1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân

54 1,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nhằm Đảm Bảo An Tồn Cho Hoạt Động Của Các Quỹ Tín Dụng Nhân Dân
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 624,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân

Trang 1

Giải pháp nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân

dân (BC; 10)

MỤC LỤC Lời mở đầu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ AN TOÀN TRONG HOẠT

ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN

1.1 Quỹ tín dụng nhân dân và vài trò của quỹ trong nền kinh tế

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quỹ TDND

1.1.2 Vị trí, vai trò của QTDND trong nền kinh tế

1.1.2.1 Vị trí của QTDND trong nền kinh tế

1.1.2.2 Vai trò của QTDND đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

1.2 Sự cấn thiết phải đảm bảo an toàn cho hoạt động của Quỹ tín dụng

nhân dân

1.2.1 Mục tiêu hoạt động và quá trình trưởng thành của quỹ TDND

1.2.2 Đảm bảo an toàn trong hoạt động là cơ sở cho sự phát triển của quỹ

TDND

1.3 Điều kiện để đảm bảo an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân

dân

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ MỨC ĐỘ AN TOÀN

CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN

2.1 Thực trạng hoạt động và khả năng đảm bảo an toàn của Quỹ tín dụng

nhân dân

2.1.1 Kết quả trong công tác phát triển thành viên

2.1.2 Kết quả trong công tác phát triển nguồn vốn

2.1.3 Kết quả trong công tác sử dụng vốn

2.1.4 Kết quả trong công tác kế toán - tài chính

2.1.5 Kết quả trong công tác quản trị, điều hành và kiểm soát quỹ TD

2.2 Nguyên nhân của sự thiếu an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng

nhân dân

Trang 2

2.2.1 Những biểu hiện về sự thiếu an toàn trong hoạt động của QTDND

2.2.2 Nguyên nhân của sự thiếu an toàn trên

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO

HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN

3.1 Giải pháp đảm bảo an toàn cho Quỹ tín dụng nhân dân

3.1.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và quản lý nhân sự

3.1.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định đảm bảo an toàn vốn

3.1.3 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng

3.1.4 Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống

QTDND

3.2 Giải pháp thúc đẩy tính liên kết hệ thống của Quỹ tín dụng nhân dân

3.2.1 Giải pháp để QTDND hoạt động mang tính hệ thống

3.2.2 Triển khai thành lập tổ chức liên kết phát triển hệ thống QTDND

3.2.3 Xây dựng cơ chế Quỹ an toàn cho hệ thống QTDND

3.3 Một số kiến nghị

3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước

3.3.2 Kiến nghị với Chính phủ và Quốc hội

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Vấn đề an toàn trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng, hiện nay đang là

một vấn đề sống còn, nó chi phối toàn bộ mạng lưới hoạt động và quyết định tính

hiệu quả đích thực của Tổ chức Quỹ tín dụng nhân dân cũng được coi là một định

chế tài chính, tuy có những đặc điểm khác với Ngân hàng song về cơ bản hoạt động

của Quỹ cũng đang cố gắng để thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng

khách hàng, nâng cao kết quả kinh doanh Trong hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện

chỉ thị 57/CT-TW của Bộ chính trị về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống

QTDND và quyết định 135/2000/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải

đã đến dự và chỉ đạo Hội nghị: "Tôi đề nghị các Bộ, các ngành liên quan, các đoàn

th ể và chính quyền các cấp tiếp tục dành cho hệ thống QTDND sự quan tâm đặc

bi ệt để loại hình tổ chức tín dụng này tham gia đóng góp thiết thực vào việc thực

hi ện chương trình xóa đói, giảm nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghi ệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX."

Xuất phát tự ý nghĩa thiết thực trên, việc tìm ra những giải pháp nhằm

thúc đẩy sự phát triển và hoạt động an toàn của Quỹ đang là một vấn đề bức

thiết hơn bao giờ hết Trong phạm vi của một Chuyên đề tốt nghiệp, tôi rất

mong đưa ra được một cách nhìn tương đối toàn diện từ lý luận cho đến thực

tiễn về vấn đề này Đề tài: "Giải pháp nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động

của các Quỹ tín dụng nhân dân" gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về vấn đề an toàn trong hoạt động của QTDND

Chương 2: Thực trạng hoạt động và mức độ an toàn của QTDND trong

thời gian gần đây

Chương 3: Giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của Quỹ

Hi vọng rằng, đề tài nghiên cứu này sẽ góp thêm một tiếng nói nhằm

khẳng định hơn nữa tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn đối với quá

trình hoạt động của các Tổ chức tín dụng nói chung và của Qũy TDND nói

riêng

Trang 4

Ngày 13 tháng 8 năm 2001, Chính phủ đã ra Nghị đinh số 48 về tổ chức và

hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, theo đó ta có thể hiểu:

Qu ỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác

ho ạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả

kinh doanh, th ực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm

phát huy s ức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có

hi ệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống

Trong giai đoạn Quỹ còn được thí điểm thành lập, có 3 cấp đó là Quỹ tín

dụng cơ sở, Quỹ tín dụng khu vực và Quỹ tín dụng Trung ương Mỗi Quỹ là một

pháp nhân riêng, hoạt động độc lập song được liên kết chặt chẽ với nhau trong

cùng một hệ thống để điều hòa, phân phối vốn

Hiện nay, QTDND đã được cơ cấu lại theo mô hình gồm QTDND trung

ương và các QTDND cơ sở Phạm vi của một quỹ cơ sở thường là địa bàn của

một xã một phường ở nông thôn, do các thành viên là cá nhân hoặc hộ gia đình

tự nguyện góp vốn Có thể nói quỹ cơ sở cũng như một ngân hàng, huy động

vốn tại chỗ và cho vay các thành viên hoặc người nghèo không phải là thành

viên cư trú trên địa bàn hoạt động Từ những quỹ cơ sở này mà quỹ Trung ương

được thành lập nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ

thống quỹ tín dụng nhân dân

1.1.1.2 Đặc điểm

Ta có thể rút ra một số đặc điểm của QTDND như sau:

Trang 5

Thứnhất: Được thành lập do các thành viên (Thể nhân, pháp nhân) tự

nguyện tham gia theo qui định của pháp luật Thành viên tham gia QTDND có

quyền sở hữu và quản lý mọi tài sản và hoạt động của QTDND, thành viên vừa

là người góp vốn, vừa là người gửi vốn và vay vốn, thành viên được hưởng các

dịch vụ và kết quả hoạt động của QTDND

Thứ hai: Phạm vi hoạt động của QTDND chủ yếu ở các địa bàn nông

nghiệp nông thôn, các tụ điểm dân cư gắn với địa bàn hành chính cấp xã phường

hoặc liên xã, liên phường, có thể trong phạm vi ngành nghề

Thứ ba: QTDND hoạt động trong một hệ thống liên kết với các QTDND

khác, có hệ thống từ Trung ương đến khu vực (tỉnh) và cơ sở Mỗi QTDND là

một đơn vị kinh tế độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thông

qua hoạt động điều hoà vốn, tư vấn về kỹ thuật nghiệp vụ, thông tin, đào tạo

cán bộ, cơ chế phân tán và an toàn rủi ro, kiểm tra, kiểm soát trong cả hệ thống

nhằm đảm bảo hệ thống QTDND phát triển bền vững

Thứ tư: QTDND hoạt động có điều kiện gần và bám sát khách hàng và

thành viên, đây là thế mạnh nhất của QTDND, do đó QTDND có thể nắm bắt

được nhu cầu và khả năng của khách hàng và thành viên nhanh nhất so với các

Trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước thì nông nghiệp- nông thôn

chiếm một vị trí hết sức quan trọng Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung

ương Đảng lần thứ 5, khoá VII đã đề ra những định hướng cơ bản về mục tiêu,

phương hướng, chính sách và các biện pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát

triển kinh tế - xã hội nông thôn; trong đó, xác định những yêu cầu, nhiệm vụ của

hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn

nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương lần thứ 5

Trang 6

Nhu cầu vốn cho sản xuất đối với nông nghiệp nông thôn ngày càng lớn và

bức thiết đối với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Địa bàn nông

thôn rộng lớn, yêu cầu sản xuất kinh doanh đa dạng, cần phát huy hoạt động của

cả Ngân hàng thương mại và HTXTD mới đáp ứng được yêu cầu huy động vốn

và cho vay nhất là kinh tế hộ đến tận thôn xã Nhưng từ khi có Pháp lệnh Ngân

hàng, HTXTD, Công ty tài chính, trên 6000 Hợp tác xã tín dụng không đủ điều

kiện đã phải ngừng hoạt động, tập trung thu hồi vốn trả nợ cho dân; trong đó

trên 2000 Hợp tác xã tín dụng đã thanh lý, giải thể Đến tháng 6/1993 chỉ có 62

HTXTD, 10 ngân hàng cổ phần nông thôn được điều chỉnh từ gần 100 HTXTD

cũ đã được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động là quá ít so với yêu

cầu triển khai thị trường tiền tệ, tín dụng ở nông thôn

Mặt khác ở nông thôn đang xuất hiện các hình thức tín dụng tư nhân, cho

vay với lãi suất cao, đó chính là nhân tố kìm hãm sự phát triển sản xuất Tổ chức

lại HTXTD theo mô hình mới gọi là Quỹ tín dụng nhân dân nhằm huy động tối

đa nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư, các tổ chức để phục vụ lại

chính họ là vấn đề cần thiết nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong nông

nghiệp nông thôn đáp ứng yêu cầu thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ 5

khoá VII của Ban chấp hành TW Đảng Thành lập Quỹ tín dụng nhân dân theo

mô hình mới góp phần đa dạng hoá Tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn; tạo

lập một hệ thống kinh doanh tiền tệ có sự liên kết chặt chẽ bởi lợi ích của mọi

thành viên trong hệ thống QTDND, cũng như yêu cầu triển khai thực hiện chính

sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn

1.1.2.2 Vai trò của QTDND đối với sự nghiệp phát triển kinh tế

Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng hợp tác, là tổ chức kinh tế đóng

vai trò trung gian giữa những người tiết kiệm và người đầu tư trong phạm vi

hoạt động, đã tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho thành viên và khách

hàng gửi vốn và vay vốn, cung cấp các dịch vụ một cách nhanh chóng và thuận

tiện giúp cho thành viên có vốn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và đời sống

Quỹ tín dụng nhân dân là đầu mối tập trung những nguồn vốn tản mạn,

tiềm ẩn trong dân cư, nhất là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, những người buôn

Trang 7

bán nhỏ ở ven đô, để tạo ra quỹ tiền tệ tập trung qua đó cung cấp cho thành viên

có nhu cầu về vốn, hỗ trợ cho hệ thống QTDND đảm bảo khả năng chi trả và

thanh toán kịp thời và giữ chữ tín với khách hàng

Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ngày một phát triển đã góp phần hạn chế

và đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi, nhất là ở nông thôn, những

vùng xa xôi hẻo lánh mà các Tổ chức tín dụng khác không thể vươn tới được

Thông qua quá trình hoạt động của QTDND còn tạo ra môi trường lành mạnh về

tiền tệ tín dụng để phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn

Quá trình hoạt động của QTDND góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển

kinh tế xã hội chung, ngoài ra còn giải quyết hài hoà mối quan hệ phân phối

giữa nhà nước, QTDND và các thành viên Kết quả kinh doanh của QTDND (

nếu có lãi) giúp QTDND thực hiện đầy đủ chính sách thuế đối với nhà nước,

ngoài ra QTDND còn giành một phần để tích luỹ nội bộ và chia cổ tức cho

thành viên theo vốn góp và kết quả hoạt động

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO HOẠT

ĐỘNG CỦA QTDND

1.2.1 Mục tiêu hoạt động và quá trình trưởng thành của Quỹ

Ngày 27 tháng 7 năm 1993 được đánh dấu là một mốc sự kiện quan trọng

với sự ra đời của hệ thống QTDND Việt Nam theo quyết định số 390/TTg của

thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Có thể nói rằng, dựa theo mô

hình các Quỹ tiết kiệm và tín dụng Desjardins ở Québec - Canada thì các

QTDND là các định chế tài chính tự chủ ở quy mô nhỏ hoạt động trên địa bàn

từng xã nông thôn ở Việt Nam

Như vậy, việc triển khai hình thành hệ thống QTDND là nhằm mục tiêu

phát triển một mô hình kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tín dụng trên địa bàn nông

thôn, khai thác được nguồn vốn tại chỗ, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho sản

xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống của các thành viên, thực hiện mục tiêu xóa

đói giảm nghèo và hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn

Ngày 5 tháng 8 năm 1995, Quỹ tín dụng Trung ương (QTDNDTW) được

khai trương hoạt động theo quyết định 162/QD-NH5 của Thống đốc NHNN

Trang 8

Việt Nam Do đó, QTDTW là một tổ chức hợp tác do các QTDND xây dựng

nên để tương trợ và tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống QTDND

QTDTW là một đầu mối của hệ thống QTDND và giữ vai trò điều hòa vốn

Giữa trung tuần tháng 9 năm 1996, đại hội thành viên QTDTW lần thứ nhất

đã được tổ chức Tại hội nghị này, cơ cấu tổ chức và hoạt động của QTDTW đã

chính thức được ổn định

Cùng với mục tiêu phát triển lâu dài và mở rộng mạng lưới hoạt động, ngày

20 tháng 1 năm 1998, chi nhánh đầu tiên của QTDTW tại TP Hồ Chí Minh với

vai trò phụ trách điều hòa vốn cho các QTDND phía Nam đã được khai trương

hoạt động

Sau 7 năm thí điểm thành lập, hệ thống QTDND được đánh giá là đã thu

được những thành công đáng kể, góp phần không nhỏ vào công cuộc xóa đói

giảm nghèo, ổn định cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam Từ đó, Bộ

Chính trị đã có Chỉ thị 57/CT-TW tiếp tục ổn định và phát triển mô hình

QTDND trên toàn quốc Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số

135/2000-QDDTTg nhằm củng cố hoàn thiện và phát triển, cùng với đó hệ

thống QTDND cũng được chuyển từ mô hình 3 cấp sang 2 cấp

Năm 2001, QTDTW tiến hành chuyển đổi QTDKV thành chi nhánh

QTDTW, bước đầu thực hiện mô hình 2 cấp Đầu tiên là việc thành lập chi

nhánh QTDTW tại Nghê An, tiếp đó lần lượt 21 QTDKV trên toàn quốc được

chuyển đổi thành chi nhánh QTDTW Đây là năm đánh dấu bước ngoặt quan

trọng trong quá trình phát triển của QTDTW, nâng tầm quy mô hoạt động, giảm

các khâu trung gian, phấn đấu vì mục đích tương trợ cộng đồng và hỗ trợ các

QTDND cơ sở

Sau 3 năm thực hiện chỉ thị 57, hệ thống QTD đã được tập trung củng cố

chấn chỉnh, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và kiểm soát Khối lượng vốn

huy động và cho vay tăng nhanh, chất lượng hoạt động được cải thiện, mô hình

tổ chức toàn hệ thống được hoàn thiện một bước, đồng thời hệ thống QTDND

ngày càng tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các cấp, ngành và đông đảo

tầng lớp nhân dân

Trang 9

Trong những năm tới, mục tiêu của QTDTW là thông qua kiến nghị về giải

pháp tăng vốn điều lệ lên con số 350 tỷ, thống nhất đổi tên QTDTW thành Ngân

hàng hợp tác và phát triển, kêu gọi tập thể cán bộ công nhân viên phát huy tinh

thần đoàn kết, phấn đấu xây dựng QTDTW và hệ thống QTDND phát triển vững

mạnh

1.2.2 Đảm bảo an toàn trong hoạt động là cơ sở cho sự phát triển của

QTDND

Ngân hàng Nhà nước Việt nam được Chính phủ giao trách nhiệm triển khai

thực hiện việc tổ chức lại Hợp tác xã tín dụng theo mô hình mới Cuối năm 1992

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã trình Bộ chính trị và Chính phủ “Đề án thí

điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân theo mô hình mới” Ngày 2/6/1993 Thủ

tướng Chính phủ có Quyết định số 260/TTg về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung

ương thí điểm thành lập QTDND và ngày 27/7/1993 Thủ tướng Chính phủ có

Quyết định số: 390/TTg về việc triển khai đề án thí điểm thành lập QTDND

Việc tổ chức lại Hợp tác xã tín dụng theo mô hình QTDND mới là chủ trương

lớn, liên quan đến hàng triệu người, lại vừa trải qua sự đổ vỡ hàng loạt Hợp tác

xã tín dụng và Quỹ tín dụng đô thị, lòng tin của người dân đối với tổ chức này

giảm sút, đây là mô hình mới chúng ta chưa có kinh nghiệm, do đó phải thí điểm

để rút kinh nghiệm triển khai từng bước vững chắc,chặt chẽ mới đảm bảo sự

thành công để mở rộng trong phạm vi cả nước

Ngoài ra, các QTDND hoạt động ở xa trung tâm, đa số có quy mô nhỏ,

tiềm lực tài chính hạn chế, nhất là về vốn tự có dẫn đến khả năng huy động vốn

khó khăn Ở vùng các nông thôn, dân cư lại nghèo, chưa có tập quán giao dịch

ngân hàng, uy tín với khách hàng bị hạn chế, cộng thêm việc các QTD phải huy

động với lãi suất cao nên kết quả kinh doanh chưa thể đạt mục tiêu mong muốn

Xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết của vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát

triển hệ thống mà việc đảm bảo an toàn trong hoạt động phải được đặt lên hàng

đầu

Một lý do nữa cũng rất đáng lưu ý đó là những rủi ro tiềm ẩn của hình thức

cho vay tín chấp, trong khi đối tượng được vay lại là các hộ nông dân, hoạt động

Trang 10

sản xuất nông nghiệp thì chịu ảnh hưởng bất thường của thiên nhiên Điều này

dẫn đến những báo động về vấn đề đảm bảo an toàn trong hoạt động của các

QTDND

Thêm nữa, hoạt động của Hệ thống QTDND từ khi ra đời đã góp phần thúc

đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn cụ thể là:

Tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân nhất là một bộ phận người lao

động không có công ăn việc làm trong lúc nông nhàn; góp phần thúc đẩyviệc

khôi phục, mở rộng ngành nghề và dịch chuyển cơ cấu kinh tế trên địa bàn

Thông qua việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư để cho vay trực tiếp

các thành viên đã hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trên địa bàn có QTDND

hoạt động

Sự ra đời của QTDND đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên gửi

vốn, vay vốn khi cần thiết và có điều kiện tương trợ giúp đỡ nhau mở rộng sản

xuất, kinh doanh, cẩi thiện và nâng cao đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo

trên địa bàn

Góp phần hình thành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn, xoá đi mặc cảm,

sự thiếu tin tưởng của người dân đối với sự đổ vỡ của hợp tác xã tín dụng trước

đây đồng thời tạo được sự đồng tình và ủng hộ của cấp uỷ, chính quyền đối với

mô hình QTDND

Chính do vai trò của hệ thống QTDND đối với sự phát triển kinh tế xã hội,

mặt khác xuất phát từ thực trạng hoạt động của các QTDND việc củng cố và

hoàn thiện hệ thống QTDND sau tổng kết thí điểm là hết sức cấp bách nhằm

khắc phục những yếu kém, tồn tại về tổ chức và hoạt động với mục đích đảm

bảo an toàn và phát triển của hệ thống QTDND trong nền kinh tế

1.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT

ĐỘNG CỦA QTDND

QTDND là tổ chức kinh tế hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng

và dịch vụ Ngân hàng, quá trình hoạt động của QTDND cũng có một số đặc

điểm và đặc thù khác với các tổ chức kinh tế và Tổ chức tín dụng khác Do đó

Trang 11

việc thành lập và phát triển của QTDND chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều

nhân tố, kể cả những nhân tố về lĩnh vực kinh tế và những nhân tố thuộc lĩnh

vực xã hội, những nhân tố đó là:

- Khi xây dựng QTDND phải tuân theo nguyên tắc Tự nguyện không gò

ép, dân chủ, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm, đoàn kết tương trợ Xuất phát từ

nhu cầu, khả năng, bối cảnh của từng địa phương cũng như của cả nước để xác

định quy mô và số lượng phát triển QTDND trong từng giai đoạn

- Mỗi QTDND là một pháp nhân độc lập, muốn hoạt động an toàn và phát

triển bền vững bắt buộc các QTDND phải tuân thủ những quy định của pháp

luật, tránh việc hoạt động của QTDND bị lệ thuộc quá nhiều vào Ngân hàng nhà

nước

- Đội ngũ cán bộ, nhân viên của QTDND là yếu tố quan trọng và không thể

thiếu được đối với quá trình phát triển Con người là nhân tố quan trọng quyết

định mọi thắng lợi, do đó đòi hỏi QTDND phải có được đội ngũ cán bộ nhân

viên có đầy đủ phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có ý thức tuân thủ pháp luật, có

trình độ kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ, có uy tín, tận tuỵ gắn bó với sự nghiệp

phát triển của QTDND

- Hoạt động của QTDND ngoài việc tự nâng cao chất lượng kiểm soát nội

bộ phải được thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên của cơ quan quản lý

nhà nước nhằm phát hiện kịp thời những QTDND yếu kém để có biện pháp xử

lý kịp thời, hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro, tiêu cực có thể xảy ra gây

mất an toàn cho hoạt động của các QTDND

- Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế nói chung và

đối với thành phần kinh tế hợp tác nói riêng cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát

triển của QTDND Hoạt động của QTDND có quan hệ mật thiết, gắn bó với hoạt

động kinh tế xã hội, nguồn vốn của QTDND nhằm bổ xung nhu cầu về vốn cho

các thành viên, do đó sự phát triển của thành viên cũng chính là kết quả hoạt

động của QTDND Vậy chính sách của nhà nước phải tạo được môi trường

thuận lợi cho các thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng và cùng phát triển

Nhà nước cần có sự giúp đỡ và quan tâm đến lĩnh vực hoạt động và đặc thù

Trang 12

riêng của QTDND, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ đồng bộ, ổn định lâu dài

và các giải pháp giúp kinh tế nông nghiệp nông thôn và QTDND hoạt động

- QTDND hoạt động an toàn và có hiệu quả nhất thiết phải có hệ thống liên

kết chặt chẽ với nhau do chính phong trào QTDND tạo dựng nên, hỗ trợ tác

động tương trợ trong mối qua hệ gắn bó, các QTDND không thể hoạt động đơn

lẻ

Ngoài các yếu tố nêu trên, để QTDND hoạt động an toàn , phát triển bền

vững còn có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng và tác động như: Điều kiện giao

thông liên lạc, trình độ phát triển và nhận thức của dân trí, các điều kiện cơ sở

vật chất phục vụ hoạt động của QTDND Như vậy quá trình hoạt động của

QTDND có rất nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển, mỗi nhân tố có mức độ

tác động khác nhau, việc nhận thức đầy đủ và khoa học các nhân tố tác động đối

với hoạt động QTDND là hết sức cần thiết, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện

thuận lợi cho QTDND hoạt động an toàn và phát triển bền vững

Trang 13

2.1.1 Kết quả trong công tác phát triển thành viên

Theo Nghị định 48 của Chính phủ, có hai loại thành viên, đó là thành viên

của QTDND cơ sở và thành viên của QTDND Trung ương

Thành viên của QTDND cơ sở bao gồm:

a) Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,

cư trú hợp pháp trên địa bàn hoạt động của QTDND cơ sở

b) Hộ gia đình cử người đại diện có đủ điều kiện và tiêu chuẩn là thành

viên QTDND cơ sở

c) Các đối tượng khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định

Thành viên của QTDND Trung ương bao gồm:

a) Các QTDND cơ sở

b) Các tổ chức tín dụng

c) Các đối tượng khác do Thống đốc NHNN quy định

Các đối tượng này có thể tự nguyện tham gia, tán thành điều lệ, góp đủ vốn

và đều có thể trở thành thành viên của QTDND

Đến năm 1995, hệ thống QTDND Việt Nam được hình thành với 567

QTDND cơ sở tại 35 tỉnh, thành phố được thí điểm và mở rộng, 5 QTDND khu

vực và QTDND Trung ương

Đến năm 1998, sau 5 năm tiến hành thực hiện thí điểm, hệ thống QTDND

đã lên con số 977 QTDND cơ sở, 19 QTDKV và QTDTW có mặt trên 53 tỉnh

thành phố trong cả nước Chính những con số trên đã đánh dấu một bước trưởng

thành của mô hình QTDND, coi đây như một pháp nhân kinh tế hợp tác, hạch

toán độc lập và chỉ có thể phát triển trong một môi trường pháp lý an toàn, lành

mạnh phù hợp với mô hình QTDND có sự quản lý của Nhà nước

Trang 14

Bảng 2.1 sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về chất lượng của hệ thống QTDND

Tỷ trọng(

%)

Số quỹ

Tỷ trọng(%)

Số quỹ

Tỷ trọng(%

) QTD cơ sở 959 100 906 100 888 100 897 100

Qua bảng trên, ta có thể thấy đến cuối năm 2003, nhóm QTDND xếp loại

A, B diễn biến khá lành mạnh chiếm tỷ trọng 91,97% tổng số QTDND So với

năm 2000, nhóm này tăng lên 140 quỹ, tỷ lệ tăng là 20,44% Nhóm còn lại đã

loại trừ các QTDND mới thành lập thì chỉ còn 65 quỹ, chiếm tỷ trọng 7,25%

tổng số QTDND Nhóm quỹ này so với năm 2000, giảm 209 quỹ, tỷ lệ giảm

76,28%

Đến ngày 30/9/2004, hệ thống QTDND đã được cơ cấu lại và bao gồm:

901 QTDND cơ sở và QTDND Trung ương với 24 chi nhánh hoạt động tại 53

tỉnh thành phố Các QTDND đã thu hút được 51.243 thành viên là những hộ sản

xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và những hộ kinh doanh, dịch vụ buôn

bán nhỏ Như vậy, bình quân mỗi QTDND có 1.055 thành viên, số thành viên

tăng 39.317 thành viên so với 31/12/2003 (tỷ lệ tăng là 4,3%) Việc kết nạp

thành viên mới đã được các QTDND quan tâm về chất lượng Số lượng thành

viên tăng thêm cũng phù hợp với khả năng quản lý, khả năng đáp ứng về vốn và

Trang 15

quy mô hoạt động của QTDND Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua biểu đồ

sau:

Biểu 2.1: Biểu đồ tăng trưởng số lượng thành viên của QTDND

522080 646701 727098 797069807546

850781

0 100000

Nguồn: Báo cáo thường niên 2003-2004

Ngày mới khai trương bình quân chung số thành viên chiếm 1,94% so với

số hộ trên địa bàn, thì đến năm 1997 tỷ lệ thành viên bình quân chiếm 30.43 %,

năm 1998 chiếm 39,7% và năm 1999 chiếm 42% so với số hộ Đến cuối năm

2003, tổng số thành viên đã là 911 926

Số lượng thành viên phát triển đồng nghĩa với việc QTDND có thể phân

tán được rủi ro, góp phần nâng cao mức độ an toàn cho cả hệ thống Tuy nhiên,

mở rộng về số lượng cũng chưa thể nói là đã an toàn tuyệt đối Vấn đề quyết

định chính là ở chất lượng của các thành viên ra sao? Ta có thể chứng kiến một

thực tế sau: khi mô hình QTDND đã đi được chặng đường 4 năm trong giai

đoạn thí điểm, Hà Nội có 10 QTDND được thành lập và hoạt động Tuy nhiên

đến năm 1996 QTDND xã Định Công thuộc huyện Thanh Trì đã phải ngừng

hoạt động, QTDND Định Công đã mất khả năng chi trả do Hội đồng quản trị,

cán bộ điều hành và tác nghiệp tại quỹ vi phạm nghiêm trọng pháp luật gây thất

thoát vốn Hiện nay Hội đồng quản trị đã bị bắt và xử tù giam từ 6-18 năm Như

Trang 16

vậy có thể nói rằng, vấn đề phát triển thành viên như thế nào nhằm đảm bảo an

toàn trong hoạt động là cả một vấn đề cần phải xem xét

Thực trạng hoạt động của các QTDND cơ sở sau gần 10 năm thành lập vẫn

chỉ theo phong cách "đèn nhà ai, nhà ấy rạng", chỉ đơn phương tác chiến trong

môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng với nhau Vai trò hỗ trợ của

QTDND Trung ương chưa phát huy được hiệu quả, chưa đi sâu đi sát đến từng

cơ sở của mình Có những công việc mang tính khép kín hệ thống như : trao đổi

thông tin, tổ chức và điều hành nghiệp vụ, lập quỹ an toàn của hệ thống, đào tạo

cán bộ còn chưa được triển khai

Chính thực trạng trên đã cho thấy mạng lưới tổ chức của QTDND không

những không được mở rộng mà còn bị thu hẹp dần, đến nay hơn 100 QTDND

do không đủ điều kiện hoạt động phải thu hồi giấy phép hành nghề

Vấn đề trên khiến chúng ta phải đặt câu hỏi về mức độ an toàn thật sự của

hệ thống QTDND? Sự an toàn của hệ thống không chỉ được đánh giá ở việc mở

rộng thành viên mà quan trọng hơn là phải làm sao để các thành viên có một sự

liên kết chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau trong mọi tình huống Có như vậy

mới phát huy được sức mạnh tương trợ, giúp cho cả hệ thống hoạt động an toàn

2.1.2 Kết quả trong công tác phát triển nguồn vốn

Nguồn vốn hoạt động của QTDND gồm: Vốn điều lệ, Vốn huy động tiền

gửi dân cư, vốn vay Quỹ tín dụng Khu vực và nguồn vốn khác (Các quỹ tích

luỹ, vốn tài trợ, lãi chưa chia, các khoản phải trả ) Nguồn vốn hoạt động tăng

trưởng khá sẽ đảm bảo cho QTD mở rộng phạm vi và qui mô tín dụng cũng như

các mặt hoạt động khác

Tỷ trọng của các loại vốn được thể hiện rõ trong biểu đồ 2.2

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn đến 31/12/2003

Trang 17

Nguồn: Báo cáo thường niên

Như vậy so với năm 2002, tỷ trọng vốn điều lệ và vốn huy động đều tăng

cao (vốn điều lệ năm 2002 chiếm 8%; vốn huy động chiếm 53%) Cơ cấu vốn

hợp lý với sự tăng dần tỷ trọng vốn huy động sẽ là điều kiện giúp cho QTDND

Trang 18

-Vốn huy động 29.095 28.266 33.407 26.006 494.998 799.478

-Vốn vay + vốn

khác

86.405 124.370 152.174 216.785 247.043 441.614

Nguồn: Báo cáo thường niên

Năm 2002, tổng nguồn vốn của cả hệ thống đã tăng hơn so với năm 1997 là

2.133.202 triệu đồng, tức là gấp gần 2,5 lần Quy mô vốn được mở rộng, trong

đó tỷ trọng vốn huy động cũng tăng rất cao (năm 2002 tăng gấp 2,6 lần so với

năm 1997) là điều kiện thuận lợi để QTDND nâng cao hiệu quả kinh doanh và

đảm bảo an toàn trong hoạt động

Trang 19

Biểu đồ 2.3 Biểu đồ tăng trưởng tổng hợp các QTDND

0 500000

Ng

uồn: Báo cáo thường niên

Đến ngày 30/9/2004, tổng nguồn vốn hoạt động của QTDND cơ sở là

5.673.285 triệu đồng, tăng so với 31/12/2003 là 935.666 triệu đồng, tỷ lệ tăng

19,7%, bình quân 6.296 triệu đồng/quỹ Trong đó vốn điều lệ là 289.728 triệu

đồng, chiếm 5,1% tổng nguồn, tăng 45.260 triệu đồng so với 31/12/2003, tỷ lệ

tăng là 18,5% (cao hơn tỷ lệ tăng 16,3% của cùng kỳ năm trước)

Đối với QTDND Trung ương cũng có những tăng trưởng đáng kể Tổng

nguồn vốn hoạt động là 2.242.423 triệu đồng, tăng so với 31/12/2003 là 465.498

triệu đồng, tỷ lệ tăng 26,2% Vốn điều lệ và các quỹ là 188.024 triệu đồng,

chiếm 8,4% tổng nguồn vốn, tăng 3,6% so với 31/12/2003 Trong đó vốn điều lệ

là 111.382 triệu đồng, tăng 0,06% so với 31/12/2003 vốn huy động đến

30/9/2004 là 1.280.270 triệu đồng, chiếm 57% tổng nguồn vốn hoạt động, tăng

212.039 triệu đồng so với 31/12/2003 (tỷ lệ tăng 19,8%); chủ yếu là tăng từ

nguồn tiền gửi dân cư và các tổ chức kinh tế Nguồn vốn vay các tổ chức tín

dụng trong nước và quốc tế cũng tăng lên 679.389 triệu đồng, chiếm 30% tổng

nguồn vốn, tăng so với 31/12/2003 là 214.690 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 46%

Trang 20

Bảng 2.3 Số liệu nguồn vốn đến 30/9/2004 của QTDTW

Để thấy rõ hơn về kết quả phát triển nguồn vốn của QTDND, chúng ta có

thể nhìn nhận riêng ở công tác phát triển từng loại vốn

* Kết quả phát triển vốn điều lệ:

Vốn điều lệ QTD cơ sở gồm: vốn cổ phần xác lập và vốn cổ phần

thường xuyên

- Vốn cổ phần xác lập: là vốn góp của thành viên khi mới tham gia QTD,

xác nhận tư cách thành viên, mức vốn cổ phần xác lập giai đoạn đầu thí điểm

qui định tối thiểu 30.000 đồng/ thành viên và không được hưởng lợi tức cổ phần,

đến tháng 01 năm 1996 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định số

26/QĐ-NH17 ngày 15 của NHNN Việt nam qui định mức vốn cổ phần xác lập

tối thiểu là 50.000 đồng/thành viên và được hưởng cổ tức cổ phần hàng năm

- Vốn cổ phần thường xuyên là vốn do các thành viên tự nguyện góp để

tham gia kinh doanh cùng với QTD, mệnh giá do đại hội thành viên qui định

Vốn góp kể cả vốn nhận chuyển nhượng của 1 thành viên không vượt quá

30% vốn điều lệ tại mọi thời điểm

Đến 31/12/1999 đã có: 10/10 QTD cơ sở đều có mức vốn điều lệ cao hơn

mức vốn pháp định của Nhà nước qui định (Tối thiểu 100 triệu đồng/ quỹ) Vốn

điều lệ đã đạt 2201 triệu đồng, tăng 1952 triệu đồng so với đầu năm 1996 Bình

quân vốn điều lệ một quỹ đạt 244 triệu đồng

- Vốn điều lệ năm 1996 đạt: 1.239 triệu đồng, so với thời điểm các QTD

mới khai trương tăng: 990 triệu đồng, tăng 4,95 lần

- Vốn điều lệ năm 1998 đạt: 1.558 triệu đồng so với năm 1996 tăng 319

triệu đồng, tăng 25,7%

Trang 21

- Vốn điều lệ năm 1999 đạt: 2.128 triệu, so với năm 1998 tăng: 570 triệu

đồng, tăng 36,5%

- Vốn điều lệ năm 2000 đạt: 2.201 triệu, so với năm 1999 tăng: 73 triệu

đồng, tăng 3,4%

Bình quân vốn điều lệ năm 2000 đạt: 244,55 triệu đồng/quỹ

* Nguồn vốn huy động tiền gửi dân cư:

Đây là nguồn vốn quan trong nhất trong tổng nguồn vốn hoạt động của

QTDND, QTDND ra đời nhằm khai thác tốt nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư,

để đáp ứng nhu cầu về vốn cho thành viên phát triển sản xuất kinh doanh và đời

sống Những năm qua công tác khai thác nguồn vốn tại chỗ đã được hầu hết các

QTDND quan tâm, các QTDND đã sử dụng linh hoạt cơ chế lãi suất tiền gửi và

các loại kỳ hạn khác nhau, có thái độ tác phong giao dịch hoà nhã, vui vẻ với

khách hàng, tiền gửi dân cư ngày một tăng khẳng định uy tín của QTDND đã đi

sâu vào tiềm thức, nhận thức của nhân dân Ở một số QTDND đã có khách hàng

gửi những khoản tiền lớn hàng chục triệu đồng, có kỳ hạn kéo dài Kết quả tiền

gửi dân cư năm sau cao hơn năm trước:

- Năm 1998 doanh số huy động đạt: 30.357 triệu đồng so với năm 1996

tăng 12.233 triệu đồng Số dư tiền gửi 17.602 triệu đồng so với năm 1996 tăng

9.013 triệu đồng, tăng 104,9%

- Năm 1999 doanh số huy động đạt 48.315 triệu đồng, so với năm 1998

tăng 17.958 triệu đồng, tăng 59%.Số dư tiền gửi đạt 21.199 triệu đồng , so với

năm 1998 tăng 3.579 triệu đồng, tăng 20,4%

- Năm 2000 doanh số huy động đạt 50.023 triệu đồng, số dư tiền gửi

28.244 triệu đồng, so với năm 1999 tăng 7045 triệu đồng, tăng 33,2%

S ố dư tiền gửi bình quân mỗi quỹ:

- Năm 1998: 1955 triệu đồng/ quỹ, tăng 1.127 triệu đồng / quỹ so với năm

1996 , tăng 113,6%

- Năm 1999 2.162 triệu đồng/ quỹ, tăng 207 triệu đồng/ quỹ so năm 1997,

tăng 10,58%

Trang 22

- Năm 2000: 2.956 triệu đồng/ quỹ, tăng 794 triệu đồng/ quỹ so năm 1997,

tăng 36,72%

* Nhận vốn điều hoà từ Quỹ tín dụng Trung ương:

Do điều kiện địa bàn hoạt động của phần lớn các Quỹ tín dụng là nông

thôn , điều kiện kinh tế địa phương đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và

phát triển, việc huy động tiền gửi dân cư và vốn tích luỹ của QTD còn có nhiều

mặt hạn chế, chưa đáp ứng cho nhu cầu vay vốn của thành viên và nhất là đảm

bảo khả năng chi trả kịp thời, do đó các QTD cơ sở phải nhận vốn điều hoà từ

QTD Trung ương

Nguồn vốn vay của Quỹ Trung ương đã góp phần giúp các QTD đảm bảo

khả năng chi trả và mở rộng cho vay thành viên, tăng qui mô tín dụng và qui mô

hoạt động, tạo lòng tin và uy tín của QTD, là chỗ dựa của các QTD cơ sở, cụ

- Năm 2000 Nhận vốn điều hoà với doanh số 3.561 triệu đồng, giảm so

năm 1999: 6.014 triệu đồng, giảm 62%

* Nguồn vốn kinh doanh khác:

Ngoài 3 nguồn vốn cơ bản và quan trọng trên, QTD cơ sở còn có một số

nguồn vốn khác hỗ trợ cho quá trình hoạt động như: Các quỹ tích luỹ, quỹ dự

phòng rủi ro Trong đó nguồn vốn tích luỹ qua các năm (sau phân phối) và quỹ

dự phòng rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất Đặc biệt là quỹ dự phòng rủi ro và quỹ

khuyến khích phát triển nghiệp vụ, quỹ bổ xung vốn điều lệ

Các quỹ và vốn của QTD tăng trưởng khá, với tốc độ tích luỹ cao đảm bảo

cho hoạt động của QTD an toàn, hiệu quả

Vốn và quỹ tích luỹ năm sau cao hơn năm trước với khối lượng lớn:

- Năm 1998: 299 triệu đồng

Trang 23

- Năm 1999: 684 triệu đồng, tăng so với năm 1997: 385 triệu đồng, tăng

128 %

- Năm 2000: 794 triệu đồng, tăng so với năm 1998: 110 triệu đồng, tăng 16

%

Bình quân m ỗi quỹ có vốn và quỹ tích luỹ đạt:

- Năm 1998: 32,2 triệu đồng/quỹ, tăng so với năm 1997 là 21,67 triệu

Như vậy, có thể nói rằng từ khi được thành lập, hệ thống QTDND đã rất

chú trọng đến việc mở rộng nguồn vốn nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao mức

độ an toàn trong hoạt động cho cả hệ thống

2.1.3 Kết quả trong công tác sử dụng vốn

Với mục tiêu: đi vay để cho vay, hoạt động sử dụng vốn của các QTDND

chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ tín dụng Hoạt động kinh doanh ngân hàng vốn

mang nhiều rủi ro, chính vì vậy Nghị định 48 đã xác định rõ những quy chế đảm

bảo an toàn cho nghiệp vụ tín dụng như sau:

1/ Quỹ tín dụng không được cho vay và bảo lãnh đối với:

- Những người trong Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, giám đốc, phó giám

đốc QTDND đó

- Người thẩm định , xét duyệt cho vay;

- Bố, mẹ, vợ, chồng, con của những người nêu trên;

- Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên và thanh tra viên đang kiểm toán,

thanh tra QTD đó;

2/ Quỹ tín dụng không được ưu đãi về vốn, lãi suất, thời hạn và điều kiện

cho vay đối với:

Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc, Phó giám đốc, các

nhân viên trong QTD đó và bố, mẹ, vợ, chồng, con của họ

Trang 24

3/ Tổng dư nợ cho vay một khách hàng không được quá 15% vốn tự có của

QTDND

4/ Quỹ tín dụng nhân dân chỉ cho vay vốn đối với thành viên

5/ Hàng năm QTDND phải trích chi phí dự phòng bù đắp rủi ro trong hoạt

động ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Cuối năm số tiền

không sử dụng bù đắp rủi ro sẽ được hoàn lại doanh thu của QTD

6/ Các QTDND phải có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo hiểm tiền gửi để

bảo đảm an toàn tiền gửi cho khách hàng Quy chế bảo hiểm tiền gửi do Chính

phủ ban hành và NHNN hướng dẫn Đồng thời hệ thống QTDND có thể thực

hiện các giải pháp an toàn nội bộ thông qua việc lập quỹ vốn khả dụng chung

hoặc Quỹ an toàn vốn

Dựa trên những quy định và ràng buộc của pháp luật, mô hình QTDND đã

nhanh chóng triển khai hoạt động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn

hệ thống Theo số liệu năm 2003 của QTDTW, tỷ trọng cho vay trong hệ thống

là 53%, ngoài hệ thống là 47% Cơ cấu cho vay trung hạn và ngắn hạn có sự

chênh lệch rõ rệt Cho vay trung hạn là 338.075 triệu đồng, chiếm 22%, cho vay

ngắn hạn là 1.185.603 triệu đồng, chiếm 88% Như vậy, cho vay ngắn hạn tại

QTDND vẫn chiếm ưu thế Đây cũng có thể là một bất lợi trong việc nâng cao

hiệu quả kinh doanh cho các QTDND

Trong thực tế để có thể giảm thiểu được rủi ro thì hoạt động ngân hàng cần

phải đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, có một cơ cấu sử dụng vốn hợp lý

Chúng ta hãy xem xét cơ cấu sử dụng vốn của QTDTW để hình dung phần nào

tình hình hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của mô hình QTDND

Trang 25

Biểu đồ 2.4 Biểu đồ cơ cấu sử dụng vốn QTDTW

Nguồn: Báo cáo thường niên

Như vậy, hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng rất cao trong khi đó đầu tư vào

kỳ phiếu, tiền gửi thì không đáng kể, chỉ 9% Mà ta vẫn biết hoạt động tín dụng

luôn chứa đựng rất nhiều rủi ro Với cơ cấu sử dụng vốn như trên khiến chúng ta

không thể không đặt câu hỏi về khả năng đảm bảo an toàn của hệ thống

QTDND

Theo số liệu ngày 31/12/2003 thì cho vay tăng 51% so với 31/12/2002, bằng 113% kế hoạch năm 2003 Trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn là 1.185.603

triệu đồng, chiếm 78% tổng dư nợ ( như vậy là giảm so với 2002 vì cho vay

ngắn hạn trên tổng dư nợ năm 2002 là 87%) Dư nợ cho vay trung hạn là

338.075 triệu đồng, chiếm 22% tổng dư nợ và tăng so với năm 2002 là 9% (tỷ lệ

cho vay trung hạn trên tổng dư nợ năm 2002 là 13%)

Chúng ta sẽ tiếp tục phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của QTDND thông qua báo cáo tín dụng ngắn hạn và trung, dài hạn tổng hợp toàn QTDTW

Bảng 2.4 Báo cáo tín dụng ngắn hạn tổng hợp toàn QTDTW

Doanh số thu nợ

nợ

Nợ quá

Doanh số cho vay

Doanh số thu nợ

nợ

Nợ quá

Trang 26

LK thán

g

Lk năm

LK thán

g

Lk năm

hạn LK thán

g

Lk năm

LK thán

g

Lk năm

Ngày đăng: 25/03/2013, 11:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quỳnh Chi: Thường xuyên củng cố, chấn chỉnh và phát triển hệ thống QTDND (Thị trường Tài chính tiền tệ 8/2004) Khác
2. Quách Thị Cúc: Thiết lập quỹ an toàn hệ thống - một giải pháp đảm bảo an toàn cho QTDND (Tạp chí Ngân hàng số 3/2002) Khác
3. Trần Thu Hường: Những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo an toàn và phát triển hệ thống QTDND trên địa bàn thành phố Hà Nội” Khác
4. TK: Hoạt động của hệ thống QTDND: kết quả đạt được và một số kiến nghị đề xuất (Tạp chí Ngân hàng số 12/2004) Khác
5. Nguyễn Xuân Sơn: Giải pháp để các QTDND hoạt động mang tính hệ thống (Tạp chí Ngân hàng số 15/2003) Khác
6. V.T: Củng cố và hoàn thiện hệ thống QTDND góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn (Tạp chí Ngân hàng số 3/2003) Khác
7. Văn Tạo: Một số ý kiến về cho vay trong hệ thống QTDND hiện nay (Thị trường Tài chính tiền tệ 12/2002) Khác
8. TS. Hoàng Văn Thạch: Giải pháp hoàn thiện và hội nhập liên kết các tổ chức QTDND (Tạp chí Ngân hàng số 9/2004) Khác
9. Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng Khác
10. Hệ thống hoá các văn bản về Quỹ tín dụng nhân dân của Ngân hàng Nhà nước Việt nam (1993-1998) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 sẽ cho chỳng ta thấy rừ hơn về chất lượng của hệ thống QTDND - đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân
Bảng 2.1 sẽ cho chỳng ta thấy rừ hơn về chất lượng của hệ thống QTDND (Trang 14)
Bảng 2.2. Các chỉ số cơ bản về tăng trưởng nguồn vốn của QTDND - đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân
Bảng 2.2. Các chỉ số cơ bản về tăng trưởng nguồn vốn của QTDND (Trang 17)
Bảng 2.4. Báo cáo tín dụng ngắn hạn tổng hợp toàn QTDTW  (Đến ngày 31-12-2004) - đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân
Bảng 2.4. Báo cáo tín dụng ngắn hạn tổng hợp toàn QTDTW (Đến ngày 31-12-2004) (Trang 25)
Bảng 2.5. Báo cáo tín dụng trung, dài hạn QTDTW - đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân
Bảng 2.5. Báo cáo tín dụng trung, dài hạn QTDTW (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w