Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô…tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
I GIỚI THIỆU 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 5
1.3.1 Nội dung nghiên cứu 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp và đề xuất tiêu chí đánh giá 6
1.4.2 Đề xuất tiêu chí đánh giá 6
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Hiện trạng đa dạng sinh học của Việt Nam 7
2.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học (DDSH) 7
2.1.2 Hiện trạng đa dạng của Việt Nam 7
2.2 Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề đa dạng sinh học Việt Nam 11
III GIỚI THIỆU LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM 13
3.1 Mục tiêu Luật 13
3.2 Nội dung Luật 13
3.3 Kết quả thực hiện 13
IV ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM 14
4.1 Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 14
4.1.1 Đánh giá chính sách dựa trên các tiêu chí đã chọn 14
4.1.2 Sử dụng SWOT (Vân) 21
4.1.3 Phân tích vai trò của các nhóm liên đới 22
4.1.4 Một số tồn tại của luật đa dạng sinh học của các nước Châu Á so với Hoa Kỳ 23
4.2 Đề xuất nâng cao hiệu quả Luật đa dạng sinh học 25
Trang 24.2.1 Về việc điều chỉnh một số điều của Luật 25
4.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Luật đa dạng sinh học Việt Nam trong thực tế 26
V KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Kiến nghị 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
PHỤ LỤC 31
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐDSH: Đa dạng sinh học
ESA: Endangered Species Act
FWS: The Fish and Wildlife Service
NGOs: Non – Govermental Organizations
TRAFFIC: The international wildlife trade monitoring network
Trang 4I GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô…tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới
Việt Nam được Quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong năm vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhien thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật
Ngoài ra còn là một trong tám “trung tâm giống gốc” của nhiều loại cây trồng, vật nuôi như có hàng chục gia súc và gia cầm Đặc biệt các nguồn lúa và khoai, những loài được coi là có nguồn gốc từ Việt Nam, đang là cơ sở cho việc cải tiến các giống lúa và cây lương thực trên thế giới
Lịch sử hình thành và phát triển của loài người gắn liền với ĐDSH ĐDSH có vai trò vô cùng quan trọng đối với an ninh lương thực, cân bằng sinh thái và hơn hết là sự tồn vong của loài người Vai trò đó được thừa nhận trên quy mô toàn thế giới cũng như ở cấp quốc gia Chính vì thế, bảo tồn ĐDSH được coi như một yếu tố cấu thành vững chắc cho sự nghiệp phát triển bền vững của tất cả các nước trên toàn thế giới
Thống kê cho thấy, ĐDSH đang tiếp tục bị suy giảm Kể từ năm 1970, số lượng loài động vật toàn cầu giảm 30%, diện tích các rừng ngập mặn và cỏ biển giảm 20%, diện tích san
hô giảm 40% Những con số này đã gióng lên hồi chuông báo động để các chính phủ thực hiện những hành động khẩn cấp nhằm bảo vệ ĐDSH
Ở Việt Nam, nhờ có những khuôn khổ định hướng, luật pháp trên nên đã hạn chế một phần sự suy giảm đa dạng sinh học Bên cạnh đó, diện tích rừng của Việt Nam cũng được khôi phục, độ phủ rừng đã tăng lên sau những năm 90 từ 27,8% (1990) lên 36,7% (2006) Đây là điều kiện thuận lợi để phục hồi và phát triển đa dạng sinh học ở Việt Nam
Tuy nhiên, do được quy định ở nhiều văn bản, nên các quy phạm còn dàn trải, thiếu sự thống nhất ngoài ra còn có trường hợp mâu thuẫn hoặc trùng lắp và chồng chéo nhau giữa các Bộ ban ngành như Bộ TN&MT, Bộ Thủy Sản làm cho việc thực thi pháp luật chưa
Trang 5được rõ ràng và không đồng nhất trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học ở nước ta
Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với Luật Đa dạng sinh học để bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết
Sau một thời gian áp dụng những chính sách về luật đa dạng sinh học, cần thiết là đánh giá lại những ưu và nhược điểm trong việc áp dụng Luật đa dạng đối với tài nguyên thiên nhiên; đồng thời học hỏi những kinh nghiệm của thế giới trong việc quản lý tài nguyên để
áp dụng vào Việt Nam
Để có cái nhìn tổng quan và hiểu chính xác, từ đó rút ra những đánh giá về thực trạng cũng như sự hợp lý, những tồn tại của các quy định pháp luật về đa dạng sinh học, chúng
ta cần đi sâu nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề “Đánh giá Luật bảo tồn đa dạng sinh học ở
Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bảo vệ tốt và phát triển bền vững tài nguyên Đa dạng sinh học là cơ sở đảm bảo của quá trinhg công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời tạo nên sự chắc chắn cho phát triển bền vững của đất nước trong tương lai
1.3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Nêu hiện trạng đa dạng sinh học ở Việt Nam; Các văn bản pháp luật liên quan tới Đa dạng sinh học
- Mục tiêu, nội dung và kết quả thực hiện của Luật đa dạng sinh học Việt Nam
- Đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Xem xét việc ứng dụng Luật đa dạng sinh học trên tổng thể Việt Nam
Trang 61.4 Phương pháp và đề xuất tiêu chí đánh giá
1.4.1 Phương pháp
- Lựa chọn các chỉ tiêu tương thích đồng thời đưa ra nhận xét
- Sử dụng mô hình SWOT để đánh giá các điểm mạnh, cơ hội cũng như là các điểm yếu
và thách thức của Luật đa dạng sinh học
- Phân tích sự ảnh hưởng của các nhóm liên đới đối với Luật Đa dạng sinh học trong việc bảo tồn thiên nhiên
1.4.2 Đề xuất tiêu chí đánh giá
Đa dạng sinh học có những giá trị trên và được thể hiện rõ qua các tiêu chí sau: tính thích hợp, tính đa dạng, tính thống nhất, tính răn đe
Trang 7II CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Hiện trạng đa dạng sinh học của Việt Nam
2.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học (DDSH)
Theo định nghĩa của Quỹ quốc tế về bào tồn thiên nhiên thì đa dạng sinh học là “sự phồn thịnh của cuộc sống trến trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống” (World Wildlife Fund, 2000)
Các kiểu đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học trên trái dất được phân chia theo các kiểu sau:
Bảng 1: Các mức độ đa dạng sinh học
Đa dạng loài Đa dạng di truyền Đa dạng sinh thái
Loài (Species)
(Nguồn: Kevin J Gaston and Join I Spicer, 2004)
2.1.2 Hiện trạng đa dạng của Việt Nam
a) Đa dạng hệ sinh thái
Ở Việt Nam, chưa có hệ thống chính thức phân loại các hệ sinh thái Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, có thể chia các hệ sinh thái của Việt Nam thành 3 nhóm chính bao gồm: hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái đất ngập nước nội địa và hệ sinh thái biển và ven bờ Các
hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài như tác động của thiên nhiên, đặc biệt là tác động của con người
Trang 8Hệ sinh thái trên cạn
Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu hệ sinh thái trên cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi Trong số
đó thì rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên với tính chất rừng vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều kiểu thảm thực vật rừng khác nhau, có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất Đồng thời, đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã quý, hiếm có giá trị kinh tế và khoa học Ngoài ra còn có các hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn, như hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái khu đô thị
Hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
Hệ sinh thái đất ngập nước nội địa rất đa dạng, bao gồm các thủy vực nước đứng như hồ
tự nhiên, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước, các thủy vực nước chảy như suối, sông, kênh rạch Trong đó, có một số kiểu có tính đa dạng sinh học cao như suối vùng núi, đồi, đầm lầy than bùn với rất nhiều các loài động vật mới cho khoa học đã được phát hiện ở đây Các hệ sinh thái sông, hồ ngầm trong hang động Castơ chưa được nghiên cứu đầy đủ
Hệ sinh thái biển và ven bờ
Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình thuộc 9 vùng phân bố tự nhiên với đặc trưng đa dạng sinh học biển khác nhau Trong đó, ba vùng biển, bao gồm: Móng Cái-Đồ Sơn, Hải Vân-Đại Lãnh và Đại Lãnh-Vũng Tàu có tính đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại Các hệ sinh thái ven bờ như rừng ngập mặn, đầm phá, vụng biển, vũng biển, rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng biển quanh các đảo ven bờ, đảo xa bờ
là những nơi có tính đa dạng sinh học cao đồng thời rất nhạy cảm với biến đổi môi trường Trong đó, rạn san hô và thảm cỏ biển được xem là các hệ sinh thái đặc trưng quan trọng nhất do chúng có tính đa dạng sinh học và có giá trị bảo tồn cao nhất Hai hệ sinh thái này có quan hệ mật thiết và tương hỗ lẫn nhau, tạo ra những chuỗi dinh dưỡng đan xen quan trọng ở vùng biển và ven bờ của Việt Nam Nếu hệ sinh thái này bị hủy hoại sẽ tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái khác Nếu mất cả hai loại hệ sinh thái này, các vùng biển ven bờ của Việt Nam có nguy cơ sẽ trở thành “thuỷ mạc”
Từ những điểm trên có thể thấy, trên khắp vùng lãnh thổ của Việt Nam từ trên cạn đến nước nội địa ra tới vùng biển, các kiểu hệ sinh thái tự nhiên rất đa dạng Mỗi kiểu hệ sinh thái lại có quần xã sinh vật đặc trưng riêng Tất cả tạo nên sự phong phú, đa dạng khu hệ
Trang 9sinh vật của Việt Nam
b) Ða dạng loài
Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao về các loài động thực vật
và vi sinh vật Qua các tài liệu điều tra cơ bản, đến năm 2011 đã có các con số thống kê như sau:
Về thực vật: tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 13.766 loài thực vật Trong đó, 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch Sau
đó, trong công trình Danh thực vật Việt Nam, chưa kể các nhóm vi tảo ở nước, các nhà thực vật đã thống kê có tới 16.428 loài thực vật
Về động vật ở cạn: đã thống kê và xác định được 10.300 loài động vật trên cạn, bao gồm
307 loài giun tròn (Nematoda), 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất (Oligochaeta), 150 loài ve giáp (Acartia), 113 loài bọ nhảy (Collembola), trên 7.700 loài côn trùng (Insecta), 317 loài bò sát (Reptilia), 167 loài ếch nhái (Amphibia), 840 loài chim (Avecs), 312 loài và phân loài thú (Mammalia)
Về vi sinh vật: đã thống kê và xác định được 7.500 loài, trong đó có hơn 2.800 loài gây bệnh cho thực vật, 1.500 loài gây bệnh cho người và gia súc và hơn 700 loài vi sinh vật
có lợi
Về sinh vật nước ngọt: đã thống kê và xác định được 1.438 loài vi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành; trên 800 loài động vật không xương sống; 1.028 loài cá nước ngọt Trong đó, đáng chú ý là riêng họ cá chép (Cyprinidae) có 79 loài thuộc 32 giống, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam với 1 giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học
Trong thành phần động vật không xương sống cỡ lớn, có 10 giống với 52 loài tôm, cua, 4 giống với 50 loài trai, ốc lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam Điều này thể hiện tính đặc hữu rất cao của động vật thủy sinh nước ngọt của Việt Nam
Về sinh vật biển: theo dẫn liệu của chuyên khảo Sinh vật và sinh thái, tập IV trong bộ chuyên khảo Biển Đông (Viện KH&CN Việt Nam, 2009), đã phát hiện được trên 11.000 loài sinh vật sống trong vùng biển Việt Nam Trong đó, có khoảng 6.300 loài động vật đáy; khoảng 2.500 loài cá với trên 100 loài cá kinh tế; 653 loài rong biển; 657 loài động vật nổi; 537 loài thực vật nổi; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 25 loài thú biển; 5 loài rùa biển
Trang 10Bảng : Sự phong phú các loài sinh vật tại Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo Quốc gia về đa dạng sinh học, 2011)
c) Ða dạng nguồn gen cây trồng, vật nuôi
Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng của thế giới Việt Nam với 16 nhóm cây trồng khác nhau bao gồm trên 800 loài Theo Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, đến năm 2010, Chương trình bảo tồn nguồn gen đã bảo tồn và lưu giữ được hơn 14.000 nguồn gen của trên 200 loài cây lương
Trang 11thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, cây nguyên liệu, cây dược liệu và một số loài cây trồng khác
Một bộ phận quan trọng của các giống này là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tính quý chỉ có ở Việt Nam
2.2 Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề đa dạng sinh học Việt Nam
Tại Việt Nam, các quy định pháp luật về đa dạng sinh học được hình thành khá sớm Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định về việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng được coi là văn bản pháp luật đầu tiên về vấn đề này
Vào những năm 60, 70, các quy định về bảo vệ đa dạng sinh học có thể tìm thấy trong các văn bản pháp luật của Chính phủ về thành lập các Vườn quốc gia, quy chế săn bắn chim, thú hoang dã, công tác trồng cây gây rừng,…
Đến những năm 90, một loạt các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao được ban hành như Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (1989), Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991), Luật bảo vệ môi trường (1993), Pháp lệnh thú y (1993), Pháp lệnh bảo
vệ và kiểm dịch thực vật (1993)… Tuy nhiên, nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, sự cần thiết phải bảo vệ tính đa dạng sinh học của các nguồn tài nguyên sinh vật chỉ thực sự được đánh dấu kể từ khi Việt Nam phê chuẩn công ước quốc tế về đa dạng sinh học (16/11/1994) Đây được xem là tiền đề quan trọng trong việc phát triển lĩnh vực pháp luật
về đa dạng sinh học với tư cách là một bộ phận quan trọng của pháp luật môi trường Kể
từ đây, các quy định về bảo vệ đa dạng sinh học ngày càng nhiều, theo hướng hoàn thiện hơn, như: Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học Quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 845/TTg ngày 22/12/1995); Nghị định 109/2003/NĐ-CP về quản lý, bảo tồn và phát triển các vùng đất ngập nước; Luật Thủy sản (2003), Luật bảo vệ và phát triển rừng (năm 2004), Pháp lệnh về giống cây trồng (2004), Pháp lệnh về giống vật nuôi (2004); Quy chế quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen (kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/08/2005); Luật bảo vệ môi trường (2005),…
Và văn bản có hiệu lực nhất, liên quan mật thiết nhất đối với đa dạng sinh học hiện nay là Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH 12 do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực
Trang 12thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009
Trang 13III GIỚI THIỆU LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM 3.1 Mục tiêu Luật
3.2 Nội dung Luật
3.3 Kết quả thực hiện
Trang 14IV ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM
4.1 Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam
4.1.1 Đánh giá chính sách dựa trên các tiêu chí đã chọn
4.1.1.1 Tính hợp pháp
Luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội khóa XII, kỳ thứ tư số 20/2008/QH12 thông qua ngày 13/11/2008 Sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học
4.1.1.2 Tính khả thi
Một số quy định trong luật còn chưa rõ ràng cụ thể, không có tính khả thi (Ví dụ như Mục 3 Chương II – Phần kiểm soát các loài ngoại lai xâm phạm) Bên cạnh đó, trong Luật các điều khoản giao Chính phủ (ví dụ như khoản 2 điều 27, khoản 2 điều 30, ) quy định còn khá nhiều sẽ làm cho Luật mang tính tuyên ngôn hoặc ở mức chung chung khó
áp dụng thực tế
Các quy định có liên quan đến đa dạng sinh học còn nằm rải rác ở nhiều văn bản
có giá trị pháp lý khác nhau làm hạn chế rất nhiều đến hiệu quả áp dụng pháp luật Ví dụ như việc tồn tại quá nhiều loại quy hoạch: Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng (Luật Bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004); Quy hoạch khu bảo tồn (KBT) vùng nước nội địa, KBT biển (Luật Thuỷ sản năm 2003); QHBT và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước (Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước); QHBT ĐDSH (Luật ĐDSH 2008)
4.1.1.3 Tính khách quan
Luật chưa đảm bảo tính khách quan trong quy trình lập, thẩm định, phê duyệt QHBT ĐDSH đối với hai quy định sau: “ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập, thẩm định, điều chỉnh QHBT ĐDSH của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua (khoản 1 điều 14)”; “Bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ vào quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước tổ chức lập, phê duyệt, điều chỉnh QHBT ĐDSH thuộc phạm vi quản lý (khoản 2 điều 10)” Một chủ thể vừa chịu trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch vừa tổ chức thẩm định, phê chuẩn quy hoạch sẽ không đảm bảo được
Trang 15tính khách quan
4.1.1.4 Tính công khai, minh bạch
Các chính sách, các quy hoạch cũng như chiến lược về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH của Nhà nước ta đã được công khai qua các phương tiện truyền thông cũng như công báo Bên cạnh đó, về mặt nội dung của các quy phạm pháp luật, một số vấn đề như quy hoạch hệ sinh thái tự nhiên, QHBT thiên nhiên… đã được quy định khá rõ ràng, xác định được các nội dung quan trọng nên có khả năng thực thi một cách minh bạch Tuy nhiên, khi triển khai, một số vấn đề khác lại có nhiều bất cập Ví dụ như các quy định về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích còn thiếu những quy định quan trọng như hình thức chia sẻ lợi ích, chưa xác định được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và cho phép tiếp cận nguồn gen, quyền lợi của cộng đồng dân cư ở vùng đệm giữa các KBT
4.1.1.5 Tính thống nhất phù hợp
Luật đã hoàn thành nhiệm vụ pháp điển hóa các quy định về bảo vệ đa dạng sinh học được đề cập rải rác trong nhiều lĩnh vực pháp lý thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập và đảm bảo được tính thống nhất nội tại ở mức độ cao của hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên vẫn còn một số nội dung còn chưa thống nhất với các luật chuyên ngành có liên quan, cụ thể như sau:
a Những nội dung liên quan đến quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học
- Luật ĐDSH 2008 (Khoản 3 Điều 8, Khoản 3 Điều 12) rất phù hợp với Luật Đất đai năm 2003 về QHBT ĐDSH (từ Điều 21 đến Điều 30 Mục 2 Chương II - Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) Theo đó, quy hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng để lập quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước
- Về cơ bản, có sự phù hợp giữa Luật ĐDSH 2008 với Luật Bảo vệ môi trường năm
2005 (Luật BVMT 2005) về QHBT ĐDSH Tuy nhiên, có một số vấn đề cần phải làm rõ hơn như: quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước là dạng quy hoạch nào trong số các quy hoạch được quy định tại Điều 14 Luật BVMT 2005; chưa có sự giải thích rõ giữa quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH và QHBT thiên nhiên
b Những nội dung liên quan đến bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên
Theo Luật ĐDSH 2008, KBT được phân thành: i) Vườn quốc gia; ii) Khu dự trữ thiên nhiên; iii) KBT loài - sinh cảnh; iv) Khu bảo vệ cảnh quan (Điều 16) Như vậy, so với Luật BVMT 2005, đã có sự khác biệt về Khu dự trữ sinh quyển So với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã có sự khác nhau về KBT loài - sinh cảnh, Khu dự trữ thiên