho những mục tiêu để

đạt hiệu quả tốt, nhất thiết phải tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra Như vậy

thanh tra, kiểm tra là một trong những chức năng quản lý Nhà nước, nếu không

thanh tra, kiểm tra là không quản lý tốt, hay nói cách khác quản lý sẽ mất đi một

chức năng thiết yếu và không thể đem lại hiệu quả

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ rõ: “ kiểm tra là một

chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực

hiện, đó cũng là một biện pháp khắc phục hậu quả bệnh quan liêu, mọi tổ chức từ

cơ quan của Đảng, nhà nước đến đoàn thể quần chúng, mọi lĩnh vực hoạt động, từ

kinh tế XH đến quốc phòng an ninh, đối ngoại không có ngoại lệ ,đếu phải đặt dưới

sự kiểm tra của tổ chức Đảng có thẩm quyền… Kết hợp chặt chẽ kiểm tra của Đảng

với thanh tra của nhà nước và kiểm tra của quần chúng, kiểm tra phải đi tới kết luận

rõ ràng và sử lý đúng đắn”(Trích văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI

nhà xuất bản sự thật Hà Nội năm 1987 trang 137,138)

Hoạt động Ngân hàng trong cơ chế thị thường có những đặc thù riêng, Ngân

hàng là lĩnh vực kinh tế hết sức nhạy cảm, nó phụ thuộc rất lớn vào năng suất và

hiệu quả của các hoạt động kinh tế, đồng thời chính nó lại là yếu tố trực tiếp tác

động vào tăng trưởng và ổn định kinh tế…Mục tiêu của thanh tra Ngân hàng trong

nền kinh tế thị trường là: Giữ ổn định cho toàn hệ thống Ngân hàng, bảo vệ quyền

lợi của người gửi tiền, góp phần ổn định nền tài chính tiền tệ của đất nước.Vì vậy

việc nghiên cứu chất lượng hoạt động thanh tra Ngân hàng là một vấn đề cấp thiết,

đây chính là nguyên nhân mà em chọn đề tài: “Những giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả giám sát từ xa của thanh tra Ngân hàng nhà nước với các tổ chức tín

dụng”

Trang 2

PHẦN I:

THANH TRA GIÁM SÁT CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG

NHÀ NƯỚC VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1.Sự hình thành và phát triển của thanh tra Ngân hàng Nhà nước

Trong lịch sử phát triển loài người, Nhà nước chỉ xuất hiện gắn liền với sự

xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sản xuất hàng hoá và đấu tranh giai

cấp, Nhà nước là một bộ máy, một hệ thống chặt chẽ tác động vào mọi mặt đời

sống kinh tế XH Tuy nhiên còn nhiều quan điểm khác nhau về vai trò kinh tế của

Nhà nước, nhưng sự phát triển của kinh tế thế giới đã chứng tỏ rằng là không thể

thuần tuý theo sự điều tiết của “bàn tay vô hình” mà phải có sự điều tiết của Nhà

nước

Vai trò của Nhà nước trong cơ chế thị trường cũng phải được nghiên cứu

một cách kỹ lưỡng và uyển chuyển, bởi lẽ kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm

nhưng cũng bộc lộ không ít khuyết tật và hạn chế nếu không được điều chỉnh sẽ đi

đến thất bại Biện pháp để hạn chế là Nhà nước sử dụng công cụ quản lý vĩ mô,

kiểm tra kiểm soát, trong đó thanh tra là công cụ rất đắc lực và thiết yếu.Thanh tra

luôn gắn liền với Nhà nước là công cụ phục vụ cho giai cấp thống trị, lịch sử loài

người cũng đã chứng minh: Đã có phải thanh tra, công cụ kiểm tra, kiểm soát phục

vụ ý đồ thống trị của Nhà nước đó, tuy tên gọi và hình thức tổ chức có khác nhau

nhưng đều là công cụ của Nhà nước trong công tác qủan xã hội

Lịch sử hình thành và phát triển ngành thanh tra Ngân hàng Nhà nước cho ta

thấy , mỗi thời đại hay một giai đoạn lịch sử, các quyền hạn của quan chức thanh

tra cũng khác nhau.Thời Lý( thế kỷXI) mới có các quan giám sát nghị đại phụ,

chức năng, nhiệm vụ còn hạn chế, đến thời Trần (thế kỷXIII) đã có chức quan ngự

sử dài.Một chức quan với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn rất lớn như: Quyền can

dán Vua, quyền đàm hoạch các quan trong triều, quyền xét sử tại chỗ bọn quan lại

lộng hành ức hiếp dân…

Trang 3

Sau CM 8/1945 thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/ SL

thành lập ban thanh tra đặc biệt nay là thanh tra Ngân hàng Nhà nước

Ngày 12/5/1965 với nghị định số169/ NĐ -VP của Tổng Giám Đốc Ngân

hàng Quốc gia VN(Nay là Ngân hàng NNVN) ban thanh tra Ngân hàng NN được

thành lập ,ôngTrần Dương được cử giữ chức vụ Tổng thanh tra Ngân hàng, khi mới

thành lập số cán bộ còn ít, nhưng đều có quá trình tham gia Cách mạng sớm, tham

gia công tác Ngân hàng ngay từ những ngày đầu mới thành lập

Từ năm 1963 đến năm 1967, do yêu cầu phát triển của tổ chức, mạng lưới

hoạt động Ngân hàng cũng như yêu cầu của các cuộc vận động lớn của Đảng và

Chính phủ, các ban thanh tra chi nhánh NHNNcác tỉnh, thành phố lần lượt được

thành lập, ở NHTW, ban thanh tra được bổ xung thêm nhiều cán bộ được điều động

từ các vụ cục, các chi nhánh NHNN địa phương, đều là những cán bộ có trình độ,

năng lực thực hiện nhiệm vụ của ban thanh tra NHTW

Thời kỳ triển khai mô hình tổ chức NH theo nghị định số 53/ HĐBT ngày

26/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, do nhận thức không đúng về quản lý NNvà

kinh doanh tiền tệ, do chưa tiếp cận với cơ chế thị trường nên cho rằng việc tự chủ

kinh doanh là tự lo, tự làm, tự chịu trách nhiệm là chính, thế là công tác thanh tra bị

buông lỏng.Trong cơ cấu tổ chức của NHNN các cấp bố trí rất ít số cán bộ làm

công tác thanh tra, đúng như nhận xét của Thủ tướng Võ Văn Kiệt “đối với thị

trường tiền tệ đang hình thành, mỗi một Ngân hàng phải theo tổ chức của Nghị

định 53/HĐBT từ TW đến cơ sở đều chung chạ hai chức năng, nay Ngân hàng đã

vươn ra kinh doanh nhưng đã bị chức năng của Nhà nước kéo lại nhùng nhằng

không thể bao quát mọi nhu cầu của thị trường tiền tệ, nhiều khu vực của thị trường

bị bỏ trống, nề nếp quản lý mới chưa hình thành, chính sách tiền tệ chưa được định

hướng cho nên các hình thức tín dụng hụi mọc ra, đầu cơ tiêu cực có đất phát

triển”(Tạp chí NH số 1-2 năm 1990 trang 13)

2 Nhiệm vụ thanh tra giám sát từ xa

Trang 4

Giám sát từ xa là phương thức thanh tra sử dụng các thông tin trên báo cáo

nhằm phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ chức tín dụng để đề

ra các biện pháp sử lý khi cần thiết (gọi là phương thức thanh tra trên báo

cáo)

Phương thức giám sát từ xa là sử dụng mạng điện toán để thực hiện phân tổ

và cho những mẫu biểu cần thiết

- Các chỉ tiêu giám sát từ xa ở Việt Nam:

1- Vốn huy động trên thị trường I

Vốn huy động trên thị trường II Thị trường I > thị trường II - ổn định 2- Vốn cho vay trên thị trường I Vốn cho vay trên thị trường II Vốn cho vay thị trường I chiếm tỷ trọng lớn - Ngân hàng bán lẻ Vốn cho vay thị trường II chiếm tỷ trọng lớn - Ngân hàng bán buôn 3- H = Vốn tự có (thực có)/tổng tài sản có rủi ro quy đổi ≥ 8%

4- Khoản cho vay lớn nhất đối với khách hàng/ vốn tự có (vốn điều lệ + quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ) ≤ 15%

5- Khoản cho vay lớn nhất đối với một khách hàng ưu đãi/ vốn tự có ≤ 5%

6- Khoản bảo lãnh lớn nhất đối với một khách hàng /vốn tự có ≤ 15%

7- Mua sắm tài sản cố định/vốn tự có ≤ 50%

8- Góp vốn liên doanh mua cổ phần với các doanh nghiệp/vốn tự có ≤ 30%

9- Nợ quá hạn/ tổng dư nợ ≤ 5%

10- Nợ quá hạn khó đòi / tổng dư nợ ≤ 2%

11- Nợ quá hạn khó đòi/ quỹ dự phòng bù đắp rủi ro ≤ 1

Trang 5

12- Lợi nhuận sau thuế/ vốn tự có > lãi tiết kiệm

13- Trích quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ/ lợi nhuận ròng sau thuế ≥ 5%

14- Tài sản có động / tài sản nợ động ≥ 1 15- Sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn/ vốn ngắn hạn

16- Tuân thủ dự trữ bắt buộc

Như vậy các điều luật có liên quan đến giám sát từ xa phần lớn có liên quan

đến vốn điều lệ và quỹ dự trữ của các tổ chức tín dụng, đây là căn cứ pháp lý để

quan sát hoạt động các tổ chức tín dụng trong cơ chế thị trường

PHẦN II:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA GIÁM SÁT

TỪ XACỦA THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Chế độ thông tin báo cáo của các tổ chức tín dụng phải gửi cho thanh tra Ngân

hàng Nhà nước kịp thời, đầy đủ, chính xác, nhưng hiện nay phần lớn các tổ chức

tín dụng chưa tiến hành việc kiểm toán, nên chưa đủ dộ tin cậy ở số liệu báo

cáo, trong thực tế nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần báo cáo thiếu chính xác

mà vẫn phải sử dụng Cũng vì vậy mà giữa các hoạt động giám sát từ xa, thanh

tra tại chỗ và kiểm toán không có điều kiện phối hợp trong quá trình kiểm soát

tổ chức tín dụng Việc gửi báo cáo của các tổ chức tín dụng thường chậm, có

nhiều trường hợp chậm từ 5 đến 7 ngày so với quy định Do số liệu báo cáo

chưa đủ độ tin cậy, nên một số chỉ tiêu nếu nhìn trên cân đối thì tốt như: chỉ tiêu

nợ quá hạn, cho vay khách hàng… nhưng số thực tế bao giờ cũng lớn hơn số

liệu báo cáo để tổ chức tín dụng lấy thành tích và được hưởng quỹ phân phối

Trang 6

cao hơn, để khắc phục nhược điểm này phải kết hợp chặt chẽ giữa giám sát từ

xa và thanh tra tại chỗ

Đối với Ngân hàng Quốc doanh, vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước thay

mặt Nhà nước tạm cấp một số vốn ban đầu quá ít ỏi Mặt khác, việc hướng dẫn

tính toán vố tự có của Ngân hàng Nhà nước chưa cụ thể, do đó khi tiến hành

phân tích, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng trở nên không chính xác,

không còn chuẩn mực việc tổ chức tín dụng đó thực hiện ở mức nào

Trình độ phân tích giám sát phải tốt, phải trở thành kỹ năng Kết quả phân

tích, giám sát phụ thuộc vào trình độ của mỗi cán bộ thanh tra và thanh tra viên,

vì cùng một kết quả, tình hình có những phân tích, đánh giá khác nhau… Việc

phân tích này đã làm nhưng chưa sâu, còn hời hợt chưa phát hiện ra những mâu

thuẫn cơ bản trên số liệu hạch toán để từ đó đánh giá những vấn đề chính trong

hoạt động của tổ chức tín dụng, tính dự báo thấp, tác dụng “chỉ điểm” cho

thanh tra tại chỗ ít.Trong quá trình giám sát, nhiều nhánh giám sát thiên về sử

dụng các chỉ tiêu thống kê là chính, các phương pháp lô gích, suy diễn sâu về

nghiệp vụ để trở thành dự báo còn ít được đề cập, nên nội dung thông tin thường

lặp đi lặp lại, thiếu tính thuyết phục, dễ nhàm chán.Một số chỉ tiêu tính toán

chưa được quy chuẩn hoá hoặc hướng dẫn cụ thể nên hầu như không có hiệu lực

pháp lý

Sự phối hợp giữa hai phương thức giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ còn

yếu, mục tiêu của công tác giám sát từ xa là dựa trên cân đối và báo cáo ngoài

cân đối của các tổ chức tín dụng để phân tích tìm ra vấn đề để “chỉ điểm” cho

thanh tra tại chỗ.Tuy có nêu vấn đề, có “ chỉ điểm”những vấn đề cần chú ý,

nhưng hầu như chưa được khai thác triệt để, sử dụng mới dừng ở việc cung cấp

số liệu cho thanh tra tại chỗ, đánh giá tình hình của TCTD khi cần thiết hoặc khi

nào tiến hành thanh tra tại chỗ mới sử dụng đến, chưa thực hiện việc cho điểm,

phân loại ,xếp hạng và công bố các chỉ tiêu tài chính để khuyến khích các TCTD

Trang 7

chấp hành tốt quy chế và kinh doanh có hiệu quả chương trình giám sát tuy đã

vi tính hoá công nghệ phân tích, nhưng sử dụng kết quả còn thấp

Hệ thống kế toán đồ hiện đại đang thực hiên tại các TCTD chưa phù hợp với

thông quốc tế, nội dung chật hẹp, thiếu nhiều yếu tố, hầu như không có ai theo

dõi việc chấp hành chế độ hạch toán để có biện pháp chấn chỉnh và bổ xung sửa

đổi kịp thời, nên số liệu phân tích, giám sát không chính xác,người làm việc

phân tích rất vất vả, nhưng vẫn thiếu căn cứ

Việc tổ chức truyền dẫn thông tin, báo cáo trong các TCTD phải qua nhiều

cầu, nấc Nhất là hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn,địa

bàn hoạt động, để bám sát địa bàn nông thôn phụcvụ trong việc huy động vốn

và cho vay , mô hình Ngân hàng liên xã đã được thành lập, do vậy viêc tập hợp

truyền dẫn thông tin báo thường bị chậm lại

Mặt khác, cán bộ tiếp nhậnvà sử lý thông tin, một số chưa hiểu biết về

nghiệp vụ Ngân hàng, tinh thần trách nghiệm chưa cao, nên dẫn tới thông tin

vừa chậm vừa có nhiều sai sót

2 Thanh tra Ngân hàng Nhà nước: Những thay đổi ,và bất cập

từ pháp lệnh đến luật Ngân hàng

a-Những thay đổi cơ bản

Sau khi có pháp lệnh thanh tra và pháp lệnh Ngân hàng có thể coi việc xây

dựng lại hệ thống thanh tra Ngân hàng ở nước ta là bắt đầu từ việc đổi mới hệ

thống tổ chức thanh tra Ngân hàng được củng cố lại từ các chi nhánh Ngân hàng

NN tỉnh thành phố đến thanh tra Ngân hàng NNTW Pháp lệnh đã tạo cơ sở

pháp lý mới để tiếp tục quá trình đổi mới thanh tra Ngân hàng sâu rộng và toàn

diện hơn

Ta có thể so sánh hai thời kỳ để thấy những vấn đề khác nhau cơ bản của hệ

thống thanh tra Ngân hàng

* Thời kỳ trước khi có pháp lệnh Ngân hàng và pháp lệnh thanh tra

Trang 8

Thanh tra Ngân hàng là thanh tra bộ, là thanh tra Nhà nước tại Ngân hàng

NN Tổ chức thanh tra Ngân hàng thời kỳ này bị thu hẹp, ở chi nhánh NHNN

các tỉnh thành phố cán bộ thanh tra chỉ có từ 3 đến 5 người sinh hoạt cùng với

phòng Kinh tế - Kế hoạch, ở TW số cán bộ thanh tra có khoảng 10 người sinh

hoạt chung với vụ Kinh tế - Kế họach.Thời kỳ này hầu như không kiểm soát các

hoạt động kinh doanh của các TCTD Hàng năm thường tổ chức một số cuộc

kiểm tra việc chấp hành chế độ thu, chi tiền mặt với Ngân hàng cấp dưới, công

việc chủ yếu của thời kỳ này là: Xét và giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo

trong hệ thống Ngân hàng

- Về quyền hạn: Được kết luận, kiến nghị về những vấn đề mình thanh tra

kiểm tra, chưa quy định quyền sử lý “Hệ thống thanh tra, kiểm soát hoạt động

thụ động, kém hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới” Phải nói

rằng cho đến năm 1990, ngành Ngân hàng và quyền tự chủ của các đơn vị , còn

lúng túng trong việc sử lý những vấn đề mới phát sinh, buông lỏng vai trò kiểm

soát đối với các đơn vị cũng như CBCNV Ngân hàng, vì thế ngành Ngân hàng

chưa phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình trong phát triển kinh tế

* Thời kỳ sau khi có pháp lệnh Ngân hàng và pháp lệnh thanh tra

Thanh tra Ngân hàng NN là tổ chức thanh tra chuyên trách của NHNN trong

hệ thống thanh tra NN, thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý của

Ngân hàng NN, quản lý công tác kiểm tra đối với các cơ quan, thuộc Ngân

hàng NN, chịu sự chỉ đạo của thanh tra NN về công tác tổ chức và nghiệp vụ

thanh tra

Vận dụng các chỉ tiêu giám sát từ xa đang thực hiện ở Việt Nam, theo

báo cáo cân đối quý III/2003 của Ngân hàng CT Tỉnh Nam Định, có thể tính

được các chỉ tiêu sau đây:(Đơn vị ngàn đồng)

Nợ quá hạn/ tổng dư nợ = 3.707.784/122.591.420 = 0,3%

- Nhận xét: Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ thấp, thể hiện chất lượng

TD tốt, chi nhánh cần duy trì và phát huy kết quả này

Trang 9

2- Nợ quá hạn khó đòi/ tổng dư nợ =1.072/122591420 = 0,0001% <1

- Nhận xét: Nợ quá hạn khó đòi so với tổng dư nợ của chi nhánh tỷ lệ

chiếm 0,0001% số nợ này phát sinh không đáng kể, số tổn thất nhỏ

3- Tài sản có động/ tài sản nợ động = 646.124/22.213.134 = 0,02 <1

- Nhận xét: Không đảm bảo khả năng chi trả khách hàng khi khách

hàng đến lĩnh tiền, giảm lòng tin đối với khách hàng, viêc huy động vốn gặp

nhiều khó khăn, chi nhánh cần nâng tài sản có nên bằng 1 để đảm bảo mọi

khoản thanh toán

4- Sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn/ vốn ngắn hạn

=132.861.932/74.064.938 =17% <25%

Ngân hàng thực hiện tốt việc sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài

hạn

b Những bất cập

Cho đến nay NHNN vẫn chưa ban hành các quy chế, quy định cụ thể, quy

định nghiệp vụ thống nhất trong công tác thanh tra thuộc lĩnh vực Ngân

hàng, nhằm thống nhất các chuẩn mực trong các hoạt động nghiệp vụ của

thanh tra Ngân hàng, cho nên công tác thanh tra hiện nay, thanh tra Ngân

hàng thường bám theo các mẫu biểu quy định, thủ tục hướng dẫn của thanh

tra Nhà nước Song do hoạt động Ngân hàng có những đặc thù riêng, nên

trong một số trường hợp vận dụng không thật phù hợp với nghiệp vụ Ngân

hàng

- Về vấn đề tổ chức bộ máy: Thanh tra NHNN là tổ chức thanh tra Nhà

nước chuyên nghành, ở thanh tra NHTW, dưới sự lãnh đạo của Thống đốc, ở

địa phương trực thuộc giám đốc NHNN Để dảm bảo tính độc lập tương đối

về hoạt động thanh tra, nên để thanh tra các chi nhánh NHNN tỉnh, thành

phố chỉ sinh hoạt công đoàn và sinh hoạt Đảng tại chi nhánh, còn lại tiền

lương, đề bạt do thanh tra NHTW quản lý, nếu để thanh tra chi nhánh trực

thuộc giám đốc ở đó, tính độc lập trong hoạt động thanh tra bị hạn chế,

Trang 10

quyền năng không rõ ràng, rất khó sử lý những vấn đề phát sinh trong quá

trình thanh tra khi các TCTD vi phạm tư tưởng bao biện thương xảy ra

PHẦN III

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

THANH TRA CỦA THANH TRA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

1- Đào tạo cán bộ thanh tra và thanh tra viên

Làm thanh tra là một nghề, nhưng nghề thanh tra được tiến hành trên tất cả

các lĩnh vực, mỗi cuộc thanh tra có mục tiêu, nội dung và yêu cầu khác nhau,

phương pháp, cách thức tiến hành cũng khác nhau, nhiều ý kiến cho rằng:” Đi

thanh tra phải hơn người ta cái đầu”, đòi hỏi cán bộ thanh tra phải hiểu biết hơn đối

tượng thanh tra mới chỉ ra được cái đúng, sai cho đối tượng thanh tra một vấn đề

gì? thuộc lĩnh vực nào, đòi hỏi cán bộ thanh tra phải hiểu biết vấn đề đó, lĩnh vực

đó

Thưc trạng đội ngũ cán bộ thanh tra hiện nay còn rất nhiều vấn đề chưa đáp ứng

được yêu cầu của tình hình đổi mới Việc bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ cho

cán bộ thanh tra là hai vấn đề có liên quan với nhau, nhưng không đồng nhất với

nhau, nhưng một số kiến thức có liên quan thường lặp đi lặp lại trong hầu hết các

cuộc thanh tra, như kiến thức về kinh tế, pháp luật, tâm lý tin học, những kiến thức

về các lĩnh vực này, nếu cán bộ thanh tra không có sự hiểu biết nhất định thì qúa

trình thanh tra rất khó khăn thậm chí nhiều lúc còn gây ra phiền toái, làm giảm kết

quả giá trị thanh tra, những kiến thức trên bắt buộc cán bộ thanh tra phải nắm bắt

được trong các cuộc thanh tra và cũng là cơ sở cho việc vận dụng nghiệp vụ trong

quá trình thanh tra Vì vậy nội dung nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán

bộ thanh tra bao gồm cả hai phần: Kiến thức cơ sở và kiến thức chuyên môn

2- Kết hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xa với thanh tra tại chỗ

Ngày đăng: 25/03/2013, 13:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w