Do vậy việc nghiên cứu vấn đề nông thôn Việt Nam thời Nguyễn từ 1802 đến 1820 để đưa ra diện mạo cùng một số nhận xét về nông thôn nước ta và vai trò của khu vực nông thôn đối với sự phá
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Thị Phương Chi đã tận tình hướng dẫn và động viên tinh thần cho tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn
Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trường ĐHSP Thái Nguyên, Phòng tư liệu Viện sử học Việt Nam, Thư viện Quốc gia… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo
vệ luận văn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Tác giả
Hoàng Thị Huyền Vũ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Nông thôn Việt Nam dưới triều vua Gia Long (1802 – 1820)” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị
Phương Chi là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được tác giả trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và Nhà trường
về sự cam đoan này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CẤU TRÚC XÃ HỘI – CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI GIA LONG 12
1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam thời Gia Long 12
1.2 Tổ chức chính quyền ở nông thôn 21
1.3 Các tầng lớp xã hội ở nông thôn 26
Tiểu kết 27
Chương 2 KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG 29
2.1 Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn 29
2.2 Sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân 43
2.3 Nghề thủ công và buôn bán nhỏ 54
2.4 Giao thông và phương tiện đi lại 60
Chương 3 VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG 63
3.1 Phong tục, tập quán và tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn 63
3.2 Nghệ thuật và giáo dục ở nông thôn 68
3.3 Nhà ở, ăn, mặc của người dân ở nông thôn 72
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 89
Trang 6MỞ ĐẦU
1 do n đ i
Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng
và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và chính sách lớn về vấn
đề này như:
Ngay những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đặc điểm to lớn nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Sau này các Đại hội của Đảng đã từng bước làm rõ thêm đặc điểm to lớn này, lấy đó làm cơ sở để xây dựng đường lối chiến lược, các mục tiêu kinh tế xã hội của Đảng Có thể dẫn những nội dung chính liên quan đến vấn đề này qua các Đại hội toàn quốc của Đảng như sau:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, Đảng xác định ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV: Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công nông nghiệp
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V: Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI: Bảo đảm cho nông nghiệp, kể cả lâm
nghiệp, ngư nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu
Trang 7Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII: Phát triển nông - lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh
tế - xã hội , phát triển một số ngành công nghiệp nặng trước hết để phục vụ
cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông, lâm, ngư
nghiệp lên một trình độ mới
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân Phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn
đề nông dân, nông thôn
Như vậy, từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, nhận thức của Đảng và Nhà nước là ngày càng quan tâm chú ý tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể sự phát triển chung của đất nước Vì sao vậy? điều đó không chỉ bởi nông dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, mà chính nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp đóng vai trò then chốt Đi đôi với nền kinh tế nông nghiệp là một xã hội nông thôn chiếm vị trí quan trọng đối với sự phát triển chung của đất nước qua tất cả các thời kỳ lịch sử
Trang 8Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang trong giai đoạn thực hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Mặc dù cuộc vận động
đã đạt được một số kết quả nhất định, bộ mặt nông thôn Việt Nam bước đầu có nhiều khởi sắc Tuy vậy sự nghiệp xây dựng, đổi mới khu vực nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục và nhiều mục tiêu chưa đạt được Do vậy việc nghiên cứu vấn đề nông thôn Việt Nam thời Nguyễn từ 1802 đến 1820 để đưa
ra diện mạo cùng một số nhận xét về nông thôn nước ta và vai trò của khu vực nông thôn đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc sẽ là những đóng góp phần nào vào sự nghiệp xây dựng và đổi mới nông thôn hiện nay của đất nước Từ
đó rút ra một số kinh nghiệm cho việc nhìn nhận nông thôn Việt Nam hiện nay
u n n i trong ng 143 năm (1802-1945) n i trong giai
n t c nhi u n n quan ng n u tiên trong ch s
Trang 9Trong số các nguồn tư liệu đề cập đến tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa,
giáo dục …thời Nguyễn, trước tiên phải kể bộ quốc sử, sách, địa chí do Quốc sử
Quán triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chính biên, Việt sử thông giám cương mục, “Đại Nam thực lục”, xuất bản năm 2007 – là bộ
biên niên sử do Quốc sử Quán triều Nguyễn biên soạn Bộ sử gồm hai phần Tiền biên và Chính biên, biên soạn dưới thời Tự Đức và các đời vua sau tiếp tục bổ sung cho đến triều vua Khải Định Bộ sử ghi chép những sự kiện quan trọng xảy ra trên khắp cả nước trong thời gian một năm, một tháng, một ngày, cung cấp cho người đọc những tư liệu lịch sử quan trọng xảy ra trong cả nước trên tất cả các mặt Bên cạnh đó, tác phẩm đã cung cấp những tư liệu lịch sử quan trọng và khá toàn diện giúp người đọc hiểu được tình hình nông thôn Việt Nam đây là nguồn tư liệu gốc chính mà tác giả sử dụng chủ yếu trong quá trình làm luận văn Tuy nhiên, do cách viết theo lối biên niên cho nên những vấn đề nghiên cứu nằm rải rác ở nhiều tập sách khác nhau nên khó theo dõi
Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” do Nội Các triều Nguyễn biên
soạn dưới thời Thiệu Trị (1843) và hoàn thành dưới triều Tự Đức (1851) Bộ sách này cho chúng ta cái nhìn toàn diện về tình hình, kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
Cuốn “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước1858 (sơ khảo)”, của tác giả Trần Văn Giàu, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1958 Tác phẩm
nghiên cứu khá toàn diện mọi mặt của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858 về chính trị, kinh tế, xã hội…
Tác giả Trần Trọng Kim với tác phẩm “Việt Nam sử lược”, NXB Tổng
hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005 (in lần thứ năm) Tác phẩm nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ thời thượng cổ đến khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị trên nước ta (1902) Tác giả biên soạn lịch sử theo thứ tự thời gian các triều đại, trong từng triều đại tác giả không ghi chép sự kiện theo trình tự thời
Trang 10gian mà ghi chép theo từng nội dung lớn Trong mỗi triều vua, tác giả có nhắc đến vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Với cách viết này của tác giả đó giúp người đọc dễ nhận biết nội dung liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu
Tác phẩm “Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” của
tác giả Nguyễn Thế Anh, NXB Lửa Thiêng, xuất bản năm 1971 (tái bản năm 2008) có trình bày khá tổng quát về các vấn đề kinh tế, xã hội dưới triều Nguyễn
Bên cạnh đó, chúng ta phải kể đến các cuốn giáo trình như: Cuốn “Lịch
sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 3, từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX”
của tác giả Phan Huy Lê, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1965
Sau năm 1975, có nhiều công trình nghiên cứu được công bố về vấn đề nhà Nguyễn như:
Về ruộng đất: năm 1979, trong cuốn “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XIX”, NXB Khoa học xã hội, tác giả đã phác thảo chính
sách ruộng đất của nhà nước Nguyễn, thiết chế và kết cấu ruộng đất hình thành
từ chính sách đó Trong đó, tác phẩm cũng đề cập đến vấn đề tô thuế ruộng đất qua từng loại hình ruộng đất cụ thể Tác giả cũng đề cập đến tác động những chính sách của nhà nước đối với đời sống của người nông dân Việt Nam Đây thực sự là một tác phẩm có giá trị giúp người đọc có nhiều định hướng khi nghiên cứu đời sống kinh tế - xã hội nông nghiệp trong thời kỳ này
Trong loạt bài của tác giả Vũ Huy Phúc như: “Chế độ công điền công thổ của nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 62,
năm 1964 Trong đó, tác giả có đề cập đến chế độ công điền công thổ của nhà Nguyễn và những biện pháp cụ thể của nhà nước với loại đất này Bên cạnh đó,
tác giả còn công bố các bài viết liên quan ít nhiều đến đề tài như: “Về ruộng đất công làng xã thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lịch sử, số 4 năm 1981
Bài của tác giả Nguyễn Đức Nghinh với nhan đề: “Về quyền sở hữu ruộng đất khẩn hoang dưới thời Nguyễn” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch
Trang 11sử, số 5/6/1987 đã đề cập đến vấn đề sở hữu ruộng đất trực tiếp của nhà nước, trong đó có vấn đề sở hữu ruộng đất đồn điền và tô thuế đối với ruộng đất này
Năm 1997, hai tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang đã xuất bản tác
phẩm: “Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn”, NXB Thuận Hóa Tác giả vẽ lại bức tranh cụ thể về tình hình nông
nghiệp và đời sống nông dân dưới các vua triều Nguyễn
Năm 1980, tác phẩm “Lịch sử Việt Nam, tập 2 (1427 – 1858)” của tác
giả Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, NXB Giáo
Dục Năm 1990, cuốn “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, tập 1” của
Viện sử học, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Đã có những tư liệu bổ ích về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… cho tác giả trong việc nghiên cứu vấn đề này
Về kinh tế có các công trình nghiên cứu sau: Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn NXB Thuận Hóa (1977) của tác giả Đỗ Bang Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ dưới triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa (1998) của tác giả Bùi Thị Tân và Vũ Huy Phúc Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn NXB Văn học (2008) Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội), NXB Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội của
tác giả Bùi Xuân Đính (Chủ biên) (2009), đã cung cấp cho tác giả những tư liệu quý về tình hình kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp thời Nguyễn nói chung và thời Gia Long nói riêng
Về chính trị- xã hội có các công trình nghiên cứu sau: Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội của tác giả Phan Đại Doãn (chủ biên) (1994) Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn NXB Thuận Hóa (1997) của tác giả Phan Đại Doãn và Nguyễn
Ngọc Quỳnh
Ở mảng đề tài về văn hóa có các công trình nghiên cứu sau: Việt Nam phong tục, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội của tác giả Phan Kế Bính (2003)
Trang 12Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội của tác giả Phan Đại Doãn (2004) Một số vấn đề làng xã Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội của tác giả Nguyễn Quang Ngọc (2009) Cùng với đó là các bài viết trong Kỷ yếu hội thảo khoa học về Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, tại Thanh Hóa, tháng 10 năm 2008, NXB Thế giới (2008) cũng ít nhiều
đề cập đến lĩnh vực này như là: Bài viết Quốc sử quán triều Nguyễn từ thời vua Gia Long đến Tự Đức của TS Trần Vũ Tài Xứ Nghệ với Văn hóa Nguyễn của PGS Ninh Viết Giao Giáo dục khoa cử Thanh Hóa từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX của TS Hoàng Thanh Hải Tín Ngưỡng thờ cá voi của ngư dân Thanh Hóa thời Nguyễn của Hoàng Minh Tường
Những bộ giáo trình thông sử như tác phẩm: “Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1 từ nguyên thủy đến năm 1858” của tác giả Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), NXB Giáo Dục, Hà Nội 2007 Sau đó là tác phẩm “Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2” của tác giả Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), NXB Giáo Dục, Hà Nội
2007 Năm 2008, tập thể tác giả Nguyễn Cảnh Minh (Chủ biên), Đào Tố Uyên,
Vũ Xuân Đàn cho ra đời cuốn giáo trình “Lịch sử Việt Nam, tập 3”, NXB Đại
học Sư phạm Hà Nội…Đây là những cuốn giáo trình cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản và khái quát nhất về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân
sự, xã hội…thời Nguyễn Song liên quan đến đề tài chưa được đề cập một cách chuyên sâu và cụ thể
Năm 2001, Bộ tài chính - Tổng cục thuế cho ra đời cuốn “Thuế Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Tác phẩm đề cập
khái quát về hình thức tô thuế ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đến thời kỳ nhà Nguyễn
Năm 2005, cuốn “Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới”, NXB
Đại học Sư phạm Hà Nội Đây là công trình tập hợp nhiều bài nghiên cứu của các nhà sử học và nhiều nhà giáo giảng dạy lịch sử Việt Nam thời đại nhà Nguyễn (1802 – 1945) Sự tồn tại của nhà Nguyễn suốt 143 năm trong dòng
Trang 13chảy lịch sử dân tộc đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới sử học nói riêng và trong giới khoa học xã hội Việt Nam nói chung Từ những cách tiếp cận khác nhau đã tạo ra cái nhìn và đánh giá vai trò của triều Nguyễn cũng khác nhau Tác phẩm giúp người đọc có cái nhìn khách quan về lịch sử triều Nguyễn, tuy
nội dung của đề tài tác giả không được đề cập nhiều song cũng giúp người viết
có những quan điểm và nhận định đúng đắn, khách quan hơn về triều Nguyễn
Năm 2008, Kỷ yếu hội thảo khoa học về Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, tại Thanh Hóa,
tháng 10 năm 2008, NXB Thế giới cũng giành một số ít trang viết tình hình
giáo dục, thi cử với bài viết của Tiến sĩ Hoàng Thanh Hải có nhan đề giáo dục khoa cử Thanh Hóa từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, bài viết của Tiến sĩ Hà Mạnh Khoa: Vài nét về chính sách đào tạo và tuyển dụng và sử dụng nhân tài thời Nguyễn Viết về tư tưởng, tôn giáo có các bài của các tác giả như: Triều Nguyễn với chính sách cấm đạo thiên chúa của Tiến sĩ Mai Thị Phú Phương, bài viết: Mấy nhận xét về Nho giáo thời Nguyễn của PGS TS Chương Thâu
Về bộ máy hành chính làng xã với nhan đề Bộ máy hành chính làng xã thời Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX) của PGS.TS Vũ Duy Mền Ngoài những công
trình chuyên khảo kể trên cũng có rất nhiều giáo trình khác cũng góp phần đề cập một cách gián tiếp đến tình hình nông thôn Việt Nam triều Nguyễn như
cuốn: Tiến trình lịch sử Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc chủ biên), cuốn Lịch
sử Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858 (Trương Hữu Quýnh chủ biên), giáo trình Lịch sử Việt Nam (tập 3) của Nguyễn Cảnh Minh chủ biên…
Về Nam Bộ thời Nguyễn có các công trình nghiên cứu sau: Văn hóa dân gian người Việt Nam bộ, NXB Khoa học và xã hội (1992) Nhiều tác giả Chế
độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Hội
sử học Việt Nam, Hà Nội (1994) Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam
Bộ nữa đầu thế kỉ XIX NXB Thành phố Hồ Chí Minh (1994) của tác giả Trần Thị Thu Lương Làng xã cổ truyền ở Nam bộ qua Minh điều hương ước Tạp
Trang 14chí xưa và nay (số 58B) của tác giả Trương Ngọc Tường Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ qua các thế kỉ XVII, XVIII, XIX NXB Khoa học xã hội, Hà Nội (2000) của tác giả Huỳnh Lứa Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, NXB thế giới, tái bản lần thứ 2 (2008) của tác giả Vũ Minh Giang Đặc điểm Phật giáo Nam bộ thời Nguyễn của TS Trần Hồng Liên – Hội thảo chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (2008), Trường thi hương Gia Định, dấu ấn sâu đậm trong giáo dục của nhà Nguyễn ở đất phương Nam của tác giả Nguyễn Khắc Thuần -
Hội thảo chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (2008) Những công trình nghiên cứu kể trên đã vẽ lại một bức tranh khá rõ nét về nông thôn Nam Bộ nước ta trên các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị - xã hội, giáo dục là nguồn tài liệu quý cho tác giả tham khảo trong việc nghiên cứu vấn đề này
Như vậy, từ việc điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề có thể thấy rằng vấn
đề nông thôn Việt Nam dưới thời vua Gia Long từ 1802 đến 1820 chưa được đề cập đến một cách có hệ thống và chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu Những công trình nghiên cứu nói trên đã ít nhiều cung cấp một số nội dung
về vấn đề nông thôn Việt Nam thời Nguyễn, có nêu lên những nhận xét, đánh giá về chính sách của nhà Nguyễn, là nguồn tài liệu quý để tác giả tham khảo
3 Đối tƣợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu về một đối tượng cụ thể đó là:
“Nông thôn Việt Nam dưới triều vua Gia Long từ 1802 đến 1820”, trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu tình hình kinh tế chính trị, xã hội,
văn hóa ở nông thôn Việt Nam thời vua Gia Long từ năm 1802 đến năm 1820
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội và văn hóa nông thôn trên phạm vi cả nước Đại Nam thời kỳ trị vì của vua Gia Long
Trang 153.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ nội dung sau:
- Đề tài đi sâu vào nghiên cứu nội dung kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của thời Nguyễn dưới thời trị vì của vua Gia Long (1802 – 1820) Trên cơ sở đó rút ra một số nhận xét, đánh giá về nông thôn Việt Nam đầu thời Nguyễn
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu về vấn đề nông thôn Việt Nam thời Gia Long (1802 – 1820), tác giả dựa vào một số nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:
- Các loại tư liệu gốc: bao gồm các bộ sử của vương triều Nguyễn biên
soạn, trong đó quan trọng nhất là bộ “Đại Nam thực lục”, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2007 Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” do Viện sử học dịch của
NXB Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 2005 Bộ Minh Mệnh chính yếu, bộ Quốc
triều chính biên biên toát yếu…
Ngoài ra, cũng có các công trình sử học khác như “Đại Việt sử kí toàn thư” do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn; bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của Quốc sử Quán triều Nguyễn; “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú; bộ “Đại Nam nhất thống chí ” của Quốc
sử quán triều Nguyễn…
Các giáo trình, sách chuyên khảo về nhà Nguyễn Các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học…Ngoài ra, một số tư liệu và thông tin về lịch sử triều Nguyễn trên mạng Internet
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình thực hiện, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như:
- Về phương pháp luận, tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic
+ Phương pháp lịch sử để dựng lại một cách khái quát về nông thôn Việt Nam thời Nguyễn từ 1802 đến 1820
Trang 16+ Phương pháp logic: Trên cơ sở phân tích có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá về chính sách của nhà nước phong kiến Nguyễn đối với nông thôn với những mặt tích cực và hạn chế
- Về phương pháp cụ thể, trong quá trình thực hiện tác giả sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp đối chiếu so sánh để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài “Nông thôn Việt Nam dưới triều vua Gia Long từ
1802 đến 1820” tác giả mong muốn có một số đóng góp nhỏ như sau:
Thứ nhất, luận văn góp phần khôi phục diện mạo về tình hình kinh tế,
chính trị xã hội và văn hóa ở nông thôn Việt Nam thời Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1820
Thứ hai, thông qua việc tìm hiểu về nông thôn nước ta thời Nguyễn dưới
sự trị vì của vua Gia Long có thể rút ra một vài nhận xét, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong chính sách của nhà nước
Thứ ba, việc đi sâu vào nghiên cứu đề tài này dưới thời Gia Long (1802 –
1820), tác giả mong muốn góp phần nhỏ vào việc đánh giá chung về nhà Nguyễn
Ngoài ra, đề tài cũng là nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử Việt Nam Cổ Trung đại nói chung và về kinh
tế, chính trị xã hội, văn hóa nông thôn triều Nguyễn nói riêng
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục phần nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: CẤU TRÚC XÃ HỘI - CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN VIỆT
NAM THỜI GIA LONG Chương 2: KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG
Chương 3: VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG
Trang 17Chương 1 CẤU TRÚC XÃ HỘI – CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
THỜI GIA LONG 1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam thời Gia Long
Năm 1802, sau khi đánh bại phong trào Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh thổ đất Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ, Nguyễn Ánh tự đặt niên hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802 – 1819), Minh Mạng (1820 - 1840) đến Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) kế tiếp nhau xây dựng đất nước
Gia Long lên ngôi đã thừa hưởng một đất nước thống nhất từ mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau do công sức bảo vệ, mở mang, khai phá của nhiều thế
hệ, đặc biệt là ở phía Nam dưới thời các chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng (1556-1613) đến Nguyễn Phúc Thuần (1765-1776) Lãnh thổ nước ta cho đến cuối thế kỉ XVIII được chia thành nhiều lộ, trấn, dinh có thay đổi tách nhập ít nhiều bao gồm 24 trấn, lộ, dinh và một phủ Trung Đô (Thăng Long)
Để xây dựng một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền quản lý có hiệu lực quốc gia thống nhất gồm các đơn vị hành chính trên, ngay từ đầu vương triều Nguyễn Gia Long phải đương đầu với nhiều khó khăn lớn Trước hết phải kể đến việc đất nước bị chia cắt trong nhiều năm với nhiều phe phái thù địch Đó là các tập đoàn Lê, Trịnh, Nguyễn trong đó đáng kể nhất là tập đoàn phong kiến Lê với ảnh hưởng của họ còn in đậm trong tâm tư, tình cảm của nhiều người, đặc biệt là trong các cựu thần nhà Lê đông đảo các Nho sĩ và thế gia vọng tộc có tầm cỡ ở Bắc Hà Không phải vô cớ mà các chúa Nguyễn, chúa Trịnh và Tây Sơn từng phải giương cao ngọn cờ “phù Lê” Trong khi đó lãnh thổ nước ta bị chia cắt trong nhiều năm, chịu ảnh hưởng của nhiều thế lực, không có được sự phát triển đồng đều Bắc Hà, từ sông Gianh trở ra chịu ảnh hưởng của vua Lê - chúa Trịnh, trải qua loạn lạc triền miên vẫn quen nếp cũ với
Trang 18hoài vọng một thời Thái Tổ, Thái Tông (Lê sơ) Từ sông Gianh đến cực Nam Trung Bộ là đất mở mang lập nghiệp của các chúa Nguyễn nhưng lại nghèo và lại là đất phát tích, từng chịu ảnh hưởng của nhà Tây Sơn Vùng Nam Bộ được
mở mang thêm từ cuối thế kỉ XVII, hứa hẹn nhiều tiềm năng nhưng lại là nơi hội tụ nhiều tộc người Việt, Hoa, Chàm, Khơ me khác nhau nhiều phương diện không dễ quản lí và có lẽ quan trọng hơn cả là tình trạng nội chiến triền miên đã để lại một hậu quả bao trùm: tổ chức quản lí lõng lẽo, phân tán khá phổ biến Trong khi đó Nguyễn Ánh và các cận thần thân tín của ông tuy có thừa mưu lược chinh chiến để giành quyền lực nhưng lại thiếu uy tín, kinh nghiệm trong quản lí đất nước Tuy vậy việc xây dựng một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền vẫn là mục tiêu phấn đấu của Nguyễn Ánh sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn đồng thời cũng là trách nhiệm của ông trước một đất nước độc lập thống nhất có chủ quyền
Trải qua gần hai thế kỉ đất nước bị chia cắt, cùng với những năm tháng chống chọi với nhà Tây Sơn, Nhà Nguyễn ra đời trong khung cảnh đất nước có những phức tạp về mặt chính trị Tuy đã thống nhất quốc gia về mặt lãnh thổ, song mỗi miền có một chế độ chính trị khác nhau đã gây nhiều trở ngại cho nhà Nguyễn trên bước đường xây dựng chế độ mới
Ở phía Bắc – Đàng Ngoài, tư tưởng “hoài Lê” vẫn còn in dấu khá đậm trong tâm tư tình cảm của người dân Bắc Hà, đặt biệt là hàng ngũ quan lại cựu triều và những trí thức nho sĩ cũ Gia Long lên ngôi, không phải ông không nhận thức được vấn đề này – tư tưởng “hoài Lê” là một cản trở rất lớn đối với ông trên con đường xây dựng chế độ mới
Gia Long cùng với những quần thần của ông không phải là không có nhiều mưu lược trong việc chinh chiến giành quyền đế vương, nhưng bước vào công cuộc xây dựng chính quyền mới đã gặp nhiều lúng túng, thậm chí còn thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức, xây dựng đất nước
Trang 19Ở buổi ban đầu xây dựng chính quyền, vì việc phải trả “món nợ” cũ cho những người nước ngoài đã từng giúp nhiều cho ông trong công cuộc tranh giành quyền lực từ nhà Tây Sơn, Gia Long đã phải chấp nhận cho một số người Pháp vào làm quan trong triều đình nhà Nguyễn như Jean Baptiste Chaigneau Philippe Vannier De Forsans và Despians những người này được Gia Long đãi ngộ hậu hĩnh và phong cho những chức võ quan cao cấp, rồi cấp thêm cho họ
mỗi người một đội lính hầu gồm 50 người được toàn quyền sai phái Tuy được
đãi ngộ hậu hĩnh và làm quan trong triều đình nhà Nguyễn, nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì họ vẫn không thể quên được “mẫu quốc” và chỉ chờ có cơ hội thuận lợi là tinh thần “ái quốc” của họ sẽ trỗi dậy Đây phải chăng là một trong những mầm họa sau này đối với triều đình Nguyễn
Đối với những người phò tá Gia Long trước khi lên ngôi, có nhiều công lao chinh chiến chống lại Tây Sơn, bên cạnh việc thưởng công, Gia Long cũng cất nhắc họ vào làm quan trong triều đình, càng làm gia tăng số quan lại xuất thân từ hàng võ trong buổi đầu xây dựng chính quyền
Ngoài số này ra, Gia Long muốn thu dụng nhân tài, trong buổi đầu không còn cách nào khác, đã hạ lệnh cho các bộ, viện trong triều đều được đề
cử những người mình biết để bổ vào các ty ở bộ các viện Hàn lâm và Thị thư…như: cử Lê Đắc Tân, Lê Chính Lộ, Nguyễn Đăng Đệ, Đoàn Đại Thận và Nguyễn Xuân Tình (5 người) làm Thiêm sự Lại bộ; Nguyễn Viết Cơ, Trương Trí Lý, Đào Văn Lễ, Trần Minh Nghĩa, Nguyễn Đình Chất, Lê Công Bật và Hoàng Trọng Mộ làm Thiêm sự Binh bộ; Trần Quốc Cao và Trần Bá Bảo làm Thiêm sự Hình bộ; Trần Quang Mân, Nguyễn Hữu Thận, Võ Tiến Ngôn và Nguyễn Đăng Cơ (4 người) làm Hàn lâm viện chế cáo; Sung vào Hàn lâm viện với số khá Đông 30 người Trong đó có Thái Văn Nguyên, Nguyễn Kim Phượng, Phan Đức Hiên, Hoàng Đường, Nguyễn Văn Công, Võ Đoàn Thiếp, Nguyễn Đăng Thiệp, Nguyễn Công Trực, Nguyễn Đức Đàm; Cử Trương Minh Thành làm Hàn lâm viện thị thư phụng chỉ; Trần Đình Trung, Nguyễn Văn
Trang 20Quang, Võ Hữu Hợp, Nguyễn Văn Châu và Nguyễn Văn Huyền (5 người) làm Hàn lâm viện thừa chỉ; Cử 13 người vào Hàn lâm viện thị thư Trong đó có Trần Văn Tính, Trần Viết Bình, Lê Văn Phú, Lê Văn Đồng, Nguyễn Côn Định, Nguyễn Văn Nhiêu…[61]
Đối với những thân sĩ cựu triều ở Bắc Hà đang còn mang nặng tư tưởng
“hoài Lê” – một vấn đề lớn cản trở trên con đường dựng nghiệp của nhà Nguyễn – Gia Long đã kịp thời giải quyết từ ngay sau khi ông lên nắm quyền (từ cuối tháng 6 năm 1802) Gia Long đã hạ chiếu dụ cho các hào mục Bắc Hà
rằng “mới rồi đây Tây Sơn gây biến, ngôi nhà Lê bị mất rồi Bọn các ngươi ôm lòng trung căm giận đã lâu, chẳng chịu để giặc sai khiến Nhiều người trốn tránh, nhóm họp ở núi rừng chưa biết về đâu Nay bọn giặc đã trừ, phong tục văn chương cùng một mối Vậy đặc dụ rằng, phàm ai bị can phạm trước kia đều không xét hỏi, đều cho giải tán hết nghĩa binh đem nộp khí giới, do địa phương sở tại làm biểu báo lên, trẫm sẽ tùy tài lục dụng”.[61, tr 504]
Đến tháng 7 năm đó, Gia Long lại tiếp tục ban chiếu dụ các cựu thần nhà
Lê và hương cống học trò rằng: “mới đây giặc Tây Sơn can phạm đạo thường, làm cho trời đất tối đen, trong lúc ấy có nhiều người ẩn náu, không muốn làm quan cho giặc, mà ôm đức giữ tài để chờ thời cơ Nay đảng giặc dẹp yên, võ công cả định, chính là buổi đầu chấn hưng văn hóa, xây dựng trị bình Nhân tài trong đời há chịu cùng với cỏ cây mục nát sao? Vậy nên báo cáo cho nhau, đều đến hành tại để bọn Chưởng tiền quân Nguyễn Văn Thành, Lể bộ Đặng Đức Siêu, Tán Lý Đặng Trần Thường, Tham tri Đặng Như Đăng, Học sĩ Nguyễn Văn Viên, lần lượt dẫn vào yết kiến Ta sẽ nghe lời nói thử việc làm, tùy tài bổ dụng, cho người hiền được có vị, người tài được có chức, đẹp lòng
nghĩ, chia mưu làm, để cùng nên đạo trị nước” [61, tr.507] Nhân có lời chiếu
dụ như vậy, những người ở Bắc Hà đã “tranh nhau ra giúp việc” và đã có hàng loạt người đứng vào hàng ngũ quan lại của triều đình Nguyễn trong buổi đầu như: Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Kinh
Trang 21Bắc, Lê Duy Đảng làm Kim Hoa điện trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Lạng Sơn Lê Duy Trầm, Ngô Xiêm và Nguyễn Đình Tứ làm Thái hòa điện học sĩ, Nguyễn Đường làm Kim hoa điện học sĩ, Phạm Tích, Võ Trinh làm Thị trung học sĩ; Vũ Đình Tử, Nguyễn Huy Thảng làm Cẩm chính điện học sĩ… Trong số những người này chỉ có một người là Hương cống còn toàn bộ đổ Tiến sĩ
Ngoài ra còn một số nho sĩ khác ở Bắc Hà khi nghe tin Gia Long trọng dụng trở lại, đã dâng trình phong bì kín và được tuyển dụng tới 32 người, trong
đó có: Phan Chính Thể, Nhữ Công Thiệu, Nguyễn Duy Cung, Bùi Phổ
Như vậy số quan lại cựu triều xuất thân từ khoa bảng đã gia nhập hàng ngũ quan lại của triều đình nhà Nguyễn với một số lượng tương đối lớn và đa phần họ lại có học vấn hơn số quan lại xuất thân từ hàng võ thân cận với Gia Long Đây cũng là một vấn đề tương đối nan giải đối với Gia Long
Thực ra Gia Long muốn dùng người của mình vào làm ở chính quyền mới, nhưng một phần vì chưa đủ, một phần vì chưa có thời gian để đào tạo tuyển dụng quan lại lớp mới và quan trọng hơn là xét về nhân tình thế thái lúc
đó Gia Long không thể nào làm khác hơn được mà phải tiếp tục sử dụng không những số đông quan lại cũ của triều Lê mà phải sử dụng cả một số người nước ngoài Đó là điều bất cập trong buổi đầu xây dựng chính quyền Với một cơ cấu quan chức như vậy, chắc chắn không thể “họp lòng nghĩ, chia mưu làm, để cùng nên đạo trị nước” như Gia Long mong muốn được
Đã thế Gia Long còn phải ứng xử sao cho “phải lẽ” với bề tôi trung nghĩa của nhà Lê, và con cháu họ Trịnh nữa
Đối với những bầy tôi trung nghĩa của nhà Lê, Gia Long đã ban chiếu
trọng thưởng rất ân cần rằng “mới đây giặc Tây Sơn xướng loạn, hãm hại nhân dân, những người trung nghĩa ai cũng căm giận, hoặc đương thuở nhà Lê suy yếu liều mình đánh giặc, đến khi việc nước đã hỏng mà cầm quân chống giặc, hết lòng, hết sức không kể được thua Khi trẫm mới thu phục Gia Định quyết trí
Trang 22diệt thù, cũng đã biết rõ một tấm trung thành của bọn ngươi, dù muôn dặm non sông cũng chẳng cho là xa cách, hằng thông tin sứ, ứng nghĩa cũng nhiều Có người hăng hái nhóm họp binh sĩ chống giặc, nhưng sợi tóc khó mang nổi nghìn cân, thế lực không thể địch nổi, hằng đánh, hằng thua Cũng có người tới chốn quân mạc, vâng chịu mệnh lệnh, nhưng khi không làm xong kín đáo, lại mắc tai vạ, lòng ta rất thương xót Nay đã diệt quân hung ác, cả định võ công, nghĩ đến những người trung nghĩa, chính nên khen thưởng Vậy hạ lệnh cho các địa phương Bắc thành và Thanh Nghệ Xét trước đây có ai theo nghĩa bỏ mình
thì cho con cháu họ hàng đem việc bày tâu, xét ban tuất điền” [61, tr.507]
Đối với con cháu họ Trịnh, Gia Long cũng xuống chiếu rằng “Tiên thế với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia Trung gian Nam – Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa Ngày nay trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng, để giữ tình nghĩa đời đời”.[61, tr.508]
Như vậy là tuy được thừa hưởng một thành quả to lớn của Phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước là làm chủ một đất nước thống nhất từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, nhưng triều Nguyễn đã phải tồn tại trong một bối cảnh xã hội hết sức đặc biệt của đất nước vào đầu thế kỉ XIX Đó là những hậu quả về mặt chính trị hết sức nặng nề như đã nêu ở trên Mặc dù vậy, ở thời kỳ đầu, các vua triều Nguyễn tỏ ra hết sức cố gắng và có nhiều đóng góp đáng kể trong công cuộc kiện toàn bộ máy hành chính quốc gia
Trước những khó khăn chồng chất đó, Gia Long đã chọn Phú Xuân, đặt dinh Quảng Đức tách từ trấn Thuận Hóa làm kinh đô Trên cơ sở các đơn vị hành chính đã có, Gia Long sắp đặt lại Lấy Phú Xuân làm trung tâm, Gia Long đặt miền Trung từ Thanh Hoa ngoại đến Bình Thuận dưới quyền quản lý trực tiếp của triều đình Phía Bắc từ Sơn Nam hạ trở ra bao gồm 11 trấn gọi là Bắc
Trang 23Thành Phía Nam từ Trấn Biên trở vào gồm 5 biên, trấn gọi là Gia Định thành,
do một viên võ quan đại thần đứng đầu với chức danh Tổng trấn, có Hiệp trấn, Phó Tổng trấn giúp việc thay mặt nhà vua quản lý mọi việc Ngoài ra ở mỗi thành còn có ba tào: Binh, Hộ, Hình chia nhau chuyên trách từng phần kiêm cả Lại, Lễ, Công
Dưới thời Gia Long, bộ máy nhà nước Nguyễn về cơ bản kế thừa mô hình tổ chức trước đó Ở cấp trung ương đặt đủ sáu bộ gồm: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công do thượng thư đứng đầu, cấp phủ có Tả Tham tri và Hữu Tham tri
và bộ phận giúp việc như Thiêm sự, Câu kê, Cai hợp…Tại triều đình có một số
cơ quan chức năng khác như Quốc tử giám, Viện hàn lâm, Viện thái y…
Ở các cấp hành chính địa phương dưới thời Gia Long và đầu thời Minh Mạng hầu như không có thay đổi đáng kể nào so với trước Cả nước chia thành
27 doanh (Đàng Trong cũ) và trấn (Đàng Ngoài cũ) Đàng ngoài cũ gồm 13 doanh trấn và một phủ Phụng Thiên (năm 1805 đổi là phủ Hoài Đức) Đàng Trong có 14 doanh (năm 1808) đổi hầu hết thành trấn trừ doanh Quảng Đức năm 1821 đổi thành phủ Thừa Thiên Các doanh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam đến năm 1827 cũng thống nhất đổi thành trấn triều đình trung ương chỉ trực tiếp cai quản kinh kỳ gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Thừa Thiên và Quảng Nam và bảy trấn gồm Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Khương và Bình Thuận Vì nhiều lý do, dưới thời Gia Long triều đình Huế buộc phải chấp nhận hai khu vực hành chính có tính trung gian là Bắc Thành (đặt năm 1802) và Gia Định thành (đặt năm 1808) Bắc thành gồm 5 nội trấn (Sơn Nam Hạ, Sơn Nam Thượng, Kinh Bắc, Sơn Tây và Hải Dương) và 6 ngoại trấn (Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Yên Quảng và Hưng Hóa) Gia Định thành gồm 4 trấn: doanh Phiên trấn đổi thành trấn Phiên An doanh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa, doanh Vĩnh trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh, doanh Trấn Định đổi thành trấn Định Tường và trấn Hà Tiên đặt từ năm 1810
Trang 24Đứng đầu mỗi thành là chức Tổng Trấn có một Hiệp tổng trấn (sau đổi thành Phó tổng trấn) Tổng trấn có quyền hành rất lớn, việc thăng gián chức quan lại, xử lý kiện tụng được tự quyết định rồi mới tâu lên triều đình Bộ máy cai trị các thành gồm ba tào là Hộ (Kiêm Công), Binh (kiêm Lại), Hình (kiêm Lễ), đứng đầu là các chức Tham tri được biệt phái từ các bộ đến
Đứng đầu các dinh là chức Lưu thủ, giúp việc có các chức Cai bạ, Ký lục, đứng đầu trấn là chức Trấn thủ (võ quan), giúp việc có các chức Hiệp trấn, Tham hiệp (văn quan) Tại các doanh, trấn thành lập hai ty gồm 6 phòng Ty tả thừa gồm các phòng Lại, Binh, Hình; Ty Hữu thừa gồm các phòng Hộ, Lễ, Công Quan lại ở các trấn thuộc Bắc Thành và Gia Định thành đặt dưới sự điều khiển trực tiếp của quan Tổng trấn, nhận chỉ thị của từ quan Tổng trấn mà không được giao thiệp với các bộ ở trung ương cũng như tâu thẳng lên nhà vua, ngược lại, triều đình trung ương cũng chỉ làm việc với địa phương thông qua quan Tổng trấn
Dưới trấn, dinh là các phủ, huyện, tổng, xã Đứng đầu là các chức Tri phủ, Tri huyện, Cai Tổng và Xã trưởng, cơ bản chưa có thay đổi so với trước
Thời Gia Long, mỗi phủ, huyện đều có hai viên Tri phủ, Tri huyện đứng đầu Đối với dân tộc thiểu số buổi đầu nhà Nguyễn vẫn duy trì cơ cấu tổ chức truyền thống và sử dụng đội ngũ tù trưởng cai quản các vùng thiểu số (Từ thời Minh Mạng nhằm tiến tới sự thống nhất về mặt hành chính, tăng cường quyền kiểm soát của nhà nước hạn chế thế lực của các thổ tù, hàng loạt cải cách quan trọng được thi hành) Khi nhà Nguyễn mới được thiết lập, quan lại phần lớn là những người từng theo Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn, trong đó chủ yếu
là các võ quan Về sau việc tuyển chọn quan lại chủ yếu thông qua khoa cử Năm 1807, Gia Long mở khoa thi hương đầu tiên Phần lớn những người đổ đạt đều được bổ dụng vào các chức vụ của bộ máy nhà nước và trở thành bộ phận nòng cốt của nền hành chính quốc gia
Trang 25Pháp luật: trong những năm đầu mới cầm quyền, Gia Long sai đình thần
tham khảo bộ luật Hồng Đức triều Lê sở định ra một số điều lệ về kiện tụng, về trừng phạt quan lại nhũng nhiễu dân, ăn hối lộ Năm 1811 Gia Long ban chỉ dụ
“bọn khanh (các đình thần soạn thảo bộ luật mới của triều đình nhà Nguyễn) nên hết lòng khảo xét những pháp lệnh điển lệ của triều đình, tham hợp luật với điều luật đời Hồng Đức và nước Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc mà làm thành sách Trẫm sẽ tự sửa chửa cho đúng để ban hành [61, tr 808] Năm 1815, bộ
luật được ban hành, gồm có 398 điều, chia làm 22 quyển Tên là Hoàng triều luật lệ (còn gọi là Hoàng Việt luật lệ hay luật Gia Long) Cách cấu trúc của luật Gia Long giống phần nào trong cấu trúc của bộ luật Hồng Đức
Mặc dù trong một số không nhiều điều luật của bộ luật Gia Long có tham khảo bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ như một số điều luật về bộ máy quan lại, về việc xử lí và trừng phạt các quan lại nhũng nhiễu, hạch sách, đục khoét dân chúng, ăn hối lộ, nhưng một số điều luật tích cực, tiến bộ của luật Hồng Đức không còn được thể hiện trong bộ luật Gia Long
Bộ luật Gia Long nói riêng, pháp luật thời Nguyễn nói chung thể hiện sâu sắc ý đồ bảo vệ quyền hành tuyệt đối của nhà vua và đề cao địa vị của chế
độ Bộ luật Gia Long và pháp luật thời Nguyễn thể hiện tính chất chuyên chế cực đoan đối với nhân dân Điều này được phản ánh khá nổi bật việc thực hiện những điều luật hình đối với nhân dân dưới triều Nguyễn
Quân đội thời Nguyễn được tổ chức có hệ thống chặt chẽ, có năm phủ đô đốc chỉ huy năm quân (trung quân, tiền quân, hậu quân, tả quân, hữu quân) Đứng đầu mỗi phủ đô đốc có chức đô thống chưởng phủ sự, tiếp đến là các chức thống chế, chưởng vệ Năm phủ đô đốc đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của nhà vua Vua nắm quyền quyết định việc điều động và di chuyển quân đội
Thời Gia Long chế độ binh dịch được quy định như sau “từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ 3 người dân có một người phải đi lính, từ Biên Hòa trở vào
Trang 26cứ 5 người lấy một người, từ Hà Tĩnh trở ra Bắc 7 người lấy một người; Tuyên Quang Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên,Quảng Yên: cứ 10 người dân có một người đi lính.” [43, tr 45]
Quân đội được trang bị vũ khí và huấn luyện theo kiểu phương Tây có,
bộ binh, tượng binh, thủy binh: “cứ 113.000 lính có 30.000 vũ khí phương Tây,
cứ 15.000 pháo thủ có 400 đại bác Có 8000 tượng binh với 200 thớt voi chiến Ngoài ra còn có 12000 thân binh và cấm binh cũng được trang bị súng…huấn luyện theo kiểu phương Tây Bên cạnh đó có thêm 42000 lính vũ trang bằng gươm giáo…Có 17000 lính thủy với 3 chiến thuyền kiểu phương Tây Có thuyền lớn bọc đồng tuần dương, có 100 chiến thuyền lớn có máy bắn đá và đại bác, 200 chiến thuyền nhỏ trang bị từ 16 đến 20 đại bác, 500 thuyền nhỏ hơn
có máy bắn đá và một đại bác”[43, tr 45]
1.2 Tổ chức chính quyền ở nông thôn
1.2.1 Tổ chức chính quyền cấp trấn, dinh, phủ, huyện, châu, tổng, xã ở Bắc Thành
Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, thu phục lại được tất cả 14 trấn, 47 phủ,
187 huyện, 40 châu [61, tr 501] Gia Long vẫn giữ nguyên cách thức tổ chức
cũ của triều Lê là Trấn, Phủ, Huyện và Xã chỉ bàn việc chia đặt quan chức để cai trị toàn bộ 11 trấn Bắc Thành đó là: Sơn Nam Hạ, Sơn Nam Thượng, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Yên Quảng, Cao Bằng và Tuyên Quang Ở mỗi trấn này Gia Long cho đặt một Trấn thủ (dùng chức Thống chế, Chưởng cơ, Cai cơ cho làm) và một Hiệp trấn, một Tham trấn (dùng chức Thiêm sự, Tham quân, Hàn lâm cho làm)[61, tr 502]
Khi sắp đặt xong về mặt nhân sự, Gia Long còn cho vời các Trấn thủ,
Hiệp trấn, Tham trấn mới tới hành tại, rồi dụ rằng “hiện nay nước mới được yên, dân đương ngửa trông đức mới Bọn ngươi nên tuyên dương đức hóa, vỗ yên nhân dân điêu hao, khiến dân ta đều được yên nghiệp để cho xứng sự ủy thác” [61, tr 502]
Trang 27Để quản lý 11 trấn Bắc thành được tốt, lúc này năm (1802) Gia Long đã cho đặt một viên Tổng trấn chịu trách nhiệm chung và cho lấy Nguyễn Văn Thành sung vào chức này Quan lại giữ trọng trách này là người có uy tín, trình
độ và được Gia Long giao toàn quyền quyết đoán mọi việc Xét trong hàng ngũ
tướng tá từng theo Gia Long duy chỉ có Nguyễn Văn Thành “là người có chút học thức và biết thể thức chính trị”[61, tr 503] Nên Gia Long đặc biệt triệu
Sau khi chia đặt xong quan chức ở các Trấn, tháng 8 năm 1802, Gia Long lại cho đặt quan Phủ, Huyện ở Bắc Hà Phủ Phụng Thiên thuộc Bắc Thành đặt một An phủ sứ và và một Tuyên phủ sứ thống trị hai huyện Các trấn Sơn Nam thượng, hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Thanh Hoa nội ngoại, Nghệ An mỗi phủ đặt một Quản phủ, một Tri phủ, kiêm lý một huyện, mỗi huyện lấy một Tri huyện, lấy chức Cai cơ, Tham quân và Hương cống triều Lê
cũ và những người dâng phong bì tình nguyện được trúng tuyển bổ vào Những phủ, huyện, châu Thổ dân ở Quảng Yên, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thanh Nghệ thì lấy quan người Thổ cho quản đặt Ở phủ Phụng Thiên, Gia Long cử Cai cơ Nguyễn Bá Xuyến làm Chưởng
cơ lãnh chức An phủ sứ và Lê Văn Minh làm Tuyên phủ sứ [61, tr 518]
Những đơn vị hành chính được thay đổi dưới triều Tây Sơn nay Gia Long cũng cho sắp xếp lại như cũ Ví dụ phủ Kinh Môn trước theo về Hải Dương, sau này thì Tây Sơn cho lệ vào Quảng Yên, nay được về với Hải Dương
Trang 28Ở các trấn, phủ, huyện của Bắc Thành Gia Long còn cho đặt Lại dịch cùng cai quản Năm nội trấn ở Bắc Thành (Sơn Nam thượng, hạ, Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Tây), mỗi trấn đặt hai ty (Tả thừa, Hửu thừa) Chia làm 6 phòng: 3 phòng (Lại, Binh, Hình) thuộc về Tả thừa; 3 phòng (Hộ, Lễ, Công) thuộc về Hữu thừa Đứng đầu ty là chức Thông phán, Kinh lịch Mỗi Ty có: 1 Câu kê, 1 Cai hợp, 1 Thủ hợp và 11 người thuộc ty Mỗi phủ đặt 2 Đề lại, 10 Thông lại Mỗi huyện đặt 2 Đề lại, 8 Thông lại Các trấn Nghệ An, Thanh Hoa nội, ngoại cũng đặt như vậy Riêng 6 ngoại trấn Bắc Thành (Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên), mỗi ty Tả thừa, Hữu thừa đều đặt một Cai hợp, Thủ hợp và 13 người thuộc ty [61, tr 518]
Tuy đã đặt xong quan chức ở Bắc Thành, nhưng Gia Long thấy việc khoa cử tuyển chọn người hiền là cần thiết hơn nên vào tháng 9 năm 1802 ông
đã cùng bầy tôi họp bàn phép khoa cử và có chiếu chỉ dụ rằng: “khoa mục là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được Phải nên giáo dục thành tài, rồi sau thi Hương, thi Hội lần lượt cử hành, thì người hiền tài sẽ nối nhau lên giúp việc” [61, tr 524] Cùng với chiếu chỉ đó là việc đặt chức Đốc
học ở các trấn Bắc Thành, lấy Nguyễn Đình Tứ làm chức Đốc học phủ Phụng Thiên, Lê Huy Sầm làm Đốc học Kinh Bắc, Ngô Xiêm làm Đốc học Sơn Tây,
Vũ Đình Từ làm Đốc học Sơn Nam Thượng, Nguyễn Huy Thảng làm Đốc học Sơn Nam Hạ, Đốc học Kinh Bắc kiêm Đốc học Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng Đốc học Sơn Tây Kiêm Đốc học Hưng Hóa, Tuyên Quang Đốc học Hải Dương kiêm Đốc học Quảng Yên [61, tr 527]
Sắp xếp xong công việc ở Bắc Hà nhưng Gia Long vẫn chưa yên tâm, trước khi xa giá hồi loan về Kinh đô Gia Long vẫn còn ban dụ cho viên Tổng
trấn Bắc Thành với lời lẽ khẩn thiết rằng: “công việc Bắc Thành ủy thác hết cho khanh, khanh nên cố gắng” [61, tr.529] vì Gia Long coi việc binh, dân, lý tài ở
Bắc Thành là điều rất quan trọng, nên ông đã đặt mọi niềm tin vào viên Tổng trấn mới này
Trang 291.2.2 Tổ chức chính quyền cấp trấn, dinh, phủ, huyện, châu, tổng, xã ở Gia Định thành
Ở phía Nam, về tổ chức hành chính trong buổi ban đầu, Gia Long cũng vẫn cho giữ nguyên cách thức tổ chức cũ của thời các chúa Nguyễn là Trấn, Dinh, Huyện và Xã Ngoài khu vực Kinh kỳ gồm 4 dinh (Quảng Bình, Quảng Đức, Quảng Trị và Quảng Nam), cả nước chia làm 23 dinh, trấn Triều đình trung ương quản 4 dinh và 7 trấn (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận) Đến năm Mậu Thìn (1808), Gia Long thấy địa thế Gia Định rộng lớn đã sai đình thần bàn kỹ việc kinh lý để giữ gìn bờ cõi cho vững mạnh Bèn cho đổi Gia Định trấn thành Gia Định Thành, dinh Phiên Trấn thành trấn Phiên An, dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa, dinh Vĩnh Trấn thành trấn Vĩnh Thanh, dinh Trấn Định làm trấn Định Tường [61, tr 716] Vậy là Gia Định Thành bao gồm 5 trấn (Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên) do viên Tổng trấn là Nguyễn Văn Nhân phụ trách
Đặt xong chức Tổng trấn của Gia Định Thành năm 1813 Gia Long mới cho đặt 4 Tào (Hộ, Binh, Hình, Công) giống như ở Bắc Thành Đứng đầu các Tào này đều là những quan lại cao cấp ở các bộ được biệt phái đến Như Tham tri Công bộ Nguyễn Khắc Thiệu lãnh đạo Công tào, kiêm lý Hộ tào, Hữu tham tri Hình bộ Lê Bá Phẩm lãnh Hình tào kiêm lý Binh tào; Hàn lâm thị thư là Nguyễn Công Định làm Thiêm Sư Hộ bộ; Hàn lâm viện là Lê Huy làm Thiêm
sự binh bộ, sung làm công việc hai tào Hộ, Binh.[61, tr 873]
Vua Gia Long là người có tham vọng nắm chặt quyền kiểm soát đối với
làng xã Ông từng nói “Quốc gia là góp làng xã lại mà thành Muốn trị được nước thì phải sửa sang công việc làng xã”[28, tr.191] Để làm được điều đó
phải chọn người hiền tài ra làm quan, vì thế nên vua Gia Long lựa chọn rất kỹ người giữ chức tri huyện Cụ thể tri huyện phải là người có học và đỗ đạt Vào năm 1808, tri huyện ở Bắc Thành có khuyết, thành thần dâng sớ xin cử người
từ hàn để bổ sung Vua không cho, bảo các quan hầu rằng “Chức huyện lệnh là
Trang 30bực thầy bực tướng của dân, có thể dùng người tẹp nhẹp được ư? Nay những người mới đỗ hương cống còn chưa bổ quan, cho họ thử việc hành chính trị dân, cứ chọn ở đấy” [61, tr.739 - 740] Hạ chiếu cho Bắc Thành và Thanh
Nghệ lấy hương cống bổ tri huyện Một biện pháp kiểm soát chủ yếu là quản lý
số dân và số ruộng đất của làng xã thông qua sổ đinh bạ và điền bạ mà Gia Long đã cho kiểm kê, ghi chép cụ thể và tỉ mỉ tình hình con người và ruộng đất của làng xã Việt Nam Trên cơ sở đó nhà nước đã coi làng xã như những thực thể chính trị, đơn vị hành chính – kinh tế - xã hội cấp cơ sở, có tư cách pháp nhân cộng đồng trong công việc phân chia ruộng đất, thu thuế, bắt phu, bắt lính cũng như truy cứu trách nhiệm hình sự Nhà nước phê chuẩn việc bầu cử các xã trưởng và xét duyệt cấp bằng sắc cho việc tế tự các thần linh ở địa phương
Ngoài ra, vua Gia Long còn định ra chương trình xét năng lực của tri phủ
và tri huyện để loại bỏ những kẻ không có năng lực Việc này được tiến hành 3 năm một lần Bắt đầu từ năm Mậu Thìn Gia Long thứ 7 (1808)
Việc tổ chức chính quyền cấp xã, thôn cũng được quy định cụ thể: Từ Nghệ An ra Bắc xã nào đinh tịch 140 người trở xuống thì đặt một xã trưởng,
150 người trở lên thì đặt thêm một thôn trưởng, dân số tăng đến 50 người nữa thì lại đặt thêm một thôn trưởng, do quan địa phương cấp bằng cho làm việc
Có thể nói rằng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Nguyễn đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lí toàn bộ đất nước thống nhất và
sự bất cập của triều đình trung ương bằng cách chấp nhận một bước quá độ, tạm thời phân quyền Nhà vua phải san sẽ quyền lực cho các võ quan tổng trấn đại thần được quan niệm như là một thứ “quân chính” ở hai đầu Nam, Bắc của đất nước Đây là một biện pháp khôn khéo, linh hoạt của vua Gia Long trong buổi đầu nhằm thực hiện quản lí đất nước đồng thời đảm bảo sự tồn tại an toàn của vương triều
Đặc điểm nổi bật của bộ máy chính quyền địa phương dưới thời Gia Long là tính chất phân quyền với sự tồn tại của hai khu vực hành chính lớn là
Trang 31Bắc Thành và Gia Định Thành, cũng như tính thiếu thống nhất trong tổ chức hành chính giữa miền Bắc và miền Nam, giữa vùng đồng bằng và miền núi Đó
là những hạn chế không phải Gia Long không nhận ra mà do những khó khăn khi vương triều mới được thiết lập chưa có khả năng khắc phục
1.3 Các tầng lớp xã hội ở nông thôn
Tầng lớp quan lại và địa chủ đông đảo ở các làng xã Đây là tầng lớp có đặc quyền Họ có dinh thự, ruộng vườn rộng rãi Là bộ phận được ban cấp phần đất nhiều hơn các tầng lớp khác được qui định theo phép quân điền ban hành
năm 1804 theo đó “các quan chức chánh nhất phẩm được cấp 15 phần, chánh nhị phẩm được 12 phần, chánh ngũ phẩm được 11 phần, chánh lục phẩm được
10 phần, chánh thất phẩm được 9 phần, chánh bát phẩm được 8,5 phần, chánh cửu phẩm được 8 phần… Dân đinh được cấp 6,5 phần, cô nhi quả phụ được cấp 3 phần, dân đinh già yếu được cấp 5 phần” [39, tr 145]
Quan lại được lựa chọn ban đầu là những người theo Gia Long, cựu thần nhà Lê và những hương cống học trò của triều đại trước như: Nguyễn Văn
Thành “lấy Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, ban cho sắc ấn” [61,
tr 528] hay “Nguyễn Đình Đắc làm Chưởng dinh lãnh chức Trấn thủ Sơn Nam thượng” [61, tr 504] Năm 1802, vua Gia Long ra chiếu dụ “Mới đây giặc Tây Sơn can phạm đạo thường, làm cho trời đất tối đen trong lúc ấy có nhiều người
ẩn nấu, không muốn làm quan cho giặc, mà ôm đất giữ tài là để chờ thời Nay đảng giặc dẹp yên, võ công cả định, chính là buổi chân hưng văn hóa, xây dựng trị bình Nhân tài trong đời há chịu cùng với cỏ cây mục nát sao? Vậy nên báo cáo cho nhau, đều đến hành tại …ta sẽ nghe lời nói thử việc làm, tùy tài bổ dụng” [61, tr 507] Những năm tiếp theo lựa chọn quan lại thông qua
khoa cử Các quan chức xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau thông qua khoa cử, họ được triều đình bổ nhiệm vào những chức vụ khác nhau
Tầng lớp địa chủ vừa có thế trong quan trường vừa có nhiều uy quyền ở
làng xã Bên cạnh đó còn có các thổ tù ở các vùng dân tộc thiểu số “các thổ hào
Trang 32đều được thưởng thụ cai đội, đội trưởng, cai thuộc, ký thuộc, cai tổng, phó cai tổng khác nhau” [61, tr 572], hoặc “những phủ huyện châu thổ dân ở Yên Quảng, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng và Thanh Nghệ thì lấy quan người thổ cho quản lãnh” [61, tr 518]
Tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, dân nghèo thành thị, và đông đảo nhất là nông dân đây chính là bộ phận chính tạo ra của cải cho xã hội và cũng
là đối tượng bóc lột chính của quan lại, địa chủ Họ có ít nhiều ruộng đất tư để
cày cấy, sinh sống Thêm vào đó là phần ruộng công nhỏ nhoi “Dân đinh được cấp 6,5 phần, cô nhi quả phụ được cấp 3 phần, dân đinh già yếu được cấp 5 phần” [39, tr 145] vừa xa, vừa xấu Nhiều người phải chạy vạy buôn bán ở các
chợ làng, chợ huyện hoặc làm thủ công, gánh vác thuê cho các nhà buôn bán Đây cũng chính là lớp người gánh chịu mọi tai họa của tự nhiên như: hạn hán,
lũ lụt, vỡ đê…Dưới thời Gia Long có 12 năm bị lụt đó là các năm 1803 (Bắc Thành), 1804 (Bắc Thành, Thanh Hóa), 1806 (Kinh Bắc,Sơn Tây, Hải Dương),
1808 (Quảng Bình, Bình Hòa), 1809 (Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây), 1813 (Quãng Ngãi, Bình Định) 1815 (Sơn Tây, Sơn Nam), 1816 (Phú Yên), 1818 (Nghệ An, Định Tường), 1819 (Thanh Hóa và Bắc Thành) và năm 1808 thì hứng chịu hạn (Quãng Ngãi) [39, tr.173] Thêm vào đó họ còn phải chịu mọi
thiệt thòi, bất công của xã hội nạn tham quan, ô lại: “Bắc Thành từ cuối Lê tới đây, quyên cường đảo lộn, chính sự trễ tràng, bọn hào hữu vũ đoán trong làng xóm” [61, tr 555]
Tiểu kết
Thời Gia Long tuy có những bất cập về mặt nhân sự, nhưng ông đã hết sức cố gắng với tham vọng của vị hoàng đế khai sáng vương triều, ông muốn xây dựng một đất nước với cơ sở kinh tế, chính trị, quốc phòng vững mạnh, thống nhất từ trung ương đến địa phương để xóa hết đi tình trạng yếu kém, phân tán sau một thời kỳ chia cắt kéo dài
Trang 33Như vậy, bên cạnh sự nhất thể hóa về tổ chức chính quyền địa phương ở thời kỳ đầu của triều Nguyễn có sự tồn tại song song của hai khu vực hành chính gần như dộc lập Bắc và Nam đó là hai trấn Bắc Thành và Gia Định Thành Hai trấn độc lập này tuy do hai viên Tổng trấn đứng ra chịu trách nhiệm đặt dưới sự chỉ định trực tiếp của nhà vua, nhưng trên thực tế, hai khu vực này
có mối liên hệ như thế nào với triều đình trung ương là điều cần phải xem xét Bởi vì về phía triều đình trung ương, nói cho đúng ra là chỉ quản lí trực tiếp được 4 dinh và 7 trấn còn Gia Định Thành và Bắc Thành nhà vua chỉ quản lí thông qua hai viên Tổng trấn đó là điều hết sức bất cập
Trang 34Chương 2 KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG 2.1 Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn
2.1.1 Ruộng đất công làng xã
Ruộng đất công làng xã, về nguyên tắc thuộc sở hữu nhà nước Tuy nhiên xét nhiều khía cạnh, làng xã là người chiếm hữu cũng đồng thời là người
đồng sở hữu loại ruộng đất này
Nhìn chung vào thời Gia Long ruộng đất công làng xã trên toàn quốc đã
bị thu hẹp Tỷ lệ ruộng đất công phân bố không đều giữa các địa phương Phan
Huy Chú chỉ cho biết những nét khái quát nhất về tỷ lệ ruộng công ở các địa
phương vào khoảng cuối thời Gia Long: “nước ta duy chỉ có trấn Sơn Nam Hạ
là có nhiều ruộng công, đất bãi công…còn các xứ khác thì hạng ruộng công có không mấy” [63, tr.30-31] Hoặc “theo địa bạ các xã huyện Từ Liêm năm Gia Long thứ 4 (1805), trong số 39 xã thuộc 11 tổng của huyện, trừ xã Phương Quan tổng Thượng Ốc, tài liệu ghi thiếu số liệu ruộng công, có 6 xã hoàn toàn không có ruộng công Số 29 xã còn lại, ruộng công chỉ chiếm tỷ lệ từ 0,2% đến 31,69% toàn bộ diện tích ruộng đất công tư trong xã.” [72, tr.80] Ngoài ra
“chỉ có 2 xã thuộc tổng Phú Gia, tỷ lệ ruộng công chiếm quá nửa tổng số diện tích đất Xã Nhật Tảo, ruộng công chiếm 68,94% Xã Phú Gia, ruộng công chiếm 55,37% Còn xã Trang Linh Thượng, tổng Thượng Ốc là trường hợp duy nhất có tỷ lệ ruộng công tư chênh lệch nhau ít thôi: ruộng công chiếm 14,83%
và ruộng tư chiếm 9,81% diện tích ruộng đất cả xã.” [72, tr 80] Bên cạnh đó
tác giả Lê Kim Ngân còn cho biết thêm tình hình ruộng đất công tư toàn huyện
huyện Từ Liêm lúc đó “ruộng công chỉ chiếm 9,53% diện tích công tư điền thổ toàn huyện Ruộng tư chiếm 21,24% diện tích ruộng đất công tư” [72, tr.81]
Tính chất phân bố không đều của ruộng đất công xuất phát từ nhiều nguyên nhân địa lý và lịch sử khác nhau Ở các khu vực đất đai đã được khai
Trang 35phá lâu đời sự thu hẹp của tuộng đất công chủ yếu do quá trình tư hữu hóa Mà quá trình này dù chậm chạp, khó khăn thì đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX cũng đã đi được những bước đi căn bản Vì thế phần lớn vùng đồng bằng trung
du Bắc Bộ và các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tỷ lệ ruộng công đã thu hẹp Các tỉnh từ Quảng Bình trở vào đến Thừa Thiên - Huế hầu hết các làng xã mới được thành lập trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam Công cuộc chinh phục để rồi hòa đồng, cộng cư với dân bản địa và cuộc sống chông chênh nơi xứ lạ buộc người Việt phải gắn kết lại với nhau Làng xã vùng này vì thế được tái thiết theo mô hình cũ vừa bảo lưu lâu dài tính cố kết cộng đồng Ruộng đất công ở đây, vốn tồn tại phổ biến do kết quả của công cuộc khai hoang mở đất lập làng, cùng với những lý do trên nên ít bị đụng chạm đến trong suốt mấy thế kỷ liền Ngoài ra không thể không kể đến tác động của các nhân tố chính trị Khu vực này là thủ phủ của chính quyền chúa Nguyễn và nhà Nguyễn về sau, áp lực hành chính quân sự của Nhà nước trong một chủ trương nhất quán nhằm bảo vệ, duy trì và mở rộng sở hữu công cộng rõ ràng đã phát huy tác dụng
Sau khi đánh bại vương quốc Chiêm Thành vào cuối thế kỉ XV, người Việt đã vững vàng dừng chân lập nghiệp ở vùng Nam Trung Bộ Những người nông dân quả cảm vượt đèo Hải Vân đến đây khai phá đất đai mặc dù họ vẫn phải nương tựa vào nhau vẫn lập làng, lập ấp nhưng cố kết cộng đồng làng xã
đã có phần lỏng lẻo hơn Tuy nhiên lý do chủ yếu của thu hẹp ruộng công ở đây vẫn là do phương thức khai hoang Các chúa Nguyễn, để mở rộng lãnh thổ và cũng cố thế lực cát cứ của mình đã khuyến khích nông dân bằng cách cho phép biến một bộ phận hoặc toàn bộ đất đai khai khẩn được thành sở hữu tư nhân
Vùng Nam Bộ cũng được khai phá với phương thức như vậy Ở sự phát triển tiến hóa của chế độ ruộng đất hầu như không phải trải qua quá trình tư hữu hóa ruộng công vì ngay từ đầu ruộng đất khai phá đã thuộc sở hữu tư nhân Một ít ruộng công tồn tại ở nửa đầu thế kỉ XIX chủ yếu là kết quả của chính
Trang 36sách khai hoang thời kỳ này theo đó ruộng đất khai khẩn được thuộc sở hữu Nhà nước
Như vậy, ta có thể thấy rằng tỷ lệ ruộng đất công thu hẹp do loại hình sở hữu này không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế đất nước vào đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên, sự phân bố rất không đều của ruộng đất công cho thấy vai trò của nó ở từng nơi, từng địa phương là khác nhau Có những vùng
có nhiều làng ruộng công vẫn là tư liệu sản xuất chủ yếu của cư dân, nhưng ở nhiều nơi ruộng công đã mất hoàn toàn vai trò trong đời sống kinh tế- xã hội
Chính sách đối với ruộng đất công làng xã của nhà nước: Vua Gia Long
đã thi hành các chính sách khác nhau để duy trì, bảo vệ, mở rộng ruộng đất
công làng xã
Năm 1803, vua Gia Long nhắc lại việc cấm các làng xã không được bán
đứt hay cầm cố ruộng công “Theo lệ cũ thì công thổ quân cấp cho dân đem bán
là có tội” [61, tr 560] Như vậy, từ những triều đại trước đã thực hiện quyền sở
hữu của mình đối với ruộng đất công làng xã Và đến khi Gia Long lên ngôi sau một năm cũng thực hiện chính sách này, đã chính thức công bố quyết định
cấm bán ruộng đất công làng xã vào năm 1803 sắc chỉ ghi: “Phàm xã dân có công điền công thổ đều không được mua bán riêng, làm trái là có tội Ai mua nhầm thì mất tiền Nếu nhân có việc mà bán cho người mướn để chi dùng trong
xã thôn thì chỉ hạn trong 3 năm, quá hạn sẽ bị tội nặng Người nào tố cáo đúng thực thì thưởng cho ruộng nhất đẳng một mẫu, cày cấy 3 năm hết hạn trả về dân” [61, tr 560] Vậy là trên pháp lệnh, Nhà nước tỏ ra kiên quyết và tích cực
ngăn cấm việc bán ruộng đất công làng xã
Bản thân làng xã cũng yêu cầu tính không thể nhượng bán đối với ruộng đất công của làng Vì vậy lệ cấm bán ruộng đất công làng xã trước hết mang mục đích ngăn cấm việc tư hữu hoá nhiều ruộng đất thuộc sở hữu công cộng, chặn đứng sự hao hụt ruộng đất công về mặt số lượng, diện tích Vả lại khi nhà nước ra lệnh cấm bán ruộng đất công, nhà nước phong kiến Nguyễn chưa bao
Trang 37giờ quy định rõ thêm ai có quyền đem bán ruộng đất ấy Và điều đó cho ta thấy rằng, đối với ruộng công làng xã hầu như không ai, không tập thể nào có quyền đem bán cả Trong khi đó nhà nước lại thừa nhận cho làng xã có thể đem ruộng đất công cho thuê một thời hạn nhất định 3 năm, với điều kiện việc đó là nhu cầu thực sự, thiết yếu của làng xã của tập thể
Khi các công trình công cộng xâm phạm vào ruộng đất công làng xã cũng như tư nhân, thì nhà nước có trách nhiệm đền tiền và miễn tô thuế Đối với tất cả các công trình “Chiểu giá” tức là chiểu theo giá tiền mua bán ruộng đất lúc bấy giờ ở địa phương đó Nếu đền bù theo giá bán thì rõ ràng nhà nước
đã bỏ tiền ra mua lại số ruộng đất đó và chính vì vậy nhà nước đã thừa nhận quyền sở hữu các ruộng đất được đền bù ấy không thuộc về nhà nước mà thuộc
về các tư nhân hay làng xã
Năm 1809, vua Gia Long định mức đền bù như sau:“Ruộng hạng nhất, mỗi mẫu 100 quan, ruộng hạng nhì, mỗi mẫu 75 quan, ruộng hạng ba mỗi mẫu
50 quan”[2, tr 81]
Ngoài ra vua Gia Long cũng cố giữ số lượng ruộng công khỏi bị sứt mẻ nhiều Mọi thứ ban cấp ruộng đất trích từ ruộng công ra đều hầu như bị bãi bỏ hết Riêng việc ban cấp tự điền là còn được duy trì, nhưng cũng bị hạn chế rất nhiều và có khi còn được trích cả ruộng tư nữa Năm 1802, Gia Long lấy một vạn mẫu ruộng cả công lẫn tư ban làm tự điền cho con cháu vua Lê Hoặc năm
1815 triều Nguyễn sai lưu thủ Quảng Nam chi tiền kho 3 vạn quan và 3000 lạng bạc để mua ruộng của dân dùng vào việc tế tự ông tổ ba đời của Tống quốc công phu nhân Lê Thị Đó là biện pháp tránh làm hao hụt số lượng ruộng đất làng xã trong trường hợp phải ban cấp nhiều
Bên cạnh những biện pháp trên, nhà nước còn tích cực tạo điều kiện để phát triển số lượng công điền công thổ Triều Nguyễn khôi phục lại những ruộng đất công bị chiếm đoạt từ trước, đồng thời dùng quyền lực cắt xén bất cứ loại ruộng đất nào thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào để nhập vào ruộng đất
Trang 38công làng xã Trong thời gian trị vì của mình, Gia Long đã ban hành 2 quyết định mở rộng diện tích công điền
Đồng thời với công cuộc khai hoang của dân, Gia Long còn trực tiếp cho
tù binh đi vỡ đất rồi trích toàn bộ hay một phần ruộng khẩn được giao cho làng
xã sở tại để mở rộng diện tích công điền Ví dụ: Quảng Định năm 1818 cấp toàn
bộ ruộng đất do tù phạm khẩn được ở Tam Độc cho xã sở tại làm công điền
Cùng với các biện pháp trên, nhà nước đã ban hành chính sách “Quân điền” 1804, tức là chỉ sau 2 năm Gia Long lên ngôi Mục đích của chính sách này là nhằm duy trì và bảo vệ ruộng đất công làng xã, lấy đó làm cơ sở để giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội và ổn định tình hình đất nước Chính sách quân điền quyết định rất tỷ mỉ và chi tiết những đối tượng được nhận ruộng, khẩu phần ruộng đất của từng đối tượng và thời gian chia lại ruộng Quan lại vẫn là đối tượng được nhà nước ưu tiên ban cấp ruộng đất cho họ nhiều hơn cả, khẩu phần của họ tuỳ theo chức bậc được chia từ 8-18 mẫu Tiếp sau là binh lính được chia từ 7-9 mẫu Năm 1806 nhà nước ban hành thêm chính sách
“Lương điền” ưu tiên chia thêm cho binh lính Dân đinh được chia 6, 5 phần Ngoài ra Nhà nước còn có phần quan tâm đến những đối tượng chính sách xã hội (dân đinh già ốm 5 phần, lão nhiêu cố cùng, trẻ em mồ côi, tàn phế, đàn bà góa 3 phần)
Về thời hạn chia ruộng công, các triều đại trước quy định là 6 năm, còn thời Gia Long đã sửa lại 3 năm chia lại ruộng một lần Sở dĩ như vậy vì trong một thời gian ngắn quyền sở hữu công cộng của làng xã và nhà nước đối với ruộng công được đảm bảo hơn, sẽ tránh khỏi tình trạng “biến công vi tư” do thời gian dài tạo nên những thuận lợi cho các chủ chiếm hữu Bên cạnh đó, chia cấp trong một thời gian ngắn còn có thể nắm vững năng suất ruộng đất và do đó kiểm tra được chắc chắn việc thu nộp tô thuế Việc làm này đã gây tác động đến độ phì của đất vì khoảng cách trong hai lần chia ruộng ngắn ngủi khiến cho người canh tác thửa ruộng không chú ý chăm sóc đất đai mà chỉ biết khai thác triệt để từ đất đai, làm cho đất đai ngày càng cằn cỗi
Trang 39Nhìn chung những chính sách của Gia Long nhằm khôi phục chế độ sở hữu công
Tô thuế ruộng đất công làng xã: Tô thuế chính là nguồn lợi để nuôi sống
bộ máy chính quyền phong kiến Chính quyền phong kiến cũng dựa vào tô thuế
để tăng thêm sức mạnh quyền lực trong tay đối với sở hữu ruộng đất Bởi có quyền chiếm hữu ruộng đất thì cũng đồng thời có quyền chiếm hữu địa tô, và mặt khác chiếm hữu địa tô chính là hình thức biểu hiện quyền sở hữu ruộng đất Người dân không những phải chịu nhiều khoản thuế khác nhau mà còn
phải chịu thuế ruộng khá nặng nề
Ngay năm 1803, thuế ruộng đất công làng xã đã được quyết định Gia Long chia cả nước thành 4 khu vực đánh thuế Mỗi khu vực chịu một mức thuế khác nhau cụ thể như sau:
Khu vực I bao gồm: Các phủ Quảng Bình, Triều Phong, Điện Bàn, Thăng Hoa, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Hoà, Diên Khánh
Hạng nhì (nhị đẳng điền) nộp 30 thăng/mẫu ruộng công cũng như ruộng tư Hạng 3 (tam đẳng điền) nộp 20 thăng/mẫu ruộng công cũng như ruộng tư Khu vực II bao gồm: Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam thượng, hạ và Phủ Phụng Thiên
Trang 40Khu vực IV bao gồm: Bình Thuận, Gia Định, Định Tường, Long Xuyên, Kiên Giang
Hạng nhất nộp 188 bát/mẫu; loại Sơn điền (ruộng núi), Thảo điền (ruộng cỏ) nộp 282 thăng/mẫu
Hạng nhì nộp 141 bát/mẫu; loại Sơn điền (ruộng núi), Thảo điền (ruộng cỏ) nộp 188 thăng/mẫu
Hạng ba nộp 94 bát/mẫu; loại Sơn điền (ruộng núi), Thảo điền (ruộng cỏ) nộp 141 thăng/mẫu
Tô thuế đất công, tư Gia Long quy định các bãi phù sa cấy lúa đều phải
đóng thuế cho nhà nước là 120 bát/mẫu Đất trồng mía là 10 thăng/mẫu, các loại đất trồng cây khác cũng phải đóng thuế bằng tiền [39, tr 162]
Từ những năm đầu thống trị, vua Gia Long đã quyết định tô thuế ruộng đất công làng xã một cách hệ thống và toàn diện hơn cả vì ông hi vọng và trông đợi nhiều ở loại ruộng đất công làng xã này, muốn biến nó trở thành cơ sở kinh
tế chủ yếu của chế độ phong kiến tập quyền
Tô thuế ruộng đất công ở mỗi khu vực đều ở mức cao Công điền công thổ đã trở thành đối tượng chủ yếu trong chính sách tô thuế ruộng đất của triều đình Việc đánh thuế còn được thực hiện ở ruộng đất công vắng chủ chiếm hữu Nghĩa là không một mảnh ruộng nào cho thu hoạch thoát khỏi lệ nộp thuế
Ngay năm 1802, khi Gia Long mới lên ngôi, đã cho các phủ huyện Bắc Thành đi khám đất của dân lưu tán Nếu dân làng bên cạnh cấy chiếm thì cho dân khai nhận và phải nộp thuế theo đẳng hạng ruộng công, tư, thu tiền thuế
trước: “Phàm ruộng đất của dân xiêu tán, quan sở tại phải lập giới hạn rõ ràn, chia cấp cho quan quân cày cấy mà được tha thuế, làng lân cận không được cày cấy Ai trót đã cày cấy rồi thì tạm thời chiếu theo hạng ruộng công tư mà thu thuế trước (ruộng công mỗi mẫu, hạng nhất thu tiền 4 quan, hạng nhì 2 quan 5 tiền, hạng ba 1 quan 5 tiền Ruộng tư, mỗi mẫu hạng nhất thu 1 quan 5 tiền, hạng nhì 1 quan 2 tiền, hạng ba 1 quan)” [61, tr 540]