1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam

78 413 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Mở Rộng Các Nghiệp Vụ Ngân Hàng Quốc Tế Của Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 855,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Sự “hội nhập kinh tế” của mỗi Quốc gia với phần còn lại của thế giới cho

đến nay, xét về tổng thể không phải là điều mới mẻ Tuy vậy, đối với từng quốc

gia, ở những thời kỳ khác nhau, tuỳ thuộc vào chế độ chính trị, vào sự phát triển

của nền kinh tế sự hội nhập thể hiện trong những giới hạn và mức độ lại rất khác

nhau Trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế ở Việt Nam, hàng loạt

các vấn đề trong hoạt động của nền kinh tế luôn được điều chỉnh, bổ sung cho

phù hợp hơn với yêu cầu tăng cường của “mở cửa” và “hội nhập” Tuy nhiên, so

với những gì đã qua, nó cũng mới chỉ dừng ở một mức độ nhất định Những

ràng buộc với các hiệp định quốc tế như: Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, Hiệp

định khung về hợp tác thương mại và dịch vụ của ASEAN bắt đầu từ năm 2005

đang là sức ép lớn đối với nền kinh tế Việt Nam

Các hoạt động của ngân hàng đều bắt nguồn từ hoạt động kinh tế chung và phục

vụ cho hoạt động kinh tế chung đó, những đổi mới trong lĩnh vực ngân hàng

trong những năm qua đã đóng góp tích cực vào những thành công của sự nghiệp

phát triển kinh tế đất nước Các NHTM không những chú trọng phát triển các

nghiệp vụ ngân hàng trong nước mà cả các nghiệp vụ NHQT Tuy nhiên các

nghiệp vụ NHQT của các NHTM Việt Nam còn rất sơ khai Mặt khác, mục tiêu

của Đảng và Nhà nước ta là phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một

nước công nghiệp thì việc khai thông các nguồn vốn quốc tế là hết sức quan

trọng Do đó, việc hiện đại hoá hệ thống ngân hàng, đặc biệt là tăng khả năng

tham gia của các NHTM quốc doanh vào hệ thống Tài chính - Tiền tệ Quốc tế

trở thành nhu cầu cấp bách

Xuất phát từ những lý do trên, vấn đề “Giải pháp mở rộng các nghiệp vụ ngân

hàng quốc tế của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” đã được em chọn

làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 2

Khoá luận tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết cơ bản và thực tiễn liên

quan đến các nghiệp vụ NHQT, của các NHTM Việt Nam, đặc biệt là trong giai

đoạn hiện nay (2001-2003)

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về nghiệp vụ NHQT và mở rộng nghiệp vụ

NHQT của NHTM

+ Phân tích thực trạng hoạt động nghiệp vụ NHQT của các NHTM Việt

Nam, qua đó chỉ ra những tồn tại của các NHTM trong việc thực hiện các

nghiệp vụ NHQT

+ Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng nghiệp vụ NHQT của

các NHTM Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp để tiến hành nghiên cứu khoá luận này là: phương pháp duy vật

biện chứng, phân tích thống kê, so sánh…

4 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khoá luận gồm ba chương:

Ch ương 1: Lý luận chung về nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và mở rộng

nghi ệp vụ ngân hàng quốc tế của các Ngân hàng thương mại

Ch ương 2: Thực trạng thực hiện các nghiệp vụ NHQT của các NHTM

Vi ệt Nam trong giai đoạn hiện nay

Ch ương 3: Giải pháp mở rộng nghiệp vụ NHQT của các NHTM Việt

Nam

Trang 3

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ MỞ

RỘNG NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.1.TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế

a.Khái niệm nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế

Rất khó có thể đưa ra một khái niệm cụ thể và chính xác về nghiệp vụ NHQT

Tuy nhiên, ta có thể đứng trên phương diện phân loại nghiệp vụ NHQT là một

dạng hoạt động kinh doanh quốc tế để đưa ra một định nghĩa tương đối chính

xác về nghiệp vụ NHQT như sau: “Nghiệp vụ NHQT của các NHTM là việc các

NHTM thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động

đầu tư và cung ứng dịch vụ tài chính-ngân hàng trên thị trường quốc tế nhằm

mục đích sinh lời”

b Đặc điểm của nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế

Từ định nghĩa nghiệp vụ NHQT trong phần a ở trên chúng ta có thể thấy nghiệp

vụ NHQT mang một số đặc điểm sau:

- Th ứ nhất: Nghiệp vụ NHQT gắn liền với mối quan hệ kinh tế quốc tế và

thương mại quốc tế Tiêu biểu là trợ giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu, lưu

chuyển vốn giữa các quốc gia

- Thứ hai: Chủ thể tham gia nghiệp vụ NHQT là các Ngân hàng có quốc

tịch khác nhau hoặc giữa Ngân hàng của một nước với khách hàng của họ ở

nước khác

- Thứ ba: Nghiệp vụ NHQT bị chi phối bởi luật pháp, thông lệ quốc tế,

đồng thời bị chi phối bởi pháp luật và tập quán của các nước mà ở đó ngân hàng

cung ứng các dịch vụ NHQT

- Thứ tư: Có thể nói nghiệp vụ NHQT có liên quan chặt chẽ với thị

trường ngoại hối

Trang 4

- Thứ năm: Nghiệp vụ NHQT có đòi hỏi cao về trình độ, năng lực quản lý,

công nghệ của ngân hàng và các bên có liên quan Những nhà ngân hàng hoạt

động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế đòi hỏi phải hiểu biết nhiều lĩnh vực

khác nhau, phải nhạy cảm với sự chuyển biến nhanh chóng của thị trường tài

chính- tiền tệ quốc tế

- Thứ sáu: Nghiệp vụ NHQT có tính rủi ro cao, nguyên nhân phức tạp và

khó kiểm soát Nó chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế tài chính trên toàn thế

giới, sự tăng giảm về lãi suất, khối lượng diễn ra đột ngột nên rủi ro cao hơn so

với nghiệp vụ ngân hàng trong nước Tuy nhiên, rủi ro cao thường đi đôi với lợi

nhuận lớn Trong bối cảnh gay gắt như hiện nay, chỉ có ngân hàng nào phát triển

nghiệp vụ NHQT mới có cơ hội và khả năng phát triển lâu dài

1.1.2 Một số hình thức tổ chức thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế của

các NHTM

Để thực hiện được nghiệp vụ NHQT tại nước ngoài, các NHTM phải có mối

liên hệ, quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng, các khách hàng ở rất nhiều các

quốc gia khác nhau trên thế giới, để làm được điều này thông thường các NHTM

sử dụng hai hình thức tổ chức thực hiện nghiệp vụ NHQT ở nước ngoài là: Thiết

lập cơ sở kinh doanh ở nước ngoài như là thành lập các chi nhánh, công ty con,

văn phòng đại diện… Hoặc tổ chức một bộ phận kinh doanh quốc tế được

chuyên môn hoá tại trụ sở chính để thực hiện các nghiệp vụ NHQT

Cụ thể một số hình thức tổ chức thực hiện nghiệp vụ NHQT ở nước ngoài

tiêu biểu là:

- Văn phòng đại diện: Đây là mô hình tổ chức đơn giản nhất của một ngân

hàng hoạt động tại thị trường nước ngoài, nhằm mục đích trợ giúp cho các công

ty trong nước là khách hàng của ngân hàng mẹ kinh doanh ở nước ngoài, như là

cung cấp các thông tin kinh tế, đánh giá tín nhiệm của đối tác nước ngoài…Văn

phòng đại diện không có quyền nhận tiền gửi và cho vay ở nước ngoài, nó là

hình thức để Ngân hàng mẹ cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng của mình

Ngoài ra văn phòng đại diện còn có nhiệm vụ phát triển kinh doanh, tìm khách

hàng mới

Trang 5

- Ngân hàng liên doanh: là định chế tài chính độc lập với ngân hàng mẹ hạch

toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Đây là hình

thức ngân hàng góp vốn để kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật nước sở

tại Hình thức này chủ yếu được áp dụng nhiều trong điều kiện Respectfully,thị

trường tài chính nước sở tại mới phát triển, khó khăn thâm nhập hoặc khi một

ngân hàng mới gia nhập thị trường nước ngoài cảm thấy lo ngại về vấn đề rủi ro,

thiếu hiểu biết về khách hàng hoặc muốn cung cấp các dịch vụ không được

phép của Ngân hàng trung ương nước ngoài

- Ngân hàng con ở nước ngoài: Đây cũng là một định chế tài chính độc lập do

ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn để phù hợp với luật nước ngoài Ngân hàng con

cũng hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh

doanh Ngân hàng con ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước ngân

hàng mẹ đặt trụ sở chính

- Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài: Đây là hình thức tổ chức phổ biến nhất đối

với phần lớn các ngân hàng hoạt động trên phạm vi quốc tế Chi nhánh ngân

hàng nước ngoài là một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trong nước

và chịu sự chỉ đạo của trụ sở chính, không phân tách về mặt pháp lý với ngân

hàng mẹ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hàng loạt nghiệp vụ ngân

hàng tại nước chủ nhà trong khuôn khổ pháp luật và điều kiện kinh doanh tại

nước chủ nhà Như vậy, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa chịu sự điều chỉnh

của luật ngân hàng trong nước, vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước

ngoài mà nó mở chi nhánh

- Dạng tiêu biểu hơn cả là tổ chức bộ phận kinh doanh quốc tế chuyên biệt ngay

tại trụ sở chính của ngân hàng mà vẫn đạt được các mục đích phục vụ khách

hàng như các hình thức khác Để thực hiện được việc phục vụ tốt khách hàng bộ

phân kinh doanh quốc tế chuyên biệt này phải được trang bị các thiết bị hiện đại,

các máy tính nối mạng toàn cầu, các máy điện toán để có thể quản lý hệ thống

tài khoản phi nội địa của một ngân hàng

1.2 NHỮNG NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CHỦ YẾU CỦA CÁC NHTM

1.2.1 Nghiệp vụ thanh toán quốc tế

Trang 6

1.2.1.1 Khái ni ệm thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ

các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch

giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, giữa một

quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các Ngân

hàng của các nước có liên quan

Xét về mặt kinh tế thanh toán quốc tế bao gồm hai lĩnh vực:

+ Thanh toán mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh trên cơ sở hàng hoá dịch

vụ thương mại kết hợp xuất nhập khẩu dựa trên giá quốc tế Trong thanh toán

mậu dịch, các bên có liên quan sẽ bị ràng buộc với nhau theo các hợp đồng đã kí

kết hoặc cam kết thương mại Nếu hai bên không kí kết hợp đồng chỉ có đơn đặt

hàng thì sẽ căn cứ vào các đại diện giao dịch

+ Thanh toán phi mậu dịch: là thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng

hoá, không mang tính chất thương mại Đó là thanh toán các chi phí của cơ quan

ngoại giao ở nước sở tại, các chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn khách,

chính phủ, các tổ chức, cá nhân

1.2.1.2 Các phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế

a Hối phiếu (Bill of Exchange): là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều

kiện do một người kí phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhận

được nó phải trả tiền ngay hoặc thanh toán vào một ngày xác định trong tương

lai một số tiền nhất định cho người được chỉ định Hối phiếu có nhiều loại khác

nhau, tuỳ theo các căn cứ khác nhau mà ta có thể chia Hối phiếu thành các loại

khác nhau Ví dụ căn cứ vào thời hạn của Hối phiếu ta có hai loại hối phiếu : hối

phiếu trả tiền ngay và hối phiếu có kỳ hạn, còn nếu căn cứ vào tính chất chuyển

nhượng của hối phiếu ta có: hối phiếu đích danh và hối phiếu vô danh

b Lệnh phiếu (Promissory note): là một tờ cam kết vô điều kiện, trong đó

người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định cho

người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người hưởng

lợi trả cho người khác Một tờ lệnh phiếu thường gồm có các nội dung sau: có

tiêu đề “lệnh phiếu” được diễn đạt bằng ngôn ngữ để thiết lập lệnh phiếu, có

Trang 7

ngày phát hành lệnh phiếu, chữ ký của người lập lệnh phiếu, lời hứa trả tiền vô

điều kiện, số tiền phải trả

c Séc: là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản tiền gửi ra

lệnh cho ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản của mình ở ngân hàng

để trả cho người có tên trên tờ séc, hoặc theo lệnh của người ấy, hoặc trả cho

người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản

Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau người ta chia séc thành các loại khác nhau

như sau:

Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của séc, chúng ta có thể chia séc thành các

loại sau:

+ Séc vô danh: là séc không chỉ rõ tên người hưởng lợi số tiền được ghi trên séc

+ Séc đích danh: là séc ghi đích danh tên người hưởng lợi số tiền được ghi trên

tờ séc

+ Séc theo lệnh: là séc chi trả theo lệnh của người có tên trên tờ séc

Căn cứ vào hình thức thanh toán của ngân hàng, séc được chia thành các loại

sau:

+ Séc chuyển khoản: là loại séc để trích tiền từ tài khoản này sang tài khoản

khác, không được dùng để rút tiền mặt

+ Séc tiền mặt: là loại séc dùng để rút tiền mặt ra khỏi tài khoản

Căn cứ vào tính chất đảm bảo của tờ séc, séc có các loại sau đây:

+ Séc xác nhận: là loại séc được ngân hàng đứng ra trả tiền cho người hưởng lợi

Số tiền ngân hàng xác nhận sẽ bị phong toả

Ngoài các loại séc kể trên còn có các loại séc khác như: Séc gạch chéo, séc du

lịch

d Thẻ thanh toán (Payment car): là một phương tiện thanh toán hiện đại

do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình để sử dụng thanh toán

tiền hàng, dịch vụ đã cung ứng Nó là phương tiện chủ yếu phục vụ thanh toán

cá nhân hay thanh toán không dùng tiền mặt thông dụng trên thế giới, có thể

dùng thẻ thanh toán để thay cho việc luân chuyển một phần tiền mặt từ nơi này

Trang 8

sang nơi khác ở trong nước và ngoài nước Thẻ này cũng có thể rút tiền tự động

ở các máy rút tiền tự động - ATM (automatic teller machine)

1.2.1.3 Các ph ương thức thanh toán quốc tế chủ yếu

Trong quan hệ thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán có một vị trí

rất quan trọng Quan hệ thanh toán quốc chỉ có thể được thực hiện thông qua các

phương thức thanh toán Phương thức thanh toán là phương pháp, cách thức tiến

hành nghiệp vụ nhất định, thông qua đó người nhập khẩu trả tiền, nhận hàng và

người xuất khẩu giao hàng, nhận tiền

Có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau, sau đây là một số

phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu đang được sử dụng trong thương mại

quốc tế

a, Phương thức thanh toán bằng chuyển tiền (Remittance)

Chuyển tiền là một phương thức trong đó khách hàng (người trả tiền - người

nhập khẩu) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho

người khác (người hưởng lợi - người xuất khẩu) ở một địa điểm nhất định bằng

hình thức chuyển tiền do khách hàng yêu cầu, hoặc bằng điện - Telegrahic

Transfer (TT), hoặc bằng thư - Mail Tranfer (MT), hoặc chuyển tiền qua hệ

thống Swift (được sử dụng phổ biến nhất hiện nay) Ngân hàng chuyển tiền

thường phải thông qua đại lý, hoặc chi nhánh của mình ở nước người hưởng lợi

để thực hiện việc chuyển tiền

Các bên tham gia vào nghiệp vụ chuyển tiền gồm có: người chuyển tiền

(Remitter) là người nhập khẩu; người thụ hưởng (Beneficiary) là người xuất

khẩu; ngân hàng trả tiền (Paying bank) là ngân hàng bên người xuất khẩu; ngân

hàng uỷ nhiệm chuyển tiền (Remitting bank) thường là ngân hàng phục vụ

Người thụ hưởng

(3)

(1)

Trang 9

(1)Giao dịch thương mại

(2)Người nhập khẩu sau khi kiểm tra hàng hoá (hoặc bộ chứng từ hàng hoá) phù

hợp với thoả thuận của hai bên thì viết lệnh chuyển tiền và gửi đến ngân hàng

phục vụ mình yêu cầu chuyển tiền trả cho nhà xuất khẩu

(3)Ngân hàng chuyển tiền làm thủ tục chuyển tiền thông qua ngân hàng đại lý

(4)Ngân hàng đại lý (ngân hàng trả tiền) thanh toán tiền cho người thụ hưởng

Phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức mà ngân hàng chỉ là

trung gian đơn thuần thực hiện việc chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng để

thu phí, do đó ngân hàng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với việc trả tiền

của người nhập khẩu cho người xuất khẩu Việc trả tiền hoàn toàn phụ thuộc vào

thiện chí và khả năng của người nhập khẩu, vì vậy quyền lợi của người xuất

khẩu không được bảo đảm

Trong quan hệ mua bán ngoại thương, phương thức thanh toán chuyển

tiền chỉ được lựa chọn khi các khoản thanh toán có giá trị nhỏ, hoặc trong

trường hợp mối quan hệ giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu là tin cậy nhau

b, Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of Payment)

Nhờ thu là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi hoàn

thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì uỷ thác

cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối

phiếu do mình lập ra Cơ sở pháp lí quốc tế của nghiệp vụ này là quy tắc thống

nhất về nhờ thu bản sửa đổi vào năm 1995, gọi là URC 522, có hiệu lực thi hành

từ ngày 1/1/1996 Nhờ thu có hai loại là nhờ thu phiếu trơn (Clean collection) và

nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)

+ Nhờ thu phiếu trơn là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân

hàng thu hộ số tiền từ người mua, chỉ căn cứ vào hối phiếu do người bán ký

phát, còn chứng từ hàng hoá thì gửi thẳng cho người mua, không qua ngân hàng

Phương thức này không được phổ biến trong thực tế do có nhiều rủi ro cho

Trang 10

người bán và cũng gây bất lợi cho người mua trong trường hợp hối phiếu đến

sớm hơn chứng từ

+ Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho

ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn

căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá gửi kèm theo với yêu cầu là ngân hàng chỉ trao

bộ chứng từ hàng hoá cho người mua để đi nhận hàng khi họ đã thanh toán tiền

(Nếu phương thức thanh toán là thị trường đổi lấy chứng từ-Documentary

against payment-D/P), hoặc đã ký chấp nhận thanh toán (Nếu phương thức

thanh toán là chấp nhận hối phiếu đổi lấy bộ chứng từ - Documentary against

Acceptance-D/A)

Các bên tham gia phương thức thanh toán nhờ thu gồm có: Người xuất

khẩu - Drawer (or Remittance); Người nhập khẩu - Drawee; Ngân hàng chuyển

chứng từ - Remitting bank; Ngân hàng thu hộ - Collecting bank

Trang 11

SƠ ĐỒ 2: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN NHỜ THU

TRƠN

(1) Người xuất khẩu chuyển giao hàng hoá, đồng thời cũng chuyển giao

chứng từ hàng hoá sang người nhập khẩu

(2) Người xuất khẩu lập hối phiếu và giấy nhờ thu, gửi tới ngân hàng phục

vụ mình nhờ thu hộ tiền ở người nhập khẩu

(3) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển hối phiếu sang ngân hàng

phục vụ người nhập khẩu để nhờ thu tiền

(4) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển hối phiếu đòi tiền tới người

nhập khẩu

(5) Người nhập khẩu thanh toán tiền (hoặc ký chấp nhận hối phiếu)

(6) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tiền thu được (hoặc hối

phiếu đã ký chấp nhận) sang ngân hàng phục vụ người xuất khẩu

(7) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu thanh toán (hoặc chuyển hối phiếu

đã ký chấp nhận) cho người xuất khẩu

Ngân hàng chuyển

chứng từ

Ngân hàng thu tiền

HĐ (2) (7)

(3) (6)

(4) (5)

Trang 12

SƠ ĐỒ 3: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN NHỜ THU KÈM

CHỨNG TỪ

(1) Căn cứ vào hợp đồng người xuất khẩu giao hàng hoá cho nhà nhập khẩu

(2) Người xuất khẩu lập toàn bộ chứng từ hàng hoá theo yêu cầu của hợp đồng

thương mại cùng hối phiếu trả ngay ( nếu là thanh toán theo D/P) hay hối phiếu

kỳ hạn (nếu là thanh toán theo D/A) gửi tới ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ

tiền ở người nhập khẩu

(3) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu chuyển hối phiếu kèm uỷ thác thu, bộ

chứng từ thanh toán cho ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu ở nước ngoài để thu

tiền người nhập khẩu

(4) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu thông báo đã nhận được hối phiếu cho

nhà nhập khẩu và đề nghị thanh toán

(5)Nhà nhập khẩu trả ngay tiền đối với hối phiếu trả tiền ngay, ký chấp nhận

thanh toán đối với hối phiếu trả chậm gửi cho ngân hàng phục vụ mình

(5’) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu trao bộ chứng từ cho nhà nhập

khẩu để đi nhận hàng

(6)Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được chấp

nhận thanh toán cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu

(7)Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được chấp

nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu

c, Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)

Đây là phương thức thanh toán được dùng phổ biến nhất trong thanh toán

quốc tế, vì phương thức này có ưu điểm hơn hai phương thức thanh toán trên là:

Phương thức này đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của các bên (nhà xuất

Ngân hàng chuyển

chứng từ

Ngân hàng thu tiền

(3) (6)

(4) (5) (5’)

Trang 13

khẩu và nhà nhập khẩu) trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như trong

thanh toán tiền hàng

Theo điều 2, UCP 500 thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự

thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành thư tín dụng) hành

động theo yêu cầu và chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu mở thư tín

dụng) hoặc nhân danh chính mình phải thực hiện việc trả tiền theo lệnh của

người thứ ba (người thụ hưởng), hoặc phải chấp nhận và trả tiền hối phiếu do

người thụ hưởng ký phát hoặc uỷ quyền cho ngân hàng khác thực hiện việc trả

tiền như vậy hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu đó hoặc uỷ quyền cho một ngân

hàng khác chiết khấu khi chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện chúng

phù hợp với các điều kiện và điều khoản của thư tín dụng đã được mở

Ta có thể hiểu một cách đơn giản phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là

phương thức thanh toán dựa vào cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng

phát hành Cam kết thanh toán có điều kiện này chính là thư tín dụng - Letter of

Credit (ký hiệu là L/C)

L/C là bất kì sự thoả thuận nào của Ngân hàng phát hành mà theo đó Ngân hàng

phát hành sẽ trả ngay hoặc đến một thời điểm trong tương lai sẽ trả một số tiền

nhất định cho người hưởng lợi với điều kiện người hưởng lợi phải xuất trình một

bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C

Có thể nói thư tín dụng là cốt lõi, là phương tiện chủ yếu của phương thức thanh

toán tín dụng chứng từ Do đó, nếu thư tín dung hết hạn hiệu lực thì phương

thức tín dụng chứng từ sẽ không còn ý nghĩa Thư tín dụng là văn bản cam kết

của ngân hàng mở thư tín dụng với nhà xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ thanh

toán theo điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương cho nên nó được soạn

thảo dựa trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng nó độc lập với hợp đồng

Tính chất độc lập thể hiện ở chỗ: Ngân hàng mở thư tín dùng không cần biết đến

hợp đồng mà chỉ căn cứ vào đơn yêu cầu mở thư tín dụng của nhà nhập khẩu để

mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng

Thư tín dụng có nhiều loại khác nhau căn cứ các tiêu thức phân chia khác nhau

nhưng chỉ có một số loại thư tín dụng phổ biến thường sử dụng là L/C có thể

Trang 14

huỷ ngang, L/C không thể huỷ ngang, L/C không huỷ ngang có xác nhận, L/C

giáp lưng, L/C dự phòng

Các chủ thể tham gia phương thức tín dụng chứng từ gồm: Người yêu cầu mở

L/C (Applicant); Người nhập khẩu hay người thụ hưởng (Beneficiary); Ngân

hàng mở L/C (Issuing bank); Ngân hàng thông báo L/C (Advising bank); Ngân

hàng trả tiền; Ngân hàng hoàn trả; Ngân hàng xác nhận; Ngân hàng chiết khấu

chứng từ

SƠ ĐỒ 4: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG

TỪ

(1) Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại, viết đơn đề nghị mở

tín dụng thư cho người xuất khẩu hưởng, gởi tới ngân hàng phục vụ

mình

(2) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng,

nếu đáp ứng các yêu cầu, ngân hàng sẽ phát hành thư tín dụng và thông

qua ngân hàng đại lý để thông báo tới người thụ hưởng (người xuất

khẩu)

(3) Ngân hàng thông báo khi nhận được thư tín dụng sẽ khẩn trương thông

báo, chuyển giao thư tín dụng này cho nhà xuất khẩu

(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận nội dung thư tín dụng đã mở thì tiến

hành giao hàng theo điều kiện hợp đồng

(5) Sau khi đã hoàn thành việc giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ

thanh toán theo thư tín dụng, gửi tới ngân hàng thông báo đề nghị thanh

toán

(6) Nếu ngân hàng này được chỉ định là ngân hàng thanh toán, tiến hành

kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với các điều khoản trong thư tín

dụng thì tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu (trả tiền ngay, hoặc

chấp nhận, hoặc chiết khấu)

(7) Sau khi đã thanh toán, ngân hàng chuyển bộ chứng từ sang ngân hàng

HĐTM

(5) (6)

(8)

(9) (10)

Trang 15

(8) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ, nếu đáp ứng các điều khoản

của thư tín dụng thì hoàn lại tiền cho ngân hàng thanh toán

(9) Ngân hàng phát hành báo cho người nhập khẩu biết bộ chứng từ đã đến,

đề nghị làm thủ tục thanh toán

(10) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp thì tiến hành trả

tiền (hoặc chấp nhận thanh toán), ngân hàng sẽ trao bộ chứng từ để họ đi

nhận hàng Trong trường hợp người nhập khẩu không thanh toán, thì ngân

hàng cũng không trao chứng từ cho họ

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ này có rất nhiều ưu điểm như

sau:

Đối với người nhập khẩu: Việc thanh toán được thực hiện trên cơ sở các

chứng từ đại diện cho hàng hoá, những chứng từ đó chính là bằng chứng về

quyền từ chối thanh toán nếu người xuất khẩu trình ra những chứng từ không

phù hợp với những yêu cầu như đã quy định trong thư tín dụng

Đối với nhà xuất khẩu: Bên xuất khẩu hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự

thanh toán của ngân hàng mở thư tín dụng thay cho việc trông chờ vào khả năng

tài chính, rủi ro phá sản với người nhập khẩu Việc thanh toán diễn ra ngay khi

người xuất khẩu có khả năng xuất trình chứng từ, điều này đảm bảo vốn lưu

động cho hoạt động kinh doanh bình thường của bên bán

Đối với ngân hàng: Nó chính là một dịch vụ khách hàng có giá trị, bên cạnh

việc cung cấp một phương thức an toàn nhất cho hoạt động thương mại quốc tế

của khách hàng, tín dụng chứng từ còn tạo ra khả năng sinh lãi cho ngân hàng

Tuy nhiên người nhập khẩu và ngân hàng cũng có thể gặp phải rủi ro vì các

chứng từ được xem xét có thể phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng

chứng từ nhưng thực chất hàng hoá lại không khớp đúng với bộ chứng từ, khi đó

hoặc người nhập khẩu gặp phải rủi ro, hoặc ngân hàng gặp phải rủi ro do người

nhập khẩu không thanh toán

Cơ sở pháp lý quốc tế của phương thức tín dụng chứng từ là Quy tắc và thực

hành thống nhất về tín dụng chứng từ bản sửa đổi năm 1993, phòng thương mại

quốc tế, xuất bản số 500, viết tắt là UCP 500

Trang 16

1.2.2 Nghiệp vụ giao dịch về vốn trên thị trường quốc tế

1.2.2.1 Huy động vốn trên thị trường quốc tế

Vốn ngoại tệ có vai trò đặc biệt trong hoạt động của các nghiệp vụ

NHQT Ngân hàng có thể huy động nguồn vốn này qua các hình thức thu hút

các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân dưới dạng nhận tiền gửi thanh toán, tiền

gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu bằng ngoại tệ hay vay ngân hàng và

các tổ chức tài chính nước ngoài qua các cơ sở chi nhánh, ngân hàng con của

mình, thu hút nguồn kiều hối Đặc biệt, ngân hàng có thể huy động vốn vào

Việt Nam thông qua các thị trường vốn quốc tế bằng cách tham gia thị trường

trái phiếu quốc tế Những thị trường trái phiếu quốc tế tiêu biểu gồm có:

Thị trường trái phiếu nội địa: Trái phiếu nội địa là trái phiếu được phát hành

bằng đồng nội tệ, trong phạm vi lãnh thổ quốc gia do người cư trú phát hành

Những nhà đầu cơ trái phiếu nội địa bao gồm người cư trú và người không cư

trú

Thị trường trái phiếu nước ngoài: Trái phiếu nước ngoài là trái phiếu do người

không cư trú phát hành, ghi bằng đồng nội tệ, và được phát hành ở nước có đồng

tiền ghi trên trái phiếu

Thị trường trái phiếu Châu Âu-Eurobond Market: Trái phiếu Châu Âu là trái

phiếu được phát hành bởi các chính phủ, các tổ chức tài chính, các công ty bằng

đồng tiền khác với đồng tiền tại nước phát hành Đây là thị trường phát triển

mạnh nhất với ưu điểm chính so với phát hành trái nội địa và trái phiếu nước

ngoài là phát hành trái phiếu Châu Âu tránh được các quy chế điều chỉnh hà

khắc của nước chủ nhà cũng như giảm được mức độ phải bộc bạch về công ty

phát hành

1.2.2.2 C ấp tín dụng

a Tín d ụng xuất khẩu

Ngân hàng thương mại có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu bằng cách cho

phép nhà xuất khẩu được hưởng một hạn mức thấu chi để sử dụng cho mọi

khoản chi phí phục vụ hoạt động xuất khẩu, hoặc cho nhà xuất khẩu vay trước

khi giao hàng theo các yêu cầu cụ thể, giúp anh ta có thể mua nguyên vật liệu để

Trang 17

sản xuất hàng hoá xuất khẩu, hoặc cho vay tạm ứng trên cơ sở bộ chứng từ

thanh toán hàng xuất khẩu chưa đến hạn thanh toán sau khi giao hàng, thông qua

một số hình thức cụ thể như sau:

+ Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ: Nhà xuất khẩu

có thể yêu cầu Ngân hàng đáp ứng một phần giá trị bộ chứng từ nhờ thu làm

đảm bảo

+ Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ: Nhà xuất khẩu có

thể mang L/C đến ngân hàng để chiết khấu các hối phiếu của bộ chứng từ hoặc

với một L/C cho phép chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu, một thư tín dụng

trả chậm thì nhà xuất khẩu có thể nhận được một khoản tín dụng từ ngân hàng

+ Chiết khấu giấy tờ có giá: Bao gồm chiết khấu hối phiếu trơn, hối phiếu của

bộ chứng từ nhờ thu, bộ chứng từ hàng hoá Chiết khấu hối phiếu là hình thức

ngân hàng mua lại hối phiếu chưa đến hạn thanh toán (Hối phiếu được chiết

khấu là hối phiếu cam kết không huỷ ngang, không sửa đổi, thanh toán hối phiếu

khi đến hạn) Nó tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu tái đầu tư với các

khoản tín dụng cung ứng mà anh ta đã cấp cho nhà nhập khẩu Có hai loại chiết

khấu là chiết khấu truy đòi và miễn truy đòi

Chiết khấu hối phiếu của bộ chứng từ nhờ thu: phương thức này gần giống với

tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu, chỉ khác ở chỗ là trong tín dụng

ứng trước thì ngân hàng không cho vay toàn bộ giá trị hối phiếu mà chỉ đáp ứng

một phần, nhà xuất khẩu không phải chịu tỷ lệ chiết khấu 10% chi phí hối phiếu

Nhà xuất khẩu chỉ sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắn hạn

phục vụ nhu cầu tiền mặt tạm thời, đến hạn thanh toán mà không được thanh

toán, Ngân hàng sẽ thực hiện truy đòi nhà xuất khẩu

Chiết khấu bộ chứng từ hàng hoá cũng tương tự như chiết khấu hối phiếu, lãi

suất chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu

+ Nghiệp vụ Factoring: Factoring là một hình thức tài chính trong hoạt động

xuất khẩu Đó là những hoạt động mua bán những khoản thanh toán chưa tới

hạn và ngắn hạn từ những hoạt động xuất khẩu cung ứng hàng hoá dịch vụ Do

đó, chúng ta có thể gọi Factoring là hoạt động bao thanh toán Khác với hoạt

Trang 18

động mua lại chứng từ thanh toán ở phần trên, hoạt động Factoring không sử

dụng thư tín dụng cũng như các hối phiếu ngoại thương, vì hoạt động Factoring

chỉ được sử dụng cho những hoạt động xuất khẩu thường xuyên theo định kỳ,

theo hợp đồng dài hạn và cho nhiều nhà xuất khẩu khác nhau trong cùng một

nước hoặc do nhiều nước trong cùng một thời điểm Do đó, đối tượng mua bán

của Factoring là những tổ hợp kinh tế vừa và lớn với doanh số hoạt động xuất

khẩu hàng năm Rủi ro chủ yếu xẩy ra đối với hoạt động Factoring là rủi ro

thương mại, và chỉ có những khoản thanh toán đáp ứng được những điều kiện

sau mới được phép thương mại là: thứ nhất là những khoản thanh toán phải tồn

tại một cách hợp pháp; thứ hai là hàng hóa đã cung cấp đầy đủ và đảm bảo chất

lượng cho những khoản thanh toán này; thứ ba là thời hạn thanh toán khoản

thanh toán này tối đa là 180 ngày; thứ tư là những khoản thanh toán phải đủ tư

cách pháp lí độc lập với quyền của người thứ ba; thứ năm là không có việc cấm

chuyển nhượng các khoản thanh toán này của nhà nhập khẩu hoặc nước nhập

khẩu

+ Nghiệp vụ Forfaiting: là nghiệp vụ tài chính xuất khẩu, ngân hàng mua bán

những khoản thanh toán chưa đến hạn nhưng là những khoản thanh toán trung

và dài hạn (từ 2 đến 8 năm) đã được các ngân hàng của nhà nhập khẩu bảo đảm

Là hình thức chiết khấu các hối phiếu, miễn truy đòi Tỷ lệ chiết khấu trong

trường hợp này là cố định, lớn hơn chi phí vốn ở địa phương và lớn hơn lãi suất

Libor (khoảng 1,3%) Đặc điểm của nghiệp vụ Forfaiting là chỉ bao thanh toán

cụ thể, riêng lẻ trong toàn bộ quá trình xuất khẩu dài hạn và cho từng đối tượng

nhập khẩu riêng lẻ; thời hạn trung và dài hạn và tín dụng được cấp theo nguyên

tắc không hoàn lại, nhà xuất khẩu sau khi bán các lệnh thanh toán thì không chịu

trách nhiệm nữa, nhà nhập khẩu dùng hối phiếu trả cho nhà xuất khẩu, hối phiếu

này được ngân hàng bảo lãnh thanh toán, nhà xuất khẩu bán hối phiếu này cho

nhà tài trợ (gọi là Forfaitor) theo mức chiết khấu thoả thuận (thường rất lớn từ

7,5-9%/năm), khi hối phiếu đến hạn thanh toán thì nhà Forfaitor xuất trình hối

phiếu đòi tiền ngân hàng bảo lãnh cho nhà nhập khẩu

b Tín d ụng nhập khẩu

Trang 19

Tín dụng nhập khẩu hay còn gọi là tài trợ nhập khẩu được ngân hàng cấp cho

nhà nhập khẩu thông qua việc mở L/C, chấp nhận hối phiếu, cấp tiền vay dựa

trên hàng nhập khẩu Cụ thể có các hình thức sau:

+ Cho vay mở L/C: khi ngân hàng mở L/C trả chậm cho nhà nhập khẩu thì ngân

hàng đã gián tiếp cấp cho nhà nhập khẩu một khoản tín dụng

+ Tín dụng chấp nhận hối phiếu: là khoản tín dụng đảm bảo cho việc chấp nhận

hối phiếu mà ngân hàng dành cho nhà nhập khẩu Chấp nhận hối phiếu có nghĩa

là ngân hàng đồng ý chi trả theo mệnh giá hối phiếu nếu người ký phát không

chi trả Bằng cách cho mượn tên để giao dịch, ngân hàng chấp nhận giúp nhà

nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu dễ dàng tìm được sự tài trợ mua bán

+ Cho vay trên cơ sở hối phiếu tự nhận nợ: ngân hàng sẽ cấp cho nhà nhập khẩu

một khoản tín dụng đặc biệt trên cơ sở hối phiếu tự nhận nợ do nhà nhập khẩu

phát hành gọi là tín dụng chiết khấu phiếu tự nhận nợ Hình thức này phát triển

khá rộng rãi trong ngoại thương Nó phục vụ cho những điều khoản thanh toán

đơn giản

+ Hoá đơn tín thác: Nhà nhập khẩu có thể nhận tài trợ từ NHTM để nhập khẩu

hàng hóa theo cách khi nhận được vận đơn, nhà nhập khẩu ký tên vào một

chứng từ pháp lý được gọi là hoá đơn tín thác Theo các điều kiện và điểu khoản

của hoá đơn tín thác, thì nhà nhập khẩu phải cam kết: uỷ thác cho ngân hàng

nắm giữ hàng hoá; thay mặt ngân hàng bán hàng hoá; thanh toán cho ngân hàng

trên cơ sở việc bán hàng cộng lãi suất; đáp ứng những yêu cầu khác theo yêu cầu

và quy định trong hoá đơn tín thác; nhà nhập khẩu sẽ phải thanh toán trong thời

hạn đã quy định trong hóa đơn tín thác, việc thanh toán thực hiện vào ngày đến

hạn hoặc sớm hơn

+ Tín dụng theo hợp đồng khung: là hình thức tín dụng dành cho nhà nhập khẩu

nước ngoài nhằm hỗ trợ cho việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu và thúc đẩy

tiêu thụ sản phẩm của nước xuất khẩu Các ngân hàng nước xuất khẩu ký kết

một hiệp định khung với các ngân hàng và công ty nước ngoài cho phép các

ngân hàng và công ty này sử dụng những khoản tín dụng riêng rẽ nhằm tài trợ

cho việc nhập khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ từ nước

Trang 20

họ (phải có ít nhất 60% giá trị hàng hoá mua bán được sản xuất hoặc có xuất xứ

từ nước tài trợ) Hình thức này được các nước phát triển sử dụng để cấp tín dụng

cho các nước đang phát triển

c Tài tr ợ dự án đầu tư

Tài trợ dự án đầu tư: là hoạt đông tín dụng đối với những dự án kinh tế với thời

hạn sử dụng vốn khá lâu và phải thực hiện nhiều lần thanh toán, trên cơ sở độc

lập Những người cho vay trông vào những khoản tiền thu được từ dự án như là

nguồn vốn để hoản trả nợ Đây là việc cho vay dựa vào chính khả năng thu nhập

của dự án, khác với việc cho vay dựa vào tài sản thế chấp Tài trợ dự án có thể

không có bảo lãnh nhưng thường được bảo lãnh ở mức hạn chế

d Đồng tài trợ

Cho vay đồng tài trợ được hiểu là việc nhiều tổ chức tín dụng với sự đại diện

của một tổ chức tín dụng được gọi là “Tổ chức tín dụng đầu mối” hay “gọi là

ngân hàng đại diện” cùng nhau góp vốn để cho vay đối với một dự án vay vốn

hoặc phương án vay vốn của khách hàng Lý do của việc đồng tài trợ là những

khoản vay lớn mà một ngân hàng không có đủ nguồn vốn để thực hiện tài trợ, vì

những lí do phân tán rủi ro, chi phí quản lý thấp do chỉ cần một ngân hàng đầu

mối thực hiện Hình thức cấp tín dụng đối với đồng tài trợ có thể là cho vay hợp

vốn, đồng bảo lãnh hoặc kết hợp cả hai hình thức Đồng tài trợ có một số đặc

điểm sau: Các Ngân hàng tham gia tổ hợp cho vay vốn thường là các Ngân hàng

của các nước khác nhau; thời hạn cho vay thường là trung hạn (từ 3-15 năm); lãi

suất cho vay dựa vào lãi suất Libor trên thị trường liên ngân hàng London, Ngân

hàng quản lý sắp xếp đàm phán các điều kiện vay với người vay (kỳ hạn, hoàn

trả, lãi suất ), tổ chức ký kết hợp đồng vay và tìm kiếm các Ngân hàng tài trợ

e Thuê mua tài chính qu ốc tế

Thuê mua tài chính quốc tế: là một thoả thuận hợp đồng cho phép một bên đi

(bên đi thuê) được sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê (bên

cho thuê) và thực hiện các khoản chi trả định kỳ được quy định cụ thể tại hợp

đồng thuê Bên đi thuê có thể thuê từ công ty cho thuê nội địa thông qua việc

Trang 21

công ty này nhập khẩu đối tượng thuê từ nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc có thể

thuê trực tiếp từ công ty cho thuê nước ngoài

Điểm mấu chốt của hoạt động thuê mua tài chính quốc tế là quyền sở hữu về

mặt pháp lý đối với tài sản của công ty cho thuê được tách khỏi việc sử dụng về

mặt kinh tế của tài sản cho thuê (tài sản đó do bên đi thuê nắm giữ và sử dụng),

Công ty cho thuê tập trung khả năng của bên đi thuê trong việc tạo ra số thu đủ

để chi trả tiền thuê Thực chất hoạt động thuê mua tài chính là một hoạt động tài

trợ trung dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị và các động sản

khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị tài sản theo yêu cầu của bên

thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản đó Bên thuê sử dụng tài sản thuê

và thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê theo thoả thuận và không được

huỷ hợp đồng trước hạn Khi kết thúc thời gian thuê bên thuê được quyền sở

hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều khoản đã thoả thuận

trong hợp đồng thuê

f B ảo lãnh Ngân hàng

Bảo lãnh là nghiệp vụ của ngân hàng trong đó ngân hàng cam kết bảo lãnh chịu

trách nhiệm trả tiền cho người thụ hưởng nếu bên được bảo lãnh không thực

hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo lãnh (bên

cho vay) Bên được bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện đầy đủ những cam kết

của mình với bên yêu cầu bảo lãnh và với ngân hàng bảo lãnh

Nghiệp vụ này có ý nghĩa đảm bảo cho bên được bảo lãnh thực hiện những điều

khoản đã được ký kết về vay vốn, cung ứng hàng hoá, vật tư với bên nhận bảo

lãnh; ngăn chặn rủi ro có thể phát sinh trong những giao dịch mua bán không

thường xuyên, quan hệ vay mượn và bù đắp các thiếu hụt về tài chính của bên

Trang 22

Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là bảo lãnh đảm bảo việc thực hiện các nghĩavụ đã

cam kết trong hợp đồng

Bảo lãnh dự thầu: là bảo lãnh nhằm đảm bảo việc tham gia dự thầu của các nhà

thầu và ký kết hợp đồng khi trúng thầu Trong trường hợp nhà thầu bị phạt vi

phạm hợp đồng mà nhà thầu không nộp hoặc không đủ tiền phạt cho chủ thầu

thì ngân hàng bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm trả thay cho nhà thầu

Bảo lãnh tiền ứng trước hay bảo lãnh tiền đặt cọc: là bảo lãnh đảm bảo hoản trả

lại khoản tiền ứng trước hay khoản tiền đặt cọc khi người nhận tiền không thực

hiện đẩy đủ các nghĩa vụ đã cam kết

Bảo lãnh vay vốn nước ngoài: là cam kết của ngân hàng nhận bảo lãnh với bên

cho vay về việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn của bên đi vay Trong trường hợp bên

đi vay không trả đủ nợ khi đến hạn, ngân hàng nhận bảo lãnh sẽ chịu trách

nhiệm trả nợ cho bên đi vay

Thư tín dụng dự phòng: đây cũng là một hình thức bảo lãnh mà các ngân hàng

Mỹ hay dùng Thư tín dụng dự phòng phát hành nhằm đảm bảo việc thanh toán

khi đến hạn hoặc sau khi vi phạm các nghĩa vụ liên quan đến các khoản tiền đã

được vay hoặc ứng trước, hoặc khi phát sinh hay không phát sinh các khoản chi

bất ngờ khác

1.2.3 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

1.2.3.1 Khái ni ệm chung về kinh doanh ngoại hối

* Định nghĩa về kinh doanh ngoại hối: Nếu hiểu kinh doanh ngoại hối

theo nghĩa rộng thì kinh doanh ngoại hối bao gồm việc mua bán ngoại hối

(ngoại hối là phương tiện thanh toán thể hiện dưới dạng ngoại tệ mạnh, hoặc các

khoản phải thu, phải đòi bằng ngoại tệ như là hối phiếu bằng ngoại tệ, séc bằng

ngoại tệ, dư có trên các tài khoản tại ngân hàng nước ngoài), đảm bảo ổn định số

dư tài khoản kinh doanh ngoại hối tại nước ngoài và tìm ra cách thu lời thông

qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau

Còn nếu hiểu kinh doanh ngoại hối theo nghĩa hẹp thì kinh doanh ngoại hối chỉ

đơn thuần là việc mua bán số dư trên các tài khoản bằng ngoại tệ

Trang 23

* Phạm vi hoạt động kinh doanh ngoại hối: là thị trường ngoại hối Thị trường

ngoại hối được định nghĩa là bất cứ ở đâu diễn ra việc mua bán các đồng tiền

khác nhau Đây là một thị trường không được thiết lập tại một vị trí địa lý hữu

hình nhất định, thị trường ngoại hối là thị trường có tính toàn cầu Vì kinh doanh

ngoại hối có thể hiểu đơn giản là việc mua bán các đồng tiền khác nhau nên một

vấn đề khác rất quan trọng phải quan tâm là phải xác định được tỷ giá giao dịch

giữa các đồng tiền hay phải xác định được tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là giá

cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác

1.2.3.2 Các nghi ệp vụ kinh doanh ngoại hối chủ yếu

Kinh doanh ngoại hối mang lại lợi nhuận đáng kể cho một NHTM nhưng như

một quy luật trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì những nghiệp vụ nào,

khoản đầu tư nào mang lại lợi nhuận lớn thì đồng nghĩa với mang lại rủi ro cao

Vì vậy, trong kinh doanh ngoại hối người ta thường dùng một số nghiệp vụ chủ

yếu sau đây

a Nghi ệp vụ ngoại hối giao ngay (Spot): Nghiệp vụ ngoại hối giao ngay

(The Spot Foreign Exchange Transaction) bao gồm việc trao đổi, mua bán các

đồng tiền khác nhau trên các tài khoản khác nhau tại ngân hàng và các bên tiến

hành thanh toán ngay sau khi đã thoả thuận theo tỷ giá giao ngay Khái niệm

giao ngay ở đây thường là từ một đến hai ngày làm việc kể từ sau ngày ký kết

hợp đồng, ngày giá trị trong giao dịch giao ngay là vào ngày làm việc thứ hai

sau ngày ký kết hợp đồng Đây cũng chính là đặc điểm để phân biệt giữa thị

trường ngoại hối giao ngay với các thị trường khác Tỷ giá giao ngay được xác

định trên thị trường ngoại hối giao ngay biểu diễn số lượng của một đồng tiền

này trên một đơn vị đồng tiền khác và cả hai đồng tiền này đều ở dạng tiền gửi

ngân hàng (trên tài khoản) Thị trường giao ngay được biết đến như là một thị

trường rất sôi động, giao dịch với khối lượng tiền cực lớn và với tốc độ giao

dịch nhanh như tia chớp nhằm tận dụng những cơ hội chênh lệch tỷ giá dù là cực

nhỏ

b Nghi ệp vụ ngoại hối kỳ hạn (Forward): Nghiệp vụ ngoại hối kỳ hạn

hay còn là giao dịch ngoại hối kỳ hạn là giao dịch cam kết mua bán các đồng

Trang 24

tiền khác nhau tại một thời điểm xác định trong tương lai theo một tỷ giá đã thoả

thuận trước Hay còn có thể hiểu như sau : Những giao dịch ngoại hối có ngày

giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch ngoại hối kỳ hạn (Forward

transaction) Như vậy, trong giao dịch ngoại hối kỳ hạn có hai điều đáng lưu ý

đó là:

Th ứ nhất: ngày giá trị của giao dịch ngoại hối kỳ hạn là ngày xa hơn ngày

giá trị giao ngay có nghĩa là ngày thực hiện hợp đồng hay ngày phải thực hiện

nghĩa vụ hợp đồng kỳ hạn phải sau ngày ký kết hợp đồng từ ba ngày trở lên

Th ứ hai: tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá được thoả thuận ngay từ ngày hôm nay để

làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao

ngay

c Nghi ệp vụ hoán đổi ngoại hối (Foreign Exchange Swaps): Nghiệp vụ

hoán đổi ngoại hối hay giao dịch hoán đổi ngoại hối là việc đồng thời mua vào

và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị

bán ra là khác nhau Từ khái niệm trên cho thấy, một hợp đồng hoán đổi có các

đặc điểm sau:

+ Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được ký kết đồng thời

tại ngày hôm nay Hay có thể gọi giao dịch hoán đổi ngoại hối là một giao dịch

kép, theo đó một bên cam kết mua đồng thời bán một lượng ngoại tệ nhất định

theo tỷ giá đã được xác định cho một bên khác

+ Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này (đồng tiền yết giá) là bằng nhau

trong cả hai vế (vế mua và vế bán) của hợp đồng hoán đổi

+ Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và ngày giá trị của hợp đồng bán ra là

khác nhau

Từ khái niệm và đặc điểm trên, cho thấy giao dịch hoán đổi ngoại hối bao gồm

hai loại:

Th ứ nhất: bao gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn (Spot -

Forward) Ví dụ tại thời điểm hôm nay ta có thể mua (bán) giao ngay USD đồng

thời bán (mua) USD kỳ hạn

Trang 25

Th ứ hai: bao gồm hai giao dịch đều là giao dịch kỳ hạn được ký kết đồng thời

tại ngày hôm nay, nhưng có ngày giá trị khác nhau (Forward - Forward) Ví dụ:

hôm nay ký kết một hợp đồng gồm hai hợp đồng, thứ nhất hợp đồng kỳ hạn F1

thanh toán tại thời điểm T1 mua (hoặc bán) USD; thứ hai là hợp đồng bán (hoặc

mua) USD kỳ hạn F2 thanh toán tại thời điểm T2 Tỷ giá hoán đổi (Swap rates):

phản ánh điểm kỳ hạn hay điểm hoán đổi, tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng

hoán đổi hai đồng tiền nhất định thông qua giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ

hạn

Tỷ giá hoán đổi = tỷ giá kỳ hạn - tỷ giá giao ngay Như vậy về thực chất tỷ giá

hoán đổi cũng chính là điểm kỳ hạn

d Nghi ệp vụ tiền tệ tương lai hay còn gọi là giao dịch tiền tệ tương lai

(Currency Futures): Giao dịch tiền tệ tương lai được thực hiện thông qua việc

ký kết các hợp đồng tiền tệ tương lai (gọi tắt là hợp đồng tương lai) Hợp đồng

tương lai là sự thoả thuận sẽ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ nhất định vào

một ngày đã được xác định trong tương lai theo những điều kiện đã quy định

trước Trong giao dịch tiền tệ tương lai thì ngày giá trị đã được chuẩn hoá bao

gồm bốn ngày trong năm, cụ thể là ngày thứ tư tuần thứ ba của các tháng thứ ba,

sáu, chín, mười hai

Hợp đồng tương lai tương tự như hợp đồng kỳ hạn nhưng điểm khác biệt quan

trọng là ở chỗ hợp đồng tương lai được thực hiện thông qua sở giao dịch

e Nghi ệp vụ quyền chọn tiền tệ: Nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ hay còn gọi là

giao dịch quyền chọn tiền tệ là giao dịch được thực hiện qua việc ký kết hợp

đồng quyền chọn tiền tệ Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là quyền, chứ không phải

nghĩa vụ, mua hoặc bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỷ giá cố

định đã thoả thuận trước, trong một khoảng thời gian nhất định Để có quyền

như vậy, người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí

nhấtđịnh (gọi là option premium)

Hợp đồng quyền chọn tiền tệ có hai loại là: Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ

hay còn gọi là quyền chọn mua tiền tệ (Call - Option); Hợp đồng quyền chọn

bán tiền tệ hay gọi là quyền chọn bán tiền tệ (Put - Option)

Trang 26

+ Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là hợp đồng, trong đó người mua hợp đồng

có quyền mua một đồng tiền nhất định Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là hợp

đồng quyền chọn mua đồng tiền yết giá (chứ không phải đồng tiền định giá);

Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ tương đương với hợp đồng quyền chọn bán

đồng tiền định giá; Khi ta nói đến quyền chọn mua tiền tệ, thì đã bao hàm ý là

quyền chọn mua đồng tiền yết giá và đồng thời là quyền chọn bán đồng tiền

định giá

+ Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là hợp đồng, trong đó người mua hợp đồng

có quyền bán một đồng tiền nhất định Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là hợp

đồng quyền chọn bán đồng tiền yết giá (chứ không phải là đồng tiền định giá);

Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là tương đương với hợp đồng quyền chọn mua

đồng tiền định giá; Khi nói đến quyền chọn bán tiền tệ, là bao hàm ý là quyền

chọn bán đồng tiền yết giá và đồng thời là quyền chọn mua đồng tiền định giá

1.2.4 Dịch vụ thẻ tín dụng Quốc tế

Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán hiện đại cho phép chủ thẻ sử dụng

để thanh toán cho các hàng hoá, dịch vụ tại nơi có điểm chấp nhận thẻ hoặc rút

tiền mặt với hạn mức chi tiêu nhất định mà ngân hàng cho phép chủ thẻ căn cứ

vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của chủ thẻ

Đặc trưng nổi bật của thẻ tín dụng là chi tiêu trước, trả tiền sau, tức chủ thẻ có

thể trả những khoản tiền đã thanh toán bằng thẻ tín dụng khi nhận được thông

báo của ngân hàng và không phải trả bất kỳ một khoản lãi nào nếu việc trả

những khoản tiền trên được thực hiện đúng 15 ngày kể từ ngày nhận được bảng

kê (hay còn gọi là thông báo yêu cầu thanh toán của ngân hàng kèm theo danh

sách các khoản chi tiêu đã được thực hiện trong tháng của chủ thẻ) Xét về bản

chất thì thẻ tín dụng chính là cam kết của ngân hàng cho chủ thẻ vay tiền để mua

hàng hoá dịch vụ trong giới hạn được phép, đây là một sự vay mượn có điều

kiện

Thẻ tín dụng đầu tiên ra đời vào năm 1949 là thẻ Diner Club do ông Frank Mc

Namara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế ra, và tiếp theo nó là sự ra đời của

các loại thẻ khác như là: Trip Charge, Golden Key, Gourment Club (1955),

Trang 27

American Epress, Carte Blanche (1958), Bank American ngày nay gọi là Visa

(1966)

Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán thông dụng và văn minh của thế giới

hiện đại ngày nay Các loại thẻ như Master, Visa, JCB, Diner Club, Amex được

sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới và thay nhau chiếm lĩnh các thị trường lớn

Ngân hàng cung cấp thẻ tín dụng đến khách hàng theo hai phương thức sau:

+ Ngân hàng trở thành một thành viên với các nhóm ngân hàng cung cấp dịch vụ

thẻ hoặc đóng vai trò như một đại lý

+ Ngân hàng có thể phát hành thẻ riêng của mình nhưng để làm được điều này

đòi hỏi ngân hàng phát hành thẻ phải thu hút được đủ những người cung cấp

hàng hoá và dịch vụ, Ngân hàng phải có một nhóm khách hàng sử dụng thẻ đủ

lớn để có thể bù đắp được chi phí bỏ ra phát hành thẻ

1.2.5 Các nghiệp vụ khác

1.2.5.1 Nghi ệp vụ ngân hàng internet và dịch vụ ngân hàng điện tử

Trong mấy thập niên gần đây, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin

và việc ứng dụng của khoa học kỹ thuật đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ

thông tin trong ngành Ngân hàng đã giúp ngân hàng cung cấp ngày càng nhiều

loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại như là nghiệp vụ ngân hàng internet, hay

ngân hàng trực tuyến, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ tư vấn, séc du lịch,

ngân hàng đại lý

Nghiệp vụ ngân hàng internet (Internet Banking - IB): là một phương thức phân

phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua mạng máy tính Khi có nhu cầu,

khách hàng chỉ cần nhập các thông tin cần thiết như mã truy cập, mật khẩu của

mình và nội dung yêu cầu ngân hàng vào một chương trình do ngân hàng cài đặt

là có thể tiến hành giao dịch ngay lập tức vào bất cứ lúc nào mà không nhất thiết

phải trực tiếp đến ngân hàng

Dịch vụ ngân hàng điện tử (Email Banking): là nghiệp vụ có nội hàm rộng hơn

nghiệp vụ ngân hàng internet rất nhiều, dịch vụ này bao gồm cả việc cung cấp

các dịch vụ thông qua một số phương tiện như fax, điện thoại, email Như vậy,

nếu trước kia công nghệ thông tin chỉ hỗ trợ cho việc kinh doanh ngân hàng thì

Trang 28

ngày nay công nghệ thông tin đã góp phần giúp thay đổi nội dung hoạt động

kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng

1.2.5.2 Ngân hàng đại lý và dịch vụ đánh giá tín nhiệm ngân hàng đại lý

Ngân hàng này được coi là đại lý của ngân hàng kia và ngược lại nếu hai ngân

hàng cùng duy trì tài khoản ngân hàng đại lý với nhau Các ngân hàng trở thành

đại lý của nhau khi phát sinh nhu cầu thanh toán cho khách hàng của Ngân hàng

tại nơi mà Ngân hàng này không có chi nhánh

Vì khách hàng thường yêu cầu Ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính tại bất

cứ nơi nào trên thế giới Tuy nhiên không phải ở đâu, một ngân hàng cũng có

thể có chi nhánh, do nhiều lí do khác nhau như vấn đề chi phí, cơ chế quản lý

của ngân hàng trung ương các nước, chính sách pháp luật của từng nước Vì

vậy, mối quan hệ ngân hàng đại lý đã đem lại lợi ích rất to lớn cho Ngân hàng vì

ngân hàng có thể phục vụ khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ với chi phí

thấp do không cần đến cơ sở vật chất ở nước ngoài, đội ngũ nhân viên làm việc

ở nước ngoài

Để có thể biết hai ngân hàng có quan hệ đại lý với nhau hay không thì nhân tố

chủ chốt để xác định đó là quan hệ tài khoản giữa hai ngân hàng

* Đánh giá tín nhiệm ngân hàng đại lý: chính là dịch vụ quản trị rủi ro khi

tham gia vào mối quan hệ ngân hàng đại lý với Ngân hàng khác Dịch vụ giúp

đánh giá sự lành mạnh về tài chính của bên đối tác để nắm được năng lực thực

hiện nghiệp vụ của Ngân hàng đại lý Kết quả đánh giá này sẽ xác định hạn mức

trách nhiệm tham gia vào mối quan hệ ngân hàng đại lý

Dịch vụ này nhằm mục tiêu chính là đảm bảo chất lượng toàn bộ các khoản

mục tài sản có của Ngân hàng tại các ngân hàng đại lý Trên thực tế thường tồn

tại một số loại rủi ro gắn liền với các đánh giá tín nhiệm của Ngân hàng đại lý

là:

Th ứ nhất: khi ban đầu đánh giá thì tốt nhưng sau đó hậu quả sấu nảy sinh

Thứ hai: những điều khoản kinh doanh bị cơ quan đánh giá tín nhiệm bác

bỏ nhưng trên thực tế bên đối tác hoàn toàn có thể đáp ứng được những nghĩa vụ

của họ, do đó cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ

Trang 29

1.2.5.3 D ịch vụ tư vấn

Nhờ mạng lưới chi nhánh văn phòng đại diện, các nguồn tin từ các ngân hàng

đại lý và từ các khách hàng của ngân hàng kết hợp với các nghiệp vụ tái chính

và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào ngân hàng, các ngân hàng có thể

nhanh chóng cung cấp thông tin về tình hình kinh tế chính trị, giá cả, pháp luật

một cách đầy đủ, chính xác trên phạm vi toàn cầu về các đối tác kinh doanh cho

các khách hàng của mình

Nhờ kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính tiền tệ ngân hàng các

ngân hàng còn có thể dự đoán được tình hình biến động kinh tế xã hội, chính trị

cũng như thay đổi của pháp luật, giá cả, sự thay đổi nhu cầu của xã hội từ đó tư

vấn cho khách hàng của mình kế hoạch kinh doanh nên đầu tư vốn vào đâu để

có thể đạt kết quả kinh doanh tốt, những biện pháp điều chỉnh tài chính cho phù

hợp với sự biến động của thị trường

Dịch vụ này vừa đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập vừa củng cố quan

hệ giữa ngân hàng và khách hàng, mang lại những tiếp xúc ban đầu với khách

hàng từ đó củng cố các nghiệp vụ ngân hàng, có thể cho phép ngân hàng nắm

bắt được khả năng tài chính của các công ty bây giờ chưa là khách hàng của

ngân hàng nhưng rất có thể trong tương lai các công ty này sẽ là khách hàng của

ngân hàng

1.2.5.4 Séc du l ịch

Séc du lịch là loại séc đích danh có mệnh giá in trên mặt séc, nhờ loại séc này

mà khách du lịch có thể không cần mang theo tiền mặt khi đi du lịch vì séc du

lịch có thể thanh toán một cách chắc chắn ở mọi nơi

Để phân biệt séc du lịch với séc thông thường khác của ngân hàng chúng ta có

thể căn cứ vào hai đặc điểm sau đây:

Th ứ nhất: séc du lịch có mệnh giá in trên mặt séc và nó chỉ được đưa vào

lưu thông khi ngân hàng thanh toán đã nhận được số tiền tương ứng của séc

Thứ hai: séc du lịch được phát hành bằng nhiều loại ngoại tệ không quy

định thời hạn, được thanh toán ở nhiều nơi không cần báo trước, chỉ cần khách

hàng ký chữ ký thứ hai giống chữ ký thứ nhất

Trang 30

Séc du lịch có thể coi là phương tiện thanh toán thuận tiện và chắc chắn như tiền

mặt

Người nhận séc gửi séc đến ngân hàng đại lý để chờ thanh toán, ngân hàng đại

lý sẽ chuyển tiếp séc tới ngân hàng thanh toán qua hình thức nhờ thu Ngân hàng

đại lý sẽ nhận được khoản phí từ người gửi séc, còn ngân hàng thanh toán thu

được khoản phí từ người yêu cầu phát hành séc du lịch

1.3 MỞ RỘNG NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH

HƯỞNG

1.3.1 Khái niệm mở rộng nghiệp vụ NHQT

Mở rộng nghiệp vụ NHQT hiểu theo chiều rộng hay hiểu một cách đơn giản là

mở rộng phạm vi, đối tượng, địa bàn hoạt động, mở rộng chủ thể tham gia

nghiệp vụ NHQT, mở rộng số lượng các nghiệp vụ NHQT thực hiện, đa dạng

hoá sản phẩm, kênh phân phối sản phẩm NHQT

Mở rộng nghiệp vụ NHQT hiểu theo chiều sâu là mở rộng chất lượng từng

nghiệp vụ cụ thể làm sao để nâng cao trình độ của nhân viên đối với từng nghiệp

vụ cụ thể, thực hiện chuyên môn hoá phân chia nhân viên chuyên phụ trách từng

nội dung nghiệp vụ cụ thể, nâng cao chất lượng phục vụ của ngân hàng được

biểu hiện qua chất lượng của nhân viên chuyên trách về nghiệp vụ NHQT, nâng

cao trang thiết bị công nghệ phục vụ cho việc thực hiện nghiệp vụ để đạt được

mục tiêu là tăng chất lượng nghiệp vụ, tăng doanh thu của từng nghiệp vụ,

doanh thu của từng nghiệp vụ cụ thể năm sau cao hơn năm trước

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng nghiệp vụ NHQT

Qua các đặc điểm đã được thể hiện ở phần 1.1.2 đã phần nào thể hiện được

những nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ NHQT Sau đây tôi xin cụ thể hoá một

số nhân tố chủ yếu có thể ảnh hưởng đến nghiệp vụ NHQT

Thứ nhất: là luật lệ, thông lệ, quy chế, chính sách của một quốc gia và Quốc tế

có liên quan đến hoạt động nghiệp vụ NHQT Việc một ngân hàng muốn mở

Trang 31

rộng mạng lưới hoạt động ra thị trường Quốc tế chịu ảnh hưởng trực tiếp của

pháp luật của nước mà ngân hàng đang tồn tại cũng như luật lệ Quốc tế và pháp

luật của nước mà ngân hàng muốn mở rộng hoạt động vào thị trường nước này

Thứ hai: tình hình kinh tế, đầu tư và thương mại quốc tế Nghiệp vụ NHQT

nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng đầu tư, thương mại quốc tế vì vậy một sự

biến động của kinh tế thế giới hay thương mại quốc tế đều ảnh hưởng trực tiếp

đến nhu cầu đầu tư và thương mại quốc tế của khách hàng cho nên sẽ ảnh hưởng

đến ngân hàng Mặt khác, trong thời đại ngày nay, kinh tế thế giới đang ở giai

đoạn toàn cầu hoá mạnh mẽ, đặt ra vấn đề là tất cả các quốc gia là phải hội nhập

kinh tế quốc tế và phải hội nhập với tốc độ như thế nào để không tụt hậu nên dù

cho một biến động nhỏ nào của kinh tế thế giới, đầu tư và thương mại quốc tế

đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia trên thế giới Hệ thống ngân

hàng tài chính của một quốc gia cũng không thể nằm ngoài sự ảnh hưởng này

được, các ngân hàng cũng chịu sức ép mạnh mẽ của hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba: là sự phát triển như vũ bão của thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế

Trong đó, có làn sóng sáp nhập các tổ chức tài chính, ngân hàng đang diễn ra ở

khắp mọi nơi trên thế giới để tăng sức cạnh tranh, tăng tiềm lực tài chính, tăng

lợi nhuận, hạn chế rủi ro đã tạo ra sức ép rất lớn đối với các ngân hàng nhỏ, có

tiềm lực tài chính chưa vững mạnh làm thế nào để tồn tại và phát triển

Thứ tư: là tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ tới

hoạt động kinh tế - thương mại quốc tế Đó là tác động của thương mại điện tử

và ngân hàng điện tử: đầu tiên là thương mại điện tử đó là các hoạt động thương

mại sử dụng các phương tiện điện tử đã trở thành một mô hình hoạt động thương

nghiệp hoàn toàn mới chưa hề có từ trước đến nay Thương mại điện tử dựa trên

nền tảng là công nghệ thông tin tiên tiến và tất cả các sản phẩm có chất lượng, là

xu thế tất yếu, động lực chủ yếu cho quá trình toàn cầu hoá dẫn tới một sự thay

đổi sâu sắc và toàn diện trong lĩnh vực mậu dịch – thương mại Cải cách này lại

lấy hoạt động ngân hàng điện tử làm tiền đề vì khâu trung tâm trong thương mại

điện tử là lưu chuyển vốn giữa các vùng lãnh thổ trong một quốc gia, giữa các

Trang 32

quốc gia với nhau, hay có thể hiểu là thanh toán trên mạng, điều này cần đến

ngân hàng điện tử để thực hiện

Thứ năm: là tác động của nền kinh tế tri thức, trong nền kinh tế toàn cầu hoá

hiện nay, lợi thế so sánh của các nước có sự thay đổi căn bản, ngày nay lợi thế

để có thể phát triển của mỗi quốc gia, để có thể hội nhập thành công vào thị

trường quốc tế, để các quốc gia chậm phát triển có thể đuổi kịp các quốc gia

phát triển đó là trí tuệ của dân tộc mà đại diện là những cá nhân xuất sắc, là hàm

lượng công nghệ cao chứ không phải là lao động trẻ, tài nguyên phong phú và

nguồn vốn Nghiệp vụ NHQT đặc biệt đề cao phẩm chất và trí tuệ con người,

đòi hỏi nhân viên thực hiện nghiệp vụ NHQT phải có tri thức về công nghệ

thông tin, tri thức về kinh tế cung như tất cả các phẩm chất cần có của một cán

bộ ngân hàng Do đó, vấn đề kinh tế tri thức và chiến lược tri thức hoá ngành

ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển hay tụt hậu của ngân

hàng sau này

Thứ sáu: là một số nhân tố thuộc về ngân hàng như trình độ của những nhà

quản trị ngân hàng hiện nay có đủ khả năng để đề ra các chiến lược lâu dài để

phát triển hoạt động của ngân hàng đáp ứng nhu cầu hội nhập hay không, năng

lực tài chính của ngân hàng có đủ để thực hiện các chiến lược đó hay không, tri

thức về tổ chức thực hiện như thế nào cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng

ngân hàng Năng lực tài chính của ngân hàng ở đây được hiểu là vốn tự có vì

vốn tự có chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng nó lại

đóng vai trò then chốt trong hoạt động của ngân hàng Nó quy định quy mô, tầm

vóc, khả năng canh tranh, mức độ chịu đựng và chống chịu rủi ro trong hoạt

động ngân hàng Vốn tự có càng cao ngân hàng càng có cơ hội mở rộng phạm vi

hoạt động, nâng cao vị thế của ngân hàng Các nghiệp vụ NHQT hiện đại ngày

nay đòi hỏi các ngân hàng phải có hệ thống máy tính hiện đại, hệ thống công

tiên tiến thì mới có thể cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng một cách

tốt nhất để làm được điều này thì vốn tự có của ngân hàng phải lớn

Trang 34

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC NGHIỆP VỤ NHQT CỦA CÁC

NHTM VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (2001 – 2003)

2.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NGHIỆP VỤ NHQT CỦA

CÁC NHTM VIỆT NAM

Có thể nói các nghiệp vụ NHQT được thực hiện ở nước ta từ khi thành lập Ngân

hàng Ngoại Thương Việt Nam (ngày 1/ 4/1963) Trong thời gian này, do cơ chế

chính sách của Nhà nước là cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, Nhà

nước không cho nền kinh tế thị trường phát triển, nền kinh tế lúc này là nền kinh

tế kế hoạch Hệ thống ngân hàng là hệ thống ngân hàng một cấp, các ngân hàng

hoạt động không theo cơ chế thị trường, các ngân hàng được Chính phủ sử dụng

như là công cụ cấp tín dụng cho chính phủ Ngân hàng Ngoại Thương được

thành lập cũng với mục đích như thế, phục vụ Chính phủ trong việc thanh toán,

vay mượn ngoại tệ ở nước ngoài… Vì vậy, trong khoảng thời gian từ 1963-1980

chỉ có Ngân hàng Ngoại Thương thực hiện các nghiệp vụ ngoại hối nhưng các

nghiệp vụ này còn rất đơn giản do điều kiện kinh tế xã hội lúc này chưa phát

triển nên xuất nhập khẩu hầu như không có nên nhu cầu thực hiện các nghiệp vụ

NHQT là rất ít và chủ yếu dưới dạng mua bán ngoại tệ, và do trình độ cán bộ

ngân hàng còn yếu về lĩnh vực thị trường quốc tế cộng với công nghệ lúc này rất

lạc hậu

Khi hệ thống ngân hàng chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp (vào

cuối năm 1980) tách vai trò quản lý của NHTW với vai trò kinh doanh của các

NHTM thì các ngân hàng bắt đầu chú trọng đến việc phát triển các nghiệp vụ

kinh doanh ngân hàng trong đó có các nghiệp vụ NHQT Nhưng các nghiệp vụ

NHQT chỉ được triển khai thực hiện phổ biến ở tất cả các ngân hàng trong mấy

năm gần đây là do yêu cầu của các khách hàng về nghiệp vụ này cộng với yêu

cầu của hội nhập kinh tế quốc tế (muốn tồn tại và phát triển, buộc các NHTM

phải chú trọng đến việc thực hiện tốt các nghiệp vụ NHQT để có thể cạnh tranh

Trang 35

trước mắt là các NHTM, Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng cổ phần trong nước,

sau này là các Ngân hàng nước ngoài)

2.2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC NGHIỆP VỤ NHQT CỦA CÁC NHTM VIỆT

NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.2.1 Nghiệp vụ thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế luôn là một trong những nội dung hoạt động quan trọng của

các NHTM Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 64% thị phần thanh toán quốc tế

được thực hiện bởi 4 NHTM nhà nước Thông qua số liệu báo cáo thường niên

của Ngân Hàng Ngoại Thương, Ngân Hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn, Ngân Hàng Công Thương, Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển, ta có thể thấy

được thị phần thanh toán quốc tế cuả các ngân hàng như sau:

BẢNG SỐ 1:THỊ PHẦN THANH TOÁN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP

KHẨU CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

Đơn vị tính: triệu USD

Năm

Tổng số Tỷ

trọng trong tổng số

Tổng

số

Tỷ trọng trong tổng số

Tổng số

Tỷ trọng trong tổng số 1)Tổng doanh số thanh toán

Qua bảng trên ta thấy kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của các NHTM năm

2002 so với năm 2001 tăng 10,25%, năm 2003 đạt 37798 triệu USD tăng 11%

so với năm 2002 Trong đó Ngân Hàng Ngoại Thương chiếm thị phần thanh

toán hàng hoá xuất nhập khẩu lớn nhất chiếm 30% tổng doanh số thanh toán

xuất nhập khẩu, còn 3 NHTM Quốc doanh còn lại chiếm thị phần thanh toán xấp

xỉ bằng nhau và bằng xấp xỉ 10% Như vậy, hoạt động thanh toán hàng hoá xuất

nhập khẩu của các NHTM có bước tăng trưởng khá do hoạt động xuất nhập

Trang 36

khẩu của nước ta tăng mạnh, các ngân hàng đã chú trong tới việc phát triển

nghiệp vụ thanh toán quốc tế Trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu Ngân

hàng Ngoại Thương vẫn chiếm thị phần thanh toán lớn khoảng 30% do đặc điểm

từ khi ra đời và có tín nhiệm trong hoạt động thanh toán quốc tế, các NHTM

Quốc doanh còn lại tuy mới chú trọng đến nghiệp vụ thanh toán quốc tế vài năm

gần đây nhưng cũng đã chiếm một thị phần ổn định trong những năm qua

Trong thanh toán quốc tế của các NHTM thì doanh số và tỷ trọng của các

phương thức thanh toán được thực hiện như sau:

BẢNG 2 : DOANH SỐ VÀ TỶ TRỌNG CÁC PHƯƠNG THỨC THANH

TOÁN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

Đơn vị tính : triệu USD

Doanh

số

Tỷ trọng(%)

Doanh

số

Tỷ trọng(%)

Tín dụng chứng từ 28.663 92,8 31.553 92,4 34.963 92,5

Tổng số 30.887 100 34.053 100 37.798 100

(Ngu ồn: Báo cáo thanh toán quốc tế của NHTM Việt Nam từ 2001 – 2003)

2.2.1.1 Ph ương thức thanh toán chuyển tiền

Qua bảng 2 ta thấy doanh số chuyển tiền của các NHTM năm 2002 so với năm

2001 tăng 20%, năm 2003 đạt 1.928 triệu USD tăng 15,5 % so với năm 2002,

thể hiện chú trọng của các NHTM đến nghiệp vụ chuyển tiền và sự mở rộng

mạng lưới chuyển tiền ra các nước thông qua mạng SWIFT, cộng với nhu cầu

chuyển tiền ra nước ngoài để du lịch, học tập, lượng kiều hối của kiều bào nước

ngoài gửi về nước tăng Tỷ trọng sử dụng phương thức chuyển tiền trong các

phương thức thanh toán quốc tế còn nhỏ là do phương thức này ít được sử dụng

trong thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu Những hạn chế của phương thức

này chủ yếu được sử dụng trong việc chuyển tiền giữa các cá nhân cho nhau

hoặc thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu trong trường hợp hai bên có uy tín với

Trang 37

nhau Mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể về doanh số nhưng vẫn còn nhiều vấn

đề đặt ra đối với các NHTM như là trình độ công nghệ còn lạc hậu chưa đáp ứng

tốt nhất nhu cầu chuyển tiền cho khách hàng, cơ chế chính sách, thủ tục giấy tờ

còn nhiều bất cập đòi hỏi các NHTM phải đổi mới và chú trọng hơn nữa

2.2.1.2 Ph ương thức thanh toán nhờ thu

Từ bảng 2 ta thấy tỷ trọng phương thức nhờ thu được sử dụng trong các phương

thức thanh toán quốc tế năm 2002 so với năm 2001 giảm từ 2,7% xuống còn

2,5% và đến năm 2003 giảm xuống còn 2,4% Ta thấy trong thanh toán quốc tế

phương thức này được sử dụng ít và ngày càng có xu hướng giảm đi do những

hạn chế của phương thức này là người xuất khẩu và nhập khẩu dễ gặp rủi ro khi

hai bên giao dịch lần đầu hoặc khi chưa có sự tin cậy nhau Tuy nhiên doanh số

tuyệt đối thì tăng lên, doanh số thanh toán nhờ thu năm 2003 đạt 907 triệu USD

tăng 6,5% so với năm 2002 là do doanh số hoạt động xuất nhập khẩu của các

công ty thường xuyên xuất nhập khẩu có uy tín với đối tác nước ngoài tăng mà

các công ty này lại chủ yếu sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu

2.2.1.3 Ph ương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Bảng số 2 cho thấy phương thức thanh toán tín dụng chứng từ chiếm tỷ trọng

rất cao trong các phương thức thanh toán của các NHTM, năm 2001 chiếm tới

92,8% tổng doanh số thanh toán quốc tế, năm 2002 chiếm tới 92,4% và năm

2003 chiếm tới 92,5% Ta thấy, tỷ trọng phương thức tín dụng chứng từ có xu

hướng tăng nhưng trong năm 2002 có giảm so với năm 2001 do biến động của

thị trường thế giới trong năm 2002 nên chủ yếu chỉ có các công ty đã xuất nhập

khẩu có tín nhiệm và có quan hệ lâu năm với các công ty nước ngoài mới xuất

nhập khẩu nhiều mà các công ty này lại sử dụng phương thức thanh toán chuyển

tiền còn các công ty mới bắt đầu xuất nhập khẩu thì bị hạn chế xuất nhập khẩu

các công ty này lại chủ yếu sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, trong năm

2003 tỷ trọng phương thức này lại tăng do sự ổn định trở lại của nền kinh tế thế

giới Doanh số thanh toán của phương thức tín dụng chứng từ từ năm 2001 đến

năm 2003 đều tăng năm 2003 đạt 34.963 triệu USD tăng so với năm 2002 là

10,8% Sở dĩ như vậy là do những ưu điểm vượt trội của phương thức tín dụng

Trang 38

chứng từ so với phương thức chuyển tiền và phương thức nhờ thu là nó hạn chế

được rủi ro cho nhà xuất khẩu cũng như nhà nhập khẩu trong việc thực hiện hợp

đồng ngoại thương cũng như trong việc thanh toán thể hiện sự phát triển khá tốt

của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và nó cũng thể hiện sự chú trọng

của các NHTM đến việc nâng cao trình độ nhân viên cũng như trang bị các

phương tiện cần thiết cho việc thưc hiện nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ

như là trang bị hệ thống máy tính hiện đại và nối mạng máy tính với nhiều ngân

hàng khác trên thế giới để có thể thực hiện tốt việc thanh toán xuất nhập khẩu

Thanh toán tín dụng chứng từ gồm hai phần đó là thanh toán hàng nhập khẩu và

thanh toán hàng xuất khẩu

BẢNG 3: CƠ CẤU THANH TOÁN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

kim ngạch

Kim ngạch L/C

kim ngạch

Kim ngạch L/C

(%)

2001 14.826 13.699 92,4 16.061 14.964 93,2 30.887 28.663 92,8

2002 16.516 15.063 91,2 17.537 15.490 88.3 34.053 31.553 92,4

2003 18.483 17.170 92.9 19.315 17.793 92,1 37.798 34.963 92,5

(Nguồn: Báo cáo thanh toán quốc tế của 4 NHTM Quốc doanh từ 2001-2003)

Bảng 3 cho thấy doanh số thanh toán L/C nhập khẩu của các NHTM luôn

lớn hơn doanh số thanh toán L/C xuất khẩu, năm 2001 doanh số thanh toán L/C

xuất khẩu là 13.699 triệu USD trong khi đó doanh số thanh toán L/C nhập khẩu

là 14.964 triệu USD lớn hơn doanh số thanh toán L/C xuất khẩu là 1.265 triệu

USD, năm 2003 doanh số thanh toán L/C nhập khẩu đạt 17.793 lớn hơn doanh

số thanh toán L/C xuất khẩu là 623 triệu USD do giá trị hàng nhập khẩu lớn hơn

hàng xuất khẩu Điều này là do nước ta là nước nhập siêu Mặt khác, chúng ta

nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị, công nghệ kĩ thuật; Xuất khẩu chủ yếu

là nông sản phẩm, các mặt hàng chế biến

Trang 39

Nhìn chung thì hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM đã được đầu

tư và phát triển khá tốt với doanh số ngày càng tăng, kim ngạch thanh toán L/C

xuất khẩu so với kim ngạch thanh toán L/C nhập khẩu năm 2003 đã gần bằng

nhau nhưng có thể nói hoạt động thanh toán quốc tế vẫn còn một sốvấn đề tồn

tại là:

- Thứ nhất là: khách hàng thanh toán với số lượng chứng từ lớn, chủng loại đa

dạng, nhưng giá trị hoá đơn lại thấp, khiến cho chi phí giao dịch của khách hàng

lẫn Ngân hàng đều tăng

- Thứ hai là: trình độ cán bộ Ngân hàng còn nhiều vấn đề phải được đào tạo vì

hoạt động thanh toán quốc tế có rất nhiều rủi ro, nếu trình độ cán bộ Ngân hàng

yếu sẽ dẫn đến việc kiểm tra chứng từ thiếu hoặc sai sót

- Thứ ba là: công nghệ Ngân hàng tuy đã được đầu tư nhưng vẫn còn thiếu,

chưa đồng bộ, mức độ tự động hoá chưa cao, phần mềm hệ thống thanh toán

chưa hoàn thiện

- Th ứ tư là: trình độ trong thanh toán quốc tế của các NHTM còn có sự chênh

lệch nhau khá lớn, Ngân hàng Ngoại Thương có đội ngũ nhân viên có trình độ

thanh toán khá cao còn các NHTM khác thì trình độ thanh toán quốc tế của độ

ngũ nhân viên còn rất hạn chế

- Mặt khác: còn những tồn tại trong hệ thống luật Ngân hàng như các văn

bản thì chồng chéo, hiệu lực pháp lý chưa cao Việc thanh toán quốc tế chủ yếu

dựa vào UCP 500, URC 522… Cán cân thanh toán của Việt Nam luôn trong tình

trạng bội chi, do đó ảnh hưởng đến khả năng mua bán ngoại tệ của các NHTM

nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động thanh toán quốc tế…

2.2.2 Nghiệp vụ giao dịch về vốn

2.2.2.1 Huy động vốn trên thị trường quốc tế

Nguồn vốn ngoại tệ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của

các NHTM Nó đảm bảo đủ ngoại tệ cho thanh toán quốc tế, cho đầu tư…Cơ

cấu nguồn vốn của các NHTM thời gian qua được thể hiện qua bảng cơ cấu

nguồn vốn dưới đây

Ngày đăng: 25/03/2013, 13:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS Lê Văn Tề - Nghiệp vụ ngân hàng Quốc tế Khác
2. TS. Nguyễn Văn Tiến - Tài chính Quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở Khác
3. TS. Nguyễn Văn Tiến - Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối Khác
4. Peter Rose - Quản trị Ngân hàng thương mại Khác
5. Nguyễn Thanh Trúc - Giáo trình thanh toán quốc tế Khác
6. Tài liệu thực tập tối nghiệp khoa Tiền tệ - Tín dụng Quốc tế Khác
7. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ các số năm 2001, 2002, 2003 Khác
8. Tạp chí Ngân hàng các số năm 2001, 2002, 2003 Khác
9. Development Banking in the new Millennium.-Ngân hàng thế giới Khác
10. Một số báo và tạp chí khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ 1: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN CHUYỂN TIỀN. - mở rộng các nghiệp  vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam
SƠ ĐỒ 1 QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN CHUYỂN TIỀN (Trang 8)
SƠ ĐỒ 4: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG  TỪ. - mở rộng các nghiệp  vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam
SƠ ĐỒ 4 QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (Trang 14)
BẢNG SỐ 1:THỊ PHẦN THANH TOÁN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP  KHẨU CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM - mở rộng các nghiệp  vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam
1 THỊ PHẦN THANH TOÁN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM (Trang 35)
BẢNG  3:  CƠ  CẤU  THANH  TOÁN  HÀNG  HOÁ  XUẤT  NHẬP  KHẨU  BẰNG  PHƯƠNG  THỨC  TÍN  DỤNG  CHỨNG  TỪ  CỦA  CÁC  NHTM  VIỆT NAM - mở rộng các nghiệp  vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam
3 CƠ CẤU THANH TOÁN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM (Trang 38)
Bảng 8 cho thấy doanh số cam kết, bảo lãnh được thực hiện của các NHTM năm  2002 đạt 28.304.777 triệu đồng tăng 29% so với năm 2001 và năm 2003 đạt là  37.482.028 triệu  đồng tăng lên 32,42% so với năm 2002 và tăng 70,8% so với  năm 2001 - mở rộng các nghiệp  vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 8 cho thấy doanh số cam kết, bảo lãnh được thực hiện của các NHTM năm 2002 đạt 28.304.777 triệu đồng tăng 29% so với năm 2001 và năm 2003 đạt là 37.482.028 triệu đồng tăng lên 32,42% so với năm 2002 và tăng 70,8% so với năm 2001 (Trang 46)
BẢNG  9:  DOANH  SỐ  MUA  BÁN  NGOẠI  TỆ  TRÊN  THỊ  TRƯỜNG  NGOẠI HỐI VIỆT NAM. - mở rộng các nghiệp  vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam
9 DOANH SỐ MUA BÁN NGOẠI TỆ TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM (Trang 48)
BẢNG  11:  DOANH  SỐ  MUA  BÁN  NGOẠI  HỐI  KỲ  HẠN  TRÊN  THỊ  TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM - mở rộng các nghiệp  vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam
11 DOANH SỐ MUA BÁN NGOẠI HỐI KỲ HẠN TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w