tăng vốn chủ sở hữu cho các ngân hàng thương mai VIệt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đối với những khởi
sắc của nền kinh tế trong suốt thời gian qua là không thể phủ nhận Như huyết
mạch của thị trường tài chính - tiền tệ nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung,
các ngân hàng thương mại đã luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc tận dụng và
phát huy các nguồn lực tài chính trong nước, đáp ứng nhu cầu tín dụng của đông
đảo đối tượng và thành phần kinh tế, phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế
- xã hội Tuy nhiên, vị trí ấy đang bị lung lay, vì cùng với sự hội nhập quốc tế
ngày càng chủ động và tích cực hơn của Việt Nam trong thời gian gần đây, thị
trường tài chính - ngân hàng sẽ mở rộng cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài
Việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi, do đó năng lực cạnh tranh là vấn đề
then chốt
Bàn về năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam,
có rất nhiều điều để trăn trở: trình độ phát triển thị trường và trình độ quản lý
thấp, chất lượng tài sản không cao, công nghệ ngân hàng lạc hậu, dịch vụ còn
giới hạn, v.v…Song, một trong những hạn chế lớn nhất, ảnh hưởng cơ bản nhất
đến khả năng cạnh tranh của các định chế tài chính này tại Việt Nam chính là
tiềm lực tài chính còn hết sức yếu kém, mà Vốn chủ sở hữu là thước đo cho tiềm
lực ấy
Nếu ngân hàng có thể hoạt động và lớn mạnh như một cây cổ thụ, thì vốn
chủ sở hữu chính là rễ của cái cây đó Không chỉ tạo cơ sở hình thành và điều
kiện mở rộng cho ngân hàng, trong suốt quá trình hoạt động, nguồn vốn ấy luôn
đóng vai trò là tấm đệm chống đỡ mọi tổn thất đến từ lĩnh vực kinh doanh chứa
đựng đầy rủi ro này Có thể nói, vốn chủ sở hữu là xuất phát điểm đầu tiên, và
cũng là cứu cánh cuối cùng cho mọi ngân hàng duy trì được sự tồn tại và phát
triển của mình Một mức vốn chủ sở hữu đủ lớn sẽ giúp tránh được những vụ
phá sản ngân hàng _ một tai họa đem lại ảnh hưởng bất lợi đối với nền kinh tế
có lẽ là hơn bất cứ loại hình doanh nghiệp nào khác Vì vậy, tìm hiểu sâu về
Trang 2thực trạng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, và
những sức ép tăng nguồn vốn này trong thời gian tới là một việc làm rất thiết
thực và cấp bách, đặc biệt khi mà tài chính - ngân hàng là một trong những lĩnh
vực được mở cửa mạnh nhất sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006 vừa qua
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ những căn cứ lýý luận và thực tiễn để khẳng định vai trò
thiết yếu của vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn vốn đối với các ngân hàng thương
mại; đồng thời nghiên cứu một số kinh nghiệm tăng vốn chủ sở hữu của các
nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam
Thứ hai, tìm hiểu và đánh giá thực trạng vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn
vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua, những
kết quả, tồn tại và nguyên nhân
Thứ ba, phân tích sức ép tăng vốn chủ sở hữu đối với các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong tương lai gần; từ đó đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị phù hợp với điều kiện và tình hình của hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Với thực tế là sức ép sẽ đến chủ yếu với bộ phận các ngân hàng thương
mại bản địa, cũng như mong muốn rằng các ngân hàng được thành lập bởi
những nguồn lực nước nhà không dần mất đi vị thế của mình trên thị trường,
khóa luận chỉ xin tập trung vào các ngân hàng thương mại do phía Việt Nam
nắm quyền chi phối, bao gồm các ngân hàng thương mại: Nhà nước, Cổ phần và
Liên doanh, trong khoảng thời gian từ năm 2000-2007
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp biện chứng trong nghiên cứu khoa học, Khóa
luận chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu: thống kê, tổng kết thực
tiễn, phân tích và khái quát
5 Bố cục của Khóa luận
Trang 3Chương I: Lý ý luận chung výề Vốn Chủ Sở Hữu và Hệ số an toàn vốn của
các ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại
Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp tăng vốn chủ sở hữu cho các ngân hàng
thương mại Việt Nam nhằm phù hợp với sức ép tăng vốn của bối cảnh hội nhập
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - giảng viên khoa Tài Chính Ngân
Hàng của trường Đại học Ngoại Thương, đã hết sức tận tình chỉ bảo và giúp đỡ
em hoàn thành Khóa Luận này
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝý LUẬN CHUNG VýỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ HỆ SỐ AN TOÀN
VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1 Khái niệm
Ngân hàng (NH) là một trong các định chế tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế Có thể định nghĩa NH qua các chức năng, dịch vụ, hoặc vai trò mà
chúng thực hiện, nhưng những yếu tố trên đang không ngừng thay đổi: Rất
nhiều tổ chức tài chính_bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, môi
giới chứng khoán, quỹ tương hỗ hay công ty bảo hiểm…đang nỗ lực cung cấp
các dịch vụ ngân hàng; Ngược lại, NH cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh
tranh (các tổ chức tài chính phi NH) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch
vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, đầu tư vào quỹ tương hỗ, v.v Do
đó, cách tiếp cận thận trọng nhất có lẽ là xem xét NH trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà nó cung cấp Theo cách này:“Ngân hàng là các tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất _ đặc biệt là
tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [10] Cũng có
một số định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu của NH, ví dụ tại Việt Nam
theo Điều 1_Khoản 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các TCTD (số
20/2004/QH11): “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong
đó: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cung cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Có nhiều cách phân loại NH: Theo chức năng, có NHTW và NHTM; Theo
mục đích và phạm vi hoạt động có: NHTM, NH phát triển, NH đầu tư, NH chính
sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác Theo cách nào thì trong hầu hết mọi
Trang 5nền kinh tế, NHTM vẫn thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị
phần và số lượng NH Về cơ bản, có thể nói điểm phân biệt NHTM với các loại
hình NH khác là: NHTM hoạt động vì mục đích lợi nhuận (trong khi NHTW
làm nhiệm vụ chính là quản lýý, thực thi và giám sát chính sách tiền tệ, đóng vai
trò điều tiết, là NH của các NH trong nền kinh tế; còn các NH chính sách, phát
triển hay đầu tư lại ưu tiên thực hiện những chính sách phát triển kinh tế của
Nhà nước, trợ giúp người nghèo, đầu tư dự án, v.v…) Do đó khi nói đến NH,
nhìn chung có thể hiểu đó là NHTM, vì chúng thực hiện được tất cả những chức
năng, nhiệm vụ và hướng tới cung cấp tất cả những dịch vụ ngân hàng mà không
bị giới hạn bởi các mục đích khác NHTM cũng được phân loại theo nhiều cách
Theo hình thức sở hữu: NHTM Nhà nước, tư nhân, cổ phần, liên doanh, 100%
vốn đầu tư nước ngoài; Theo tổ chức hoạt động: Bán lẻ và Bán buôn; Chuyên
doanh và Đa năng; Theo cơ cấu tổ chức: Sở hữu công ty và Thuộc sở hữu công
ty; Đơn nhất và Có chi nhánh
NHTM thực hiện những chức năng vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế:
- Trung gian tín dụng: Trong hầu hết mọi nền kinh tế, NH là tổ chức thu hút
tiền tiết kiệm lớn nhất: Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ
chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại NH, vì thế NH đóng vai trò thủ quỹ cho
toàn xã hội; Ngược lại, NH cũng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh
nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần với Nhà nước (tỉnh, thành phố, ); Các
khoản tín dụng của NH cho Chính phủ (thông qua việc mua các chứng khoán
của Chính phủ) là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển; Đối với các
doanh nghiệp, NH thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ mua hàng
hóa dự trữ, xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị, v.v
- Trung gian thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc
mua hàng hóa và dịch vụ bằng cách phát hành séc, thẻ, ủy nhiệm chi,…cung cấp
mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy, tiền đúc
- Tạo tiền: xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và than toán mà NH có
khả năng “tạo tiền” Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào NH, thông qua cho vay
Trang 6bằng chuyển khoản (vì không phải mọi khoản vay đều được rút ra bằng tiền mặt
để đưa vào lưu thông), các NH nhân số tiền đó lên rất nhiều lần
2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Các NHTM có những nghiệp vụ là: Nghiệp vụ tài sản nợ _ là nghiệp vụ huy
động, tạo nguồn vốn (với các dịch vụ như nhận tiền gửi, đi vay, phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu, v.v.); Nghiệp vụ tài sản có _ là việc sử dụng những nguồn vốn
tạo dựng được vào các hoạt động kinh doanh (cho vay, thuê mua, tài trợ dự án,
đầu tư chứng khoán v.v ) ; Nghiệp vụ trung gian (hoạt động ngoại bảng) _ là
các nghiệp vụ mà NHTM thực hiện căn cứ theo yêu cầu của khách hàng, thay
mặt khách hàng thanh toán, làm ủy thác,v.v để thu phí (bảo lãnh, đại lýý, quản
lýý ngân quỹ, v.v ) Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như ngành
ngân hàng nói riêng, số dịch vụ mà NHTM cung cấp cho ba nghiệp vụ nói trên
hiện nay đã lên tới con số 6.000
Với những chức năng và nghiệp vụ nói trên, NHTM có vai trò bôi trơn sự
lưu thông của tiền tệ, chuyển dịch vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, huy động và
tạo nguồn lực phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách của Chính phủ (đặc
biệt là chính sách tiền tệ), góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi
các mục tiêu xã hội
3 Ngân hàng _ ngành kinh doanh có độ rủi ro cao
Lĩnh vực kinh doanh nào cũng luôn hàm chứa rủi ro, song đối với NH _ với
tư cách là một định chế tài chính đặc biệt _ nhân tố này lại càng là một yếu tố
thường trực và đa dạng hơn nữa Các nhà quản trị NH liên tục phải đối mặt với
vô số rủi ro đến từ: sự thay đổi lãi suất (Rủi ro lãi suất), khả năng không thể chi
trả đúng hạn của khách hàng (Rủi ro tín dụng), nhu cầu rút vốn ồ ạt của khách
hàng (Rủi ro thanh khoản), những bất lợi trong tỷ giá (Rủi ro ngoại hối), Rủi ro
công nghệ , Rủi ro hoạt động ngoại bảng, Rủi ro quốc gia, chiến tranh, thay đổi
chính sách thuế, v.v…
Trang 7* Góp phần tạo nguồn lực làm nên những chức năng, vai trò đó của NHTM,
đồng thời hạn chế ảnh hưởng của vô số những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng nêu trên chính là yếu tố Vốn chủ sở hữu
II Vốn chủ sở hữu và Hệ số an toàn vốn (CAR) của ngân hàng thương mại
1.Vốn chủ sở hữu đối với ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm
VCSH của NHTM có thể được hiểu là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp
của chủ NH trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn NH được
cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập,
cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động Về cơ bản,
cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, VCSH không phải hoàn trả, chủ NH
có thể tăng, giảm (với sự đồng ýý ý của cơ quan chức năng), thay đổi cơ cấu của
VCSH, hoặc quyết định các chính sách phân phối lợi nhuận vốn dĩ có ảnh hưởng
trực tiếp đến nguồn vốn này Song, là một định chế tài chính đặc biệt, VCSH của
NHTM mang một số điểm riêng có như về thành phần của vốn, vai trò của vốn,
v.v Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM chỉ lấy VCSH làm bàn đạp
ban đầu; Còn lại, họ không ngừng huy động tiền của các chủ thể khác trong xã
hội và nền kinh tế để tài trợ cho các hoạt động của mình Do đó, ngay cả khi gia
tăng về số lượng tuyệt đối theo đà phát triển của NH, VCSH vẫn chỉ chiếm một
tỉ trọng nhỏ, đôi khi là rất nhỏ (như trường hợp các NHTM Việt Nam) trong
tổng nguồn vốn của NH ví dụ: tại Deutsche Bank (một trong những NH hàng
đầu Châu Âu và thế giới, có lịch sử từ năm 1876), đến 31/12/2006: Tổng nguồn
vốn là 1.126 tỷ Euro, trong khi VCSH chỉ là 32,8 tỷ Euro [43 xxviii ]. Tuy nhiên,
chiếc bánh xe nhỏ ấy lại là khớp nối cho cả guồng máy ngân hàng, đóng vai trò
sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo khả năng phát
triển lâu dài của NHTM, đồng thời các thành phần của VCSH cũng được phân
loại một cách chi tiết để đáp ứng các công tác đánh giá vốn của NH (sẽ đề cập ở
các phần sau)
Trang 8Năm 1988, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on
Banking Supervision) đã đưa ra văn bản: “Sự thống nhất quốc tế về đo lường
vốn và các tiêu chuẩn vốn” (International Convergence of Capital Measurement
and Capital Standards), trong đó đưa ra định nghĩa dựa trên các thành phần của
vốn tại NHTM (Capital*)_ mà bản chất là VCSH Từ đó đến nay, đặc biệt là
trong thời gian gần đây khi thị trường tài chính phát triển hết sức sôi động, hầu
hết các NH trên thế giới đều áp dụng những chuẩn mực phân loại đó Các nhà
kinh tế và học giả Việt Nam cũng đi theo tinh thần của văn bản trên, song lại
thiếu sự thống nhất về tên gọi Điều này khiến cho việc tìm hiểu bản chất của
phạm trù VCSH sao cho đúng với thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam có
phần phức tạp Trong những tài liệu thuộc lĩnh vực NH (của Việt Nam hoặc
được dịch sang tiếng Việt), các tác giả đưa ra nhiều cách gọi tên khác nhau khi
đề cập đến VCSH của NHTM: “Vốn tự có”[7][11][13]; hoặc
“VCSH”[4][5][6][10]; hoặc đồng nhất các khái niệm “Vốn”, “Vốn tự có”,
“VCSH” [12] Trong các văn bản luật có liên quan, như Luật các tổ chức tín
dụng (Số 02/1997/QH10) Chương I_Điều 20_khoản 13 và bản sửa đổi bổ sung
(Số 20/2004/QH11) Điều 1_khoản 3, hay trong một văn bản quan trọng có đề
cập trực tiếp những vấn đề về vốn của NH là Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an
toàn trong hoạt động của TCTD (Số 457/2005/QĐ-NHNN) Phần II_Mục I_Điều
3, cũng chỉ đưa ra khái niệm “Vốn tự có” Tuy nhiên, như đã nói, xét về mặt bản
chất, sau khi tổng kết nội dung các cuốn sách, nghiên cứu khoa học, và báo chí
của Việt Nam bàn về vốn chủ tại NHTM, thì có thể thấy gốc rễ quan điểm của
các tác giả đều thống nhất; tuy cách gọi khác nhau nhưng nội hàm và ngoại diên
đều tương tự và đi theo tinh thần lý luận của Hiệp ước Basel † Vì vậy, để phù
hợp với tính chất của VCSH trong tương quan với các khoản Nợ, nhằm thấy rõ
những nguồn lực thực sự thuộc về chủ ngân hàng, trong khuôn khổ Khóa luận
này, người viết xin sử dụng thuật ngữ Vốn chủ sở hữu
* Với các doanh nghiệp phi t i chính, VCSH tiếng Anh được gọi l : Shareholders’ equity, Stockholders’
equity, Ownership’s equity
Trang 91.2 Các thành phần của VCSH tại các NHTM **
Có thể phân loại VCSH của NHTM theo một số tiêu chí khác nhau:
1.2.1 Phân loại theo sự hình thành nguồn vốn
a) VCSH ban đầu
Đây là nguồn vốn hình thành khi NH được thành lập Tại Việt Nam, nó còn
được gọi là Vốn điều lệ _ ghi rõ trong điều lệ hoạt động của tổ chức Vốn này có
thể được tạo ra bằng nhiều cách, tùy thuộc vào tính chất sở hữu của NH: Vốn
của NHTMNN do Nhà nước cấp từ ngân sách bằng tiền hoặc trái phiếu chính
phủ; của NHTM tư nhân do cá nhân tự ứng ra; của NHTM Liên doanh do các
bên tham gia liên doanh đóng góp; của NHTMCP do các cổ đông góp thông qua
việc mua cổ phiếu, và được tính theo mệnh giá cổ phiếu Vốn điều lệ của
NHTMCP bao gồm các loại:
Vốn cổ phần phổ thông: được tính bằng mệnh giá của tất cả các cổ phiếu phổ
thông (cổ phiếu thường) đã phát hành, nghĩa là tổng số cổ phần chưa thanh toán
nhân với mệnh giá cổ phần
Vốn cổ phần ưu đãi: được tính bằng mệnh giá của tất cả các cổ phiếu ưu đãi
đã phát hành Cổ phiếu ưu đãi có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một thời
gian nhất định, đảm bảo một tỉ lệ thu nhập cố định hoặc số phiếu biểu quyết
nhiều hơn so với cổ phiếu thường Theo quyết định ngày 4/9/2001 của Thống
đốc NHNN Việt Nam quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của
NHTMCP của Nhà nước và Nhân đân (Số 1122/2001/QĐ-NHNN) Chương
II_Mục 1_Điều 7: “NHTMCP có thể có cổ phần ưu đãi biểu quyết; Loại cổ phần
này chỉ có giá trị trong 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kýýý
kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển đổi thành cổ
phần phổ thông”
Trong nhiều trường hợp, mức vốn điều lệ của mỗi NH phải tuân thủ theo
định mức của các cơ quan quản lý Nhà nước _ mức vốn tối thiểu cần đáp ứng đó
được gọi là Vốn pháp định Vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm bất
** Tham khảo ví dụ ở Bảng phụ1 v Bảng phụ 2 phần Phụ lục
Trang 10động sản, động sản, trang thiết bị …phục vụ cho hoạt động của NH, bên cạnh đó
còn dùng để góp vốn liên doanh, cho vay, mua cổ phần của các công ty khác,
chứ không được dùng để chia lợi tức hay lập quỹ Có nghĩa là, khi NH đi vào
hoạt động, nguồn vốn này có thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi,
dự trữ hay kýý quỹ tại NHTW, hoặc đã được đưa vào một vụ cho vay hay đầu tư
nào đó Ngoài ra, vốn điều lệ có thể được tăng thêm, và ngược lại, cũng có thể bị
buộc phải điều chỉnh giảm Tại Việt Nam điều này được quy định tại Điều
1_Khoản 1, Quyết định 797/2002/QĐ-NHNN ngày 29/7/2002 về sửa đổi bổ
sung quyết định 1122/2001/QĐ-NHNN, trong đó nêu một số chi tiết như: “Vốn
điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần có thể được tăng bằng cách phát
hành cổ phiếu mới hoặc được bổ sung từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, đánh
giá lại tài sản cố định và các quỹ khác…nhưng phải được Đại hội đồng cổ đông
thông qua và phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi
thực hiện.”; “buộc phải giảm vốn điều lệ: Lỗ trong 03 năm liên tiếp; Các khoản
vốn đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hoặc quyết định
là tổn thất trong hoạt động sau khi đã xử lý trích lập dự phòng rủi ro; Số vốn
góp có nguồn gốc không hợp pháp hoặc người góp vốn không đảm bảo tư cách
cổ đông theo kết luận của Thanh tra; Giảm giá tài sản cố định khi đánh giá lại tài
sản theo quy định của pháp luật.”
b)VCSH hình thành trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, NH có thể được cấp bổ sung vốn, phát hành thêm
cổ phần, hưởng thặng dư vốn, để lại những khỏan lợi nhuận tích lũy, các quỹ…:
i Vốn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước hoặc thông qua phát hành cổ
phần
Để mở rộng quy mô hoạt động hoặc tăng cường khả năng chống đỡ với rủi
ro,
NH có thể xin (hoặc được) cấp thêm vốn ngân sách (còn gọi là tái cấp vốn), hay
phát hành thêm cổ phần Những nguồn này đều tính vào cho VCSH của NH
ii Thặng dư vốn
Trang 11Nguồn vốn này cũng có thể được hình thành ngay từ khi NH mới thành lập,
hoặc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), và tiếp tục có khả năng
tăng lên khi NH phát hành cổ phiếu mới ở những lần tiếp theo, hay trong quá
trình chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường Đây là phần giá trị thị
trường của các cổ phiếu vượt quá mệnh giá mà các cổ đông sẵn sàng trả cho NH
iii Lợi nhuận không chia
Kết thúc mỗi kỳ kinh doanh của NH, lợi nhuận sau thuế, sau khi đã bù đắp
các khoản chi phí đặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần để chi trả
cổ tức cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu của NH, phần còn lại được bổ sung
vào nguồn VCSH dưới tên gọi “Lợi nhuận giữ lại” Thực chất, đây vẫn là vốn
của các cổ đông, chủ sở hữu NH, nhưng đã được vốn hóa để mở rộng quy mô
cho VCSH, tái đầu tư, và trích lập các quỹ Trên thực tế, đối với các NH nước
ngoài, đây lýà nguồn quan trọng nhất để tăng quy mô VCSH nói riêng và vốn
NH nói chung: giai đoạn cuối thập niên 80 - đầu thập niên 90, khoảng 70% số
gia tăng về vốn là xuất phát từ lợi nhuận giữ lại [7]
iv Các quỹ/ khoản dự trữ
Trong quá trình hoạt động, các NH hoặc do tuân theo quy định của nhà nước,
hoặc do tự nhận thấy cần thiết để đảm bảo hoạt động và đề phòng rủi ro, đều tiến
hành trích lập các quỹ dự trữ Có nhiều loại quỹ khác nhau:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích lập hàng năm theo tỷ lệ phần trăm
trên tổng lợi nhuận sau thuế, với một mức tối đa do nhà nước quy định
- Quỹ bảo toàn vốn: tính theo tỉ lệ lạm phát, nhằm bảo toàn giá trị của VCSH
trong môi trường lạm phát của nền kinh tế
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Kinh doanh NH luôn gắn liền với rủi ro Vì vậy,
để dự phòng nguy cơ các tài sản bị tổn thất, vốn bị ăn mòn, các NH đều trích
lập các khoản dự trữ nhằm bù đắp những thiệt hại khi xảy ra tình huống bất
thường Do quỹ này được trích từ lợi nhuận trước thuế _ tính chất như một
khoản chi phí, nên một số NH không hạch toán nó vào VCSH mà vào các
khỏan nợ Nếu được liệt kê vào VCSH, khi tổn thất thực của NH nhỏ hơn số
Trang 12trích lập, vốn chủ của NH sẽ gia tăng, và ngược lại Như vậy, quy mô của quỹ
này phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của NH, và tỉ lệ trích lập quỹ
Ngoài ra, NH còn có các quỹ khác như Quỹ đánh giá lại tài sản (Do giá trị
các tài sản và nợ của NH thường xuyên thay đổi theo giá thị trường, đặc biệt là
các chứng khoán, bất động sản, nên mặc dù vẫn đang nắm giữ các tài sản này,
NH thường xuyên đánh giá lại chúng theo giá thị trường Quỹ này biến động gắn
liền với sự thay đổi của thị giá, do đó cho phép các nhà quản lýý đánh giá được
giá trị thị trường của VCSH), Quỹ chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi báo cáo tài
chính, và NH cũng trích lập các quỹ khác từ lợi nhuận sau thuế như: quỹ phát
triển kỹ thuật nghiệp vụ NH, quỹ phúc lợi khen thưởng, quỹ đào tạo…Các quỹ
này thường được sử dụng ngay trong kỳ
v Cổ phần ưu đãi có thời hạn và Giấy nợ có khả năng chuyển đổi
Một số công cụ nợ mang tính chất lưỡng tính như cổ phần ưu đãi có thời hạn,
giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi, tín phiếu vốn (khoản chứng khoán nợ
chỉ có thể được thanh toán khi phát hành được cổ phiếu mới) Những công cụ nợ
bổ sung này có chung một số đặc điểm với của các công cụ nợ thuộc loại tiết
kiệm với kỳ hạn dài, đồng thời lại mang một số đặc điểm của cổ phiếu thường,
như: những người nắm giữ các chứng khoán nợ này chỉ có quyền hưởng thu nhập
từ NH sau người gửi tiền (có nghĩa là xếp hạng ưu tiên “thứ yếu”); nhưng, các
chứng khoán đó lại có tính chất dài hạn (ở Việt Nam là 5 năm theo II_Mục
I_Điều 3_Khỏan 1.2 quyết định 457/2005/QĐ-NHNN), và thực tế là đến khi
chúng đáo hạn, đợt phát hành khác có thể được thực hiện để thay thế, hoặc bản
thân chúng có thể được chuyển đổi thành cổ phiếu thường Việc gia tăng loại vốn
này có nhiều ưu điểm đối với quản lýý NH như không làm thay đổi quyền kiểm
soát, hạn chế giảm cổ tức, v.v… Chính vì vậy, những công cụ này cũng đem lại
một nguồn vốn ổn định trong một khoản thời gian dài cho các NH, và do đó,
được một số NH liệt kê vào thành phần của VCSH
1.2.2 Phân loại theo Hiệp ước Basel
Trang 13í muốn xây dựng những tiêu chuẩn dùng để kiểm tra mức độ hợp lýýýý của
vốn tại một NH riêng lẻ hay cả một hệ thống NH đã được nung nấu từ rất lâu và
là nguyện vọng của nhiều đối tượng khác nhau trong thị trường tài chính Điều
này đã được hiện thực hóa kể từ sự ra đời của Hiệp ước Basel I vào năm 1988 do
Uỷ ban giám sát ngân
hàng Basel đề xuất
Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on Banking Supervision
_BCBS) được thành lập bởi thống đốc các NHTW thuộc nhóm nước G10 vào
năm 1975, bao gồm đại diện cấp cao từ các cơ quan chức năng về giám sát ngân
hàng và từ NHTW của nhóm G-10 (Hiện nay gồm 13 quốc gia: Bỉ, Canađa, Pháp,
Đức, ýýÝ, Nhật Bản, Lúcxembua, Hà Lan, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Tây Ban
Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, và Vương quốc Anh), với mục tiêu là đảm bảo sự
giám sát hiệu quả các NH trên toàn cầu thông qua việc xây dựng và phát triển các
tiêu chuẩn quốc tế Các cuộc họp của ủy ban thường diễn ra tại Ngân hàng thanh
toán quốc tế Basel (Bank for international settlements), thuộc Thụy Sỹ _ nơi ban
thư kýýýý thường trực đặt trụ sở Uỷ ban không có thẩm quyền cưỡng chế thực
hiện những đề xuất của mình, dù các nước thành viên (và cả nhiều nước khác) có
khuynh hướng chủ động thi hành những chính sách của ủy ban thông qua luật
quốc gia (chính vì thế, thường mất một khoảng thời gian kể từ khi các đề xuất,
khuyến nghị ra đời đến khi nó được đưa vào cấp độ luật và điều lệ quốc gia)
Năm 1987, BCBS đã soạn thảo những đề xuất cho tiêu chuẩn mới về vốn, áp
dụng cho các NH, tổ chức tài chính nhằm khuyến khích các NH lớn củng cố
trạng thái vốn, hạn chế sự không bình đẳng trong quy định giữa các quốc gia
khác nhau và xem xét những rủi ro đối với hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán
mà các NH thực hiện trong thời gian gần đó Năm 1988, đề xuất này chính thức
được thông qua dưới cái tên Hiệp ước Basel 1988 _ hiện nay được biết đến như
là Basel I, nhằm phân biệt với bản sửa đổi bổ sung Basel II năm 1999 Hiệp ước
này được cưỡng chế thi hành theo luật quốc gia của các nước G-10 từ năm 1992
và đến nay, hơn 100 nước trên thế giới cũng đã áp dụng những nguyên tắc cơ bản
của các đề xuất này [41 iii ].
Trang 14Cũng với những thành phần tương tự như trên, nhưng Hiệp ước Basel I phân
loại VCSH của NHTM thành hai lớp phù hợp cho việc đánh giá được tính ổn
định và an toàn của nguòn vốn này tại NHTM Theo đó, VCSH của NHTM gồm:
- Vốn cơ sở _ hay Vốn cơ bản, Vốn loại 1 _ (Core Capital, hay Tier 1 Capital):
là chỉ tiêu cơ bản để đo lường sức mạnh tài chính của NH nhìn nhận dưới góc độ
của các nhà quản lýý Nó bao gồm những loại vốn tài chính được xem là đáng
tin cậy nhất và có tính lỏng cao nhất, thực sự tồn tại, và tương đối ổn định trong
suốt quá trình hoạt động của NH, đảm bảo cho NH vận hành bình thường Trọng
tâm của phần vốn
này bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận giữ lại
- Vốn bổ sung _ hay Vốn loại 2 _ (Supplemental Capital, hay Tier 2 Capital):
là bộ phận VCSH tăng thêm trong quá trình hoạt động nhằm mở rộng hay đảm
bảo an toàn cho các hoạt động của NH trong quá trình kinh doanh, nhưng chúng
ít ổn định hơn Vốn cơ sở Lớp vốn này gồm các khoản có thể được sử dụng như
Vốn cơ sở trong thời gian tương đối dài và có thể bị loại khỏi VCSH khi đáo hạn
hay bị đem ra sử dụng hết (trường hợp các quỹ dự phòng) Theo Basel I, Vốn bổ
sung được phân loại thành [41 vi ]:
• Các quỹ đánh giá lại tài sản (Revaluation Reserves)
• Các quỹ dự phòng (General Provisions)
• Các công cụ nợ lưỡng tính (Hybrid instruments)
• Các khoản nợ dài hạn không được hoàn trả trong một khoảng thời gian nhất
định (thường là dài) và có thứ tự ưu tiên thanh toán sau những người gửi
tiền (Subordinated term debt)
• Các khoản dự trữ không được tiết lộ (Undisclosed Reserves): những khoản
này tuy không phổ biến, nhưng vẫn được chấp nhận bởi một số nhà quản
lýý khi một ngân hàng kinh doanh có lãi nhưng điều này không được thể
hiện rõ trong các khoản lợi nhuận giữ lại hoặc các quỹ dự trữ thông thường
Những khoản này ở các nước không thống nhất với nhau phụ thuộc vào quy
định của mỗi quốc gia Khi tính toán, phải loại từ vốn cơ sở và bổ sung một số
khoản như: lợi thế thương mại (chênh lệch giá mua lớn hơn so với giá trị ghi sổ
Trang 15của tài sản khi NH mua tài sản tài chính), vốn góp vào các công ty con, tổ chức
tín dụng khác, một phần của quỹ đánh giá lại tài sản, v.v…
1.3 Vai trò của VCSH đối với NHTM
So với các loại hình kinh tế khác, NHTM sử dụng một khối lượng tài chính
cao gấp nhiều lần Một hãng sản xuất tiêu biểu thường chỉ có khoảng 1/3 tích sản
(tài sản có) là được tài trợ bằng vốn vay; trong khi đó, nếu tổng kết bảng cân đối
kế toán của các NHTM sẽ thấy thông thường, khoảng 90 - 92% nguồn tài chính
cho các NH hoạt động là các khoản nợ (vốn của người kýý thác và các chủ nợ
khác) _ có nghĩa là số vốn của các chủ NH chỉ chiếm khoảng 8 - 10 % tổng tài
sản mà thôi Tuy nhiên, VCSH của NH lại là ýyếu tố chịu sự giám sát hết sức
chặt chẽ của cả các nhà quản trị NHTM cũng như các nhà quản lýý Trung ương ,
bởi lẽ nó có những chức năng và vai trò vô cùng quan trọng như sau:
1.3.1 Tấm đệm chống đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiền/kýý thác và các quỹ
bảo hiểm tiền gửi
Đây là chức năng quan trọng hàng đầu của VCSH tại các NHTM Như đã
trình bày ở phần đầu, kinh doanh ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với rất
nhiều rủi ro khiến các NH đứng trước nguy cơ đổ vỡ Thực tế, NH có nhiều biện
pháp để phòng chống rủi ro, bảo vệ tình trạng tài chính của mình như: nâng cao
chất lượng quản lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư và địa bàn hoạt động, bảo hiểm
tiền gửi,v.v…Song, khi tất cả những phương pháp ngăn chặn này đều không còn
hiệu quả, thì VCSH sẽ là cứu cánh cuối cùng ý Nhờ VCSH _trước tiên là quỹ dự
phòng rủi ro, kế đến là lợi nhuận tích lũy, và cuối cùng là vốn cổ phần_ các khỏan
tổn thất của NH sẽ được bù đắp, cho phép NH tiếp tục tồn tại Chỉ khi các khoản
thua lỗ của NH lớn tới mức tất cả các biện pháp nói trên, kể cả VCSH, đều không
thể khắc phục nổi thì nó sẽ buộc phải đóng cửa Trường hợp NH phá sản hoặc
ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi đã huy động sẽ được ưu tiên hoàn trả trước,
sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các khoản vay, cuối cùng
mới đến chủ giấy nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường Vì
vậy, trong môi trường kinh tế tài chính nói chung vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro như
hiện nay, các NH càng phải nắm giữ nhiều VCSH hơn, đặc biệt là những NH
Trang 16chọn kinh doanh trên một số mảng có mức độ rủi ro cao nhằm tăng sức cạnh
tranh so với đối thủ
Nhờ khả năng hấp thụ những khoản thua lỗ lớn phát sinh không dự tính trước
được, VCSH góp phần bảo vệ những người kýý thác tài sản tại NH Cơ chế này
có thể lýý giải một cách hết sức đơn giản và ngắn gọn như sau: Trong trường hợp
rủi ro tín dụng (các rủi ro khác cũng tương tự), giả sử ban đầu NH có Bảng cân
đối tài sản giản lược theo thị giá là:
Tài sản có Tài sản nợ
Chứng khoán dài hạn: $80 Vốn huy động : $90
Tín dụng dài hạn : $20 (*) Thị giá VCSH : $10
Tổng 1 : $100 Tổng 2 : $100
Khi nền kinh tế suy thoái, một số khách hàng vay nợ gặp khó khăn và không
thể hoàn trả nợ vay đúng hạn Khi đó, luồng tiền hoàn trả tín dụng hiện hành và
dự tính trong tương lai đều giảm Giả sử (*) giảm còn $12, có Bảng cân đối theo
thị giá khi giá trị của tín dụng giảm như sau:
Chứng khoán dài hạn: $80 Vốn huy động : $90
Tín dụng dài hạn : $12 Thị giá VCSH : $2
Tổng 1 : $92 Tổng 2 : $92
Sự giảm giá trị của Tài sản có sẽ được cân đối bằng sự giảm giá trị của VCSH,
do đó những người gửi tiền được bảo vệ một cách toần vẹn vì giá trị của khỏan
tiền gửi không thay đổi Đó là vì những người gửi tiền bao giờ cũng được ưu tiên
thanh toán trước cổ đông, hay nói cách khác: Cổ đông là những người phải chịu
thua lỗ đầu tiên từ sự giảm giá của Tài sản có Chỉ đến khi (*) giảm xuống dưới
mức thị giá của VCSH _ ví dụ còn $8, khi đó thị giá VCSH là -$2_ những người
gửi tiền mới bắt đầu phải gánh chịu tổn thất; Nếu giả sử VCSH là $15, thì lại có
thể tránh cho người gửi tiền sự mất mát tài sản Từ đó có thể thấy nếu tỷ lệ
“VCSH/Tổng tài sản” càng lớn thì NH càng an toàn Đây cũng là căn cứ xác định
khả năng thanh toán cuối cùng, tức là khả năng đáp ứng toàn bộ các cam kết của
NH Chính vì vậy, các nhà quản lýý coi đây là thước đo mức độ bộc lộ rủi ro của
Trang 17NH, và Hệ số an toàn vốn (CAR)* đã được xây dựng trên cơ sở tỷ lệ này nhằm
giúp các NHTM xác định mức VCSH cần thiết để đảm bảo tính an toàn trong
hoạt động của họ
Bên cạnh đó, vì hầu hết các NHTM hiện nay đều tham gia Bảo hiểm tiền gửi,
nên khi có thể tự chi trả cho những chủ nợ của mình tức là các NH đã bảo vệ cho
nhà bảo hiểm thông qua việc tránh cho họ phải chi những khoản bồi thường
1.3.2 Tạo điều kiện cho sự thành lập và hoạt động ban đầu của NHTM
Điều kiện bắt buộc để NH có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi tính
đến việc huy động những khoản tiền gửi đầu tiên là phải đáp ứng yêu cầu về vốn
pháp định Mỗi NH mới đều cần vốn ban đầu để xây dựng, mua sắm hoặc thuê
mướn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuê nhân viên…,phần còn lại tham gia vào
quá trình kinh doanh của NH như cho vay hoặc mua chứng khoán
1.3.3 Tạo niềm tin cho người gửi tiền và thu hút tiền gửi
Bên cạnh nguồn vốn điều lệ ban đầu, các NHTM đều phải dựa chủ yếu vào
các khỏan tiền huy động được từ các chủ thể khác trong xã hội để tiến hành các
hoạt động Những người kýý thác tài sản của mình vào các NHTM _ hoặc do ít
có điều kiện và thời gian, hoặc cảm thấy không cần thiết phải phân tích chi tiết
thêm các yếu tố khác_ có xu hướng đánh giá độ đảm bảo và năng lực của NH
thông qua quy mô vốn của các tổ chức này Trong trường hợp những điều kiện
khác tương tự nhau, những NH có vốn lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn
NH có vốn nhỏ hơn Tiềm lực tài chính của NH mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng ở
công chúng, và quy mô vốn chính là một yếu tố thiết thực nói lên điều đó Trong
điều kiện thông tin mở và các phương tiện thông tin phát triển như hiện nay,
khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận các Bảng cân đối kế toán, các thông số tài
chính để so sánh các NH trước khi đưa ra quyết định kýý thác vốn của mình cho
họ; vì thế, quy mô VCSH của các NHTM càng cần được chú ýý hơn
1.3.4 Cung cấp nguồn lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển
Trang 18
Để cạnh tranh tốt, các NHTM luôn phải không ngừng đưa ra những dịch vụ
mới, những chương trình mới, đổi mới công nghệ NH, nâng cao năng suất lao
động; và khi phát triển, NH cũng cần bổ sung vốn để thúc đẩy tăng trưởng, mở
thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch, văn phòng đại diện,v.v…VCSH được bổ
sung và tăng về quy mô sẽ tài trợ cho các hoạt động này để theo kịp với sự phát
triển của thị trường và tăng khả năng phục vụ khách hàng
1.3.5 Phương tiện điều chỉnh hoạt động và điều tiết sự tăng trưởng
Vốn cho vay của NH sẽ tham gia vào quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh
của các chủ thể kinh tế, và khi doanh nghiệp gặp rủi ro thì NH khó thu hồi vốn
Nhằm đảm bảo NHTM kinh doanh an toàn, có rất nhiều quy định cho hoạt động
của các trung gian tài chính này liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến VCSH Đó là
những giới hạn về: quy mô nguồn tiền gửi được phép huy động (vì nếu vay nhiều
sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán), quy mô cho vay tối đa đối với một hoặc
một nhóm khách hàng, nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, thành lập công ty con,
hay mở chi nhánh, v.v…(để hạn chế việc dồn vốn vào một số ít khách hàng và
lĩnh vực kinh doanh, giúp NH đa dạng hóa các đối tượng này) Do đó, nếu quy
mô VCSH quá nhỏ, NH sẽ thực sự rơi vào trạng thái ngột ngạt và khó có khả
năng xoay sở khi bị trói buộc trong những định mức, giới hạn ấy Đồng thời, để
sự tăng trưởng của một NH có thể được duy trì ổn định và lâu dài, các cơ quan
quản lýýý NH và thị trường tài chính thường yêu cầu VCSH của NH cần phải
được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và các tài
sản rủi ro khác, sao cho tương xứng với quy mô rủi ro của NH Khi NH mở rộng
quá nhanh hoạt động huy động vốn hoặc cho vay, họ sẽ sớm nhận được những
dấu hiệu của thị trường và các cơ quan quản lýýý yêu cầu kìm hãm tốc độ tăng
trưởng, hoặc buộc phải bổ sung thêm VCSH để duy trì mức độ an toàn
2 Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio_CAR)
ýNhững vụ phá sản NH đem lại ảnh hưởng bất lợi đối với nền kinh tế có lẽ là
hơn bất cứ loại hình doanh nghiệp nào khác Với vai trò là một trung gian tài
Trang 19chính, các NH khi bị thiệt hại nghiêm trọng có thể làm các cổ đông mất đi nguồn
tài sản mà trong nhiều trường hợp, người ta phải dành dụm cả đời hoặc doanh
nghiệp phải tích lũy vốn qua nhiều thế hệ mới có được Rộng hơn, những thua lỗ
này ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của công chúng và có thể lan sang các thành
phần kinh tế khác một cách dây chuyền Vì thế, sự an toàn của các NHTM vẫn
luôn luôn là mối quan tâm đối với các cổ đông, những người kýýý thác, cũng như
giới chức điều hành
Hiệp ước Basel đặt ra những yêu cầu về vốn tối thiểu cho các NH Văn bản
này đã đưa ra một chỉ số đo lường sự an toàn vốn của các NHTM, gọi là Hệ số
an toàn vốn , hay: Hệ số CAR (Capital Adequacy Ratio) Để đánh giá mức an
toàn về vốn, người ta còn dùng Tỷ số đòn bẩy tài chính (Leverage Ratio) tính
bằng tỷ lệ “Vốn cơ bản/ Tổng tài sản” Song, cách tính này chưa nhìn nhận
được ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh NH, và khe hở
này đã được hệ số CAR bổ sung
2.1 Hệ số CAR
2.1.1 Hệ số CAR theo Hiệp ước Basel 1
Hệ số được xác định như sau:
CARBasel 1 = ———————————————— x 100%
∑ Giá trị quy đổi của tài sản có rủi ro
Trong đó:
(i) VCSH : bao gồm các thành phần như đã trình bày trong phần 1.2.2 trên.
(ii) Tài sản được điều chỉnh theo tỷ lệ rủi ro
(Risk-weighted assets):
Trong danh mục Tài Sản Có của NHTM, ngoại trừ một số được xem như
không có rủi ro như: tiền mặt, tiền gửi NHTW, v.v…thì hầu hết các thành phần
khác đều đi kèm với những rủi ro nhất định: cho vay không thu hồi được, chứng
khoán đầu tư bị giảm giá, vốn góp liên doanh bị thua lỗ, v.v…Do vậy, theo tinh
thần Hiệp ước Basel, nhằm đánh giá một cách công bằng và thực tế ảnh hưởng
của từng tài sản đến sự an toàn của NH, khi tính toán tổng tích sản của NH,
không thể đồng nhất các tài sản mà cần quy đổi chúng theo những tỷ lệ rủi ro
Trang 20nhất định xét theo tính chất và mức độ rủi ro tiềm ẩn trong chúng Đồng thời,
mỗi loại tài sản có những nguy cơ gặp rủi ro khác nhau, nên các tỷ lệ gán cho
chúng cũng không thể giống nhau _ Basel chia ra các mức: 0%, 20%, 50%,
100% Không chỉ phân loại các tài sản nội bảng, Basel 1 còn áp dụng cách tính
toán này với các khoản mục ngoại bảng Sở dĩ cần tính toán cả các cam kết
ngoại bảng vì càng ngày, những hoạt động này càng phong phú đa dạng hơn,
đem lại nhiều lợi nhuận hơn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn, khiến NH có
thể phải chịu nguy cơ thua lỗ nặng nề Song, đối với danh mục ngoại bảng, cần
qua một bước chuyển đổi nữa nhằm quy đổi chúng về cho tương đương với một
cam kết nội bảng, sau đó mới tính tiếp đến những rủi ro đi liền với chúng Luật
Việt Nam cũng có cách phân loại tương tự như Basel trong Quy định về các tỷ
lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, ban hành kèm theo
Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc
NHNN Việt Nam) tại Phần 2: Mục I _ Điều 3 về phân loại vốn, và Mục II _ Điều
5,6 về cách phân loại tài sản nội bảng và hoạt động ngoại bảng (Tham khảo
Phụ lục 2)
Khi đã có các hệ số rủi ro và chuyển đổi cụ thể, việc tính toán rất đơn giản:
Tổng TS theo = TS theo tỷ lệ rủi ro + Các khoản mục nằm
ngoài
tỷ lệ rủi ro trong Bảng CĐKT Bảng CĐKT theo tỷ lệ rủi ro
(1) (2) (3)
Trong đó:
(2) = Giá trị sổ sách của TS x Hệ số rủi ro
(3) = Giá trị sổ sách khoản mục ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro
Theo yêu cầu của Basel 1, để đảm bảo an toàn, các NH cần duy trì:
- Tỷ lệ :
Trang 21
- Tỷ lệ :
Trong đó Vốn loại 2 ≤ 100% Vốn loại 1
Ví dụ: Giả sử một NHTM có quy mô và cấu trúc TS như sau:
Phân loại TS
GT ghi sổ ($)
Hệ số chuyển
đổi thành
nội bảng (%)
Hệ sổ rủi ro (%)
GT TS
đã điều
chỉnh ($)
1 TS nội bảng
- Tiền mặt và tiền gửi NHNN
- Trái phiếu dài hạn của Chính
- Thư bảo lãnh tín dụng đối với
chứng khoán nợ của chính quyền
địa phương
- Hợp đồng cho vay dài hạn với
doanh nghiệp chưa thực hiện
Trang 22Như vậy, theo tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel, NH này chưa đảm bảo đủ điều
kiện
an toàn về vốn và cần có những điều chỉnh thích hợp _ hoặc là tăng VCSH, hoặc
là hạn chế các hoạt động kinh doanh có tỷ lệ rủi ro cao
2.1.2 Hệ số CAR theo Hiệp ước Basel II
Sau mười năm áp dụng, cùng với những thay đổi vô cùng nhanh chóng về
công nghệ, tài chính, và cơ chế pháp lý, bản Basel 1 đã bộc lộ rất nhiều yếu
điểm Với một mức quy định CAR sàn là 8%, các NH có xu hướng chuyển
những tài sản chất lượng cao ra ngoài bảng CĐKT dẫn đến sự giảm giá trị trung
bình về chất của danh mục cho vay; đồng thời NH duy trì những hoạt động ít
rủi ro hơn (vì một khoản nợ cho một NH Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cần một lượng vốn
bằng 1/5 so với một khoản nợ cho General Electric [33]) mà rủi ro thấp thì lợi
suất cũng thường không cao, kết quả là chỉ làm cho hoạt động của NH kém đi
Bên cạnh đó, nó không đánh giá được sự đa dạng hóa danh mục đầu tư (không
có sự khác biệt giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay $1; một khoản nợ
riêng lẻ cũng giống một danh mục đầu tư đa dạng nếu chúng cùng quy mô giá
trị), cũng như loại rủi ro (cùng là cho doanh nghiệp vay kinh doanh nhưng
doanh nghiệp uy tín cao hay thấp đều được coi là như nhau) Ngoài ra, hiệp ước
năm 1988 không tính đến rủi ro vận hành của các NH (ví dụ như sự hỏng hóc
của hệ thống máy tính tại NH) _ yếu tố ngày càng trở nên quan trọng cùng với
sự phức tạp gia tăng trong các hoạt động NH đa dạng; chưa đánh giá được đầy
đủ các kỹ thuật có thể giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng, ví dụ như thế chấp hay
bảo đảm; và cũng không đối phó được với rủi ro thị trường _ những thiệt hại mà
NH có thể gặp khi lãi suất, giá cả chứng khoán và tiền tệ biến đổi bất lợi, v.v…
Vì vậy, vào tháng 6 năm 1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất ra bản sửa đổi bổ
sung Basel II nhằm xây dựng một mô hình nhạy cảm với rủi ro hơn, yêu cầu
những NH đang đối đầu với nhiều rủi ro phải nắm giữ một lượng vốn lớn hơn so
với các NH có quy mô tương đương
Trang 23Theo Basel II, Sự an toàn, ổn định của NH dựa trên “ba trụ cột”, và mỗi trụ
cột đều bao hàm nhiều nội dung: 1) Quá trình giám sát (Supervisory Review
Process): liên quan đến việc hoạch định chính sách, giúp NH lựa chọn phương
pháp hợp lýý để đánh giá những rủi ro về cả tín dụng, thị trường, và vận hành
với bốn nguyên tắc giám sát cơ bản; 2) Quy luật thị trường (Market Discipline):
gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một NH phải công bố, cho phép thị
trường có một bức tranh hoàn thiện hơn về vị thế vốn và rủi ro tổng thể của NH
để các đối tác của NH định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý Và
một thành phần quan trọng là: 3)Yêu cầu về vốn tối thiểu (Minimum Capital
Requirement) Công thức tính Hệ số an toàn mới của NH là:
Basel II không thay đổi gì đáng kể thành phần tử số của công thức so với văn
bản năm 1988, mà chỉ bổ sung ở phần mẫu số Bằng việc đưa thêm những rủi ro
vận hành và thị trường vào tính toán, hệ số này cung cấp một cách đánh giá toàn
diện và khách quan hơn Để đánh giá được các loại rủi ro này, NH có thể lựa
chọn: phương pháp tiêu chuẩn, tức là tuân theo những tiêu chuẩn rất chặt chẽ
của các tổ chức nhất định; hoặc mô hình nội bộ trong đó NH tự xây dựng hệ
thống đánh giá của riêng mình, phù hợp với môi trường và kinh nghiệm của tổ
chức mình, nhưng phải chịu sự giám sát chặt chẽ của các nhà quản lýý
Giống như hiệp ước 1988, trọng số rủi ro được quyết định bởi phân loại người
vay (chính phủ, ngân hàng, doanh nghiệp), nhưng tăng cường độ nhạy cảm đối
với rủi ro hơn Ví dụ như: một số nhóm tài sản rủi ro đã được thêm vào, trong đó
có những tài sản mang tỷ lệ rủi ro 150%; Cùng một nhóm đối tượng vay, mức
độ rủi ro được đánh giá theo uy tín của từng đơn vị:
Không hạng
Trang 24toán khoa học dựa trên việc cân nhắc các yếu tố rủi ro Khi đó, muốn xác định
quy mô VCSH cần duy trì, các NH chỉ cần định giá lại những tài sản của mình
(được điều chỉnh theo tỷ lệ rủi ro thích hợp) và nhân với hệ số CAR do pháp luật
yêu cầu hoặc được các tổ chức quốc tế đề xuất Nhờ cách phân loại và quy đổi
các TS về các mức rủi ro tương đương, các NH có thể có những biện pháp điều
chỉnh thích hợp nhằm cải thiện mức VCSH thông qua việc can thiệp vào những
thành tố tạo nên rủi ro này: thay đổi cấu trúc danh mục đầu tư để cải thiện tình
trạng VCSH của mình _ nếu khéo léo lựa chọn những khoản nợ, NH có thể tăng
tài sản mà không cần tăng VCSH lên tương ứng
Việc sử dụng hệ số CAR và các cách tính toán tài sản được điều chỉnh theo
tỷ lệ rủi ro về cơ bản là đã đảm bảo cho các NHTM xác định một mức VCSH
cần thiết nhằm duy trì hoạt động an toàn Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi NH tồn tại
và vận hành trong một môi trường khác nhau, dưới những cơ chế điều hành và
quản lýý khác nhau, dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro cũng không giống nhau Vì
vậy, đôi khi cùng là những tài sản có như nhau, ví dụ như một khoản tín dụng
cho vay, nhưng ở NH này, khả năng nó trở thành một khoản nợ xấu có thể là cao
hơn hẳn so với ở một NH khác Do đó, cách tiếp cận tối ưu là cùng việc sử dụng
hệ số CAR (tốt nhất là CARBasel II), cần đặt NH trong chính môi trường hoạt
động của nó, quan sát sự ảnh hưởng của các điều kiện bên trong cũng như bên
ngoài lên NH Việc này đồng nghĩa với áp dụng cả những trụ cột còn lại của
Trang 25Basel II cũng như xem xét thêm những yếu tố như: Thu nhập của NH qua các
năm (để đánh giá tình hình hoạt động của NH); Chi phí nắm giữ tài sản; Sự biến
động nguồn tiền gửi; Môi trường pháp luật, tình hình kinh tế-chính trị chung của
môi trường kinh doanh Bằng cách này, NHTM sẽ xác định được một quy mô
VCSH hợp lýý nhất
II Kinh nghiệm tăng VCSH của NHTM tại một số nước và bài học cho Việt
Nam
Kinh nghiệm tăng VCSH của các NHTM trên thế giới không ít, song Khóa
luận chỉ xin tìm hiểu một số nước có đặc điểm kinh tế-xã hội tương đồng với
Việt Nam: Trung Quốc cũng có lịch sử NH tách từ một cấp sang hai cấp (từ
năm 1984); cũng có một hệ thống gồm 4 NHTMNN (State-owned Commercial
Banks_SOCBs) đóng vai trò chủ yếu trên thị trường nội địa, còn lại chủ yếu là
các NHTM đô thị và liên doanh tương đối nhỏ hơn; các NHTM trước đây đều có
quy mô VCSH không cao (xét trong tương quan với tình hình kinh tế nước này),
chất lượng hoạt động kém với những khoản nợ xấu (NPLs) lớn, hệ số CAR thấp;
Sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực NH là rất sâu; Trung Quốc cũng đứng
trước một lộ trình mở cửa sau khi gia nhập WTO năm 2001, và cũng là một thị
trường tài chính ngân hàng đầy triển vọng, vô cùng hấp dẫn cho các nhà đầu tư;
Thái Lan là nước liền kề với nền kinh tế có trình độ và điều kiện phát triển kinh
tế tương tự như Việt Nam; Hàn Quốc thời kỳ áp dụng các biện pháp tăng vốn
này cũng là một quốc gia công nghiệp vừa lớn mạnh, đồng thời đây cũng là một
nước thuộc khu vực Đông Á láng giềng; Ba Lan là một nước từng theo chế độ
xã hội chủ nghĩa, cũng là một nền kinh tế chuyển đổi với nhiều điểm tương đồng
với Việt Nam Ngoài ra, kinh nghiệm của một số định chế tài chính lớn nhất thế
giới như Hoa Kỳ, EU, Singapore cũng là những điều đáng học hỏi
1 Trung Quốc
Để cải thiện tiềm lực tài chính của các NHTM, Chính phủ Trung Quốc đã
tiến hành các đợt cấp bổ sung vốn điều lệ: Đợt 1 vào năm 1998, cấp 33 tỷ USD
bằng Nhân dân tệ cho 4 SOCBs; Đợt 2 vào 12/2003, cấp 22,5 tỷ USD cho 2
Trang 26SOCBs hoạt động tốt nhất là CCB và BoC bằng cách chuyển giao cho họ quyền
sở hữu trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ; Đợt 3 vào 4/2005, cấp 15 tỷ USD cho
ICBC trực tiếp từ nguồn dự trữ quốc tế chính thức [18] Ngoài ra, CCB và BoC
đã tăng Vốn cấp II của họ bằng cách phát hành các khoản nợ dài hạn không chi
trả trong thời gian dài * trị giá lần lượt là 4,8 và 7,3 tỷ USD Nhưng những
nguồn vốn được bổ sung cũng không thay đổi được trạng thái của các NH nhiều,
do phần lớn được dùng để giải quyết các khoản nợ xấu; việc cấp vốn trong đợt 2
và 3 bằng USD cũng gặp rủi ro tỷ giá nhất là khi đồng nhân dân tệ đang được
phá giá _ trên thực tế, việc đánh giá lại 2,1% khoản vốn này đã cho thấy sự mất
mát 9,8 tỷ nhân đân tệ Quan trọng nhất là, đến cuối năm 2006, hệ thống ngân
hàng nước này sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh bình đẳng của các NH nước
ngoài
Kể từ khi Trung Quốc kýý văn bản ra nhập WTO, số lượng chi nhánh NH
nước ngoài đã nhanh chóng tăng lên từ 157 lên 192 vào năm 2004, hầu hết là chi
nhánh của các NH đến từ Châu Á (chủ yếu là Đài Loan, Hàn Quốc và Hồng
Kông _ nghĩa là ngay những khu vực liền kề); các văn phòng đại diện cũng tăng
từ 184 năm 2001 lên 223 năm 2004 [18] Có những NH muốn mua cổ phần của
những NH nhỏ, như Newbridge Capital Inc mua 18,02% cổ phần của Shenzhen
Development Bank vào năm 2002; năm 2005, ING mua 19,9% cổ phần của Bank
of Beijing, và Commonwealth Bank of Australia mua 19,9% cổ phần của
Hangzhou City Commercial Bank. Kết thúc năm 2006 là thời hạn để các hạn chế
đối với hoạt động của các NH nước ngoài bị xóa bỏ hoàn toàn, thì tháng 11/2006,
Citigroup _ tập đoàn lớn nhất thế giới khi đó _ đã thành công trong việc mua
20% cổ phần của NH Chinese Guandong Development Bank (GDB), đánh dấu
cao điểm của việc các NH nước ngoài mua cổ phần của NH Trung Quốc; thông
qua thành công này, Citigroup đã có được đặc quyền thiết lập sự quản lý và tiến
hành cách thức hoạt động của riêng mình tại GDB [38] Trong khi đó, nhiều NH
nước ngoài quyết tâm thâm nhập bằng được vào các NHTM lớn của Nhà nước _
như Bank of America, Royal Bank of Scotland, Merril Lynch, hay tiêu biểu là
Trang 27
Temasek Holdings (Singapore) mua cổ phần của Bank of China (BOC) Các nhà
đầu tư này thấy rõ lợi thế mạng lưới phân phối của BOC: 14.500 chi nhánh và
12.500 máy ATM trên khắp cả nước, cùng 136 triệu tài khoản cá nhân - con số
gần bằng một nửa dân số Hoa Kỳ [38] Vì vậy, để nhanh chóng nâng cao tiềm
lực tài chính nhằm đối phó với sự thâm nhập ồ ạt của nước ngoài, Trung Quốc
cũng đã đi đến con đường cổ phần hóa Thời gian đầu, Nhà nước vẫn còn rất dè
dặt trong việc triển khai phương án này do tầm quan trọng của bộ phận
NHTMNN đối với nền kinh tế nước nhà, đó cũng là thời gian nhiều ýý kiến trên
thế giới cho rằng Trung Quốc quá chậm trong cải cách NH Tuy nhiên, cuối
cùng NHTMNN đầu tiên đã được CPH, và ngay sau đó là việc các NHTMNN
còn lại liên tiếp tiến hành IPO và đều tạo được những nguồn vốn rất lớn:
Việc CPH các NHTMNN của Trung Quốc được khởi động từ năm 2003, và
đến tháng 10/2005, CCB _ NH hoạt động hiệu rất hiệu quả trong hệ thống
NHTMNN, được chọn thí điểm CPH _ đã tiến hành IPO thành công tại Hồng
Kông, phát hành 26,49 tỷ cổ phiếu loại H** mệnh giá 2,35 đôla Hồng Kông/Cổ
phiếu, số vốn thu được từ đợt niêm yết này lên đến 8 tỷ USD, biến đây trở thành
đợt IPO lớn nhất trong lịch sử Sàn giao dịch chứng khoán Hồng Kông và lớn thứ
6 trên thế giới [18] Sau thành công của người đi trước, đến lượt BOC đã thực
hiện IPO quốc tế vào 1/6/2006 trên Sàn giao dịch chứng khoán Hồng Kông, thu
được 9,7 tỷ USD từ cổ phiếu loại H, lập kỷ lục về đợt IPO lớn nhất thế giới;
đồng thời, đến 5/7/2006, NH này tiếp tục tiến hành IPO trên thị trường nội địa,
bán ra 10 tỷ cổ phiếu loại A trên Sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải, thu
được 20 tỷ nhân dân tệ (gần 2,6 tỷ USD) Ngày 27/10/2006, ICBC chính thức
tiến hành IPO cùng lúc ở cả Sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Hồng
Kông, bán ra 55,65 tỷ cổ phiếu _ chiếm 16,7% tổng số vốn cổ phần tăng thêm
của NH Các cổ phiếu được phát hành với giá 3,12 Nhân dân tệ/CP loại A và
3,07 đôla Hồng Kông/CP loại H, nhưng giá chào bán thì gần như bằng nhau, sau
** Trung Quốc có 2 loại cổ phiếu l Cổ phiếu loại A (A-shares) l cổ phiếu thường được phát h nh bằng
nhân dân tệ, v cổ phiếu loại H (H-shares) l cổ phiếu được đăng kýý tại Đại lục Trung Quốc nhưng được
niêm yết tại Hồng Kông
Trang 28khi đã xét các yếu tố chuyển đổi ngoại tệ Việc này khiến cho ICBC trở thành
NH đầu tiên tiến hành IPO ở cả thị trường trong nước và quốc tế song song vào
cùng một thời điểm, với cùng một giá bán NH đã thu được 173,23 tỷ Nhân dân
tệ (tương đương 22,2 tỷ USD), trong đó 124,95 tỷ đôla Hồng Kông từ cổ phiếu
loại H và 46,64 tỷ Nhân dân tệ từ cổ phiếu loại A, lập kỷ lục mới trên toàn thế
giới về đợt IPO gây được số vốn cao nhất, đồng thời đưa ICBC trở thành NH
lớn nhất của Trung Quốc
Việc tiến hành IPO liên tiếp thành công của 3 trong số 4 NHTMNN của
Trung Quốc trong vòng chưa đầy 2 năm đã làm thay đổi hết sức đáng kể diện
mạo của các NH Vốn cổ phần và vốn chủ sở hữu của các NH này tăng lên
nhanh chóng Ví dụ với ICBC, kết thúc năm 2005, vốn cổ phần của NH là 248 tỷ
Nhân dân tệ (tương đương 30,7 tỷ USD) và VCSH là 255,839 tỷ Nhân dân tệ
(31,7 tỷ USD), thì chỉ 2 tháng sau khi IPO, kết thúc năm tài chính 2006, các con
số này lần lượt là 334,019 tỷ Nhân dân tệ (42,83 tỷ USD) và 466,464 tỷ Nhân
dân tệ (59,82 tỷ USD)** Hệ số CAR của NH cũng lập tức được cải thiện: Nếu
cuối năm 2005 hệ số CAR loại I là 8,11% và CAR loại II là 9,89% thì kết thúc
năm 2006 lần lượt là 12,23% và 14,05% [1 viii ] Bàn rộng hơn quy mô VCSH, kết
quả hoạt động của các NH đều đạt những tiến bộ vượt bậc, và cả 3 NH này đều
đã lọt vào Danh sách 1.000 ngân hàng tốt nhất thế giới do tạp chí The Banker
bình chọn, và lọt vào danh sách 25 NH hàng đầu thế
giới xét về quy mô vốn cơ sở [37]
Khi tiến hành CPH, chính quyền Trung Quốc muốn có các nhà đầu tư chiến
lược
góp vốn vào các NHTMNN để đa dạng hóa hình thức sở hữu và cải thiện chất
lượng quản lýý, kết quả là Bank of America đã mua 9% cổ phần của CCB trị giá
2,5 tỷ USD thậm chí trước khi NH này chính thức niêm yết, và sau đó là
Temasek của Singapore mua 1 tỷ USD cổ phần[18] Thực hiện cam kết với
WTO, Trung Quốc phải mở cửa hoàn toàn hệ thống NH của mình cho nước
** Các số liệu được chuyển đổi từ Nhân dân tệ sang đôla Mỹ theo tỷ giá quy đổi tại các thời điểm tương ứng
Trang 29ngoài vào cuối năm 2006, theo đó các NH nước ngoài sẽ được cung cấp tất cả
các dịch vụ ngân hàng mà không bị giới hạn Tuy các cam kết với WTO không
trực tiếp yêu cầu gì về vấn đề NH nước ngoài mua cổ phần của NH Trung Quốc,
nhưng chính quyền Trung Quốc đã tự tăng giới hạn về định mức sở hữu của
nước ngoài từ 15% lên 20% đối với mỗi nhà đầu tư, và 25% đối với tổng số vốn
của các nhà đầu tư nước ngoài Đến cuối năm 2005, tổng số vốn đầu tư của nước
ngoài vào các NH Trung Quốc đã đạt 16,5 tỷ USD, chiếm 15% vốn cơ sở của hệ
thống NH[18]; Năm 2006, sau đợt IPO của hai NHTMNN lớn như trên, con số
này còn tăng lên gấp bội Trước đó, các nhà quản lýý Trung Quốc cũng đã sớm
đặt yêu cầu hệ số CAR loại I đạt 4% và CAR loại II là 8% theo Basel I phải
được thực hiện đầy đủ vào cuối năm 2007 cho tất cả các NH (kể cả NH chính
sách), cùng với việc áp dụng khung quản lýý rủi ro bao gồm rủi ro tín dụng, thị
trường và vận hành (mô hình Basel II)
Cho đến hết năm 2005, khi chỉ mới có một NHTMNN thực hiện cổ phần hóa
và kết quả vẫn chưa thể hiện rõ, những bước đi của Trung Quốc vẫn bị đánh giá
là quá thận trọng, khiến cho việc các NH cải thiện tiềm lực vẫn diễn ra rất chậm
Quá trình này đã cải thiện được chất lượng tài sản nhưng ở mảng vốn thì vẫn
yếu; Các NH Trung Quốc cũng không được chuẩn bị tốt để áp dụng Basel II vì
còn đang chật vật với Basel 1 (CCB và BoC cũng đã nhận được đủ vốn từ công
chúng để nâng mức CAR lên đủ tiêu chuẩn của Basel I, nhưng ICB và nhất là
NH nông nghiệp _ ABC thì tình hình vẫn rất kém) Do đó, các chuyên gia NH
thế giới khuyến cáo Trung Quốc mạnh dạn hơn nữa trong việc cải tổ các NHTM
của mình, và thực tế Trung Quốc đã đạt được nhiều thành công khi thực hiện
những thay đổi này Liên quan đến việc tư nhân hóa đối với toàn bộ hệ thống
ngân hàng nói chung, có ýý kiến rằng không phải NH nào cũng nên tiến hành
IPO, mà chỉ những NH nào có tiềm năng tài chính tương đối, bằng không các
vấn đề về chủ sở hữu lại quay về bộ phận Nhà nước Đồng thời, trong khi IPO
có sức hấp dẫn nhất định, việc chủ sở hữu tràn lan sẽ khó đem lại sự cải thiện về
mặt hoạt động, quản lý và điều hành so với việc có một nhà đầu tư chiến lược
Các cách để đảm bảo có sự tham gia của một nhà đầu tư chiến lược bao gồm đấu
Trang 30thầu, hoặc thông qua IPO với một tỷ lệ phần trăm cổ phần được để lại sẵn cho
một nhà đầu tư đủ tiêu chuẩn Điều này đồng nghĩa Nhà nước phải chấp nhận
việc người mua được cổ phần này sẽ được tham gia kiểm soát và quản lýý; Về
việc mở cửa, rõ ràng vốn của nước ngoài sẽ giúp hệ thống NH Trung Quốc_
không chỉ bằng nguồn vốn mới rất lớn, mà còn bằng cách thức quản lý và quản
trị rủi ro tốt hơn_, và rõ ràng Chính phủ Trung Quốc có lýý do để tính toán kỹ
lưỡng mức độ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các ngân hàng
bản địa , nhưng việc này cũng có thể sẽ kìm hãm sự lớn mạnh của các NHTM
Trung Quốc
2 Thái Lan
Những nỗ lực triệt để nhất của Thái Lan trong việc tăng vốn cho hệ thống
NHTM diễn ra sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á bắt nguồn từ
chính nước này vào giữa năm 1997 Trong sự đổ vỡ này, bên cạnh việc tái cơ
cấu nợ doanh nghiệp thì tái cơ cấu NH là nhiệm vụ cấp thiết để khôi phục lại
lòng tin của thị trường, và sự ổn định của bộ phận NH nhằm giúp nền kinh tế
khôi phục hoàn toàn Bộ tài chính và NH Thái Lan (Bank of Thailand_BOT) đã
yêu cầu các NH và tổ chức tài chính đang hoạt động phải tăng vốn để làm tấm
đệm chống đỡ mọi rủi ro do giảm giá trị tài sản Nhiều chương trình cải thiện nợ
xấu, tăng mức an toàn vốn tối thiểu lên 8,5% đã được thực hiện từ cuối năm
1997 Song, do khủng hoảng sâu hơn tại Thái Lan và các nước Đông Á khác vào
năm 1998, việc tái cơ cấu vốn cho các NH Thái dù đã được xử lýý nợ xấu trở
nên rất khó khăn Vào 14/8/1998, chính quyền Thái Lan đã công bố một kế
hoạch tái cơ cấu tài chính tăng cường Để tạo thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu
vốn, một loạt biện pháp đã được công bố Việc hỗ trợ vốn cấp I và cấp II chỉ
dành cho các tổ chức tài chính của Thái, chi nhánh NH nước ngoài không được
hưởng Với kế hoạch tăng vốn cấp I, sự bổ sung vốn từ phía Chính phủ dựa trên
điều kiện: các tổ chức phải thực hiện chương trình Phân loại nợ và dự phòng
thắt chặt (Loan Classification and Provisioning _ LCP) mà BOT đề xuất, các chủ
sở hữu hiện thời chịu chi phí liên quan, và các kế hoạch tái cơ cấu khả thi được
Trang 31BOT chấp nhận Trong khi đó, việc bổ sung vốn cấp II dựa trên mức độ giảm giá
trị do tái cơ cấu nợ, các khoản dự phòng trước đó, và mức tăng ròng trong cho
vay khu vực tư nhân Đồng thời, BOT cũng công bố một kế hoạch can thiệp vào
6 NH Thái và 12 công ty tài chính _ Một trong những bước đi đáng chú ýý nhất
là Chính phủ Thái Lan chủ trương sáp nhập, hợp nhất các định chế tài chính nhỏ
thành một số tổ chức có quy mô lớn hơn, mạnh hơn: Laem Thong Bank (LTB)
hợp nhất với Radanasin Bank (RAB), sau đó NH hợp nhất là RAB sẽ tìm đối tác
chiến lược thông qua cổ phần hóa; Union Bank Bangkok (UBB) và 12 công ty tài
chính được hợp nhất vào Krung Thai Thanakit (KTT) cũng theo cách của LTB và
RAB; Bangkok Metropolitan Bank (BMB) và Siam City Bank (SCIB) được tái cơ
cấu vốn theo các nguyên tắc của chương trình LCP nêu trên để tăng sức mạnh
cho các NH này, rồi sẽ được tư nhân hóa theo cách cùng chia sẻ tổn thất cho các
nhà đầu tư mới First Bangkok City Bank (FBCB) cũng được hợp nhất với
Krung Thai Bank (KTB) ; Đến tháng 7/1999, Nakorthon Bank (NTB) trở thành
NH thứ 7 được can thiệp do có mức VCSH và vốn cấp I âm sau khi trích lập dự
phòng cho nợ xấu theo yêu cầu BOT đã đề nghị NTB điều chỉnh giảm giá trị
vốn của mình nhằm hạ thấp mức lỗ lũy kế trước khi phát hành cổ phiếu thường
để bán cho Quỹ phát triển các tổ chức tài chính (FIDF) thuộc BOT Sau đó,
NTB được hướng dẫn tiến hành tăng vốn thông qua việc bán cổ phiếu cho FIDF
để rồi sau đó75% số cổphần sẽ được bán lại cho một nhà đầu tư chiến lược (sau
này là Standard Chartered Bank)[21] Để tạo thuận lợi cho việc tăng vốn của
các định chế tài chính, vào 11/11/1997, BOT đã ban hànhý Ý kiến chỉ đạo về việc
nắm quyền sở hữu tại các ngân hàng Thái Lan Theo đó, các nhà đầu tư nước
ngoài có tiềm lực tài chính mạnh và khả năng giúp cải thiện năng lực quản lýý
sẽ được phép nắm giữ hơn 49% số cổ phần của các NHTM Thái trong thời gian
10 năm (trước đó giới hạn là 25%); Sau 10 năm, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ
không bị buộc phải bán số cổ phần của mình đi, nhưng họ không được phép mua
thêm cổ phần nữa, trừ khi tổng số cổ phần thuộc sở hữu nước ngoài tại NH đó
đang ở dưới mức 49% Sau khi Chính phủ có sự thả lỏng như vậy, khu vực NH
đã thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài trị giá 2,3 tỷ USD năm 1998 và 2,5
Trang 32tỷ USD năm 1999 [21] Trên thực tế, đã có 4 NHTMNN mất cổ phần ưu thế về
tay các NH nước ngoài: Năm 1998 ABN Amro (Hà Lan) đã mua 75% cổ phần
của Bank of Asia (BOA); năm 1999 DBS (Singapore) đã mua 52% vốn của Thai
Danu Bank (thành DBS Thai Danu Bank_DTDB), Standard Chartered Bank
(Anh) nắm 75% cổ phần của Nakornthon Bank (thành Standard Chartered
Nakornthon Bank_SCNB ), và UOB (Singapore) chính thức mua 75% cổ phần
của RAB (thành: UOB Radanasin Bank_UOB-RAB) Tất cả những NH nước
ngoài này đều đã phải chấp nhận tình trạng yếu kếm của các NH Thái và cam
kết có những biện pháp vực dậy các NH theo thỏa thuận với phía Thái Lan
Ngoài ra, một số NH Thái khác cũng có sự tham gia tương đối sâu của nước
ngoài_ đến giữa năm 2000, sở hữu nước ngoài tại Bangkok Bank và Thai
Farmers Bank là 49%, Bank of Ayudhya là 32% và Siam Commercial Bank là
45% [21]
3 Hàn Quốc [6]
Cũng như Thái Lan, sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm
1997, Hàn Quốc đã phải cải tổ lại toàn bộ hệ thống NH, trong đó một phần đáng
kể là tăng vốn, tiềm lực tài chính cho các định chế này
Hệ thống NH của Hàn Quốc trước khủng hoảng chịu sự quản lýý và điều tiết
rất lớn của Nhà nước, và đặc biệt là có mối quan hệ chặt chẽ với các tập đoàn
kinh tế nước này (cheabol) Song, cuộc khủng hoảng tài chính đã bộc lộ rất
nhiều điểm yếu trong hệ thống NH Hàn Quốc và Chính phủ đã phải tiến hành
những biện pháp cải tổ toàn diện ngành NH Trước khủng hoảng, Hàn Quốc có
24 NH_một con số khá nhỏ xét trong điều kiện một nước công nghiệp đang lớn
mạnh như Hàn Quốc_, thì đến cuối năm 1997, 12 trong số đó được đánh giá là
không đủ khả năng tồn tại vì không đáp ứng những yêu cầu tối thiểu về vốn 5
NH đã bị đình chỉ giấy phép ngay lập tức và 7 NH còn lại chỉ được chấp nhận
hoạt động một cách có điều kiện Chính phủ đã cấp thêm vốn cho các NH thông
qua trái phiếu Chính phủ do Cơ quan bảo lãnh tiền gửi phát hành và được Chính
phủ Hàn Quốc bảo lãnh Sau đó, Chính phủ đã yêu cầu 7 NH được hoạt động
Trang 33phải hợp nhất với nhau hoặc tự tìm đối tác nước ngoài có khả năng về vốn và
kinh nghiệm quản lýý Các NH đã tiến hành hợp nhất để tạo ra những NH lớn
hơn, sức cạnh tranh cao hơn: NH Hanil và NH Thương Mại tự nguyện hợp nhất
thành NH Hanvit để trở thành 1 trong 6 NH lớn nhất của Hàn Quốc; Chohung
Bank _ một NH lớn khác của nước này_đã tiến hành một loạt cải tổ, rồi hợp nhất
với NH Hana, tiếp đó NH mới này lại hợp nhất với NH Boram một năm sau;
NH Kookmin cũng hợp nhất với NH Tín dụng dài hạn Hàn Quốc (Korea
Long-term Credit Bank) Đến nay, hệ thống ngân hàng Hàn Quốc chỉ còn 14 so với 24
NH trước khủng hoảng, trong đó sự hợp nhất của Kookmin Bank và Ngân hàng
Thương Mại chiếm đến 30% tài khoản tiền gửi; Do đó, nếu chỉ một NH phải
đóng cửa thì có thể kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng nước này
Ngoài ra, một số NH nhỏ đã được các NH lớn mua lại với sự hỗ trợ của Chính
phủ như NH Nhà và Thương Mại được NH Kookmin mua lại vào năm 2001, hay
Seoulbank được bán lại cho ngân hàng Hana năm 2002 Tuy nhiên, việc mua lại
này rất tốn kém với Chính phủ Hàn Quốc vì Nhà nước phải chi rất nhiều tiền _
không chỉ cho tái cơ cấu vốn cho các NH mà còn phải mua lại nợ xấu, bù đắp
những khoản trượt giá) Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu được khuyến
khích rót vốn vào hệ thống ngân hàng Kết thúc năm 2001, các nhà đầu tư nước
ngoài nắm giữ 40% cổ phần ngân hàng KorAm, 11% của Kookmin, 51% của
Korean First,… Để tái cơ cấu nguồn vốn các NHTM Chính phủ Hàn Quốc cũng
yêu cầu các NH duy trì hệ số CAR 10-13% do thận trọng về tính bất ổn của tình
hình các NH và các điều kiện tài chính khác Sau tất cả quá trình này, Chính phủ
Hàn Quốc đã phải chi 161 ngàn tỷ Won để ổn định hệ thống ngân hàng, nhưng
đến năm 2003 chỉ thu lại được 61 ngàn tỷ Won, chiếm 38% và dự đoán, 69 ngàn
tỷ Won sẽ không thể thu hồi lại được
4 Ba Lan
Cho đến năm 1989, hệ thống NH Ba Lan vẫn thuộc nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, NH Quốc gia Ba Lan (National Bank of Poland_NBP) đóng vai
trò chính trong hệ thống NH Sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các
Trang 34NH hiện hữu đã đa dạng hóa dịch vụ, và nhiều NH mới được thành lập Vào
cuối năm 1988, khu vực NH Ba Lan gồm: 3 NHNN, 2 NH cổ phần 100% sở hữu
nhà nước, 1 NH hợp tác của Nhà nước, và 1663 NH hợp tác nhỏ của địa
phương[15] Đến năm 1989, có 9 NHTM được thành lập, tiếp nhận lại các mạng
lưới của NBP, khởi đầu được trang cấp vốn bởi NPB và năm 1991 được chuyển
đổi thành các công ty mà nhà nước là cổ đông duy nhất Thời kỳ đầu của kinh tế
thị trường (1989-1991), một số NHTM bị phá sản do hiện trạng tài chính khó
khăn, một phần bắt nguồn từ sự yếu kém về vốn, nên các hoạt động củng cố đã
được tăng cường NH Kredyt SA đã tiếp nhận các NH: Ziemski SA, Powszechny
Handlowy Gecobank SA, Regionalny SA ở Rybnik, Depozytowo Powierniczy
GLOB SA, và Polsky Inwestycyjny SA; NH Polska Kasa Opieki SA cũng được
hợp nhất vào năm 1993 với 3 NH đã được tách từ NBP năm 1989 [15] Tuy
nhiên, những thay đổi lớn bắt đầu từ việc tư nhân hóa các NHQD lớn từ năm
1991 Kế hoạch tư nhân hóa cho các NH có đối tác chiến lược nước ngoài cho
phép nước ngoài được nắm giữ không quá 30% tổng số cổ phiếu được phát hành,
nhưng có thể được tham gia quản lýý NH; Nhà nước vẫn giữ khoảng 30% cổ
phiếu với quyền biểu quyết được giới hạn trong các quyết định chiến lược Các
quy định này được áp dụng trong việc tư nhân hóa hai NH đầu tiên là Bank
Slaski SA và Wielkopolski Bank Kredytowy SA năm 1993 và 1994, với sự tham
gia của các nhà đầu tư chiến lược là Dutch ING Bank NB và NH Châu Âu về
Phát triển và Tái cơ cấu Tuy nhiên, quyền của nhà nước trong các NH được tư
nhân hóa gây hạn chế cho các NH nước ngoài với tư cách là nhà đầu tư chiến
lược Việc thay đổi chính sách của Chính phủ đối với vốn nước ngoài có hiệu
lực vào năm 1998 bằng việc bán cho các nhà đầu tư nước ngoài một lượng cổ
phần cố định đáng kể của 2 trong số 9 NHNN: 36,72% của Bank Przemyslowy w
Krakowie SA và 33,3% của Powszechny Bank Kredytowy SA Điều này dẫn đến
việc chuyển giao quyền kiểm soát các NH này cho các tổ chức nước ngoài Hai
NH được tư nhân hóa tiếp theo là Bank Zachodni we Wroclawiu SA và Bank
Pekao SA năm 1999 cũng có liên quan đến các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài
là AIB European Investment Limited (Ailen), UniCredito-Italiano và Allianz AG,
Trang 35chiếm đa phần cổ phần tương ứng là 80% và 52,09%[15] NH Bank Polska
Kasa Opieki Sa và Zachodni SA năm 1999 đã hoàn thiện việc CPH 9 NH quốc
doanh trước đây
5 Hình thức liên kết vốn “Tập đoàn tài chính” tại một số nước phát triển
Một đặc trưng cơ bản của Tập đoàn tài chính là có tổng tài sản và VCSH
thường vô cùng lớn Ví dụ:
Bảng 1: Tỷ lệ đóng góp của VCSH và Tài sản của các tập đoàn tài chính
vào GDP ở một số nước Châu Á (2004)
Tên nước Trung
Quốc Hàn Quốc Malaysia Singapore Thái Lan Tổng tài sản
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2006), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Xây
dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam”, trang 154
- Số lượng các vụ hợp nhất và sáp nhập ở EU diễn ra từ năm 1999 đến 2001,
dù
phần lớn mới chỉ ở mức độ quốc gia Trong giai đoạn này, toàn bộ giá trị của các
cuộc sáp nhập và hợp nhất của NH và công ty bảo hiểm lên tới 72,3 tỷ EURO
(trong đó, sáp nhập trong nước chiếm khoảng 56 tỷ EURO) và bao gồm 15 vụ
sáp nhập lớn nhất thời kỳ đó, trong đó có: công ty bảo hiểm Allianz và NHTM
Dressdner hợp nhất trong nội bộ nước Đức năm 2001 với giá trị giao dịch là
22,3 tỷ; công ty bảo hiểm Scottish Widows Fund & Life sáp nhập với Life
Assuaranve Society của tập đoàn ngân hàng Lloys TSB Group (cùng của Anh)
năm 2000 với giá trị giao dịch 12 tỷ EURO Gần đây hơn, tháng 2/2006, NHTM
lớn thứ 2 của Đức là Hypo Vereinsbank - Bank of Austria đã sáp nhập vào Tập
đoàn UniCredit Group của Italia để trở thành tập đoàn toàn cầu[9]
- Tại Mỹ, mô hình tập đoàn của Citigroup là tiêu biểu nhất Tập đoàn này
được hợp nhất bởi hai tổ chức riêng lẻ là Citicorp và Travellers Insuarance
Trang 36Citicorp là một tập đoàn ngân hàng hàng đầu của Mỹ với công ty mẹ là
Citybank, hoạt động đa quốc gia ở khoảng 100 nước Đầu thế kỷ 19, NH mở
những chi nhánh đầu tiên ở nước ngoài, và phát triển rất nhanh trong những năm
1920-1940 Năm 1955, NH sáp nhập với First National (New York) để trở
thành một tổ hợp lớn với tên gọi First National City Bank, đến năm 1968 cải tổ
để trở thành một công ty mẹ và hình thành tập đoàn ngân hàng First National
City Corp và năm 1980 vượt qua Bank of America để trở thành ngân hàng lớn
nhất Hoa Kỳ Trong những năm 80, Citibank đã mua một số tổ chức tài chính ở
San Francisco, Chicago, Miami và Washington, sau đó năm 1998 thực hiện sáp
nhập với hãng Travellers Group_một tổ chức hợp nhất từ nhiều công ty khác
nhau, từ tín dụng thương mại đến hỗ trợ tiêu dùng , môi giới và bảo hiểm _ để
trở thành Tập đoàn ngân hàng - tài chính hàng đầu thế giới: CitiGroup
- Tập đoàn tài chính ngân hàng Trung Quốc Hồng Kông: thành lập từ năm
1983 gồm 13 ngân hàng (NH Trung Quốc chi nhánh tại Hồng Kông, NH Trung
Quốc chi nhánh tại Macao, NH tỉnh Quảng Đông chi nhánh Hồng Kông, NH
Tân Hoa chi nhánh Hồng Kông, NHTM Nam Dương, v.v…) và các công ty
chuyên doanh khác hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Trung Quốc
(BOC) Năm 2001, Tập đoàn tài chính ngân hàng Trung Quốc Hồng Kông đã
tiến hành sáp nhập 10 trong số 13 NH cũ của tập đoàn, sau đó đổi tên thành
Bank of China (HongKong) Ltd.- BOCK, và trở thành một trong bốn đơn vị trực
thuộc BOC [9]
Và còn vố số những trường hợp khác như tập đoàn UOB (United Overseas
Bank)
cũng trải qua nhiều cuộc sáp nhập, hợp nhất để trở thành tập đoàn ngân hàng tài
chính hàng đầu Singapore và Malaysia (VCSH của tập đoàn lên tới 14,9 tỷ đôla
Singapore và tổng tài sản là 145,1 tỷ đôla Singapore, mạng lưới gồm 503 văn
phòng và chi nhánh trên khắp thế giới); hay NH Nhật Bản với tài sản lên đến 1,3
nghìn tỷ USD, được hình thành thông qua hình thức sáp nhập giữa DAI ICHI
KANGYO BANK, FUJI BANK và INDUSTRIAL BANK OF JAPAN vào năm
2003, v.v [9]
Trang 376 Bài học cho Việt Nam
Qua tất cả các trường hợp trên đây, có thể rút ra một số bài học như sau:
- Việc tham gia quá sâu của Nhà nước tại các NH không chỉ hạn chế khả
năng cải thiện chất lượng thực sự của các định chế này, mà còn rất tốn kém cho
Nhà nước
- Tư nhân hóa và tiếp nhận các nhà đầu tư nước ngoài có thể đem lại nguồn
vốn bổ sung khổng lồ và nhanh chóng Quan trọng là việc lựa chọn các nhà đầu
tư chiến lược, cùng những định mức cho nhà đầu tư nước ngoài được tham gia
vào các NHTM: Thắt quá chặt sẽ không hấp dẫn đầu tư, nhưng thả quá lỏng thì
lập tức các NH lớn nhất thế giới sẽ thôn tính ngay những NH nội địa nhằm tận
dụng được những cơ sở các NH bị thôn tính đã tạo dựng được và biến chúng
thành những công cụ sinh lời, vì họ đủ khả năng để khắc phục tình trạng tài
chính yếu kém của các NH
- Sáp nhập các tổ chức quy mô nhỏ, khó trụ vững trên thị trường để hình
thành những định chế lớn mạnh hơn, nhưng cũng cần chú ý rằng trong điều kiện
tiềm lực của tất cả các NH trong nước còn yếu, việc sáp nhập ồ ạt đến mức chỉ
còn lại một số ít tổ chức không phải là quyết định tốt nhất Hợp nhất và sáp nhập
cũng là hình thức tất yếu trong con đường hình thành những tập đoàn tài chính
mạnh có quy mô vốn hết sức lớn
Tiểu kết: VCSH đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với các NHTM, vì
vậy cần xác định mức vốn cần thiết để NH có thể hoạt động và phát triển mà
không phải đối mặt với những nguy cơ về tổn thất hoặc phá sản Hệ số an
toàn vốn CAR do Uỷ ban Basel đề xuất là một cách thức tính toán được công
nhận và áp dụng rộng rãi nhằm giúp các NH đảm bảo một mức VCSH phù
hợp với điều kiện và tình hình hoạt động của tổ chức mình Nhằm tăng
cường VCSH và cải thiện hệ số an toàn vốn, Việt Nam có thể học hỏi và rút
kinh nghiệm từ thực tế tăng vốn của các NHTM nước ngoài trong thời gian
qua
Trang 39CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I Tổng quan về hệ thống NHTM Việt Nam
1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, hệ thống tiền tệ, tín dụng của Việt Nam
được thiết lập và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua NH Đông Dương _ vừa
đóng vai trò là NH Trung ương trên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào,
Campuchia), vừa là NH thương mại, phục vụ đắc lực cho chính sách thuộc địa
của Pháp và làm giàu cho tư bản Pháp Để từng bước xây dựng nền tiền tệ và hệ
thống NH độc lập tự chủ, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký sắc lệnh số 15/SL thành lập NH Quốc Gia Việt Nam - NH của Nhà nước dân
chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thực hiện 5 nhiệm vụ cấp bách: Phát
hành giấy bạc, quản lý Kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản
xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch
Ngày 21/1/1960, theo thông tư số 20/VP - TH của Tổng giám đốc Ngân hàng
Quốc gia ký thừa uỷ quyền Thủ Tướng chính phủ, NH Quốc Gia Việt Nam được
đổi tên thành NH Nhà nước Việt Nam Tháng 7 năm 1976, đất nước được thống
nhất, NH Quốc gia của chính quyền Việt Nam cộng hoà ở miền Nam được hợp
nhất vào NHNN Việt Nam, tạo thành hệ thống NHNN duy nhất của cả nước Hệ
thống tổ chức thống nhất của NHNN bao gồm: NHTW đặt trụ sở chính tại thủ
đô Hà Nội, các Chi nhánh NH tại các tỉnh, thành phố và các chi điếm NH cơ sở
tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước
Đến cuối những năm 80, hệ thống NHNN về cơ bản vẫn hoạt động như là
một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo
nguyên tắc thị trường Giai đoạn 1986 - 1990, chức năng quản lý Nhà nước mới
bắt đầu được tách dần ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển
hoạt động NH sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Song mô hình hoạt
động rập khuôn theo Liên Xô và các nước XHCN cũ, theo đó chỉ tồn tại NHNN
Trang 40do Nhà nước độc quyền nắm giữ - vừa làm chức năng quản lý của NHTW, vừa
trực tiếp kinh doanh tiền tệ tín dụng của NHTM
Tháng 5/1990, Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân
hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ra đời đã chính thức chuyển cơ
chế hoạt động của hệ thống NH Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp - Trong đó, lần
đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp
phân biệt rạch ròi: NHNN là cơ quan quản lýý Nhà nước về tiền tệ và tín dụng,
là NH phát hành, đồng thời là NH của các NH trên lãnh thổ Việt Nam; Cấp NH
kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và
dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính
NH và phi NH thực hiện Nhìn từ góc độ pháp lýý và thực tiễn, có thể coi đây là
thời điểm ra đời của của hệ thống NHTM Việt Nam (vì tuy NH Đầu tư và phát
triển - tiền thân là NH Kiến thiết được thành lập năm 1957, và NH Ngoại thương
được thành lập năm 1963, song cho tới trước năm 1990, hai ngân hàng này
chưa được tổ chức và hoạt động như NHTM) Kể từ đó là quá trình ra đời hàng
loạt các ngân hàng chuyên doanh cấp 2 với các loại hình sở hữu khác nhau Sau
gần 20 năm phát triển, hệ thống NHTM Việt Nam đã lớn mạnh hết sức nhanh
chóng và khẳng định vai trò to lớn trong nền kinh tế, cũng như xu hướng đi lên
không ngừng Đến nay, xếp theo hình thức sở hữu, cơ cấu hệ thống NHTM Việt
Nam bao gồm:
NHTM
Cổ phần (35)
Đô thị (31)
Chi nhánh
NH nước ngo i
NH Liên doanh (5)
AGB